Nhằm đáp ứngđược những đòi hỏi đó và góp phần vào việc nâng cao chất lượng học tập cho học sinh hiện nay, tôi xin được viết đề tài: Rèn luyện kĩ năng tự học môn ngữ văn cho học sinh trun
Trang 1RÈN LUYỆN KĨ NĂNG TỰ HỌC MÔN NGỮ VĂN CHO HỌC SINH
THPT QUA HOẠT ĐỘNG HỌC, LÀM BÀI TẬP Ở NHÀ
I MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Năm 1998, các nhà Giáo dục hàng đầu của tổ chức UNESCO, họp bàn về
việc học của thế kỉ XXI phải dựa trên bốn mục đích: “Học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định mình” Việc học của con người phải
thường xuyên, liên tục, mọi lúc, mọi nơi Nghĩa là con người phải học suốt đời.Muốn vậy phải biết cách học
Tự học là một trong những phương pháp học tập của con người Lịch sửcho thấy nhiều nhà khoa học, nhà văn, nhà giáo thành công chủ yếu trên conđường tự học Chưa bao giờ thực trạng học tập của học sinh được xã hội quantâm nhiều như hiện nay và cũng chưa bao giờ sức ép học tập đối với học sinh lạinặng nề căng thẳng như bây giờ Trước những vấn đề đó, Đảng và Nhà nước,ngành Giáo dục đã ban hành nhiều điều luật nhằm nâng cao chất lượng giáo dụctrong các nhà trường, các cấp học, đưa ra nhiều giải pháp nhằm cải thiện tíchcực cho vấn đề giáo dục Những chiến lược ấy đã có những chuyển biến đáng
kể trong việc thúc đẩy sự phát triển của nền giáo dục nước nhà và đã mang lạinhiều thành tựu to lớn
Tuy nhiên chất lượng học tập của học sinh đại trà hiện nay vẫn còn nhiềubất cập, là một bài toán mà các giáo viên cần đặc biệt quan tâm Nhằm đáp ứngđược những đòi hỏi đó và góp phần vào việc nâng cao chất lượng học tập cho
học sinh hiện nay, tôi xin được viết đề tài: Rèn luyện kĩ năng tự học môn ngữ văn cho học sinh trung học phổ thông qua hoạt động học, làm bài ở nhà Đề tài
này tôi tự rút ra từ thực tiễn dạy học môn ngữ văn THPT trong nhiều năm qua
Đề tài đã được áp dụng ở trường THPT Thiệu Hóa, mang lại hiệu quả đáng kểcho học sinh trong việc nâng cao chất lượng học tập và đạt được kết quả cao
Trang 2trong việc chiếm lĩnh tri thức và các kì thi học sinh giỏi, thi tốt nghiệp, tuyểnsinh vào đại học, cao đẳng hàng năm.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm mục đích rèn luyện cho học sinh trung học phổthông có kỹ năng trong việc tự học môn ngữ văn ở nhà Phát huy tính chủ động,tích, sáng tạo của học sinh trong việc chiếm lĩnh kiến thức
Giúp các đối tượng học sinh, nhất là học sinh đại trà có phương pháp họcnhằm đạt kết quả cao trong kỳ thi THPT, xét tuyển đại học, cao đẳng
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng học sinh THPT, tập trung chủ yếu học sinh lớp 12 sắp thiTHPT, đại học, cao đẳng trong việc rèn luyện kĩ năng tự học môn văn ở nhà trên
cơ sở dựa vào bài tập
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Khảo sát, thống kê thực tế trước và sau khi tác động vào việc tự học vàlàm bài ở nhà của học sinh
Thuyết minh, phân tích, so sánh việc tự học ở nhà của học sinh
Hình thành các giải pháp rèn kĩ năng tự học môn ngữ văn cho học sinh
trung học phổ thông qua hoạt động học, làm bài ở nhà
1.5 Những điểm mới của SKKN
Xác định được mục đích của việc tự học, tự rèn luyện cho học sinh đểmỗi em nâng cao nâng cao ý thức tự giác, sáng tạo trong học tập
Cung cấp phương pháp học tập cho học sinh đối với việc học bài cũ nhằmcủng cố khắc sâu kiến thức đã học, soạn bài mới để giờ học ở lớp sôi nổi hơn,làm bài tập để rèn luyện kĩ năng vận dụng, kĩ năng hành văn, kĩ năng trình bàyvăn bản Đặc biệt, học sinh có điều kiện phát huy khả năng sáng tạo về cả nộidung và hình thức văn bản
Rèn luyện được cho học sinh thói quen chiếm lĩnh kiến thức, bày tỏ nhậnthức, quan điểm trước một vấn đề; thói quen đọc sách, làm thêm các bài tập ởcác sách khác; thói quen học hỏi, tranh luận về một vấn đề liên quan đến kiếnthức bộ môn, những vấn đề bức thiết của đời sống xã hội và thế giới
Trang 3II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận
Nghị quyết Trung ương V (T.Ư ), khóa VIII nêu rõ: “Tập trung nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học, tự sáng tạo của học sinh, đảm bảo mọi điều kiện và thời gian tự học cho học sinh, phát triển mạnh mẽ vai trò
tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân”.
Luật Giáo dục được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
thông qua năm 2005 quy định rõ: “Phương pháp giáo dục phát huy tính tích cực, chủ động, tư duy sáng tạo của người học, bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên.”
GS Trần Đình Sử trong bài viết Con đường đổi mới phương pháp dạy học văn( Văn nghệ số 10, 7-3- 2009) cũng khẳng định: “Khởi điểm của môn ngữ văn là dạy học sinh đọc hiểu trực tiếp văn bản văn học của nhà văn Nếu học sinh không trực tiếp đọc các văn bản thì coi như mọi yêu cầu, mục tiêu cao đẹp của môn văn đều chỉ là nói suông, khó đi tới, đừng nói gì tới tình yêu văn học”.
Trong mô hình dạy học, lấy học sinh làm trung tâm, GS Trần Đình Sử nhấn
mạnh: “Trong giờ học, học sinh phải tự mình đọc, tự mình phán đoán, tự mình nêu câu hỏi” Đây là quan điểm khoa học sư phạm đúng dắn đối với việc tiếp
cận môn ngữ văn trong nhà trường
Chuyên đề: Dạy học tự học cho sinh viên trong các nhà trường Trung học
Chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học viết: “Tự học là hoạt động độc lập, chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ sử dụng các năng lực trí tuệ ( quan sát, phân tích, so sánh, tổng hợp ) cùng các phẩm chất động
cơ, tình cảm để chiếm lĩnh kiến thức, một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”.
G.S Trần Phương (Đại học Huế) cho rằng: “Học bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu là tự học, tức là biến kiến thức khoa học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình Tự cải tạo tư duy của mình và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành các tri thức ấy”.
Trang 4Từ những quan điểm của các công trình nghiên cứu sư phạm trên đây,các tác giả đã đề cao việc tự học, đưa ra những nguyên tắc, phương pháp tự học
để khẳng định tầm quan trọng của vấn đề Đó là những cơ sở lí luận mà tôi lựachọn làm cơ sở cho đề tài của mình
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Để tiến hành thực hiện đề tài này, tôi tiến hành khảo sát thực tế học, làmbài tập ở nhà của học sinh một số lớp ở trường THPT Thiệu Hóa qua hình thứctrắc nghiệm và qua các bài tập, bài kiểm tra Sau đây là các số liệu khảo sát một
25/44(56.8%)
10/44(22.7%)
(26.31%)
20/38(52.63%)
8/38(21.05%)
0.0
(0.0%)
15/40(37.5%)
20/40(50%)
5/40(12.5%)
(4.87%)
18/41( 43.9%)
20/41( 48.7%)
1/41(2.4%)12D 8/46
(17,4%)
25/46(54,3%)
13/46(28,2 %)
0.0
(53,8%)
14/39(35,9%)
4/39(10,2%)
25/44(56.8%)
7/44(15.9 %)
(23.68 %)
20/38(52.63%)
9/38(23.68%)
0.0
( 0.0%)
15/40(37.5%)
22/40(55.0%)
3/40(7.5%)
(2.43%)
18/41(43.9%)
21/41(51.2%)
1/41(2.43%)
Trang 512D 2/46
(4,34%)
16/46 (34,8%)
20/46 (43,4%)
8/46 (17,4%)
( 25,64%)
21/39( 53.84%)
7/39(17,94%)
1/39 (2,56%)
Bảng 3: Làm bài tập
Lớp Không làm bài Làm chiếu lệ
(một số câu, qua loa)
Làm hết Làm hết và làm
thêm ở sách khác
( 0.0%)
15/44(34.1%)
20/44(45,5%)
9/44(20.5%)
(31.6%)
20/39(51.3%)
6/39(15.4%)
0.0
( 10%)
11/40(27.5%)
15/40(37.5%)
0
(14.6%)
15/41(36.5%)
20/41(48.7%)
0
(10,1%)
10 /4621,8%)
28 /46(60,1%)
3/46(7.0 %)
(38,46%)
21/39(53.84%)
3 /39(7,7%)
0( 0.0%)Qua kết quả khảo sát, tôi thấy thực trạng học bài cũ, soạn bài, làm bài tậpđối với bộ môn ngữ văn ở các lớp học sinh của trường THPT Thiệu Hóa cònthấp Đặc biệt, không làm và làm chiếu lệ chiếm tỉ lệ cao Thực trạng đó sẽ làmcho học sinh có thói quen xấu như: căn bệnh ỉ lại, thiếu suy nghĩ, thiếu chí tiếnthủ, thiếu tự giác, thiếu tích cực trong việc chiếm lĩnh kiến thức, rèn luyện kĩnăng vận dụng kiến thức, phương pháp để làm bài tập Với yêu cầu giáo dục đổimới, thực trạng đó chưa đáp ứng được chất lượng học tập của học sinh, mụcđích giáo dục của ngành Để khắc phục thực trạng trên, việc đặt vấn đề rènluyện kĩ năng tự học và làm bài tập ở nhà trước khi đến lớp và sau bài học, tiếthọc là một vấn đề có tính cấp bách đối với học sinh THPT hiện nay
2.3 Phương pháp rèn luyện kĩ năng tự học môn ngữ văn
2.3.1 Hình thành thái độ học tập
Trang 6Để trả lời mục đích của việc học tập, qua khảo sát ban đầu khi học sinhchưa được định hướng toàn diện, chúng tôi thu nhận được những thông tin nhưnhư bảng sau:
Số học sinh được khảo sát: 82 em (lớp 10C, 10D năm học 2016- 2017)
Học để có bằng
cấp dễ xin việc
làm
Học để tiếp tục học đại học, để
có cuộc sống tốt đẹp hơn
Học để hiểu biết, để cống hiến cho đất nước
Học để có kiến thức vận dụng vào cuộc sống
50/82
60.97%
32/8239.02%
0/820.0%
0/820.0%
Theo thống kê đa số tuổi học sinh lấy việc học chủ yếu là để có bằng cấp,
để có việc làm và tự nuôi sống bản thân trong môi trường xã hội mới Do vậy,học để cống hiến, học để có kiến thức với đại đa số học sinh không phải là mụcđích chính Từ thực tế trả lời của những học sinh được hỏi, giáo viên cần hìnhthành cho các em động cơ, thái độ học tập theo đề xướng của tổ chức UNESCO:
Số học sinh được khảo sát: 82 em (lớp 10C, 10D năm học 2016- 2017)
Học đề có bằng
cấp dễ xin việc
làm
Học để tiếp tục học lên đại học, đề
có cuộc sống tốt đẹp hơn
Học để hiểu biết, đem hiểu biết cống hiến cho đất
nước
Học để có kiến thức vận dụng trong cuộc sống
20/82
24.39%
25/8230.48%
5/826.1%
32/8239.02%
Rõ ràng cuộc sống và việc làm tương lai của học sinh không nhất thiếtphải vào đại học mới có sự nghiệp Thực tế cho thấy, nhiều thanh niên lậpnghiệp, làm giàu ngay trên quê hương mình Đặc biệt, trong thời đại hội nhập,quốc tế hóa, toàn cầu hóa để có công ăn việc làm con người nhất thiết phải có
Trang 7kiến thức, phải chủ động tích cực tiếp nhận và xử lí kiến thức Lối học thụ độngthực sự đã lỗi thời không còn phù hợp với thời đại mới nữa
2.3.2 Lựa chọn thời gian học tập
Để có thời gian học tập ở nhà thích hợp và có hiệu quả, học sinh phải biếtlập thời gian biểu Thời gian nào làm những công việc ngoài học tập, thời giangiải trí, thời gian nào trong ngày dành cho ôn kiến thức cũ, làm bài tập, học bàimới cho tất cả các môn học, trong đó có môn ngữ văn
Theo kinh nghiệm cá nhân, các em cần thực hiện thời gian biểu như sau(không tính những buổi chiều đến trường):
- Chuẩn bị bài mới
Ôn lại bài cũ lần cuốitrước khi đến lớp
CN Có thể nghỉ ngơi - Ôn lại bài cũ- Chuẩn bị bài mới
Ôn lại bài cũ lần cuốitrước khi đến lớp
Việc phân bố thời gian học ở nhà với việc ôn bài, học mới, làm bài luyệntập các môn học là rất quan trọng Khi đã có một thời gian biểu, học sinh sẽ chủđộng hơn trong việc tự học, tự luyện tập ở nhà và hiệu quả, chất lượng học tập
sẽ ngày càng được cải thiện, nâng cao Muốn làm được điều này, như đã nói,học sinh phải có mục đích và phương pháp học tập đúng đắn
2.3.3 Phương pháp học bài và làm bài tập môn ngữ văn
2.3.3.1 Soạn bài mới trước khi đến lớp- soạn bài
Đọc toàn bộ bài mới: Hoạt động đọc diễn ra qua ba cấp độ cơ bản Thứnhất, học sinh phải đọc khái quát, nghĩa là đọc lướt, đọc nhanh, đưa mắt baoquát toàn bộ trang sách Thứ hai, đọc chậm, biết dừng lại ở những đoạn, câu có
Trang 8vấn đề (có thể dùng bút chì gạch chân) Thứ ba, đọc kĩ hơn, suy nghĩ nhữngcâu, đoạn, ý đã gạch chân, cố gắng lí giải bằng việc tự đặt câu hỏi, bước đầu tìmhiểu bài học mới
Nắm nội dung của bài mới ở dạng tổng quát nhất: Mỗi một bài học, dùphân môn nào, văn bản nào (nhật dụng hay văn bản văn học), học sinh cũngphải bước đầu nắm nội dung tổng quát nhất Chẳng hạn, đối với bài học đọc
hiểu văn bản An Dương Vương và Mỵ Châu- Trọng Thủy (Ngữ văn 10) Trước
hết học sinh phải xác định được đây là văn bản thuộc thể loại truyền thuyết dângian Việt Nam kể về sự tích Cổ loa (Đông Anh- Hà Nội ngày nay) trong mốiquan hệ cha con, vợ chồng với đất nước
Những khó khăn khi học bài mới: Đối với văn bản tự sự, khó khăn họcsinh thường gặp là chưa biết phân chia các phần để tìm hiểu, vốn kiến thứcngoài văn bản chưa được huy động giúp cho việc đọc hiểu văn bản có kết quảcao hơn, chưa xác định được những sự việc chính, những chi tiết tiêu biểu chứađựng tư tưởng tác phẩm Với thơ ca, yêu cầu đọc hiểu cao hơn vì có hệ thốnghình ảnh ước lệ, tượng trưng, sử dụng điển tích, điển cố (thơ ca trung đại), sửdụng nhiều biện pháp tu từ, thể thơ, thơ viết bằng chữ Hán, chữ Nôm, thơ dịchẤn- Âu- Mĩ , đối với học sinh THPT là một trong những khó khăn đáng kể
Để khắc phục những khó khăn kể trên, khi đọc văn bản, chuẩn bị bài mớitrên tinh thần tự học, tự khám phá có gợi ý của sách giáo khoa phần tiểu dẫn,hướng dẫn của thầy cô giáo Học sinh cần biết bài mới đang đọc hiểu thuộc giaiđoạn văn học nào là để thấy được đặc điểm, khuynh hướng sáng tác, quan niệmthẩm mĩ, phong cách, lập trường tư tưởng của nhà văn
Trang 9kiến thức quan trọng, là dẫn chứng chính xác cho công việc làm bài thi, kiểm tratrên lớp Bên cạch những kiến thức cần thuộc còn có loại kiến thức cần nhớ
những ý chính có tính hệ thống Chẳng hạn bài Khái quát văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX ( Ngữ văn 10), học sinh cần nhớ và phải đảm bảo tính
hệ thống: Hai thành phần văn học (văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm) Bốngiai đoạn phát triển của văn học( thế kỉ X đến hết thế kỉ XIV, từ XV đến hết thế
kỉ XII, giai đoạn từ XVIII đến nửa đầu XIX) Những đặc điểm lớn về nội dung(yêu nước, nhân đạo, thế sự) Những đặc điểm lớn về nghệ thuật (tính quy phạm
và sự phá vỡ tính quy phạm, khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị) Tiếp thu và dân tộc hóa tinh hoa văn học nước ngoài Như vậy yêu cầu của nhớkhác với thuộc
-Những kiến thức cần hiểu: Đối với việc học bài cũ không nhất thiết thuộclòng mà thông qua hoạt động nhớ một cách hệ thống chọn lọc những kiến thứccần hiểu Chẳng hạn các đoạn sử thi trích học trong Ngữ văn 10, học sinh chỉcần hiểu đâu là sử thi anh hùng chiến trận, sử thi anh hùng văn hóa đối với
Chiến thắng Mtao Mxây ( trích Đăm Săn- sử thi Tây Nguyên), Uy-li-xơ trở về (trích Ô-đi-xê – sử thi Hi Lạp, Ra-ma buộc tội( trích Ra-ma-ya-na- sử thi Ấn
Độ)
Những kiến thức cần vận dụng: Những kiến thức thuộc, nhớ đến hiểu đều
là kiến thức được vận dụng trong việc thực hành, luyện tập hàng ngày Có haikiến thức vận dụng cơ bản Vận dụng thấp là khả năng từ kiến thức nhận biết,thông hiểu, học sinh biết vận dụng trực tiếp vào việc giải bài tập Chẳng hạn, từ
kiến thức đọc hiểu bài thơ Mời trầu của Hồ Xuân Hương, học sinh làm bài văn
tự luận cho đề bài sau: Phân tích bài thơ Mời trầu của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.
Với đề bài này, học sinh vận dụng kiến thức đã học để xem xét, đánh giá nộidung tư tưởng và những đặc sắc nghệ thuật bài thơ Còn vận dụng cao là khảnăng tích hợp kiến thức, kĩ năng đã học để làm một bài văn nghị luận về mộttác phẩm văn học, hoặc hai tác phẩm văn học, một ý kiến nào đó Với loại bàitập này, học sinh phải biết huy động những kiến thức liên quan, linh hoạt trongviệc sử dụng thao tác lập luận và phương thức biểu đạt để hoàn thành bài tập
Trang 10Chẳng hạn, cho đề bài: Số phận người phụ nữ tài sắc trong văn học trung đại
Việt Nam Về kiến thức, học sinh huy động các sáng tác của Nguyễn Du, của
Hồ Xuân Hương, của Nguyễn Gia Thiều Về kĩ năng, học sinh biết so sánh,tổng hợp, nâng cao vấn đề, đặc biệt sử dụng nhuần nhuyễn các thao tác lập luận
2.3.3.3 Làm bài tập
Đối với bài tập dạng thông hiểu:
Hiểu đặc điểm, giá trị nội dung của các đơn vị kiến thức đã học Phát hiệnđược các hình ảnh, chi tiết nghệ thuật, đặc sắc về ngôn ngữ của mỗi tác phẩm.Biết so sánh để nhận ra nét đặc sắc của mỗi chủ đề, bài học trong chương trình.
Để làm được theo yêu cầu trên, học sinh cần đọc kĩ văn bản, tìm hiểu nghĩa từngữ, hình ảnh, câu, đoạn, văn bản Chẳng hạn, bài tập: Viết một đoạn văn nói
lên cảm nghĩ của anh/ chị về khổ thơ mà mình cho là hay nhất trong bài Từ ấy (SGK Ngữ văn 11, tr44, tập 2) Bài thơ có ba khổ, mỗi khổ thơ có cái hay riêng
nhưng hay nhất là khổ thơ hội tụ đầy đủ nội dung trữ tình và cách thức thể hiện
Vậy khổ thơ nào đạt được những yêu cầu đó Phải chăng là khổ thơ thứ nhất: Từ
ấy trong tôi bừng nắng hạ/ Mặt trời chân lí chói qua tim/ Hồn tôi là một vườn hoa lá/ Rất đậm hương và rộn tiếng chim Khổ thơ ắp đầy hình ảnh, sử dụng nhiều biện pháp tu từ đã làm nổi bật niềm vui sướng của nhân vật trữ tình “tôi”-
một thanh niên trẻ tuổi- khi được giác ngộ lí tưởng, được đứng vào hàng ngũcủa Đảng để nguyện suốt đời chiến đấu cho độc lập dân tộc, hạnh phúc nhândân
Đối với loại bài tập vận dụng thấp:
Học sinh vượt qua cấp độ hiểu đơn thuần và có thể sử dụng các khái niệmcủa chủ đề trong các tình huống tương tự nhưng không hoàn toàn giống như tìnhhuống đã gặp trên lớp.Ví dụ: Có khả năng vận dụng hiểu biết về nghĩa của câu
vào việc lĩnh hội và văn bản Chẳng hạn như đề bài: Các nhà thơ Đường rất trân trọng tình bạn Anh/ chị hãy suy ngẫm về vị trí và ý nghĩa của tình bạn trong cuộc sống hôm nay (Ngữ văn 10, tập1, trang 144) Ở đây, học sinh phải hiểu nội dung ý nghĩa bài thơ Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng của nhà thơ Lí Bạch: Tình bạn sâu sắc, chân thành của hai nhà thơ