SỞ GD & ĐT THANH HÓA TRƯỜNG THPT NGUYỄN XUÂN NGUYÊN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ ĐÁNH GIÁ CHO HỌC SINH TRONG CÁC GIỜ TRẢ BÀI LÀM VĂN Ở TRƯỜNG THPT HI
Trang 1SỞ GD & ĐT THANH HÓA TRƯỜNG THPT NGUYỄN XUÂN NGUYÊN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC TỰ ĐÁNH GIÁ CHO HỌC SINH TRONG CÁC GIỜ TRẢ BÀI LÀM VĂN
Ở TRƯỜNG THPT HIỆN NAY
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hạnh
Tổ công tác: Tổ Ngữ văn Năm học: 2016 - 2017 SKKN thuộc lĩnh vực: Ngữ văn
Thanh Hóa, tháng 5 năm 2017
SỞ GD&ĐT THANH HÓA
TRƯỜNG THPT NGUYỄN XUÂN NGUYÊN
Trang 2MỤC LỤC
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 4
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 5
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải
quyết vấn đề
6
2.3.1 Giúp học sinh xác định những yêu cầu cơ bản, những năng lực
quan trọng cần hình thành và phát triển trong mỗi giờ trả bài làm văn
6
2.3.2 Hướng dẫn học sinh tự đánh giá, nhận xét bài văn 8 2.3.3 Hướng dẫn học sinh tự tổ chức hoạt động rút kinh nghiệm về bài
kiểm tra làm văn
11
2.4 Hiệu của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân đồng nghiệp và nhà trường
15
2.4.1 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục
và bản thân
15
2.4.2 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với đồng nghiệp 15
Trang 3I MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Trên phương diện tổng quát, đổi mới giáo dục phổ thông, trong đó đổi mới hoạt động kiểm tra đánh giá trong môn Ngữ văn nhằm nâng cao năng lực tự đánh giá cho học sinh là một yêu cầu trọng yếu và có ý nghĩa hết sức quan trọng
Về bản chất, trả bài làm văn là một hoạt động cơ bản trong chương trình dạy học Ngữ văn ở trường trung học phổ thông (viết tắt là THPT) hiện nay Nó
là khâu cuối cùng và có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quá trình kiểm tra đánh giá môn học cũng như xác định mức độ hoàn thành nhiệm vụ dạy học Thông qua hoạt động này, giáo viên, các nhà quản lí giáo dục có thể thu thập thông tin, làm cơ sở để điều hành, chỉ đạo việc dạy học một cách hiệu quả
Trên góc độ người học, thực hiện tốt hoạt động trả bài làm văn, không chỉ có thể đánh giá chính xác khả năng nhận thức, tư tưởng, tình cảm của người học mà còn có thể nâng cao các năng lực quan trọng khác của họ như năng lực hợp tác, phát hiện và giải quyết vấn đề, đặc biệt là năng lực tự nhận thức, khả năng tự đánh giá Cũng qua hoạt động trả bài làm văn, giáo viên có thể giáo dục học sinh biết trân trọng, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc, tình yêu quê hương đất nước
Vấn đề đổi mới hoạt động trả bài làm văn cho học sinh THPT hiện nay đã được nhiều nhà giáo dục, giáo viên đứng lớp quan tâm Tuy nhiên, việc tìm ra giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng hoạt động trả bài làm văn, đặc biệt là nâng cao năng lực tự đánh giá của người học còn gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc
Khảo sát điều tra trực tiếp các bài thi, kiểm tra định kì của học sinh trong những năm qua ở các nhà trường THPT cho thấy, hầu hết lời phê, lời nhận xét bài văn đều do giáo viên thực hiện Việc tự nhận xét, đánh giá bài làm văn của người học chưa được phát huy
Chọn đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực tự đánh giá cho học sinh trong các giờ trả bài làm văn ở trường THPT Nguyễn Xuân Nguyên” Chúng tôi mong
muốn đưa ra một số giải pháp phù hợp để thực hiện có hiệu quả hoạt động trả bài, góp phần nâng cao năng lực tự đánh giá nhận xét cho học sinh THPT trong các giờ dạy học làm văn hiện nay
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆMThanh Hóa, tháng 5 năm 2016
Trang 41.2 Mục đích nghiên cứu
- Góp phần nâng cao chất lượng các giờ trả bài làm văn cho học sinh THPT hiện nay
- Thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới công tác đánh giá nói riêng
- Góp phần đào tạo lực lượng lao động có năng lực đánh giá, tư duy sáng tạo
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Giải pháp nâng cao năng lực tự đánh giá cho học sinh trong các giờ trả bài làm văn ở trường THPT hiện nay
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
- Phương pháp điều tra, khảo sát
Ngoài ra, chúng tôi còn vận dụng kết hợp một số phương pháp khác
Trang 5II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1 Cơ sở pháp lí
Nghị quyết 29/NQ-TW: “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” [1].
Đổi mới hoạt động trả bài làm văn thực chất là đổi mới hoạt động nhận xét, đánh giá Giáo viên không phải là người độc quyền đánh giá bài văn, mà đó
là hoạt động đánh giá của thầy trên cơ sở tự đánh giá của trò “Trước đây, giáo viên độc quyền đánh giá học sinh Trong phương pháp dạy học tích cực, giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kĩ năng tự đánh giá” [2] Thực tiễn dạy
học làm văn cho thấy, các giờ trả bài làm văn ở trường THPT hiện nay, giáo viên rất lúng túng trong việc thực hiện vấn đề đổi mới hoạt động trả bài để phát triển
năng lực tự nhận xét và đánh giá cho học sinh Vì vậy, trong đề tài Giải pháp nâng cao năng lực tự đánh giá bài làm văn cho học sinh THPT hiện nay, chúng
tôi sẽ trình bày những giải pháp cơ bản, góp phần nâng cao năng lực tự đánh giá, nhận xét nói riêng và những kĩ năng cần thiết khác nói chung cho học sinh THPT
2.1.2 Một số khái niệm
a Giải pháp
Giải pháp là cách giải quyết một vấn đề
b Năng lực tự đánh giá
Laws (2006) định nghĩa “Đánh giá là tiến trình thu thập và phân tích bằng chứng đưa đến kết luận về một vấn đề, một phẩm chất, giá trị, ý nghĩa hoặc chất lượng của một chương trình, một sản phẩm, một người, một chính sách hay một kế hoạch nào đó.” (10, 2006) [3] Dựa trên định nghĩa của Laws
(2006), chúng tôi đưa ra một định nghĩa nâng cao năng lực tự đánh giá cho học sinh trong các giờ trả bài làm văn ở trường THPT: Năng lực tự đánh giá là khả
Trang 6năng học sinh tự biết nhận xét, phân tích được ưu điểm, nhược điểm trong bài văn của mình Từ đó có những giải pháp để nâng cao năng lực làm văn
Như vậy, giải pháp nâng cao năng lực tự đánh giá của học sinh trong các giờ trả bài làm văn ở THPT là đưa ra các giải pháp nâng cao năng lực học sinh
tự đánh giá từ đó rút ra những kĩ năng để làm tốt một bài làm văn
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1 Thuận lợi
* Về phía chương trình, sách giáo khoa
Theo quy định của Bộ Giáo dục – Đào tạo, giờ trả bài làm văn trong chương trình môn Ngữ văn THPT được quy định như sau:
Lớp 10 và 11 (ban cơ bản), có 7 bài kiểm tra định kì, tương ứng với 7 giờ trả bài làm văn (được thực hiện trong 7 tiết trả bài)
Lớp 12 (ban cơ bản), có 7 bài kiểm tra định kì, tương ứng với 7 giờ trả bài làm văn (được thực hiện trong 7 tiết trả bài)
Sau mỗi bài kiểm tra làm văn (viết) tại lớp hoặc ở nhà, sách giáo khoa đều biên soạn các nội dung, hình thức gợi ý cho việc thực hiện tiết trả bài làm văn Đây là cơ sở pháp lí và cũng là những gợi ý hết sức quan trọng và cần thiết để giáo viên đưa ra những hình thức thiết kế hoạt động phù hợp nhằm rèn luyện, nâng cao kĩ năng tự nhận xét, đánh giá bài làm văn cho học sinh
* Về phía các nhà quản lí giáo dục
Những chỉ thị, công văn chỉ đạo thực hiện chương trình môn Ngữ văn của các cấp giáo dục đã có những chỉ dẫn quan trọng, kịp thời về vấn đề đổi mới
hoạt động đánh giá, trong đó nhấn mạnh: thầy đánh giá trên cơ sở sự tự đánh giá của trò
Việc thực hiện kiểm tra theo chuẩn kiến thức kĩ năng, ma trận đề kiểm tra
là cơ sở để phát triển năng lực tự nhận xét đánh giá của người học
* Về phía giáo viên và học sinh
Giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng của việc rèn luyện kĩ năng nhận xét, đánh giá của học sinh trong các giờ trả bài Đã có nhiều công trình
Trang 7khoa học, chuyên luận, bài báo của giáo viên bàn về vấn đề đổi mới hoạt động kiểm tra đánh giá
Học sinh có sự thay đổi tích cực về nhận thức, thái độ và hành động trong các giờ trả bài: Có ý thức nâng cao năng lực làm văn, quan tâm đến vấn đề giải quyết tình huống đặt ra từ thực tiễn cuộc sống, và mong muốn phát triển năng lực
tự đánh giá nhận xét cũng như các năng lực quan trọng khác như năng lực tổ chức hoạt động tập thể, năng lực giao tiếp, hợp tác, khả năng tranh luận, bác bỏ…
Tiêu chí đánh giá sự thành công của hoạt động trả bài làm văn chính là năng lực đánh giá, nhận xét của người học chứ không phải là của người dạy Cho nên, mỗi giờ trả bài sẽ trở nên thiết thực, hào hứng hơn với người học
2.2.2 Khó khăn
Về chương trình, sách giáo khoa: Chưa có những gợi ý, chỉ dẫn cụ thể,
thiết thực về hình thức, cách thức tổ chức hoạt động đánh giá bài văn trong các tiết trả bài
Về phía giáo viên: Nhiều giáo viên và học sinh chưa quen với hình thức
đánh giá mới, đó là thầy đánh giá trên cơ sở sự tự đánh giá của trò
Về quy trình hiện thực hóa hoạt động đổi mới đánh giá: Đổi mới hoạt
động đánh giá là khâu quan trọng cuối cùng trong mắt xích đổi mới phương pháp dạy học Đổi mới công tác đánh giá phải được thực hiện đồng bộ với việc đổi mới hoạt động dạy học làm văn, ra đề kiểm tra làm văn Đây là quá trình lâu dài, bền bỉ và đầy khó nhọc của cả thầy lẫn trò
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Giúp học sinh xác định những yêu cầu cơ bản, những năng lực quan trọng cần hình thành và phát triển trong mỗi giờ trả bài làm văn
a Những yêu cầu cơ bản trong mỗi giờ trả bài làm văn
Giúp học sinh:
- Xác định trọng tâm kiến thức, kĩ năng làm văn cần hình thành, phát triển
- Hình thành thái độ, tình cảm, hành động đúng đắn
Trang 8- Góp phần phát triển năng lực của cá nhân (năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp, hợp tác, khả năng tự nhận thức…)
- Để thực hiện tốt các yêu cầu trên, giáo viên phải thiết kế được chuỗi hoạt động khoa học Trong mỗi giờ trả bài, thầy là người hướng dẫn, giao việc cho người học Còn học sinh phải phát huy cao độ tính tích cực, tự giác, sáng tạo trong giờ học
b Những năng lực quan trọng cần hình thành và phát triển trong mỗi giờ trả bài làm văn
Thứ nhất là nâng cao năng lực làm văn
Tri thức về phương pháp làm văn với những chỉ dẫn hết sức cụ thể đó không phải là mục đích cuối cùng và cao nhất của dạy học làm văn Dạy học làm văn chỉ đạt được mục đích khi học sinh vận dụng lí thuyết để thực hành một cách nhuần nhuyễn, sáng tạo Kĩ năng thực hành trong làm văn phải thể hiện cụ thể qua cách thức học sinh trình bày ý kiến, bảo vệ ý kiến một cách thuyết phục
Qua các giờ học làm văn, học sinh có thể nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt để giao tiếp Nếu học sinh được rèn kĩ năng nhập vai phát tin hoặc nhận tin Qua các hoạt động thực hành làm văn, có thể giúp học sinh chuyển hoá năng lực bên ngoài (hiểu biết) thành năng lực bên trong (khả năng của cá nhân), giúp học sinh phát triển năng lực giao tiếp, năng lực đánh giá… một cách hiệu quả
Thứ hai là năng lực đánh giá, nhận xét
Phát triển năng lực đánh giá, nhận xét cũng có nghĩa là nâng cao khả năng xác định giá trị (giá trị bền vững hoặc giá trị tức thời) của đối tượng cho người học Trong giờ trả bài làm văn, năng lực đánh giá, nhận xét của học sinh hình thành và phát triển khi họ biết xác định được những ưu điểm, nhược điểm của bài văn Đó là cơ sở để người học tìm ra nguyên nhân và phương hướng giải quyết những vấn đề còn vướng mắc
Thứ ba là năng lực tự học
Dạy là dạy tự học, học là học cách tự học Muốn học sinh phát triển năng lực tự học, giáo viên phải dạt cách tự học cho người học Nếu trước đây, trong
Trang 9cách giờ học trả bài làm văn, bằng lời phê của mình, giáo viên giúp học sinh nắm được những ưu điểm để phát huy, những nhược điểm của bài làm để khắc
phục thì đổi mới giờ trả bài cũng đồng nghĩa với việc dạy cho học sinh biết cách
tự đánh giá, nhận xét bài văn bằng những lời nhận xét, đánh giá của chính mình Từ chỗ dạy cho học sinh đánh giá, nhận xét bài văn theo những tình huống
giả định hoặc đề văn của giáo viên trong các bài kiểm tra làm văn, học sinh biết
tự làm văn, tự đánh giá những ưu điểm, nhược điểm, và đề xuất được hướng giải quyết hợp lí nhất trước những bài toán cuộc đời
Thứ tư là năng lực ứng xử
Học sinh được tự mình tổ chức, tự mình thực hành, trải nghiệm hoạt động
học tập để phát hiện vấn đề, để nói, viết những ý kiến, suy nghĩ, kiến giải của bản thân về các vấn đề, các câu hỏi, các tình huống, các thử thách mà cuộc sống đặt ra cho con người, từ đó biết đưa ra quyết định kịp thời, những cách thức hành động chuyên nghiệp, khả năng ứng xử với người khác và với xã hội, khả năng ứng phó và làm chủ bản thân trước những thách thức của cuộc sống ở
trong mỗi giờ làm văn
2.3.2 Hướng dẫn học sinh tự đánh giá, nhận xét bài văn
a Tự nhận xét đánh giá bài làm văn ở nhà
* Mục đích thực hiện
- Rèn kĩ năng tự học, tự đánh giá, nhận xét
- Phát triển năng lực tự nhận thức của người học
* Cách thức thực hiện
Bước 1: Tự nhận xét bằng phiếu:
Sau khi làm xong bài kiểm tra, giáo viên phát cho mỗi học sinh một phiếu
tự nhận xét, đánh giá, yêu cầu các em về nhà tự nhận xét ưu điểm, nhược điểm của bài văn Tác dụng của cách làm này là rèn cho học sinh kĩ năng tự nhận thức
năng lực của bản thân (mặt mạnh, mặt yếu) Mặt khác, hình thức này nếu được
tổ chức một cách kiên trì trong tất cả các giờ trả bài làm văn sẽ tạo cho học sinh thói quen, và cao hơn là kĩ năng tự nhận xét, đánh giá kết quả hoạt động học tập,
Trang 10công việc của bản thân, hoặc của người khác Trên cơ sở hoạt động đánh giá bài văn của mình, của bạn, người học có thể nâng cao năng lực đánh giá một cách khoa học và chính xác mọi hoạt động diễn ra trong đời sống của con người qua
đó, người học sẽ rút kinh nghiệm một cách kịp thời trước khi tiến hành thực hiện hoạt động tiếp theo trong học tập và cuộc sống
Đây là phiếu đánh giá của học sinh:
Phiếu nhận xét, đánh giá bài văn của học sinh
Thứ tự
Tự nhận xét
Kiến nghị
Ưu điểm Nhược điểm Phần I: Đọc hiểu
Câu 1
Câu 2
Phần II: Văn nghị luận
Câu 1
Câu 2
Lưu ý:
- Học sinh tự nhận xét đánh giá dựa trên các tiêu chí sau:
+ Thang điểm: 10
+ Về kiến thức: Đánh giá độ chính xác, sự sâu sắc trong việc giải quyết vấn đề + Về kĩ năng làm bài: Đánh giá tính chuẩn xác, khoa học của các yếu tố: Bố cục, kết cấu bài văn, chính tả, từ ngữ, câu văn, diễn đạt
+ Khả năng sáng tạo riêng về cách diễn đạt, trình bày, sử dụng từ ngữ, câu văn hay cách nghĩ, cách giải quyết vấn đề…
- Học sinh cần giữ phiếu đánh giá của mình cho đến hết năm học Mục đích là giúp các em và giáo viên theo dõi được quá trình học tập và sự tiến bộ của các em
Bước 2: Nạp phiếu tự nhận xét đánh giá bài văn cho giáo viên để làm cơ
sở, căn cứ cho việc nhận xét và cho điểm
Khi thực hiện tiết trả bài kiểm tra theo lịch trình đã được quy định trong phân phối chương trình, lớp trưởng tập hợp tất cả các phiếu tự đánh giá của học
Trang 11sinh trong lớp và đưa cho giáo viên trước giờ trả bài một đến hai ngày để giáo viên tham khảo, quyết định cho điểm
b Hướng dẫn cho học sinh tự tổ chức hoạt động xây dựng đáp án cho bài văn
*) Mục đích thực hiện
- Tạo căn cứ để đánh giá chính xác bài văn
- Qua việc hướng dẫn cho học sinh tự tổ chức hoạt động học tập, có thể phát triển ở họ năng lực tự học, kĩ năng hợp tác, giao tiếp
*) Cách thức thực hiện
Thao tác 1: Học sinh tự ứng cử hoặc giáo viên chỉ định một người đảm nhiệm vai trò điều hành các bạn trong lớp lập đáp án cho bài văn
Thao tác 2: Dưới sự điều hành của 1 học sinh, cả lớp cùng trao đổi, thảo luận và thống nhất về đáp án Nếu học sinh bế tắc hoặc gặp khó khăn trong quá trình thảo luận để thiết lập đáp án cho đề văn, người điều hành có thể hỏi ý kiến của giáo viên Với vai trò là người cố vấn, giáo viên giúp học sinh tháo gỡ vướng mắc trong nhận thức hay tranh luận và cùng nhau hoàn thành đáp án
Người điều hành có thể cử một học sinh làm thư kí ghi lại dàn ý bài văn trên bảng chính để cả lớp quan sát
c Giáo viên hướng dẫn cho học sinh thực hiện hoạt động nhận xét, đánh giá bài văn trên lớp
Thao tác 1: Sau khi thống nhất đáp án, tất cả học sinh trong lớp đọc lại bài văn của mình đã làm, bổ sung thêm phần nhận xét về ưu điểm, nhược điểm
của bài văn và đánh giá bằng điểm số vào Phiếu tự nhận xét, đánh giá.
Thao tác 2: Người điều hành (một học sinh được chọn) tiếp tục tổ chức cho các bạn đọc những nhận xét về ưu điểm và nhược điểm của bài làm văn trước tập thể lớp để cùng nhau rút kinh nghiệm
Thao tác 3: Giáo viên và học sinh thống nhất điểm số
Nếu điểm của giáo viên và học sinh không lệch nhau thì học sinh chỉ cần ghi điểm vào cột thống nhất điểm trên phiếu Nhưng nếu lệch nhau quá nhiều