Chính vì vậy, giảng dạy văn chính luận không khó về nội dung nhưng rấtnan giải về mặt phương pháp nhằm giúp các em học sinh chẳng những hiểu màcòn cảm những " lời gan ruột" của tác giả..
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT QUẢNG XƯƠNG 1
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY VĂN BẢN CHÍNH LUẬN QUA BÀI “CHIẾU CẦU HIỀN” (NGÔ THÌ NHẬM)
Người thực hiện: Lê Thị Thu Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THPT Quảng Xương 1 SKKN môn: Ngữ văn
THANH HÓA NĂM 2017
Trang 2I. MỞ ĐẦU
I.1 Lí do chọn đề tài:
Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo từng thể loại là một vấn đề đãđược đặt ra từ lâu trong thực tiễn giảng dạy văn học ở trường PT và từ lâu vẫnvẫn thường là mối băn khoăn, suy nghĩ, tìm tòi của phần lớn giáo viên dạy Văn
ở trường THPT chúng ta Điều băn khoăn, suy nghĩ tìm tòi ấy bắt nguồn từ một
ý nguyện rất chính đáng là làm sao cho bộ môn Văn học trong nhà trường nóichung và trong các trường THPT nói riêng càng phát huy mạnh mẽ hiệu lực giáodục phong phú của nó, góp phần đắc lực vào việc thực hiện mục đích giáo dụccủa các nhà trường PT trong giai đoạn hiện nay
I.2 Mục đích nghiên cứu
Muốn đạt được hiệu quả giáo dục cao nhất, việc giảng dạy Văn học phải đượctiến hành sao cho phù hợp với đặc trưng của môn Văn học vừa mang bản chất xãhội, vừa là hiện tượng thẩm mỹ, hiện tượng nghệ thuật Hai mặt này gắn liềnkhăng khít với nhau, thâm nhập vào nhau Không chú ý một cách toàn diện đúngmức, việc giảng dạy Văn học rất dễ thiên về nội dung tư tưởng, chính trị mộtcách gò bó, cứng nhắc, hoặc thiên về hình thức nghệ thuật, ngôn ngữ một cáchphiến diện, trống rỗng Giữ vững thế cân bằng trong khi phân tích nội dung vànghệ thuật của một tác phẩm văn học là bản lĩnh sư phạm của người giáo viên
I.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
I.3.1 Phạm vi nghiên cứu:
Văn chính luận là một đề tài đặc biệt, đòi hỏi một phương pháp, một cáchthức phân tích giảng dạy phù hợp với nó Bên những bài giảng văn theo thể loạithơ, truyện, kí, kịch Sách giáo khoa Văn học THPT mới có trích giảng một sốtác phẩm văn chính luận Vì vậy, việc đào sâu phương pháp giảng dạy văn chínhluận có ý nghĩa thực tiến quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả việc giảng dạyvăn chính luận trong nhà trường phổ thông hiện nay
I.3.2 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng trực tiếp của tôi là bài “ Chiếu càu hiền” ( Ngô Thì Nhậm), SGKNgữ văn lớp 11, tập 1( cơ bản), Nhà xuất bản giáo dục
Để thử nghiệm đề tài , tôi chọn học sinh lớp 11 C2 và lớp 11T2 TrườngTHPT Quảng Xương 1, năm học 2016 – 2017 để thực hiện
I.4 Phương pháp nghiên cứu.
Dạy văn là một nghề sáng tạo, cá nhân giáo viên được tự do trongviệc lựachọn những phương pháp tối ưu Để thực hiện bài dạy này, tôi đã vận dụngnhững phương pháp sau:
- Phương pháp đọc- hiểu, phương pháp diễn dịch, phương pháp qui nạp, phươngpháp phân tích- tổng hợp để khai thác , lí giải vận dụng và giúp học sinh tiếpcạn văn bản từ nhiều phía và có thể vận dụng vào thực tế
- Phương pháp phát vấn bằng hệ thống câu hỏi từ dề đến khó: như câu hỏi pháthiện, câu hỏi tư duy, câu hỏi gợi mở, câu hỏi liên hệ một cách hợp lí để kíchthích sự suy nghĩ, tìm tòi, sáng tạo, chủ động tích cực của học sinh
Trang 3- Phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp bình giảng, phương pháp lậpluận bình luận làm cho bài giảng phong phú, sinh động hơn và hệ thống lậpluận vủa văn bản lô gic, mạch lạc hơn.
=> Vận dụng tốt tất cả các phương pháp trên giúp tiết học trên diễn ra tựnhiên , nhịp nhàng giữa thầy và trò
II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM.
2.1 Cơ sở lí luận:
Dạy văn là dạy cho học sinh nhận ra trong tác phẩm văn chương nguồn tri thức
vô cùng phong phú, đa dạng, hấp dẫn và bổ ích để bồi dưỡng tâm hồn, trí tuệ, đểđời sống có ý nghĩa hơn và sâu sắc hơn Dạy văn là dạy cách sống, dạy cáchlàm, dạy mở mang trí tuệ, bên cạnh đó còn dạy cho học sinh nắm vững kiến thứctheo hệ thống mạch lập luận của văn bản Từ đó, các em có thể biết cách kếthợp nhuàn nhuyễn giữa nội dung và nghệ thuật của văn bản
2.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
2.2.1 Thực trạng :
Mục đích của môn giảng văn trong nhà trường là giúp cho học sinh cảm thụđược đầy đủ nhất, lĩnh hội được sâu sắc nhất mọi giá trị tư tưởng và nghệ thuậttrong hình tượng tác phẩm văn học Từ đó, giáo dục cho các em về tư tưởng,nhận thức, tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ, cả về tư duy và ngôn ngữ nữa Đọc,phân tích, giảng giải tác phẩm là nhằm vào mục đích đó: Làm cho học sinh cảm
và hiểu hết những điều tác giả gửi gắm trong tác phẩm
Chính vì vậy, giảng dạy văn chính luận không khó về nội dung nhưng rấtnan giải về mặt phương pháp nhằm giúp các em học sinh chẳng những hiểu màcòn cảm những " lời gan ruột" của tác giả
2.2.2 Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên:
a Về phía giáo viên:
Phần lớn, những tác phẩm văn chính luận được đem trích giảng ( hoặc đọcthêm) trong chương trình THPT đổi mới đều có tính tư tưởng cao và giàu tínhnghệ thuật Bản thân những tác phẩm đó chẳng những có tác dụng thuyết phục lítrí người đọc bằng những lí luận sắc bén, lập luận chặt chẽ, lời văn hùng hồn,đanh thép mà có sức rung động tình cảm người đọc bằng những yếu tố trữ tìnhđậm đà, những ảnh hưởng và ngôn ngữ gợi cảm
Trong thực tế giảng dạy, chúng ta còn gặp những tiết giảng dạy khô khan, ítkích thích hứng thú học tập của học sinh Tại sao chúng ta lại chưa thành côngtrong những tiết giảng dạy văn chính luận? Nguyên nhân thì có nhiều, nhưngtrong đó có một nguyên nhân là chúng ta chưa nắm thật chắc những đặc điểmcủa văn chính luận, chưa xuất phát từ đặc điểm của văn chính luận mà khai thácmột cách thấu đáo những đắc sắc về nội dung và hình thức của tác phẩm Do đó,chúng ta chưa chỉ cho học sinh thấy rõ cái sắc bén của lí lẽ, sự chặt chẽ của lậpluận, tính chính xác và gợi cảm của ngôn ngữ để giúp học sinh hiểu và cảmnhận tác phẩm một cách sâu sắc, làm cho tác phẩm có sức thuyết phục một cách
Trang 4mạnh mẽ, vừa có sức rung động thấm thía, vừa đi vào khối óc, vừa thấm vào tráitim người đọc, người nghe.
b Về phía học sinh: Các em không hề thích những tác phẩm văn chính luận.
Nguyên nhân: Vì các em không có định hướng và nếu các em có chúi tâmvào đọc tác phẩm thì các em cũng chỉ đọc cái hay, cái bề nổi của những câu chữ
mà thôi Mặt khác, giáo viên không tạo được cho các em tâm thế tiếp nhận tácphẩm nên giờ học diễn ra nặng nề, tẻ nhạt, không có sự rung động, hứng thú Với mục đích giúp các em không những cảm nhận và hiểu những tác phẩmvăn chính luận đồng thời giáo viên tự trang bị cho mình những kiến thức vềgiảng dạy văn chính luận trong chương trình môn Văn THPT, Tôi đưa ra sáng
kiến cải tiến nội dung, phương pháp dạy - học từ đó tôi chọn đề tài: " Đổi mới
phương pháp giảng dạy văn bản chính luận qua văn bản " Chiếu cầu hiền" ( Ngô Thì Nhậm).
2.3 Các giải pháp thực hiện để giải quyết vấn đề
2.3.1.Các giải pháp thực hiện.
2.3 1.1 Giúp học sinh tìm hiểu khái quát về văn bản chính luận:
Nếu như trong tác phẩm thơ, tác giả dùng nhiều đến tưởng tượng vàlấy ngôn ngữ tinh túy, hàm súc, giàu hình ảnh, nhạc điệu để phản ánh cuộc đểbiểu hiện cảm xúc sống của mình thì trong tác phẩm văn chính luận, tác giả lạiđứng trên một lập trường quan điểm nhất định, vận dụng lí lẽ thực tế và dùngngôn ngữ trực tiếp của mình để trình bày, phân tích, phê phán giải quyết nhữngvấn đề chính trị, xã hội, văn hóa khiến người đọc, người nghe không những hiểu
và đồng tình với cách giải quyết của mình mà còn tham gia tích cực vào hướnggiải quyết vấn đề đó Chính vì vậy, trong quá trình giảng dạy, tôi đã kết hợp vớibài " Phong cách ngôn ngữ chính luận" để các em hình dung và khái quát thểloại văn chính luận
Ví dụ: Giáo viên cho học sinh nghe trực tiếp giọng nói của Bác Hồ vào đêm
ngày 19 tháng 12 năm 1946: “ Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Pháp”,sau đó đưa ra hai câu hỏi thảo luận:
Câu hỏi 1: Em hãy cho biết quan điểm, tư tưởng được bày tỏ trong đoạn trích là
gì? Quan điểm, tư tưởng đó được triển khai như thế nào trong bài viết?
Câu hỏi 2: Em cảm nhận như thế nào về giọng điệu câu văn trong tác phẩm?
Giáo viên yêu cầu học sinh chỉ ra được:
- Tác phẩm thể hiện rõ lập trường chính nghĩa của cuộc kháng chiến, thái
độ dứt khoát với thực dân Pháp, kêu gọi cả nước quyết tâm đánh giặc
- Dùng lí lẽ, dẫn chứng để phơi bày dã taamxaam lược của kẻ thù từ đó giảithích thuyết phục mọi người cần tham gia đánh giặc cứu nước như thếnào?
Lập luận xác đáng, chặt chẽ
- Giọng văn hùng hồn, đanh thép, có sức truyền cảm mạnh mẽ
Từ đó giáo viên chỉ ra cho học sinh: văn bản chính luận là những văn bảntrực tiếp bày tỏ tư tưởng, lập trường, thái độ đối với những vấn đề thiết
Trang 5thực, nóng bỏng, đặc biệt là những vấn đề chính trị- xã hội Chức năng cơbản của văn chính luận là tuyên truyền, cổ động , giáo dục thuyết phụcngười đọc, người nghe để họ có nhận thức và hành động đúng Cho nên,văn bản chính luận có tính công khai về chính kiến, tư tưởng, lập trườngchính trị xã hội.
Vì vậy : Trong khi giảng văn chính luận, chúng ta cần chỉ ra cho học sinh
rõ ý nghĩa thực tiễn của vấn đề, cần làm nổi bật tính chiến đấu sắc bén củavăn bản, cần liên hệ giải quyết những vấn đề thiết thực về tư tưởng, về lậptrường quan điểm cho học sinh Có như vậy tác dụng trong bài giảng mớisâu sắc
2.3.1.2 Giúp học sinh tìm hiểu những đặc điểm cơ bản của văn chính luận:
2.3.1.2.1: Đặc điểm nổi bật của văn bản chính luận là sự chặt chẽ, mạch lạc của
lí lẽ và lập luận theo tư duy lô gic.
Lập luận chặt chẽ, lí lẽ lô gic, bằng chứng xác thực là yêu cầu cao đối với văn
nghị luận.[1]
2.3.1.2.2: Văn chính luận có một đặc điểm nổi bật nữa là ngôn ngữ chính xác, trong sáng,cú pháp rõ ràng, chặt chẽ.
* Ngôn ngữ trong văn bản chính luận giàu sắc thái lí trí Nó biểu hiện tập
trung ở sự chính xác, trong sáng của từ ngữ và ở sự chặt chẽ, mạch lạc , giản dị
và có sức mạnh lôi cuốn, có giọng điệu hùng hồn của cú pháp
Văn chính luận đòi hỏi “phải dùng từ với độ chính xác nghiệtngã”(M.Gorki) Có dùng từ chính xác cao độ trong văn bản chính luận thì câuvăn mới hàm xúc, ý mới nổi bật và người đọc, người nghe mới hiểu không hiểusai ý người viết khi lập luận, trình bày vấn đề Nhiều đoạn trích, tác phẩm đượctrích giảng học trong chương trình THPT được xem là mẫu mực về cách dùng từđúng và xác đáng bởi lẽ nó phục vụ đắc lực cho việc phân tích, trình bày vấn đềđược chính xác, rõ ràng và có sức thuyết phục mạnh mẽ Tuy vậy, trong vănchính luận, tác giả cũng sử dụng ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm để biểu hiệntâm tư, tình cảm của mình trước vấn đề được đưa ra nghị luận Thái độ tán thànhhay phản đối, lòng căm giận hay tự hào của người viết được bộc lộ qua nhữnghình ảnh, nhịp điệu câu văn và qua ngôn ngữ gợi cảm
Ví dụ: Khi giảng về cách ứng xử của các sĩ phu Bắc Hà – những người rất tài
giỏi, am hiểu tinh thông về chữ nghĩa thánh hiền – khi Quang Trung lập ra triềuđại Tây Sơn nhưng do quan niệm đạo đức bảo thủ, không nhận thấy chính nghĩa
và sứ mệnh lịch sử của phong trào Tây Sơn nên bất hợp tác, thậm chí chống lại,đoạn từ:
“Trước đây thời vương hầu chăng?”, tôi đã yêu cầu học sinh như sau:
Câu hỏi 1: Trong đoạn văn, tác giả đã sử dụng bao nhiêu điển tích, điển cố?
Nội dung mà nó biểu hiền là gì?
Câu hỏi 2: Với đói tượng là sĩ phu Bắc Hà – những người giỏi chữ nghĩa thánh
hiền, dùng từ xác đáng như thế có hiệu quả như thế nào?
Trang 6Học sinh theo dõi đoạn văn, phát hiện các điển tích, điển cố, căn cứ vàochú thích để hiểu nội dung của chúng, từ đó chỉ ra hiệu qủa của chúng trong việcbiểu đạt nội dung:
- Tác giả dùng 9 điển tích, điển cố được rút ra từ sách vở cổ: các nhóm từ: “ ở
ẩn trong ngòi khe, trốn tránh việc đời, kiêng dè không dám lên tiếng, gõ mõcanh cửa, ra biển vào sông, chết đuối trên cạn”: hàm ý chỉ người ở ẩn dật, uổngphí tài năng hoặc những người làm quan nơi triều chính nhưng còn nghi ngại,kiêng dè, giữ mình là chính, chưa dám nói thẳng Từ “ ghé chiếu” thể hiện thái
độ khiêm tốn, sẵn sàng chờ đợi và trọng dụng người hiền của người xuốngchiếu
- Với đối tượng là sĩ phu Bắc Hà- những người giỏi chữ nghĩa thánh hiền – coiviệc dùng điển tích, điển cố, người viết đã chỉ ra những cách ứng xử phổ biếncủa hiền tài khi Quang Trung ra Bắc phù Lê diệt Trịnh Đồng thời vừa thấpthoáng chút châm biếm nhẹ nhàng, vừa tế nhị, đồng thời cũng cho biết vốn hiểubiết uyên thâm, tài văn chương, thì liệu rằng tài văn chương của Quang Trung làkhông có như các sĩ phu Bắc Hà nghĩ?
Vì vậy: trong khi giảng cách sử dụng ngôn ngữ trong văn bản chính luận một
cách đúng mực cũng góp phần làm cho học sinh hiểu và cảm tác phẩm thấu đáo,giúp học sinh thấy rõ sức thuyết phục của tác phẩm về mặt lí trí cũng như tìnhcảm
*.Văn chính luận đòi hỏi một kết cấu cú pháp chặt chẽ Nó giúp cho việc trình
bày lí lẽ được rõ ràng, trong sáng
Ta thường gặp trong tác phẩm chính luận nhiều câu dài ngắn đan xen Nếuchúng sử dụng đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp với lí lẽ và cách lập luận có tácdụng làm nổi bật ý chủ đạo của vấn đề nghị luận Trong văn chính luận, câungắn được sử dụng làm cho những vẫn đề trừu tượng, phức tạp của lí luận trởthành sáng tỏ
Ví dụ: Trong “ Tuyên ngôn độc lập”, chủ yếu Người dùng câu văn ngắn Tôi chỉ
rõ cho học sinh: Những câu ngắn đặt gần nhau nêu lên những quan hệ lô gic rấtchặt chẽ và làm cho câu văn có sức thuyết phục mạnh mẽ: “ Về chính trị, chúngkhông cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào Chúng ràng buộc dư luận,chúng thi hành chính sách ngu dân Chúng dùng thuốc phiên, rượu cồn để làmcho nòi giống ta suy nhược” Hay đặc biệt có câu chỉ có 9 từ mà nêu lên được cảcục diện chính trị: “ Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị.” [2]
Cũng có khi câu dài ngắn trong văn chính luận làm cho lời văn mạch lạc, líluận sắc bén, ý tứ rõ ràng, chặt chẽ
* Văn chính luận thường có giọng hùng hồn, có sức lôi cuốn và cổ vũ lòng tin
người đọc, người nghe
Ví dụ: Với tác phẩm “ Chiếu cầu hiền” ( Ngô Thì Nhậm), tôi yêu cầu học sinh
phải thể hiện được tình cảm của người xuống chiếu cầu hiền: Lời lẽ nhúnnhường, tâm huyết, mềm dẻo, giàu sức thuyết phục được thể hiện trong những
Trang 7câu như: “ Hay trẫm ít đức không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nátchưa thể ra phụng sự vương hầu chăng?”
Chính vì vậy: Trong quá trình giảng văn chính luận cần chú ý đúng mức đến
cách cấu cú pháp chặt chẽ và giọng văn hùng hồn, đặc biệt là những yếu tố trữtình trong sự thống nhất giữa nội dung và hình thức, giữa lí và tìn, chúng ta sẽgiúp cho học sinh hiểu bài thấu đáo và tác dụng thuyết phục của tác phẩm về cảmặt lí trí và tình cảm sẽ tăng lên gấp bội
2.3.2.Các biện pháp tổ chức thực hiện:
2.3.2.1.Giảng văn chính luận với yêu cầu phát triển năng lực tư duy cho học sinh:
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nhấn mạnh tầm quan trọng đặc biệt của
vấn đề này: “ Trong nhà trường không phải là chúng ta nhét cho học trò một
mớ kiến thức hỗn độn, tuy rằng kiến thức là cần thiết.Điều chủ yếu là làm sao giáo dục cho học sinh phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp diễn tả, rồi đến phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết vấn đề Ở Nhà trường điều chủ yếu không phải là rèn luyện trí
nhớ mà rèn luyện trí thông minh”.[1]
Giảng văn chính luận có nhiều thuận lợi thực hiện yêu cầu này hơn nhữngthể loại khác vì đặc điểm nổi bật của văn chính luận là kết cấu rõ ràng, lập luận,suy luận chặt chẽ Mỗi tác phẩm hay đoạn trích đều được kết cấu theo một trình
tự nhất định: Có khi từ nguyên lý đến kết luận( tức là dùng lối suy luận diễndịch), có khi đi từ tình hình cụ thể đến khái quát ( tức là lối suy luận qui nạp).Cho nên khi giảng, giáo viên chúng ta cần phân tích từng luận điểm theo kết cấu
lô gic của nó để học sinh có thể nắm chắc và quen vận dụng các lối suy luậnkhoa học
Ví dụ: Với tác phẩm “ Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm), tôi yêu cầu học sinh tư
duy, suy luận chỉ ra hệ thống lập luận trong bài chiếu
Học sinh chỉ ra: Bài chiếu gồm 3 phần.
Phần 1: Từ đầu người hiền vậy : Thiên tính của người hiền tài là để cho đời Phần 2: Tiếp theo buổi ban đầu của trấm hay sao? : Cách ứng xử của các bậc
hiền tài Bắc Hà và nhu cầu của đất nước
Phần 3: Còn lại: Con đường để người hiền tài cống hiến cho đất nước
=> Bài chiếu có lập luận chặt chẽ theo hướng quy nạp và diễn dịch, đi từ điểmtựa của lập luận: Hiền tài sinh ra là để phụng sự cho đời, đó mới là ý trời vậy.Tác giả đã phân tích thực trạng người hiền chưa ra giúp việc cho triều đại ,phụng sự đất nước, những khó khăn của buổi ban đầu đang rất cần người hiềntài, từ đó bài chiếu đưa ra cách để tiến cử người hiền tài cho triều đại , khuyếnkhích sĩ phu Bắc Hà gạt bỏ mọi khó khăn và nghi ngại để tham gia triều chính,phụng sự đất nước
Trang 82.3.2.2.Giảng văn chính luận gắn liền với vẻ đẹp lập luận và yếu tố biểu cảm:
Đặc điểm nổi bật của văn chính luận là sự chặt chẽ, mạch lạc của lý lẽ vàlập luận theo tư duy lôgic; đó là sự chính xác của ngôn ngữ, kết cấu rõ ràng,chặt chẽ của cú pháp và giọng văn hùng biện, truyền cảm có sức lôi cuốn, layđộng người đọc, tôi gọi đó là vẻ đẹp lập luận Vì lẽ đó, trong mỗi bài giảng vănchính luận , nhiệm vụ của mỗi người giáo viên là phải chỉ ra vẻ đẹp lập luận vàyếu tố biểu cảm ở mỗi tác phẩm cho các em, giúp các em hiểu và cảm văn bảntheo cách của một “ cái đầu tỉnh táo” và một “ trái tim nóng”
Ví dụ : Trong văn bản “ Chiếu cầu hiền”(Ngô Thì Nhậm) để giúp học sinh nhận
ra vẻ đẹp lập luận của tác giả ngay ở phần đầu, tôi đã định hướng tư duy của các
em bằng hai câu hỏi trọng tâm :
Câu hỏi 1: Để đi đến kết luận mang ý nghĩa điểm tựa cho lập luận: Hiền tài cần
phải phụng sự cho đời mới đúng là ý trời, tác giả đã xuất phát từ điều gì ? dẫndắt ý ra sao?
Câu hỏi 2: Nhận xét khéo léo trong cách thức thuyết phục của tác giả bài chiếu?
Học sinh thảo luận trả lời:
- So sánh: Người hiền = sao sáng trên trời
Thiên tử = Bắc Đẩu
Qui luật tự nhiên: Sao sáng ắt chầu về Bắc Đẩu
Người hiền hướng về Thiên tử, làm sứ giả phục vụ cho Thiên tử: quiluật của con người, xã hội
Lấy qui luật của tự nhiên để khẳng định qui luật của con ngươi, xã hội:người hiền tài phục vụ cho Thiên tử là lẽ tất yếu, hợp qui luật trong trờiđất, ngược lại là trái qui luật
Đặt các sĩ phu vào không gian vũ trụ-> được đánh giá đúng
Thái độ trân trọng đề cao
- Hình ảnh được lấy từ sách Luận ngữ của Khổng Tử: Phù hợp với đốitượng là các nho sĩ trí thức -> có sức thuyết phục mạnh với các sĩ phu BắcHà
- Cách lập luận: Khẳng định qui luật, sau đó giả định điều ngược lại với quiluật
Nghệ thuật lập luận ngắn gọn mà chặt chẽ, mềm mại mà sâu sắc.-> đánhgiá ý thức về sứ mệnh và tinh thần tự nguyện phò vua giúp nước ở nhữngngười hiền tài
Cũng với văn bản này, ở đoạn văn thể hiện sự cần thiết phải có người hiềntài giúp dân, giúp nước, tôi thấy cần phải định hướng giúp các em phântích vẻ đẹp lập luận của tác giả Ngô Thì Nhậm Tôi yêu cầu các em:
Câu hỏi 1:Tác giả đã đưa ra những nội dung gì để khẳng định sự cần thiết phải
có người hiền tài ra giúp triều đình?
Câu hỏi 2: Cách lập luận của tác giả còn hấp dẫn như thế nào?
Trang 9Học sinh thảo luận trả lời:
- Buổi ban đầu xây dựng nhà nước mới, nhiều thiếu xót, công việc bộn bề,biên ải chưa yên,dân chưa lại sức sau chiến tranh, sức cảm hóa của nhàvua còn chưa thấm nhuần-> cần phải có người giúp sức
- Khẳng định: một cá nhân không đủ sức, đủ tài để xây dựng nên cơ đồ
lớn-> vai trò không thể thiếu một tập thể những người hiền tài
- Dẫn sách Luận ngữ: Hiện nay nhân tài không những không có mà còn rấtnhiều
- Đặc biệt: câu hỏi tu từ: “ Há không có người hiền tài nào ra giúp triềuđình hay sao?
Cách lập luận này buộc những đối tượng “ khó tính” là các sĩ phu Bắc Hàphải thay đổi cách ứng xử; “ đánh” đến tinh thần yêu nước và đặc biệt là
“ lòng tự ái” đáng cao quí của các bậc hiền tài
Rõ ràng Ngô Thì Nhậm đã nắm vững chiến lược cầu hiền của vua QuangTrung và đã thể hiện xuất sắc tư tưởng đó
2.3.2.3.Giảng văn chính luận phải gắn liền với với rèn luyện kĩ năng làm bài văn nghị luận cho học sinh:
Những tác phẩm văn chính luận được trích giảng trong chương trình THPT đều
là những bài “ văn nghị luận mẫu mực” Trong quá trình giảng văn trên lớp, giáoviên cần có ý thức chỉ cho học sinh làm quen với cách thức lập dàn ý, nhữngthao tác lập luận của một bài văn nghị luận văn học hoặc bài văn nghị luận xãhội
Ví dụ : Với đoạn trích bài tiểu luận: “ Một thời đại trong thi ca”(Hoài Thanh)
, bên cạnh giúp học sinh phát hiện văn phong phê bình tinh tế, tài hoa của HoàiThanh, tôi giúp các em biết cách trình bày, triển khai ý qua mạch lập luận củatác giả Như luận điểm: “ Sự vận động của thơ Mới xung quanh cái Tôi và bikịch của nó”, tôi trình bày qua 3 luận cứ: Cái tôi đáng thương tội nghiệp; Cáchướng lớn của thơ Mới đào sâu vào cái Tôi; Điểm thiếu hụt trong ý thức của cáiTôi
Hơn nữa, tôi cũng giúp các em hình thành kĩ năng dẫn dắt dẫn chứng( ởđây là thơ) và sử dụng thành thạo thao tác lập luận phân tích, so sánh và bìnhluận của tác giả
Ngoài ra còn rất nhiều cách mà chúng ta có thể giúp học sinh biết cách viếtvăn nghị luận: cách dùng từ, đặt câu (câu hỏi tu từ, câu cảm thán), cách kết hợpnghệ thuật lập luận và yếu tố biểu cảm trong quá trình đọc văn trên lớp Tôi nghĩđây cũng là phương pháp có hiệu quả làm cho giờ học làm văn của học sinh trênlớp không còn lý thuyết khô khan nữa mà các em vận dụng vào viết văn nghịluận vốn không phải là dễ, dễ dàng hơn nhiều
Sau một qúa trình học hỏi, tham khảo dự giờ đồng nghiệp, nghiên cứu, tựđổi mới phương pháp dạy - học, tôi áp dụng vào những tiết đọc văn trên lớp, tôi
Trang 10thấy không khí học của các em sôi nổi hơn, các em hoạt động tư duy nhiều hơn.Tôi vui vì không thấy các em im lặng , trầm ngâm như trước nữa, và đặc biệtnhững bài văn nghị luận của các em dần mạch lạc hơn nhiều Đây là bước đầuquan trong đưa các em vào thế giới văn chương.
2.3.3 Đề xuất giáo án dạy “ Chiếu cầu hiền” (Ngô Thì Nhậm) theo đổi mới
phương pháp giảng dạy.
2 Kĩ năng: Phân tích, đánh giá được nghệ thuật lập luận chặt chẽ, lối diễn đạt
đầy tâm huyết, giàu sức thuyết phục của bài Chiếu
3 Tư tưởng, tình cảm, thái độ : Nhận thức được đúng đắn vai trò và ý thức
trách nhiệm của người trí thức đối với việc xây dựng đất nước
B CHUẨN BỊ :
1 Giáo viên: SGK,SGV, chuẩn kiến thức, thiết kế bài học
2 Học sinh : SGK, bài soạn và tài liệu tham khảo.
C.TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC:
TIẾT 22
1 Ổn định lớp.
2 Kiểm tra bài cũ:
3 Tổ chức hoạt động dạy và học bài mới:
Lời vào bài: Nói đến nền văn học trung đại nước ta là nói đến một giai doạn
văn học rất phong phú và đa dạng về thể loại: cáo, hịch, chiếu, biểu Trong
những thể loại mang tính chất đặc trưng của văn học trung đại còn có một thể
loại khá đặc biệt đó là : chiếu Trong thể loại văn chiếu này, “Chiếu cầu hiền”
( Ngô Thì Nhậm) được xem là tác phẩm không những có giá trị lớn về nội
dung –tư tưởng mà còn có giá trị về mặt nghệ thuật.
Hoạt động của GV và HS Kiến thức cần đạt