1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Giáo dục học sinh nhận thức thực tiễn đời sống thông qua một số tác phẩm văn học lớp 12 ở trường THPT mường lát

22 505 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 397 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi thế, Giáodục học sinh nhận thức thực tiễn đời sống thông qua tác phẩm văn học là mộtphương pháp dạy học tích cực vừa phát huy năng lực cảm thụ văn chương đápứng yêu cầu của kì thi TH

Trang 1

MỤC LỤC

1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Lí do chọn đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN 3

2.1 Cơ sở lý luận 3

2.1.1 Phương pháp dạy học 3

2.3.1 Định hướng tìm hiểu một số tác phẩm văn học Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 7

a Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng 7

b Đoạn trích “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm 8

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SKKN CỦA TÁC GIẢ ĐÃ ĐƯỢC SỞ GD&ĐT ĐÁNH GIÁ ĐẠT LOẠI C TRỞ LÊN

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài.

M Gorki từng nói “văn học là nhân học” Giá trị giáo dục con người từ môn Văn là rất lớn Mỗi tác phẩm văn học đều có ý nghĩa giáo dục sâu sắc Giá trị giáo dục của văn học trước hết biểu hiện ở khả năng đem đến cho con người những bài học quý giá về lẽ sống để họ tự rèn luyện bản thân mình ngày một tốt đẹp hơn Văn học hình thành trong người đọc một lí tưởng tiến bộ, giúp cho họ nhận thức đúng đắn về cuộc sống

Tác phẩm văn học là tấm gương phản chiếu hiện thực đời sống thông qua các hình tượng nghệ thuật Vì thế, nó sinh động và hấp dẫn hơn so với các môn học khác Nó giúp người đọc nhận thức, lý giải hiện thực cuộc sống quanh mình,

Trang 2

hiểu những vấn đề muôn thuở của con người, hiểu chính mình và cả những vấn

đề phức tạp của đời sống hiện đại, qua đó giáo dục con người hướng tới thiện - mĩ Tuy nhiên, hiện nay, đa số giờ dạy Văn trong trường phổ thông chưaphát huy được hết vai trò của nó Học sinh chưa thực sự rung động trước cái hay,cái đẹp của tác phẩm và trước tài năng của nhà văn Các em ít có chiêm nghiệmsâu sắc về những vấn đề mà nhà văn đặt ra trong tác phẩm Từ đó dẫn đến kiếnthức xã hội của các em non kém, kĩ năng sống thiếu hụt, sống thờ ơ, vô cảm vớimọi vấn đề của đời sống xã hội quanh mình, thiếu ý thức cộng đồng

chân-Tác phẩm văn học vốn là những minh hoạ đơn giản cho những gì diễn rangoài cuộc đời Nhưng qua thực tế lên lớp và dự giờ đồng nghiệp, tôi nhận thấyviệc giảng dạy môn Ngữ văn còn nhiều cứng nhắc, bất cập Giáo viên lên lớp chỉ

lo dạy kiến thức để kịp chương trình mà quên đi giáo dục nhận thức đời sốngthực tiễn cho các em Những liên hệ thực tế của giáo viên trở nên khiên cưỡng,thiếu sinh động Giờ văn trở thành giờ đạo đức giáo điều mà trong khi nhận thức

về đời sống xung quanh của học sinh Mường Lát còn rất hạn chế Bởi thế, Giáodục học sinh nhận thức thực tiễn đời sống thông qua tác phẩm văn học là mộtphương pháp dạy học tích cực vừa phát huy năng lực cảm thụ văn chương đápứng yêu cầu của kì thi THPT Quốc gia 2017 vừa giúp học sinh hình thành những

kĩ năng sống phù hợp với mục tiêu giáo dục hiện nay Từ những lí do trên, tôi

quyết định chọn đề tài “Giáo dục học sinh nhận thức thực tiễn đời sống thông qua một số tác phẩm văn học lớp 12 ở trường THPT Mường Lát” làm đối

tượng nghiên cứu với mong muốn góp phần cải thiện và nâng cao hiệu quảgiảng dạy môn Ngữ văn trong nhà trường, giúp học sinh nhận thấy sâu sắc hơngiá trị của môn Văn trong xã hội hiện nay

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Đề tài nghiên cứu nhằm tìm ra phương pháp dạy học tích cực một số tácphẩm Văn học Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 vừa nhằm phát huynăng lực cảm thụ văn chương vừa giúp học sinh hình thành những kĩ năng sốngphù hợp với mục tiêu giáo dục hiện nay

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là một số tác phẩm Văn học Việt Nam trong chương trình

sách giáo khoa THPT lớp 12 cơ bản, cụ thể: Tây Tiến - Quang Dũng, Đoạn trích Đất nước - Nguyễn Khoa Điềm, Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài, Chiếc thuyền ngoài

xa - Nguyễn Minh Châu, trích đoạn Hồn Trương Ba da hàng thịt - Lưu Quang

Trang 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi sử dụng kết hợp những phương pháp sau:Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp lí luận chung, phương pháp phântích tổng hợp, phương pháp thống kê và xử lí số liệu (thông qua bài kiểm tra)

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN

2.1 Cơ sở lý luận.

2.1.1 Phương pháp dạy học.

Phương pháp dạy học là những cách thức làm việc giữa thầy giáo và học

sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững được kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, hình thành

được thế giới quan và năng lực [Nguồn http://text.123doc.org].

Xuất phát từ mục tiêu giáo dục - đào tạo ở bậc THPT; đặc biệt theo tinhthần Nghị quyết TW 4 khóa 12 đào tạo những học sinh trở thành con người cónăng lực, năng động, sáng tạo, tiếp thu được những tri thức, công nghệ hiện đạivận dụng vào thực tiễn, vào cuộc sống phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đạihóa đất nước Vì vậy, các bộ môn nói chung và môn Ngữ văn nói riêng cần phảithực hiện đổi mới chương trình nội dung, phương tiện và phương pháp dạy họcnhằm nâng cao chất lượng dạy học

Qua thực tiễn dạy học Văn, tôi nhận thấy phương pháp dạy học theo kiểuđọc - chép đã không còn tạo hứng thú cho học sinh bởi người học rơi vào lối họcthụ động - 1 chiều vì thế cần đổi mới phương pháp dạy học nhằm phát huy tínhtích cực, chủ động cho các em Dạy học văn gắn với cuộc sống qua đó giáo dụchọc sinh nhận thức về đời sống thực tiễn Đây có thể xem là phương pháp dạyhọc trực quan sinh động, lồng ghép, gắn lí luận với thực tiễn giúp các em nhậnthức sâu sắc hơn giá trị của tác phẩm văn học Thực chất mục đích của phươngpháp dạy học này là giáo dục kĩ năng sống cho các em học sinh trước khi bước

ra cuộc sống bên ngoài

2.1.2 Mối quan hệ giữa văn học và đời sống.

Đời sống ở đây có thể hiểu là đời sống tâm hồn, tâm tư, tình cảm của học

sinh, rộng hơn thực tiễn là những gì xảy ra xung quanh các em [Nguồnhttp://text.123doc.org] Giáo dục học sinh nhận thức thực tiễn đời sống thôngqua các tác phẩm văn học tức là từ cuộc sống con người trong tác phẩm làm chohọc sinh hiểu rõ con người và thực tế bên ngoài, trong quá khứ, hiện tại cũngnhư tương lai, lấy cái mới soi cái cũ, lấy cái cũ soi cái mới; từ góc nhìn nhỏ soichiếu vào cuộc đời lớn Đồng thời, người học có thể vận dụng những hiểu biếtbên ngoài xã hội để cảm thụ, lý giải đời sống trong tác phẩm văn học nhằm đáp

Trang 4

ứng nhu cầu khác nhau của thực tiễn Từ đó, các em có thể hiểu nhân vật, hiểucon người và hiểu chính mình để hình thành kĩ năng sống trong cộng đồng.

Từ bao đời nay, văn học và đời sống luôn có mối quan hệ hữu cơ gắn kếtkhông thể tách rời như nhà thơ Tố Hữu đã nói: “Cuộc đời chính là nơi xuất phátcũng là nơi đi tới của văn học” [Nguồn https://giasunhanvan.com] Văn học làmột hình thái ý thức xã hội, một loại hình nghệ thuật dùng ngôn từ để thể hiệnvới chức năng phản ánh và tái tạo cuộc sống trên quan điểm thẩm mĩ qua lăngkính mang tính chủ quan của tác giả

Văn học bắt nguồn từ cuộc sống thông qua từ ngữ, hình ảnh, bút phápnghệ thuật mà tác giả đã tài tình vận dụng để phản ánh Chính cuộc sống bao la,diệu kì với bao trăn trở, suy tư này lại là chất liệu vô giá, phong phú và trở thànhnơi xuất phát cho văn học bởi văn học thực chất là “chuyện đời” (Tố Hữu)

Văn học phản ánh cuộc sống bằng những hình tượng nghệ thuật Do đó,nhà văn khi sáng tác phải xây dựng những hình tượng điển hình để khái quát bảnchất của hiện thực, phản ánh những vấn đề cơ bản của đời sống Vì vậy, khi dạyhọc văn chúng ta nên “đưa văn về với đời, gắn lý luận với thực tiễn đời sống” đểhọc sinh dễ dàng tiếp nhận nội dung tư tưởng của tác phẩm [Nguồnhttp://text.123doc.org]

2.1.3 Tầm quan trọng của môn Ngữ văn trong việc giáo dục học sinh nhận thức hiện thực đời sống.

Giáo dục học sinh nhận thức hiện thực đời sống thông qua tác phẩm vănhọc không phải là một phương pháp mới mẻ Ngay từ đợt cải cách chương trìnhsách giáo khoa lần thứ hai của Bộ giáo dục và Đào tạo Việt Nam vào năm 1956thì quan niệm “Dạy học văn gắn với đời sống” là quan niệm cơ bản chi phốihoạt động dạy học tác phẩm văn chương trong trường phổ thông Đây là mộtphương pháp dạy học tích cực nhằm mục đích vừa phát huy năng lực cảm thụvăn chương vừa giúp học sinh hình thành những kĩ năng sống phù hợp với mụctiêu giáo dục của nước ta hiện nay

Văn học có thể mang tới cho người đọc nhận thức mới mẻ và sâu rộng vềnhiều mặt của cuộc sống trong những khoảng thời gian và không gian khác

nhau Những tác phẩm như Vợ nhặt, Vợ chồng A Phủ, Những đứa con trong gia đình, Chiếc thuyền ngoài xa, … mở ra trước mắt người đọc bao hiểu biết phong

phú về cuộc sống trên đất nước mình với nhiều lĩnh vực khác nhau, từ chiến đấu,sản xuất đến phong tục, tập quán, hoàn cảnh xã hội… ; lại có tác phẩm đẫn

Trang 5

người đọc tới những miền đất xa lạ nào đó trên thế giới (Ông già và biển cả, Số phận con người, Thuốc, …) Đó chính là quá trình nhận thức cuộc sống của văn

học Thông qua cuộc sống và hình ảnh của nhiều nhân vật khác nhau được thểhiện trong các tác phẩm, văn học giúp cho mỗi người đọc hiểu được bản chấtcủa con người nói chung (Đâu là mục đích, đâu là tư tưởng, tình cảm, khát vọng

và sức mạnh…) Đồng thời chính từ cuộc đời của nhân vật, mỗi người đọc cóthể “soi” mình vào trong đó để hiểu chính bản thân mình hơn với Đó chính làquá trình tự nhận thức mà văn học mang lại cho mỗi người Như vậy, văn họcvừa có vai trò giáo dục nhận thức vừa giúp con người tự nhận thức [2; Tr185]

Thông qua việc giảng dạy các tác phẩm văn học gắn liền với đời sốngthực tiễn giúp học sinh có hứng thú với môn Văn đồng thời phát huy được tínhtích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vàonhững tình huống cụ thể của thực tiễn đời sống hàng ngày Người dạy chú trọngkhai thác kinh nghiệm vốn có của học sinh, tạo cơ hội cho các em phát triển khảnăng tự khám phá, tự trải nghiệm, tạo điều kiện cho các em thích ứng, hòa nhậpvới cuộc sống xung quanh, đặc biệt là những vấn đề có tính thời sự xã hội

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Môn Ngữ văn có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống các môn khoahọc cung cấp kiến thức cơ bản ở trường THPT Tuy nhiên, hiện nay đang xuấthiện tình trạng nhiều học sinh không thích học môn Ngữ văn. Đa số học sinhTHPT tỏ ra không có hứng thú với những giờ học Văn trong nhà trường, màthường xác định là chỉ cần học để đối phó với các kì thi Học sinh thờ ơ vớinhững vấn đề đặt ra trong tác phẩm Số phận nhân vật, tiếng nói tâm tình của tácgiả ít gây được sự đồng cảm với chúng Các em không cảm nhận được hết cáihay, cái đẹp mà tác phẩm mang lại Mặt khác, những năm gần đây, giáo dục kĩnăng sống cũng đã được lồng ghép tích hợp vào một số môn học và hoạt độnggiáo dục trong nhà trường trong đó có môn Ngữ văn Tuy nhiên, trên thực tếgiáo viên chưa thực hiện nhiều Là giáo viên dạy văn với kinh nghiệm đứng lớpgần 10 năm, tôi nhận thấy hiện nay giờ dạy văn vẫn còn khá nặng về khai thácnội dung và nghệ thuật của tác phẩm, người dạy chưa dành nhiều thời gian đểliên hệ giáo dục kĩ năng sống từ tác phẩm văn học giúp người học nhận thấy sựgần gũi và giá trị từ các tác phẩm văn học

Trang 6

Thực trạng đáng buồn này xuất phát từ nhiều nguyên nhân: Do nhận thứccủa học sinh về vấn đề học tập, việc lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai, sự bấtcập của chương trình và sách giáo khoa, sự nặng nề và cứng nhắc trong thi cử…Trong đó còn có một nguyên nhân khác là phần lớn giờ dạy Văn trong nhàtrường chưa thực sự tạo được sức cuốn hút, nếu không muốn nói đa phần lànhàm chán, đơn điệu và cứng nhắc đối với học sinh Từ thực tế giảng dạy củabản thân và một số tiết dự giờ đồng nghiệp, tôi nhận thấy các giờ dạy văn dườngnhư đã được rập khuôn, giáo viên lên lớp là phải thực hiện đầy đủ các bước: Từviệc kiểm tra sĩ số, kiểm tra bài cũ, lời dẫn vào bài, giảng bài cho đến củng cốbài và hướng dẫn bài mới, thiếu một bước xem như tiết học không thành công.Quy trình dạy học này đảm bảo sự kĩ lưỡng, chỉn chu cho tiết dạy Nhưng nó lạilàm giảm khả năng sáng tạo, hạn chế sự thăng hoa của người học Nếu cứ dạytác phẩm văn học bình thường như lâu nay chúng ta vẫn làm thì học sinh sẽ thấynhàm chán vì tiết dạy còn “nặng” về lí thuyết.

Trường THPT Mường Lát đóng trên địa bàn huyện Mường Lát - mộthuyện vùng cao xa xôi thuộc phía Tây tỉnh Thanh Hóa Chất lượng đầu vào thấp.Học sinh đa số là con em đồng bào dân tộc thiểu số, khả năng nói và viết tiếngViệt còn chưa sỏi, các em ít có điều kiện tiếp xúc với sách báo và thông tin xãhội Mặt khác, một số hộ gia đình bỏ mặc con em ở nhà để đi làm ăn xa khiếnchúng thiếu đi sự chăm sóc và giáo dục từ gia đình Chính những điều này đãảnh hưởng không nhỏ đến việc giáo dục nhận thức đời sống cho con em họ Vìnhững lẽ trên, bắt buộc người giáo viên khi đứng trên bục giảng phải lựa chọncho mình phương pháp dạy học tối ưu nhất Trong một tiết dạy chúng tôi vừadạy kiến thức trong sách vở vừa lồng ghép bài học vào thực tiễn đời sống đểgiáo dục các em

Năm học 2016-2017, tôi được Ban Giám hiệu nhà trường phân công trựctiếp giảng dạy Ngữ văn 3 trong tổng số 6 lớp 12 cụ thể: 12B, 12E và 12G Quacác buổi thảo luận chuyên đề ở tiết Tự chọn, tôi thấy hầu hết học sinh đều khôngnắm được kĩ năng sống dù là cơ bản nhất Cũng trong thời gian vừa qua, Đoàn

trường THPT Mường Lát tổ chức Hội thi “Rung chuông vàng” chào mừng 86

năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/03/1931 - 26/03/2017), khitới phần câu hỏi hiểu biết kiến thức xã hội, mặc dù là những câu rất dễ như:

“Phía Tây của huyện Mường Lát giáp với nước nào?”, “sông Mã chảy quanhững tỉnh nào của nước ta?” hay “Huyện Mường Lát có bao nhiêu xã và baonhiêu dân tộc sinh sống?”… thế nhưng đa số các em học sinh khối lớp 12 tham

Trang 7

gia Hội thi không trả lời được Từ thực tiễn giảng dạy và hoạt động, tôi nhậnthấy học sinh khối 12 nói riêng và học sinh trường THPT Mường Lát nói chungcòn thiếu hụt vốn sống thực tế rất nhiều trong khi cuộc sống thì muôn màu.

a Bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng

* Về tác giả và hoàn cảnh sáng tác

Khi dạy bài Tây Tiến nếu không tìm hiểu về hoàn cảnh ra đời của bài thơ

thì các em khó có thể hiểu hết từng ý thơ, hình ảnh thơ trong đó Sau khi Cáchmạng Tháng 8 thành công, Quang Dũng gia nhập bộ đội Năm 1947, ông thamgia đoàn quân Tây Tiến với chức vụ Đại đội trưởng Tây Tiến là đơn vị bộ độithành lập năm 1947 có nhiệm vụ phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biên giới Việt -Lào, địa bàn hoạt động chủ yếu là vùng rừng núi hiểm trở, đèo cao dốc sâu, vựcthẳm, nhiều thú dữ Quang Dũng cùng đồng đội chiến đấu trong những hoàncảnh rất gian khổ, vô cùng thiếu thốn về vật chất, chết vì sốt rét nhiều hơn là vìsúng đạn Khi người lính ngã xuống không đủ manh chiếu để liệm nên trong bài

thơ mới có hình ảnh “đoàn binh không mọc tóc”, “áo bào thay chiếu” Chính

Quang Dũng đã tận tay chôn cất cho nhiều đồng đội của mình chết vì bệnh tật,

vì sốt rét, vì chiến tranh Chắc chắn dù chưa tận mắt chứng kiến, nếm trải chiếntranh và những gian khổ ấy nhưng chính sự tái hiện chân thực cuộc sống đã làm

cho các em xúc động thấm thía Mỗi hình ảnh thơ: “rừng núi”, “sương lấp”,

“đoàn quân mỏi”, “dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm”, “heo hút cồn mây”,

… trở nên sống động, chân thực hơn Học sinh không chỉ hình dung cuộc sống

của những người lính buổi đầu kháng chiến chống Pháp như thế nào mà còn cóthể cảm thông với bao gian khổ thiếu thốn các anh phải chịu đựng trong nhữngtháng năm ở miền biên cương Tây Bắc - mảnh đất ngày nay các em đang sống

* Trọng tâm kiến thức

Cả bài thơ là nỗi nhớ da diết của nhà thơ đối với đơn vị Tây Tiến: Nhớnhững chặng đường hành quân với bao gian khổ, thiếu thốn, hi sinh mất mát mà

Trang 8

vẫn có nhiều kỉ niệm đẹp, thú vị, ấm áp; nhớ những đồng đội anh hùng… Qua

đó, tác giả khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến hào hùng, hàohoa và vẻ đẹp hùng vĩ thơ mộng của thiên nhiên miền Tây Tổ quốc

Chất lãng mạn bi tráng chính là vẻ đẹp độc đáo của hình tượng người lính cáchmạng trong thơ Quang Dũng

b Đoạn trích “Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm.

* Hoàn cảnh sáng tác

Khi dạy đoạn trích Đất nước, tôi cung cấp cho học sinh tư liệu từ đời sống

thực và cảm xúc thật của tác giả khi cầm bút trong hoàn cảnh đặc biệt - chiến

tranh ác liệt Trường ca mặt đường khát vọng được Nguyễn Khoa Điềm hoàn

thành ở chiến khu Trị - Thiên năm 1971, in lần đầu năm 1974 Đầu năm 1971,phong trào học sinh, sinh viên trong các đô thị miền nam đang rất sôi nổi Tinh

thần yêu nước bùng cháy khắp nơi Tác giả viết chương Đất nước trong những

ngày mưa triền miên sau Tết Đó là thời kì máy bay Mỹ đánh phá dữ dội B52dội bom liên tục, làm cho mọi thứ tối tăm mù mịt, cảm xúc của tác giả đượccộng hưởng bởi tiếng bom nổ, bởi khói bom và mưa rừng Ông nói: “Tôi viết vềnhững điều giản dị của chính tôi, về tuổi trẻ và các bạn bè đang tranh đấu ởtrong thành phố, nên nhân vật của tôi là anh và em” Từ những cảm xúc chânthực của tác giả, các em sẽ yêu quý, trân trọng và xúc động hơn khi học bài thơ

* Trọng tâm cơ bản

Vừa là nhà thơ vừa là chiến sĩ, vừa trực tiếp cầm bút lại vừa cầm súngtrên chiến trường, Nguyễn Khoa Điềm cảm nhận sâu sắc: Đất nước là của nhữngngười vô danh, của nhân dân Qua đó giúp học sinh nhận ra: Đất nước là một giátrị lâu bền, vĩnh hằng; đất nước được tạo dựng, được bồi đắp qua nhiều thế hệ,được truyền nối từ đời này sang đời khác Cho nên: “Khi ta lớn lên đất nước đã

có rồi!” Đất nước vừa là một ý niệm thiêng liêng vừa hiện hữu, cụ thể, rõ ràng,thân thuộc Khi giảng, tôi cố gắng thể hiện một hình ảnh Đất nước giản dị gần

gũi nhất để các em dễ hiểu và đúng với tư tưởng của nhà thơ:“Đất nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể/ Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn” Đất nước gắn bó trong những vật thân thuộc “Cái kèo cái cột thành tên”, “hạt gạo một nắng hai sương”,… và tình yêu Đất nước

bắt đầu từ đó Bố cục đoạn trích gồm:

- Phần 1: Cách cảm nhận độc đáo về quá trình hình thành và phát triển của Đất

Nước; từ đó khơi dậy ý thức về trách nhiệm thiêng liêng của thế hệ con ngườiViệt Nam với nhân dân, Đất Nước

Trang 9

- Phần 2: Tư tưởng “Đất Nước của Nhân dân” được thể hiện qua ba chiều cảm

nhận về Đất Nước: không gian địa lí, thời gian lịch sử và bản sắc văn hóa Qua

đó, nhà thơ khẳng định, ngợi ca công lao vĩ đại của nhân dân trên hành trìnhdựng nước và giữ nước

* Ý nghĩa tác phẩm: Thể hiện một cách cảm nhận về Đất Nước, qua đó khơi dậylòng yêu nước, tự hào dân tộc, tự hào về nền văn hóa đậm đà bản sắc Việt Nam

c Truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài

Vợ chồng A Phủ là kết quả của chuyến đi dài ngày của Tô Hoài cùng bộ

đội vào giải phóng Tây Bắc năm 1952 Ông được sống và gắn bó với người dân

nơi đây, được tìm hiểu về văn hóa, phong tục, tập quán của họ Câu chuyện Vợ chồng A Phủ là hoàn toàn có thực ở ngoài đời sống Khi tác giả trên đường đi

công tác đến Sơn La đã gặp một cặp vợ chồng người dân tộc Mông Anh chồng

kể cho ông nghe về số phận của mình, của chị vợ và cuộc đời của hai vợ chồngsau khi lấy nhau Câu chuyện của đôi vợ chồng ấy cộng với vốn hiểu biết về đờisống người Mông từ tác giả khiến cho cốt truyện cứ sáng tỏ dần

Vợ chồng A Phủ kể về cuộc đời của hai thanh niên người dân tộc H’Mông

(Mèo): Mị và A Phủ Mị là một cô gái đẹp, hiếu thảo, đảm đang, giàu sức sống,yêu đời và rất mực tài hoa Chỉ vì một món nợ từ hồi cha mẹ mới cưới nhau mà

Mị bị thống lí Pá Tra bắt về làm dâu trừ nợ, thực chất là làm nô lệ không công chonhà thống lí Kể từ khi bước chân vào nhà thống lí, Mị phải sống những thángngày tăm tối, bị đày đọa về thể xác, bị giày đạp về tinh thần Mị phải lao độngquần quật như con trâu, con ngựa Đã có lần Mị muốn chết nhưng sợ liên luỵ đến

bố mẹ đành thôi, tiếp tục trở về cuộc đời nô lệ Cuộc sống đau khổ đã cướp đi mấttuổi thanh xuân của Mị, làm cho cô gần như tê liệt sức sống, cứ vật vờ như chiếc

bóng, “lùi lũi như con rùa trong xó cửa” Cho đến một đêm mùa xuân náo nức,

tiếng sáo gọi bạn tình bồi hồi tha thiết vọng đến tai Mị đã đánh thức trong tâmhồn cô niềm khao khát hạnh phúc và tình yêu mãnh liệt Mị chuẩn bị áo váy đichơi xuân Nhưng rồi chồng Mị đã vùi dập phũ phàng ngọn lửa ham sống vừabùng lên đó A Sử bước vào buồng, thản nhiên trói Mị vào cột nhà Cũng trongđêm ấy, hắn phá đám cuộc chơi của trai làng nên bị A Phủ đánh trọng thương Ỷvào thế quan, thống lí Pá Tra bắt A Phủ phải làm đứa ở, lao động khổ sai để trả

nợ Một lần, vì để hổ vồ mất con bò của nhà thống lí, A Phủ bị đánh đập tàn nhẫn

và bị trói đứng vào trong góc nhà suốt mấy ngày Cảm thông cho người cùng cảnhngộ, Mị đã cởi trói cho A Phủ và cùng nhau chạy trốn khỏi Hồng Ngài, tìm đếnPhiềng Sa Họ nhận nhau là vợ chồng Họ được cán bộ là A Châu giác ngộ, dìu

Trang 10

dắt, cả hai lần lượt trở thành du kích, tham gia sự nghiệp đấu tranh chống thựcdân Pháp và bọn phong kiến tay sai để giải phóng bản thân, quê hương mình.

d Truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu

* Nguyễn Minh Châu với Chiếc thuyền ngoài xa.

Nguyễn Minh Châu sinh ra ở vùng biển miền Trung đầy cát và nắng.Cuộc sống của người dân nơi đây còn khó khăn, vất vả, quanh năm chống chọivới thiên tai bão lụt và đói nghèo Chính môi trường sống ấy đã tạo nên nhữngcon người lao động cần cù, chất phác giàu lòng yêu thương và đức hi sinh Phảinhận thấy rằng, Nguyễn Minh Châu là nhà văn rất tinh tế và tài năng trong việckhai thác những khía cạnh khác nhau của đời sống hiện thực và con người đểđưa vào tác phẩm Ông quan tâm tới đời sống và số phận của những con ngườisống quanh mình; nhạy cảm trước nỗi khổ đau, bất hạnh của những con người

bình thường Chiếc thuyền ngoài xa là truyện ngắn tiêu biểu cho khuynh hướng

sáng tác đó

* Trọng tâm kiến thức

Để có thể xuất bản một bộ lịch nghệ thuật về thuyền và biển, theo lời đềnghị của trưởng phòng, nghệ sĩ nhiếp ảnh phùng đi tới một vùng biển đã từng làchiến trường cũ của anh thời chống Mỹ Sau mấy buổi sáng “phục kích”, anh đã

“chộp” được một cảnh “đắt” trời cho: Cảnh một chiếc thuyền ngoài xa trong lànsương sớm, đẹp như một bức tranh mực tàu Thế nhưng ngay sau đó, Phùng lạichứng kiến một cảnh bạo lực gia đình Những ngày sau, cảnh bạo lực đó lại tiếpdiễn không thể nén chịu được, Phùng đã xông ra ngăn cản người đàn ông, bị lãođánh trả nên anh bị thương Ở tòa án huyện, người đàn bà hàng chài đuộc Đẩu -chánh án huyện - mời đến, anh khuyên người đàn bà bỏ chồng để khỏi bị hành

hạ nhưng khi nghe câu chuyện và những lý lẽ của người đàn bà hàng chài thìPhùng và Đẩu mới vỡ lẽ ra nhiều điều

Những tấm ảnh Phùng chụp đã được chọn cho bộ lịch nghệ thuật Mỗi lầnngắm bức ảnh ấy, Phùng lại thấy hiện lên màu hồng hồng của ánh sương mai vàngười đàn bà hàng chài thô kệch

e Trích đoạn vở kịch “Hồn Trương Ba da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ.

Trương Ba là một người đàn ông 60 tuổi, ông là một người làm vườn tốtbụng, đặc biệt rất cao cờ Do tắc trách, thần Nam Tào gạch bừa trúng tên Trương

Ba, khiến ông phải chết oan Vợ Trương Ba lên Thiên đình kiện Theo gợi ý của

Đế Thích, để sửa sai, Nam Tào cho hồn Trương Ba nhập vào thể xác hàng thịt ởlàng bên vừa mới chết, mới ngoài 30 tuổi, để được sống lại

Trang 11

Kể từ khi sống nhờ thể xác hàng thịt, hồn Trương Ba gặp rất nhiều phiềntoái: lí trưởng sách nhiễu, chị hàng thịt đòi chồng; gia đình Trương Ba ngàycàng khốn đốn Đặc biệt, sống bằng thân xác hàng thịt, Trương Ba dần dà tiêmnhiễm một số thói xấu và những nhu cầu vốn xa lạ với ông Khó khăn nhất là lúcchị hàng thịt đòi hỏi Trương Ba phải là người đàn ông thực sự của chị Tên Lítrưởng nhân đấy sách nhiễu vòi tiền; con trai Trương Ba ngày càng đắc ý, lấnlướt, coi thường bố Ngược lại, vợ, con dâu, cháu nội Trương Ba không thể chịunổi và dần dần xa lánh Trương Ba vô cùng đau khổ Trước nghịch cảnh ấy, cuốicùng Trương Ba quyết định trả lại thân xác cho hàng thịt, cũng không chấp nhậnnhập vào xác cu Tị, kiên quyết chấp nhận cái chết.

2.3.2 Giáo dục học sinh nhận thức thực tiễn đời sống thông qua một số tác phẩm văn học.

Tác phẩm văn học là hiện thực cuộc sống Vì vậy, đòi hỏi giáo viên bộmôn Ngữ văn phải là người hướng dẫn các em tìm và khám phá những cái hay,cái đẹp của cuộc sống, cái xấu xa của xã hội Qua tác phẩm, giúp các em nhậnthức được hiện thực cuộc sống thông qua tính cách và số phận nhân vật Bảnthân các em tự nhận thấy và bồi dưỡng kiến thức xã hội cho chính bản thân quatừng tác phẩm Học sinh tự khẳng định phẩm chất tốt, xấu và những điều nênlàm hay những điều cần xa lánh

Trong dạy học theo định hướng năng lực, đánh giá kết quả học tập củahọc sinh không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện thông tin đã biết làm trọngtâm mà chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống

cụ thể Vì thế, trong quá trình dạy học, giáo viên chọn lọc nội dung và đưa ranhững câu hỏi gợi dẫn giúp học sinh liên hệ tới những vấn đề tác giả đề cậptrong tác phẩm với thực tế đời sống, đặc biệt là những vấn đề “thời sự nóng hổi”của xã hội hiện đại

a Dạy bài “Tây Tiến” của Quang Dũng

Bài thơ tái hiện những chặng đường hành quân của người lính Tây Tiếnngay chính tại vùng đất mà đa số học sinh trường THPT Mường Lát sinh sống.Đặc biệt là những em sống ở bản Sài Khao (Mường Lý - Mường Lát) Nắm bắtđược thực tế đó, tôi đã vận dụng vào bài dạy cho các em

Tây Tiến có thể coi là một trong những bông hoa tươi thắm nhất của chùm

hoa thơ viết về anh bộ đội cụ Hồ trong thơ ca kháng chiến chống Pháp Bài thơngay từ khi ra đời đã tạo một sức sống hết sức mạnh mẽ và bền bỉ trong lòngngười đọc Sức sống ấy có được là nhờ ngòi bút của Quang Dũng đã từ những

Ngày đăng: 16/08/2017, 15:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w