Nếu dạng câu hỏi tái hiện kiến thức chỉ có thể kiểm tra học sinh ở mức nhận biết, thông hiểu, có biết, hiểu, nắm được những kiến thức văn học đã được dạy trong chương trình hay không thì
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT LÊ VĂN HƯU
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MÔN NGỮ VĂN, KỲ THI THPT QUỐC GIA
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hương Chức vụ: Tổ phó CM
SKKN thuộc lĩnh vực (Môn): Ngữ văn
Thiệu Hoá, tháng 5 năm 2017
Trang 2- Thực hiện Nghị quyết 29- NQ/TW về “đổi mới căn bản toàn diện Giáo
dục và Đào tạo”, trong những năm gần đây ngành Giáo dục và Đào tạo đã và
đang thực hiện đổi mới một cách đồng bộ ở tất cả các khâu Trong đó chú trọngđến việc đổi mới kiểm tra đánh giá, từ khâu then chốt này sẽ dẫn đến việc đổimới nội dung và phương pháp dạy học Nếu như trước đây việc kiểm tra đánh
Trang 3giá học sinh còn nặng về kiểm tra kiến thức, kĩ năng thì bây giờ việc kiểm tra,đánh giá học sinh theo hướng phát triển năng lực Để thực hiện được điều này,
Bộ đã thực hiện nhiều phương án trong đó đổi mới thi cử và cách ra đề thi làphương án hữu hiệu nhất Cũng từ năm đó dạng câu hỏi Đọc- hiểu bắt đầu được đưa vào đề thi để thay thế cho dạng câu hỏi tái hiện kiến thức Có thể nói, đây
là sự đổi mới tích cực trong cách ra đề Ngữ văn theo định hướng mới Nếu dạng
câu hỏi tái hiện kiến thức chỉ có thể kiểm tra học sinh ở mức nhận biết, thông
hiểu, có biết, hiểu, nắm được những kiến thức văn học đã được dạy trong
chương trình hay không thì dạng câu hỏi Đọc-hiểu đã nâng cao hơn một
mức vận dung thấp, vận dụng sáng tạo, kiểm tra, phát triển được năng lực tự
cảm nhận một văn bản bất kì (có thể văn bản đó hoàn toàn xa lạ đối với các em)Như vậy, có thể thấy, bên cạnh việc ôn tập, rèn kỹ năng viết phần tự luận thìviệc ôn tập và rèn kỹ năng làm dạng câu hỏi đọc- hiểu là điều cần thiết phảitrang bị cho học sinh Để làm được phần này phải đòi hỏi người học có mộtnăng lực đọc-hiểu văn bản nhất định trên một nền tảng kiến thức cơ bản
- Năm 2015, Bộ đã sát nhập hai kì thi tốt nghiệp THPT và Đại học- Caođẳng thành kì thi THPT Quốc gia Những thay đổi nói trên tiếp tục được thựchiện Bố cục của đề thi những năm gần đây bao gồm hai phần: Đọc- hiểu vàLàm văn Đối với phần đọc- hiểu, thí sinh cần phải nắm vững kiến thức phầntiếng Việt, lý thuyết làm văn của chương trình THCS và THPT
- Ngữ văn là môn học “khó nhằn” đối với nhiều học sinh vì thông thường
môn văn khá dài, khó nhớ ý và có cách diễn đạt rất phong phú Thực trạng học
sinh hứng thú với các môn xã hội như Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý ngày càng suygiảm Phần lớn học sinh học văn với thái độ đối phó, học vì sức ép thi cử.Một phần nguyên nhân của tình trạng này là sự ảnh hưởng của nền kinh tế thịtrường, nhu cầu của phụ huynh học sinh và học sinh chưa tìm được cách họckhoa học và hợp lý
Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy, yêu cầu của thi cử cũng như vai trò củamột giáo viên tâm huyết với nghề, nhiều năm ôn thi Tốt nghiệp, Đại học, đồngthời góp phần tháo gỡ những khó khăn trên, tôi đã lựa chọn đề tài sáng kiến kinhnghiệm: “Một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh khối 12 cách làm phần đọc- hiểu trong bài thi Môn Ngữ văn, kỳ thi THPT quốc gia”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Đưa ra đề tài này, thông qua việc hướng dẫn các em học sinh khối 12 cáchlàm bài các dạng đề Đọc- hiểu, tôi muốn nâng cao chất lượng làm dạng câu hỏiĐọc-hiểu của học sinh THPT nói chung, học sinh trường THPT Lê Văn Hưu nóiriêng, nhất là các em học sinh lớp 12C4 chuẩn bị bước vào kì thi THPT Quốcgia Vì thế, khi nghiên cứu và thực hiện đề tài này tôi đã hướng tới các mục đích
cụ thể sau:
Trang 4- Giúp học sinh nắm vững những kiến thức lý thuyết liên quan đến câuhỏi đọc hiểu
- Giúp học sinh có kỹ năng, phương pháp, cách thức làm dạng câu hỏinày đạt kết quả cao
- Góp phần nâng cao chất lượng bộ môn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Học sinh trung học phổ thông, học sinh lớp 12 chuẩn bị thi THPT Quốcgia môn Ngữ văn Tôi chọn lớp 12 C4 trường THPT Lê Văn Hưu
1.4.Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, người viết đã sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp điều tra
1.5 Điểm mới của đề tài
Kỳ thi THPT quốc gia 2017, có sự thay đổi về thời lượng và yêu cầu của
đề thi Cụ thể, năm nay, thời gian làm bài thi giảm từ 180 phút còn 120 phút.Cấu trúc đề thi vẫn gồm 2 phần nhưng phần Đọc-hiểu (3.0 điểm), trước đâygồm 2 đoạn trích - 2 văn bản , thí sinh phải trả lời 8 câu hỏi thì nay chỉ còn mộtvăn bản với việc trả lời 4 câu hỏi Đặc biệt phần văn bản đọc- hiểu sẽ là cơ sở
để học sinh viết đoạn văn nghị luận xã hội trong phần Làm văn của bài thi
Những thay đổi về hình thức thi của kỳ thi THPT quốc gia từ 2015 đãmang tới cho các học sinh lớp 12 không ít bối rối Theo sự thay đổi này, nămnay, các học sinh sẽ phải thi 4 môn trong đó có 3 môn bắt buộc là: Toán, Văn,Anh và tổ hợp (hoặc tự nhiên hoặc xã hội)
Việc phải làm một bài thi được sử dụng với hai mục đích là vừa xét tốtnghiệp vừa tuyển sinh Đại học- Cao đẳng đã mang tới cho học sinh nhiều bănkhoăn, nhất là đối với môn Ngữ văn Bởi lẽ, lâu nay nhiều học sinh theo khối tựnhiên dường như bỏ ngỏ môn học này Chính vì thế, thời điểm này, các em đangrơi vào tình trạng chạy cấp tốc với mong muốn đủ điểm tốt nghiệp
2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Khái niệm đọc- hiểu
Lâu nay trong dạy học văn, người ta thường dùng thuật ngữ là giảng
văn, phân tích văn…song từ khi thay sách đã thay bằng thuật ngữ Đọc- hiểu văn bản Đây không chỉ là sự thay đổi về tên gọi mà thực chất là sự thay đổi thay đổi
quan niệm về bản chất của môn Ngữ văn, cả về phương pháp dạy học văn và cáchoạt động khi tiếp nhận tác phẩm văn học cũng có những thay đổi Theo Giáo
Trang 5sư- Tiến sĩ Nguyễn Thanh Hùng “Đọc hiểu là một khái niệm khoa học chỉ mức
độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ năng lực văn của người đọc”.“Đọc hiểu là hoạt động truy tìm và giải mã ý nghĩa văn bản” Còn
với Giáo sư Trần Đình Sử :“Đọc hiểu văn bản như một khâu đột phá trong việc
đổi mới dạy học và thi môn Ngữ văn, là yêu cầu bức thiết đối với việc đào tạo nguồn nhân lực mới cho đất nước tiến theo các nước tiên tiến” Đọc- hiểu là quá
trình thâm nhập vào văn bản với thái độ tích cực, chủ động Đây là một năng lựccần thiết mà người học nói chung và học sinh THPT cần quan tâm Nếu chúng takhông có trình độ năng lực đọc thì không hiểu đúng, đánh giá đúng văn bản.Không nắm vững, đánh giá được văn bản thì không thể tiếp thu, bồi đắp được trithức và cũng không có cơ sở để sáng tạo Vì thế vấn đề Đọc- hiểu môn Ngữ văntrong nhà trường là rất cần thiết
Như vậy, Đọc- hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản
thông qua khả năng tiếp nhận của học sinh Đọc- hiểu là tiếp xúc với văn bản,hiểu được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểucác thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hìnhtượng nghệ thuật Với quan điểm phát huy vai trò chủ thể của học sinh, xuấtphát từ đặc thù của văn chương (nghệ thuật ngôn từ), mà vấn đề Đọc- hiểu vănbản ngày càng được quan tâm
Đọc- hiểu văn học trong nhà trường THPT thường hướng tới các vấn đề
cụ thể sau:
- Nhận biết đúng, chính xác về văn bản: các phong cách ngôn ngữ; Nhận
biết đề tài, nhan đề, chủ đề, tóm tắt được các nội dung của văn bản; Nắm đượccác phương thức biểu đạt của văn bản ; các thao tác lập luận
- Thông hiểu, đánh giá đúng văn bản: Cảm nhận được những đặc sắc, nổi
bật về từ ngữ, hình ảnh,chi tiết, các biện pháp tu từ ; Hiểu được ý nghĩa hàm ẩncủa văn bản, đánh giá được nội dung, ý nghĩa của văn bản bằng kiến thức, kinhnghiệm của mình
- Vận dụng để giải quyết một vấn đề cụ thể: Liên hệ mở rộng một vấn đề
nào đó từ văn bản bằng suy nghĩ, ý kiến của mình; Vận dụng văn bản để trìnhbày phương hướng, biện pháp giải quyết một vấn đề cụ thể của cuộc sống, của
xã hội
2.1.2 Phạm vi đọc - hiểu
- Văn bản đưa ra làm ngữ liệu có thể là văn bản văn học (thơ/ văn xuôi).Văn bản đó có thể nằm trong chương trình chính khóa/ đọc thêm thậm chí lànhững văn bản rất mới, hoàn toàn xa lạ với học sinh- văn bản ngoài nhà trường.Loại văn bản này đang được sử dụng nhiều hơn vì nó liên quan đến viết đoạnvăn nghị luận xã hội ở phần Làm văn
- Văn bản đưa ra làm ngữ liệu có thể là những văn bản nhật dụng trong đờisống hàng ngày
2.2 Thực trạng vấn đề
Trang 6- Câu hỏi Đọc hiểu là một kiểu dạng khá mới mẻ được đưa vào đề thi
THPT Quốc gia nên chưa được cụ thể hóa thành một bài học riêng trong chươngtrình Ngữ văn bậc THPT Dạng này cũng không có nhiều tài liệu, bài viết
chuyên sâu để tham khảo Nó chưa “lộ diện” thành một bài cụ thể trong sách
giáo khoa, hơn nữa kiến thức đọc hiểu nằm rải rác trong chương trình học mônNgữ văn từ cấpTHCS đến cấp THPT Chính vì thế, mà không ít giáo viên ôn thiTHPT Quốc gia tỏ ra lúng túng khi hướng dẫn học sinh làm bài Điều đó cũngảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng, kết quả bài thi của học sinh
- Đọc -hiểu văn bản là một trong hai phần bắt buộc có trong một đề thi THPTQuốc gia Phần này tuy không chiếm phần lớn số điểm(3/10) nhưng lại có vị trírất quan trong bởi nó quyết định điểm cao hay thấp trong một bài thi Nếu họcsinh làm sai hết phần này thì chắc chắn điểm toàn bài còn lại dù có tốt mấy cũngchỉ đạt khoảng 6,0 điểm Ngược lại, nếu học sinh làm tốt phần đọc hiểu các em
sẽ có nhiều cơ hội đạt điểm văn 7,0 hoặc 8,0 Như vậy, phần Đọc- hiểu góp phầnkhông nhỏ vào kết quả thi môn Ngữ văn cũng như tạo cơ hội cao hơn cho các
em xét tuyển Đại học Có thể nói, ôn tập và làm tốt phần Đọc -hiểu chính là giúp
các em gỡ điểm cho bài thi của mình Vì vậy, việc ôn tập bài bản để các em học
sinh lớp 12 làm tốt phần đọc- hiểu, làm tốt bài thi của mình càng trở nên cấpthiết Đối với học sinh trường THPT Lê Văn Hưu, nhất là lớp 12, đây là phầnkiến thức mà các em đang rất quan tâm, mong muốn được các thầy cô củng cố
để chuẩn bị cho kì thi THPT Quốc gia
- Ngay từ khi Bộ GD&ĐT thông báo và hướng dẫn các sở, các trườngTHPT thực hiện đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá trong kì thi tốt nghiệpTHPT năm học 2013-2014, vấn đề Đọc - hiểu thu hút sự chú ý của rất nhiều cácthầy cô và học sinh nhất là học sinh lớp 12 Cùng với việc chuyên viên của Bộ
GD & ĐT giải đáp những thắc mắc về hướng ra đề phần Đọc - hiểu (liên quanđến phần ngữ pháp, Tiếng Việt, ngữ liệu chủ yếu lấy phần đọc thêm) thì nhiềuthầy cô giáo luyện thi có nhiều kinh nghiệm cũng đăng trên trang cá nhân củamình những bài ôn tập Đọc- hiểu Song những hướng dẫn ôn tập đó thực sựchưa có tính hệ thống
- Một số cuốn sách phục vụ cho ôn luyện thi THPT Quốc gia môn Ngữ
văn đã ra mắt bạn đọc: Bộ đề luyện thi THPT Quốc gia Ngữ văn năm 2015 của thầy Phan Danh Hiếu, Hướng dẫn ôn luyện thi THPT Quốc gia môn ngữ văn, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015 và cuốn Bộ đề luyện thi
THPT Quốc gia môn Ngữ văn của tác giả Lê Quang Hưng, nhà xuất bản Đại học
Quốc gia Hà Nội, năm 2016, đã đề cập tới dạng câu hỏi Đọc hiểu, cung cấp một
số kiến thức lý thuyết Song học sinh chưa được tiếp cận nhiều
Như vậy, các bài nghiên cứu, các cuốn sách hướng dẫn ôn luyện đều đềcập tới tất cả các phần trong đề thi môn văn THPT Quốc gia Chưa có sáchnghiên cứu riêng phần Đọc- hiểu một cách bài bản những kiến thức lý thuyết,bài tập thường gặp trong đề Đọc- hiểu và cũng chưa phân loại quy củ, chi tiết,
hệ thống kiến thức để học sinh dễ ôn tập Chính vì thế, đề tài sáng kiến kinh
nghiệm: “Một vài kinh nghiệm hướng dẫn học sinh khối 12 cách làm phần
Trang 7Đọc-hiểu trong bài thi môn Ngữ văn, kỳ thi THPT Quốc gia” vẫn là một đề tài mới,
có tính ứng dụng, cần thiết rất cao
- Thực tế mấy năm gần đây đề thi môn Ngữ văn có phần Đọc- hiểu Năm
2015, Bộ GD & ĐT hợp nhất hai kì thi Tốt nghiệp THPT và tuyển sinh vào Đạihọc, Cao đẳng thành một kì thi chung Từ chỗ có nhiều đề thi Ngữ văn (đề thitốt nghiệp THPT; đề thi tuyển sinh vào Đại học, Cao đẳng khối C, D), năm naychỉ có một đề thi duy nhất vừa lấy điểm để xét tốt nghiệp, vừa lấy điểm để xétvào Đại học, Cao đẳng Phần Đọc -hiểu trong đề thi từ chỗ chiếm 2/10 điểm nay được nâng lên 3/10 điểm Nhưng thay vì 1 văn bản với 3 câu hỏi nhỏ nhưnăm 2014, đề thi năm 2015 ra 2 văn bản khá dài với 8 câu hỏi nhỏ Đến năm
2016 cấu trúc đề thi môn văn cũng không có gì thay đổi so với năm học trước.Năm nay, chỉ một văn bản với 4 câu hỏi nhỏ.(GV cung cấp các đề thi của từngnăm để học sinh tham khảo)
- Kiến thức đọc-hiểu cả trong chương trình THCS và THPT tương đối nhiều,học sinh đã học từ lâu nên thường bị mai một, thậm chí không còn để ý Vì vậy,giáo viên cần cung cấp một cách hệ thống lượng kiến thức liên quan đến đọc-hiểu
2.3 Các giải pháp thực hiện (Hướng dẫn học sinh ôn luyện)
Với phần đọc- hiểu trong bài thi nhiều em học sinh tỏ ra rất lúng túng, bănkhoăn làm thế nào để làm tốt được phần này trong bài thi Đứng trước thực trạng
đó, bằng kinh nghiệm của bản thân đang trực tiếp ôn thi THPT Quốc gia, quanhững năm dạy đội tuyển học sinh giỏi, dạy chuyên đề ôn thi đại học cũng như
trao đổi với đồng nghiệp, tôi đề xuất một vài kinh nghiệm hướng dẫn học sinh
khối 12 làm phần Đọc- hiểu trong bài thi môn Ngữ văn, kỳ thi THPT Quốc gia
đề đọc hiểu văn bản nào
Sau mỗi phần lý thuyết đều có ví dụ minh họa để học sinh củng cố, kiểmchứng lại lý thuyết Bao gồm các câu hỏi về: Các loại phong cách ngôn ngữ; cácphương thức biểu đạt; các thao tác lập luận; phương thức trần thuật; phươngthức miêu tả tâm lí; các biện pháp tu từ; các phép liên kết; các hình thức lậpluận; các thể thơ; xác định nội dung chính, đặt nhan đền; viết một đoạn văn ngắntrình bày quan điểm của cá nhân về một vấn đề của cuộc sống có liên quan đếnvăn bản
2.3.1.1 Các phong cách chức năng ngôn ngữ (6 phong cách)
Trang 8Bất kỳ một văn bản đều thuộc một phong cách nhất định, thậm chí có thểthuộc 2 phong cách Vậy làm thế nào để học sinh nhận diện phong cách mộtcách chính xác
- Để cung cấp về khái niệm, đặc trưng và để học sinh dễ nhận diện, phânbiệt các phong cách, giáo viên có thể cho học sinh nắm kiến thức bằng cách lậpbảng như sau:
cá nhân nhằm để traođổi tư tưởng, tình cảmcủa mình với ngườithân, bạn bè, hàng xóm,đồng nghiệp, đồng hành,
…
+ Tính cụ thể
+ Tính cảm xúc
+Tính cáthể
- Sử dụng ngônngữ mang tính tựnhiên, thoải mái
và sinh động, íttrau chuốt…giaotiếp tư cách cánhân
- Gồm Thư từ,nhật kí, cuộc nóichuyện
2 Khoa học - Là phong cách được
dùng trong lĩnh vựcnghiên cứu, học tập vàphổ biến khoa học Ðây
là phong cách ngôn ngữđặc trưng cho các mụcđích diễn đạt chuyênmôn sâu
+Tính trừutượng- kháiquát
+ Tính lítrí- lôgic
+Tínhkhách quan-phi cá thể
- Phong cách nàybao gồm các vănbản: khoa họcchuyên sâu, KHgiáo khoa , KHphổ cập
3 Nghệ thuật - Là phong cách được
dùng trong sáng tác vănchương
+ Tính hìnhtượng
+Tínhtruyền cảm
+ Tính cáthể hoá
- Các văn bảnvăn học: Thơ,truyện, kịch
- Từ ngữ trauchuốt, tinhluyện…
4 Chính luận - Là phong cách được
dùng trong lĩnh vựcchính trị xã hội, thườngbày tỏ chính kiến, bộc lộcông khai quan điểmchính trị, tư tưởng củamình đối với những vấn
đề thời sự nóng hổi của
+ Tính côngkhai về quan điểm chính trị
+Tính chặt chẽ trong diễn đạt và suy luận
-Người giao tiếpthường bày tỏchính kiến, quanđiểm tư tưởng,tình cảm củamình với nhữngvấn đề chính trị,
xã hội
Trang 9xã hội + Tính
truyền cảm
và thuyếtphục:
- lời tuyên ngôn,cáo, chiếu biểu,hịch, bài luận 5
Báo chí
(thông tấn)
- Là phong cách đượcdùng trong lĩnh vựcthông tin của xã hội vềtất cả những vấn đề thời
sự trong nước và quốc
tế
+Tính thôngtin thời sự
+ Tính ngắngọn
+ Tính sinhđộng, hấpdẫn
- Các loại văn bản thuộc lĩnh vực truyền thông của xã hội về tất
cả các vấn đề thờisự
chính-
Công vụ
Là phong cách đượcdùng trong giao tiếpthuộc lĩnh vực hànhchính- công vụ Ðấy làgiao tiếp giữa Nhà nướcvới nhân dân, giữa nhândân với cơ quan Nhànước, giữa cơ quan với
cơ quan, giữa nước này
và nước khác
+ Tính minh xác + Tính khuôn mẫu+ Tính côngvụ
- Các văn bảnthuộc lĩnh vựcgiao tiếp điềuhành và quản lí
xã hội
- Sau khi cung cấp lý thuyết, giáo viên cung cấp một số văn bản, yêu cầu
học sinh nhận diện xem văn bản ấy thuộc phong cách ngôn ngữ nào, vì sao?
2.3.1.2 Các phương thức biểu đạt (6 phương thức).
Một văn bản bất kỳ nào đó đều phải sử dụng phương thức biểu đạt Cóthể xuất hiện nhiều phương thức biểu đạt như tự sự và miêu tả, thuyết minh vàbiểu cảm… song sẽ có một phương phương thức nổi bật nhất
- Để học sinh dễ nhận diện các phương thức biểu đạt trong các văn bản,giáo viên cung cấp một cách hệ thống đặc điểm các phương thức biểu đạt Giáoviên cho học sinh nắm kiến thức bằng cách lập bảng như sau:
- Bản tin báo chí
- Bản tường thuật, tườngtrình
-Tác phẩm văn họcnghệ thuật
2 Miêu tả Tái hiện các tính chất, thuộc
tính sự vật, hiện tượng, giúpcon người cảm nhận và hiểuđược chúng
- Văn tả cảnh, tả người, vật…
- Đoạn văn miêu tả trongtác phẩm tự sự
3 Biểu cảm Bày tỏ trực tiếp hoặc gián - Điện mừng, thăm hỏi,
Trang 10tiếp tình cảm, cảm xúc củacon người trước những vấn
đề tự nhiên, xã hội, sự vật
chia buồn
- Tác phẩm văn học: thơtrữ tình, tùy bút
minh
Trình bày thuộc tính, cấu tạo,nguyên nhân, kết quả có íchhoặc có hại của sự vật hiệntượng, để người đọc có trithức và có thái độ đúng đắnvới chúng
- Thuyết minh sản phẩm
- Giới thiệu di tích, thắng cảnh, nhân vật
- Trình bày tri thức vàphương pháp trong khoahọc
5 Nghị luận Trình bày ý kiến đánhgiá, bàn
luận, trình bày tư tưởng, chủtrương quan điểm của conngười đối với tự nhiên, xãhội, qua các luận điểm, luận
cứ và lập luận thuyết phục
- Cáo, hịch, chiếu, biểu
- Xã luận, bình luận, lời kêu gọi, sách lí luận
- Tranh luận về một vấn
đề trính trị, xã hội, vănhóa
cơ quan quản lí
2.3.1.3 Các thao tác lập luận (6 thao tác)
Trong một văn bản thường kết hợp nhiều thao tác lập luận, song thường
có một thao tác chính
- Để học sinh dễ nắm bắt kiến thức giáo viên cung cấp hệ thống lý thuyết
về các thao tác lập luận theo bảng sau:
TT Thao tác lập
luận
Khái niệm- Đặc điểm để nhận diện
1 Giải thích - Giải thích là vận dụng lí lẽ để cắt nghĩa vấn đề nghị
luận một cách rõ ràng và giúp người khác hiểu đúng ýnghĩa
2 Phân tích - Phân tích là chia tách đối tượng, sự vật hiện tượng
thành nhiều bộ phận, yếu tố nhỏ để đi sâu xem xét kĩlưỡng nội dung và mối liên hệ bên trong của đối tượng
3 Chứng minh - Chứng minh là đưa ra những cứ liệu- dẫn chứng xác
đáng để làm sáng tỏ một một vấn đề để thuyết phụcngười đọc người nghe tin tưởng vào vấn đề
4 Bình luận - Bình luận là bàn bạc đánh giá vấn đề, sự việc, hiện
tượng…đúng hay sai, hay/dở; tốt/xấu, lợi/hại…; đểnhận thức đối tượng, có cách ứng xử phù hợp và cóphương châm hành động đúng
Trang 115 So sánh - So sánh là một thao tác lập luận nhằm đối chiếu hai
hay nhiều sự vật, đối tượng hoặc là các mặt của một sựvật để chỉ ra những nét giống nhau hay khác nhau, từ
đó thấy được giá trị của từng sự vật hoặc một sự vật màmình quan tâm
- Hai sự vật cùng loại có nhiều điểm giống nhau thì gọi
là so sánh tương đồng, có nhiều điểm đối chọi nhau thìgọi là so sánh tương phản
6 Bác bỏ - Bác bỏ là chỉ ra ý kiến sai trái của vấn đề trên cơ sở
đó đưa ra nhận định đúng đắn và bảo vệ ý kiến lậptrường đúng đắn của mình
- Sau khi cung cấp lý thuyết giáo viên cho học sinh mộ số bài tập minhhọa, yêu cầu nhận diện chỉ ra các thao tác lập luận được sử dụng trong văn bản
2.3.1.4.Các phương thức trần thuật (3 phương thức)
- Các phương thức này xuất hiện trong văn bản văn xuôi Có 3 phươngthức trần thuật như sau:
2 Trần thuật từ ngôi
thứ 3
- Người kể chuyện tự giấu mình (không xuất
hiện trực tiếp nhưng biết hết mọi chuyện)- gọinhân vật là “hắn”, “thị”, “y”
3 Trần thuật từ ngôi
thứ 3
- Người kể chuyện tự giấu mình nhưng diểm
nhìn và lời kể lại theo giọng điệu của nhân vậttrong tác phẩm (Lời nửa trực tiếp)
- Giáo viên cung cấp một số văn bản minh hoạ trích trong các tác phẩm
“Chí Phèo” - Nam Cao, “Những đứa con trong gia đình”- Nguyễn Thi, “Vợ nhặt” - Kim Lân, “ Chiếc thuyền ngoài xa”-Nguyễn Minh Châu
2.3.1.5.Các phương thức miêu tả tâm lí (2 phương thức)
Đây chính là phương thức khắc hoạ nội tâm nhân vật xuất hiện trong tác phẩm văn xuôi Cụ thể:
- Giáo viên cung cấp cho học sinh một số đoạn trích trong các tác phẩm
đã học: đoạn miêu tả độc thoại nội tâm của Chí Phèo trong “Chí Phèo”- Nam