1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)

110 482 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 1,46 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)

Trang 1

TRẦN THỊ HẢI YẾN

QUẢN LÝ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM ĐỐI VỚI THỊT LỢN TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 2

TRẦN THỊ HẢI YẾN

QUẢN LÝ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM ĐỐI VỚI THỊT LỢN TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60.34.04.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Đình Thao

THÁI NGUYÊN - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn “Quản

lý vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên" là trung thực, là kết quả nghiên cứu của riêng tôi

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 04 năm 2017

Tác giả luận văn

Trần Thị Hải Yến

Trang 4

Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên, Khoa sau Đại học Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên là cơ sở đào tạo Thạc sỹ Cùng sự giúp đỡ tận tình của các Thầy, Cô Khoa sau Đại học đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo PGS.TS Trần Đình Thao - Trưởng Khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập

và hoàn thiện đề tài

Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới văn phòng UBND huyện Đại Từ, trạm Thú

Y huyện Đại Từ và trung tâm y tế dự phòng huyện Đại Từ, phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Đại Từ đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về nguồn tư liệu phục vụ cho việc thực hiện đề tài

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn

Thái Nguyên, tháng 04 năm 2017

Tác giả

Trần Thị Hải Yến

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa khoa ho ̣c của đề tài 3

5 Bố cục của luận văn 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM ĐỐI VỚI THỊT LỢN 5

1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1 Một số lý luận về quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm 5

1.1.2 Vai trò, trách nhiệm của quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm 10

1.1.4 Nội dung, công cụ và phương pháp quản lý VSATTP đối với thịt lợn 23

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý VSATTP 24

1.2.1 Chính sách, pháp luật làm hành lang pháp lý cho hoạt động VSATTP 24

1.2.2 Nguồn nhân lực làm công tác Quản lý nhà nước về VSATTP 24

1.2.3 Ý thức chấp hành pháp luật của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm 25

1.2.4 Ý thức của người tiêu dùng 26

1.3 Cơ sở thực tiễn 26

1.3.1 Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm trên thế giới 26

1.3.2 Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm tại Việt Nam 28

1.3.3 Một số bài học kinh nghiệm vận dụng về vấn đề ATVSTP 30

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

Trang 6

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 32

2.2 Phương pháp nghiên cứu 32

2.2.1 Khung phân tích của đề tài 32

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu, thông tin 34

2.2.3 Phương pháp xử lý, tổng hợp thông tin 36

2.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 36

2.2.4.2 Phương pháp thống kê mô tả 36

2.2.4.3 Phương pháp thống kê so sánh 37

2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 38

2.4 Hệ thống tiêu chuẩn VSATTP đối với thịt lợn 39

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 41

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 41

3.1.2 Điều kiện kinh tế - văn hóa xã hội 42

3.2 Thực trạng quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ 45

3.2.1 Thực trạng xây dựng, ban hành, triển khai và thực hiện văn bản pháp luật về Vệ sinh an toàn thực phẩm 46

3.2.2 Thực trạng tổ chức thực hiện quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn huyện Đại Từ 50

3.2.3 Thực trạng thanh tra, kiểm tra và việc xử lý vi phạm đối với vệ sinh an toàn thực phẩm 59

3.2.4 Thực trạng đào tạo, tập huấn, tuyên truyền, phổ biến kiến thức và cấp chứng nhận VSATTP trên địa bàn huyện Đại Từ 64

3.2.5 Thực trạng cơ sở vật chất, nguồn vốn phục vụ quản lý VSATTP 69

3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý VSATTP liên quan đến thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ 70

3.3.1 Cơ chế chính sách, tài chính trong quản lý nhà nước về VSATTP 70

3.3.2 Các yếu tố về tổ chức bộ máy quản lý, trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý 71

Trang 7

3.3.3 Nhận thức, tầm nhìn của người tiêu dùng về VSATTP 73

3.3.4 Sự gia tăng nhanh chóng của các trang trại, hộ chăn nuôi lợn, cơ sở giết mổ, kinh doanh thực phẩm từ lợn và các chợ truyền thống 74

3.4 Những thành công và tồn tại chủ yếu 75

3.4.1 Những thành công 75

3.4.2 Một số hạn chế, tồn tại chủ yếu 76

3.5 Nguyên nhân cơ bản 78

3.5.1 Nguyên nhân khách quan 78

3.5.2 Nguyên nhân chủ quan 79

Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ VỀ VSATTP ĐỐI VỚI THỊT LỢN 81

4.1 Định hướng tăng cường quản lý VSATTP đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ 81

4.1.1 Mục tiêu 81

4.1.2 Phương hướng hoạt động 82

4.2 Các giải pháp 83

4.2.1 Căn cứ đưa ra giải pháp 83

4.2.2 Một số giải pháp 85

4.3 Kiến nghị 88

4.3.1 Kiến nghị đối với Ban chỉ đạo liên ngành về Vệ sinh an toàn thực phẩm 88

4.3.2 Về phía người chăn nuôi, giết mổ, thương lái 89

4.3.3 Về phía người tiêu dùng 89

4.3.4 Đối với cơ quan truyền thông, hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, các hội khoa học và kỹ thuật có liên quan 90

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

PHẦN PHỤ LỤC 95

Trang 8

TAĐP : Thức ăn đường phố

TCQG : Tiêu chuẩn Quốc gia

TTYT : Trung tâm y tế

UBND : Ủy ban nhân dân

VSATTP : Vệ sinh an toàn thực phẩm

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Tình hình ngộ độc thực phẩm ở một số nước 27

Bảng 1.1: Đặc điểm mẫu nghiên cứu 34

Bảng 2.1 Yêu cầu cảm quan, các chỉ tiêu lý hóa của thịt lợn tươi 39

Bảng 2.2 Yêu cầu về các chỉ tiêu lý hoá 39

Bảng 2.3 Chỉ tiêu dư lượng các kim loại nặng, vi sinh vật, thuốc thúvà ký sinh trùng của thịt lợn được quy định 40

Bảng 3.1: Tình hình sử dụng đất đai của huyện Đại Từ năm 2015 42

Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động huyện Đại Từgiai đoạn 2014 - 2016 43

Bảng 3.3: Giá trị sản xuất huyện Đại Từ giai đoạn 2014 - 2016 44

Bảng 3.4: Tổng hợp các chính sách về Quản lý VSATTPtrên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 47

Bảng 3.5: Mức độ rõ ràng của các văn bản pháp luật so với quy địnhcủa Nhà nước 48

Bảng 3.6: Mức độ cập nhật của các văn bản trong giai đoạntừ năm 2014 - 2016 50

Bảng 3.7: Trình độ chuyên môn của cán bộ làm công tác Quản lý về VSATTP huyện Đại Từ 57

Bảng 3.8: Kết quả thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về ATTP (2014 - 2016) 60

Bảng 3.9: Tình hình xét nghiệm VSATTP huyện Đại Từ 60

Bảng 3.10: Tình hình đào tạo tập huấn kiến thức VSATTPhuyện Đại Từ giai đoạn 2014 - 2016 65

Bảng 3.11: Kết quả tuyên truyền, tập huấn của cơ quan quản lýnhà nước về VSATTP trên địa huyện Đại Từ giai đoạn 2014 - 2016 66

Bảng 3.12: Thực trạng cấp giấy chứng nhận về VSATTPtrên địa bàn huyện Đại Từ giai đoạn 2014 - 2106 67

Bảng 3.13: Tình hình trang thiết bị phục vụ quản lý nhà nướcvề ATVSTP 69

Bảng 3.14: Đánh giá năng lực cán bộ quản lý 72

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Sơ đồ 1.1: Hệ thống chính sách pháp luật 24

Sơ đồ 2.1: Khung phân tích hoạt động quản lý VSATTP đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên 33

Sơ đồ 3.1: Hệ thống QLNN về VSATTP theo chiều dọc 52

Sơ đồ 3.2: Mạng lưới quản lý VSATTP cấp tỉnh 53

Sơ đồ 3.3: Bộ máy quản lý nhà nước về VSATTP tỉnh Thái Nguyên 55

Hình 3.1: Đặc điểm địa bàn huyện Đại Từ 41

Biểu đồ 3.1: Mức độ đầy đủ của các văn bản pháp luật vệ VSATTP 49

Biểu đồ 3.2: Đánh giá của người chăn nuôi, giết mổ, thương lái,chế biến, kinh doanh, tiêu dùng thực phẩm từ thịt lợn về công tác quản lý nhà nước về VSATTP 57

Biểu đồ 3.3: Đánh giá hiệu quả sử dụng các phương pháp 58

Biểu đồ 3.4: Mức độ sai phạm Vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2016 61

Biểu đồ 3.5: Hình thức thông báo trước khi đến kiểm tratại cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm 62

Đồ thị 3.1: Thực trạng hiểu biết về kiến thức VSATTP trên địa bàn huyện Đại Từ 74

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Có thể nói từ lâu thịt lợn là món ăn chủ đạo chiếm khoảng 60% khối lượng thức ăn hàng ngày, hàng tuần của mỗi gia đình đặc biệt là những gia đình Việt Nam Nhu cầu thịt lợn ngày càng tăng cao cả về số lượng và chất lượng

Thức ăn được sử dụng trong chăn nuôi lợn chủ yếu là cám công nghiệp Và hầu hết trong chúng có chứa trên 80 loại hóa chất khác nhau, phục vụ cho mục đích

sử dụng khác nhau của người chăn nuôi trong đó có Đồng sunfat, crom, chất tạo nạc, thành phần thuốc kháng sinh Tình trạng bị ngộ độc thực phẩm do ăn phải thịt lợn còn tồn dư chất kháng sinh, thịt lợn siêu nạc,…xảy ra thường xuyên trong những năm gần đây và có xu hướng ngày càng gia tăng, gây nguy hại nghiêm trọng đến sức khỏe người dân, gây lo ngại cho toàn xã hội

Trong thời gian gần đây, dư luận rất bức xúc trước tình hình thực phẩm bị ô nhiễm bởi các chất độc gây nguy hại cho sức khỏe của người tiêu dùng xảy ra khắp nơi trên cả nước Trên thị trường vẫn còn nhiều mặt hàng không rõ nguồn gốc xuất

xứ, trong rau xanh dư lượng thuốc bảo vệ thực vật quá mức cho phép Các khu giết

mổ gia súc gia cầm không đảm bảo vệ sinh Các mặt hàng thịt được bày bán không qua kiểm dịch Theo kết luận của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tại cuộc họp ban chỉ đạo liên ngành Trung ương về VSATTP (tháng 01 năm 2016), Trong năm 2015

tỉ lệ sản phẩm được kiểm tra không bảo đảm an toàn thực phẩm chỉ dưới 10% nhưng với người dân thì khi lưu thông trên thị trường không thể nhận biết được thực phẩm nào là an toàn, thực phẩm nào không an toàn Phần lớn số thực phẩm được bán tại các chợ truyền thống không có chứng nhận an toàn thực phẩm, không

rõ nguồn gốc xuất xứ Do đó người tiêu dùng không thể biết được thực phẩm sạch

để sử dụng, trong khi đó thực phẩm an toàn thì bị thực phẩm bẩn cạnh tranh không tiêu thụ được Đây là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về việc kiểm tra, giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm

Đại Từ là một huyện trung du miền núi phía bắc có tuyến gia thông huyết mạch (quốc lộ 37) nối các tỉnh Thái Nguyên - Tuyên Quang - Hà Giang Vài năm

Trang 12

gần đây huyện Đại Từ là điểm nóng phát triển kinh tế của tỉnh Thái Nguyên do phát triển mạnh lĩnh vực khai khoáng, và công nghiệp dệt may Góp phần giải quyết công ăn việc làm, đem lại cho đời sống, thu nhập của người dân nơi đây ngày một nâng cao Song Đại Từ vẫn là một huyện lấy nông nghiệp làm trọng (cây chủ đạo của huyện là cây chè) Chính sách phát triển nông nghiệp của huyện ngành chăn nuôi vẫn đang được ưu tiên phát triển, trong đó chăn nuôi lợn được coi là vật nuôi chủ lực, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân

Ngày nay khi xã hội phát triển càng cao thì nhu cầu đời sống con người cũng cao hơn, trong đó “chất lượng và an toàn” chiếm một vị trí rất quan trọng Tuy nhiên, trong lãnh vực sản xuất, kinh doanh nói chung và trong chăn nuôi gia súc, gia cầm nói riêng còn nhiều vấn đề đáng lo ngại; như việc hướng dẫn và quản lý sử dụng thuốc kháng sinh còn lỏng lẻo; tình trạng sử dụng các chất bổ trợ trong thức

ăn chăn nuôi khá tùy tiện Từ đó đã để lại tồn dư các hóa chất, kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi, gây nguy hại nghiêm trọng đến sức khỏe người tiêu dùng Đảm bảo VSATTP trong tiêu dùng thịt lợn đang là một bài toán khó mà các cơ quan chức năng nói chung và huyện Đại Từ nói riêng đang nghiên cứu để tìm ra lời giải và cách khắc phục, vấn đề này mang tính cấp thiết hơn bao giờ hết

Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên" làm luận văn Thạc sỹ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý về vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn, đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý vệ sinh, an toàn thực phẩm đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Trang 13

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý VSATTP đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn vệ sinh thực phẩm;

Cán bộ làm công tác quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm ở các tuyến từ huyện đến xã, cộng tác viên an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn huyện Đại Từ Nhóm người chăn nuôi, giết mổ, chế biến, kinh doanh thực phẩm và người tiêu dùng;

Các hoạt động của công tác quản lý an toàn vệ sinh thực phẩm

Các số liệu, tài liệu thứ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ 2013 -

2016 Đối với các số liệu sơ cấp được tác giả thu thập từ tháng 10/2016 - tháng 2/2017

- Phạm vi nội dung:

Luận văn nghiên cứu quản lý nhà nước địa phương về vệ sinh an toàn thực phẩm, đặc biệt là về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn trên địa bàn huyện Đại Từ, do chính quyền các cấp huyện quản lý

4 Ý nghi ̃a khoa ho ̣c của đề tài

Quản lý nhà nước về VSATTP có một ý nghĩa hết sức quan trọng Nghiên cứu đề tài này để thấy được thực tiễn vấn đề VSATTP đang diễn ra hết sức phức tạp tại các cơ sở chăn nuôi, giết mổ, sản xuất, kinh doanh thực phẩm, các chợ trên địa bàn toàn huyện Ngoài ra, nghiên cứu cũng thể hiện những mặt hạn chế trong công tác QLNN về VSATTP

Trang 14

- Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên nghiên cứu khoa học, học viên cao học Việc nghiên cứu vấn đề này làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề

có liên quan đến đề tài luận văn

- Về thực tiễn: Những giải pháp đề xuất có căn cứ khoa học sẽ là tài liệu

tham khảo cho các nhà quản lý trên địa bàn huyện Đại từ, tỉnh Thái Nguyên về vấn

đề an toàn vệ sinh thực phẩm nói chung và vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn nói riêng

Việc QLNN đối với các cơ sở chế biến, sản xuất, kinh doanh thực phẩm tốt

sẽ giúp phần cải thiện chất lượng sản phẩm bán ra, giảm thiểu số vụ ngộ độc thực phẩm, giúp các cơ sở này kinh doanh lành mạnh hơn

Nghiên cứu những về VSATTP trên địa bàn huyện Đại Từ mang lại một cái nhìn tổng quan hơn về thực trạng quản lý nhà nước về VSATTP trên địa bàn huyện, từ đó đưa ra được giải pháp tăng cường quản lý nhà nước nhằm thay đổi được hành vi con người, giảm thiểu số tai nạn về VSATTP nói chung

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luâ ̣n luâ ̣n văn dự kiến có kết cấu với 4 chương chính, gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm

đối với thịt lợn

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 4: Một số giải pháp tăng cường quản lý về vệ sinh an toàn thực

phẩm đối với thịt lợn

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ

VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM ĐỐI VỚI THỊT LỢN

1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Một số lý luận về quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm

1.1.1.1 Khái niệm về quản lý

Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội

Tuy nhiên, về cơ bản Quản lý là một quá trình, trong đó chủ thể quản lý tổ chức, điều hành, tác động có định hướng, có chủ đích một cách khoa học và nghệ thuật vào khách thể quản lý nhằm đạt kết quả tối ưu theo mục tiêu đã đề ra thông qua việc sử dụng các phương pháp và công cụ thích hợp

Quản lý còn được hiểu là một hệ thống, bao gồm các thành tố: đầu vào, đầu

ra, quá trình biến đổi đầu vào thành đầu ra, môi trường và mục tiêu Các yếu tố trên luôn tác động qua lại lẫn nhau Một mặt, chúng đặt ra các yêu cầu, những vấn đề quản lý phải giải quyết Mặt khác, chúng ảnh hưởng đến hiệu lực và hiệu quả của quản lý

Quản lý bao gồm các yếu tố: Chủ thể quản lý nắm quyền lực và sử dụng quyền lực để tác động vào đối tượng quản lý; Đối tượng quản lý là những cá nhân, tổ chức thực hiện các quyết định quản lý; Mục tiêu quản lý là cái đích mà các chủ thể quản lý hướng tới; Quản lý muốn đạt được kết quả tối ưu phải đặt trong một môi trường cụ thể, với những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể

Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước

Chức năng, nhiệm vụ của nhà nước được thực hiện thông qua bộ máy nhà nước Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất, tạo thành một chỉnh thể đồng bộ

Trang 16

để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Quản lý nhà nước có thể phân thành: Quản lý nhà nước trung ương và quản lý nhà nước địa phương

Quản lý nhà nước trung ương là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của cơ quan quản lý cấp trung ương lên các mặt đời sống xã hội của đất nước nhằm

sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đề ra Đây là quản lý mang tính quyền lực cao nhất, làm cơ sở cho quản lý nhà nước địa phương thực hiện theo

Quản lý nhà nước địa phương là quá trình chính quyền địa phương triển khai thực hiện các quy định do cơ quan quản lý cấp trung ương ban hành, đồng thời ban hành các văn bản quy định về cơ chế chính sách liên quan đến hoạt động cần quản lý theo thẩm quyền sao cho phù hợp tình hình phát triển kinh tế

xã hội của địa phương

1.1.1.2 Khái niệm về quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm

Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm là việc nhà nước thực hiện quyền lực công để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động về vệ sinh an toàn thực phẩm

Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm là quản lý theo ngành do nhiều cơ quan thực hiện Đó là việc xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, cơ chế và chính sách phát triển lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội

Quản lý nhà nước về VSATTP là hoạt động có tổ chức của nhà nước thông qua các văn bản pháp quy, các công cụ, chính sách của nhà nước sẽ tác động đến tình hình thực hiện VSATTP của đơn vị sản xuất, chế biến, kinh doanh và người tiêu dùng trên cả nước nhằm định hướng, dẫn dắt các chủ thể này thực hiện tốt các vấn đề về VSATTP

Quản lý nhà nước về VSATTP bao gồm một số các hoạt động chủ yếu: Công tác hoạch định và ban hành các văn bản, chính sách, chiến lược, kế hoạch có liên quan đến vấn đề VSATTP và công tác tổ chức tuyên truyền, giáo dục, công tác kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm, công tác phối hợp liên ngành trong quản lý và nghiên cứu khoa học

Trang 17

Phương pháp quản lý VSATTP của nhà nước là tổng thể những cách thức tác động có chủ đích và có thể của Nhà nước lên hệ thống quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu quản lý của Nhà nước

Trong thực tế tổ chức và quản lý đối với nền kinh tế nói chung và quản lý VSATTP nói riêng, Nhà nước có thể và cần phải thực hiện các biện pháp chủ yếu, đó là: phương pháp hành chính, phương pháp kinh tế, phương pháp giáo dục thuyết phục

* Phương pháp hành chính

Phương pháp hành chính là cách thức tác động trực tiếp của Nhà nước thông qua các quyết định dứt khoát và có tính bắt buộc trong khuôn khổ luật pháp lên các chủ thể sản xuất, chế biến, kinh doanh và tiêu dùng thực phẩm, nhằm thực hiện các mục tiêu của Nhà nước trong những tình huống nhất định

Phương pháp này mang tính bắt buộc và tính quyền lực Tính bắt buộc đòi hỏi các đối tượng quản lý phải chấp hành nghiêm chỉnh các tác động hành chính, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời, thích đáng Tính quyền lực đòi hỏi các cơ quan quản lý nhà nước chỉ được phép đưa ra các tác động hành chính đúng thẩm quyền của mình

Thực chất của phương pháp này là sử dụng quyền lực nhà nước để tạo sự phục tùng của các chủ cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm trong hoạt động quản lý của nhà nước

Phương pháp hành chính được dùng để điều chỉnh các hành vi mà hậu quả của nó có thể gây ra thiệt hại cho cộng đồng, cho Nhà nước Trong trường hợp những hành vi này diễn ra khác với ý muốn của Nhà nước, có thể gây ra những nguy hại nghiêm trọng cho xã hội thì Nhà nước phải sử dụng phương pháp cưỡng chế để ngay lập tức đưa hành vi đó tuân theo một chiều hường nhất định, trong khuôn khổ chính sách, pháp luật về kinh tế Chẳng hạn, những đơn vị nào kinh doanh hàng nhái, hàng giả bị Nhà nước phát hiện sẽ phải chịu xử phạt hành chính như: đình chỉ kinh doanh, nộp phạt, tịch thu tài sản

* Phương pháp kinh tế

Phương pháp kinh tế là cách thức tác động gián tiếp của Nhà nước, dựa trên những lợi ích kinh tế có tính hướng dẫn lên các chủ thể là chủ các cơ sở sản xuất,

Trang 18

chế biến, kinh doanh thực phẩm thậm chí là người tiêu dùng thực phẩm, nhằm làm cho đối tượng này tự giác, chủ động hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động không bằng cưỡng chế hành chính mà bằng lợi ích, tức là Nhà nước chỉ đề ra mục tiêu, nhiệm vụ phải đạt, đặt ra những điều kiện khuyến khích về kinh tế, những phương tiện vật chất có thể sử dụng để họ tự tổ chức việc thực hiện nhiệm vụ Có thể thấy đây là phương pháp quản lý tốt nhất để thực hành tiết kiệm và nâng cao hiệu quả kinh tế

Phương pháp kinh tế đề ra chiến lược phát triển kinh tế - xã hội qui định nhiệm vụ mục tiêu phù hợp với thực tế Sử dụng các định mức kinh tế (mức thuế, lãi suất…), sử dụng các chính sách ưu đãi kinh tế, các biện pháp đòn bảy kích thích kinh tế để lôi cuốn, thu hút, khuyến khích các chủ thể phát triển theo hướng ích nước, lợi nhà

Phương pháp kinh tế được dùng khi cần điều chỉnh các hành vi không có nguy cơ gây hậu quả xấu cho cộng đồng, cho Nhà nước hoặc chưa đủ điều kiện để

áp dụng phương pháp hành chính cưỡng chế Trên thực tế, có những hành vi mà nếu không có sự điều chỉnh của Nhà nước, sẽ không diễn ra theo chiều hướng có lợi cho Nhà nước và cho cộng đồng, nhưng cũng không có nghĩa là nó gây ra những thiệt hại cần phải điều chỉnh tức thời Nhà nước phải chia sẻ lợi ích kinh tế với họ bằng các hình thức như: giảm thuế, miễn thuế thu nhập, cho vay vốn với lãi suất ưu đãi,

hỗ trợ về kĩ thuật

* Phương pháp giáo dục

Phương pháp giáo dục là cách thức tác động của Nhà nước vào nhận thức và tình cảm của con người nhằm nâng cao tính tự giác, tích cực và nhiệt tình lao động của họ trong việc thực hiện tốt nhiệm vụ được giao

Phương pháp giáo dục mang tính thuyết phục cao, không dùng sự cưỡng chế, không dùng lợi ích vật chất mà là tạo ra sự nhận thức về tính tất yếu khách quan để chủ thể tự giác thi hành nhiệm vụ Phương pháp giáo dục sử dụng giáo dục đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Giáo dục ý thức lao động sáng tạo, hiệu quả Xây dựng tác phong lao động trong thời đại công nghiệp hóa - hiện đại hóa

Trang 19

Phương pháp giáo dục cần được áp dụng trong mọi trường hợp và phải được kết hợp với hai phương pháp trên để nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý Sở dĩ như vậy là do, việc sử dụng phương pháp hành chính hay kinh tế để điều chỉnh các hành vi của chủ các cơ sở sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm và cả người tiêu dùng suy cho cùng vẫn là tác động bên ngoài, và do đó không triệt để, toàn diện Một khi không có những ngoại lực này nữa, đối tượng rất có thể lại có nguy

cơ không tuân thủ người quản lý Hơn nữa, bản thân phương pháp hành chính hay kinh tế cũng phải qua hoạt động thuyết phục, giáo dục thì mới truyền tới được các doanh nghiệp, giúp họ cảm nhận được áp lực hoặc động lực, biết sợ thiệt hại hoặc muốn có lợi ích, từ đó tuân theo những mục tiêu quản lý do Nhà nước đề ra

1.1.1.3 Lý luận về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn

Thực phẩm (hay còn được gọi là thức ăn) là bất kỳ vật phẩm nào bao gồm chủ yếu các chất: chất bột (cacbohydrat), chất béo (lipit), chất đạm (protein), hoặc nước mà con người hay động vật có thể ăn hay uống được với mục đích cơ bản là thu nạp các chất dinh dưỡng nhằm nuôi dưỡng cơ thể hay vì sở thích

Vệ sinh thực phẩm: là một khái niệm khoa học để nói thực phẩm không chứa

vi sinh vật gây bệnh và không chứa độc tố Khái niệm vệ sinh thực phẩm còn bao gồm khâu tổ chức vệ sinh trong chế biến bảo quản thực phẩm

An toàn thực phẩm: được hiểu là khả năng không gây ngộ độc của thực phẩm đối với con người Như vậy, có thể nói an toàn thực phẩm là khái niệm có nội dung rộng hơn do nguyên nhân gây ra ngộ độc thực phẩm không chỉ hạn chế

ở sinh vật

Vệ sinh an toàn thực phẩm: là việc bảo đảm thực phẩm không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng bảo đảm thực phẩm không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học, hoặc tạp chất quá giới hạn cho phép Không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị bệnh có thể gây hại cho sức khỏe con người (Luật an toàn vệ sinh thực phẩm, 2010)

* Điều kiện chung về bảo đảm an toàn đối với thực phẩm

- Đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật tương ứng, tuân thủ quy định về giới hạn vi sinh vật gây bệnh, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, dư lượng thuốc thú y, kim loại

Trang 20

nặng, tác nhân gây ô nhiễm và các chất khác trong thực phẩm có thể gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người

- Bảo đảm truy xuất được nguồn gốc theo quy định của Luật này

- Có chứng nhận vệ sinh thú y của cơ quan thú y có thẩm quyền đối với thực phẩm tươi sống có nguồn gốc từ động vật theo quy định của pháp luật về thú y

Vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thịt lợn là sản phẩm thịt lợn không chứa những chất nguy hiểm, nguy hại đến sức khỏe con người Đó chính là tồn

dư chất kháng sinh, của các chất hóa học độc hại mà con lợn đó thu nạp vào thông qua quá trình ăn uống, hay chữa bệnh quy định kỹ thuật của thịt lợn tươi phải đáp ứng những yêu cầu về mặt VSATTP theo TCVN 7046 năm 2002

1.1.2 Vai trò, trách nhiệm của quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm

1.1.2.1 Vai trò của quản lý nhà nước

Trong những năm gần đây vấn đề VSATTP đang diễn ra ngày càng trầm trọng, nhiều vụ ngộ độc thực phẩm xẩy ra liên tiếp, gây thiệt hại nhiều đến tính mạng con người và tiền của Trước những diễn biến đó thì vai trò của nhà nước đặc biệt quan trọng Trước hết nhà nước thông qua việc hoạch định và ban hành các văn bản pháp luật có liên quan đến VSATTP để hướng dẫn các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm có định hướng để sản xuất thực phẩm sạch, đảm bảo vệ sinh

an toàn thực phẩm Ngoài ra, thông qua các văn bản chính sách, nhà nước cũng quy định rõ nhiệm vụ quản lý của từng Bộ, ngành và các cấp chính quyền quản lý chặt chẽ vấn đề VSATTP Thông qua việc tổ chức thực thi các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, kế hoạch có liên quan đến VSATTP, nhà nước sẽ trực tiếp quản lý vấn đề VSATTP nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát kết quả thực hiện về sản xuất, chế biến cũng như tiêu dùng của tất

Trang 21

Nhà nước tổ chức tuyên truyền, giáo dục về VSATTP cho nhân dân để nâng cao ý thức và hiểu biết vấn đề này Chỉ đạo tổ chức tháng hành động vì chất lượng VSATTP, đẩy mạnh công tác phòng chống, công tác tuyên truyền, giáo dục đạt hiệu quả Như vậy, nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định trong mọi lĩnh vực có liên quan đến thực phẩm từ sản xuất, chế biến đến tiêu dùng

Mặt khác, Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm là hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước nhằm định hướng phát triển, nâng cao khả năng kiểm soát chất lượng sản phẩm thực phẩm đáp ứng các mục tiêu kinh tế xã hội trong từng thời kỳ Công tác quản lý chất lượng thực phẩm ra đời và phát triển cùng với các hoạt động của đời sống kinh tế và xã hội, công tác quản lý VSATTP

có vai trò quan trọng, tác động nhiều mặt và sâu sắc đến hầu khắp các lĩnh vực, từ sản xuất kinh doanh, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ cho đến việc bảo

vệ môi trường, an toàn sức khoẻ con người, đảm bảo công bằng và lợi ích quốc gia Trong nền kinh tế phát triển sôi động như hiện nay thì vai trò quản lý của nhà nước ngày càng trở lên quan trọng

Vai trò của quản lý nhà nước về VSATTP trước hết phải là vai trò định hướng và đảm bảo cho hoạt động có tác động tích cực đối với sự phát triển kinh

tế mang tính dẫn dắt và chỉ hướng Trong giai đoạn hiện nay, sự phát triển kinh tế phải dựa vào đẩy mạnh xuất khẩu, mà muốn đẩy mạnh xuất khẩu phải dựa vào tăng cường khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ Như vậy, định hướng

cơ bản về công tác VSATTP hiện nay là đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế Làm tốt công tác này sẽ giúp hàng hoá của Việt Nam đáp ứng được nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế Cơ quan nhà nước là nơi tập hợp, đề xuất và ban hành các tiêu chuẩn cho các doanh nghiệp Vai trò không thể thiếu của quản lý nhà nước về VSATTP là việc đảm bảo lợi ích quốc gia, dân tộc Thông qua việc quy định và kiểm soát về vệ sinh, an toàn, môi trường, Nhà nước đảm bảo sản phẩm, hàng hóa, nguyên vật liệu…nhập khẩu vào Việt Nam phải bảo đảm vệ sinh, an toàn cho người tiêu dùng, an toàn cho môi trường tự nhiên và xã hội Bằng các hoạt động kiểm tra giám sát thường xuyên ở các khu vực cửa khẩu các khu vực buôn bán để kịp thời phát hiện và xử lý những vi phạm

Trang 22

Nhờ có vai trò quản lý của nhà nước về VSATTP đã tạo niềm tin đối với người tiêu dùng giúp cho người tiêu dùng cảm thấy yên tâm hơn khi sử dụng sản phẩm dịch vụ trên thị trường Mặt khác, vai trò của nhà nước còn thể hiện ở chỗ đề ra quy hoạch, kế hoạch tổng thể, đáp ứng những cân đối lớn của toàn bộ nền kinh tế, tránh hiện tượng đầu tư dàn trải, không hiệu quả, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm Định hướng cho công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm theo đúng chủ trương chính sách đã đề ra Hạn chế tiêu cực, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm

1.1.2.2 Vai trò của vệ sinh an toàn thực phẩm

Đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm có vai trò là đảm bảo chế độ dinh dưỡng hợp lý cho cộng đồng, góp phần nâng cao sức khỏe của người dân ở mọi lứa tuổi, làm tăng tuổi thọ và giảm tỷ lệ mắc bệnh, tăng cường sức lao động, học tập, thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, văn hóa xã hội, thể hiện nếp sống văn minh Mặt khác, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm nhằm cải thiện sức khỏe nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội nhằm thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

1.1.2.3 Trách nhiệm quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm

* Trách nhiệm trong quản lý

Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là trách nhiệm của Bộ Y tế,

Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, và Ủy Ban nhân dân các cấp Căn cứ Luật an toàn thực phẩm, số 55/2010/QH12 ngày 17 tháng 6 năm 2010

và Nghị định số 38/2012/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật an toàn thực phẩm, quy định rõ trách nhiệm của từng Bộ trong quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm, cụ thể:

- Trách nhiệm Bộ Y tế (Trách nhiệm chung):

Chủ trì xây dựng, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và

tổ chức thực hiện chiến lược quốc gia, quy hoạch tổng thể về an toàn thực phẩm;

Ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chỉ tiêu và mức giới hạn an toàn đối với sản phẩm thực phẩm; dụng cụ, vật liệu bao gói chứa đựng thực phẩm;

Trang 23

Yêu cầu các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh báo cáo định kỳ, đột xuất

về công tác quản lý an toàn thực phẩm;

Quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm;

Chủ trì tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về an toàn thực phẩm; cảnh báo sự cố ngộ độc thực phẩm;

Thanh tra, kiểm tra đột xuất đối với toàn bộ quá trình sản xuất, nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của các bộ khác khi cần thiết

Trách nhiệm trong quản lý ngành:

Chủ trì xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch và văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý;

Quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, nước uống đóng chai, nước khoáng thiên nhiên, thực phẩm chức năng và các thực phẩm khác theo quy định của Chính Phủ;

Quản lý an toàn thực phẩm đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý;

Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý

- Trách nhiệm Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn:

Chủ trì xây dựng, ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, văn bản quy phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phẩn công quản lý;

Quản lý an toàn thực phẩm đối với sản xuất ban dầu nông, lâm, thủy sản, muối; Quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, thu gom, giết mổ,

sơ chế, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với ngũ cốc, thịt và các sản phẩm từ thịt, thủy sản và sản phẩm thủy sản, rau, củ, quả, trứng và các sản phẩm từ trứng, sữa tươi nguyên liệu, mật ong và các sản phẩm từ

Trang 24

mật ong, thực phẩm biến đổi gen, muối và các nông sản thực phẩm khác theo quy định của Chính Phủ;

Quản lý an toàn thực phẩm đối với dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý;

Báo cáo định kỳ, đột xuất về công tác quản lý an toàn thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý;

Trường hợp xác nhận nội dung quảng cáo thực phẩm có công bố tác dụng tới sức khỏe phải có ý kiến của Bộ Y tế;

Tổ chức và phân cấp việc cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm cho các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh các sản phẩm thuộc lĩnh vực được phân công;

Xây dựng, ban hành quy định điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm đối với

cơ sở sản xuất, sơ chế, chế biến, kinh doanh các sản phẩm thuộc lĩnh vực được phân công trên cơ sở quy định về điều kiện chung bảo đảm an toàn thực phẩm đối với cơ

sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm do Bộ Y tế ban hành;

Quản lý an toàn thực phẩm đối với các chợ đầu mối, đấu giá nông sản; Quy định điều kiện cơ sở kiểm nghiệm; chỉ định đơn vị kiểm nghiệm và đơn

vị kiểm nghiệm kiểm chứng; công bố kết quả kiểm nghiệm đối với thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý;

Chỉ định cơ quan kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu đối với các sản phẩm thuộc lĩnh vực được phân công

- Trách nhiệm của Bộ Công Thương:

Phối hợp xây dựng quy chuẩn kỹ thuật quốc gia đối với sản phẩm thực phẩm; Quản lý an toàn thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh đối với các loại rượu, bia, nước giải khát, sữa chế biến, dầu thực vật, sản phẩm chế biến bột, tinh bột, bánh, mứt, kẹo, bao bì chứa đựng thuộc phạm vi quản lý;

Tổ chức việc cấp Giấy Xác nhận nội dung quảng cáo thực phẩm đối với các thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý Trường hợp xác nhận nội dung quảng cáo thực phẩm có công bố tác dụng tới sức khỏe phải có ý kiến của Bộ Y tế;

Trang 25

Tổ chức và phân cấp việc cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm cho các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh các sản phẩm thuộc lĩnh vực được phân công;

Quản lý an toàn thực phẩm đối với các chợ, siêu thị, và các cơ sở thuộc hệ thống dự trữ, phân phối hàng hóa thực phẩm;

Thực hiện việc kiểm tra phòng chống thực phẩm giả, gian lận thương mại trên thị trường đối với tất cả các loại thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm;

Quy định điều kiện cơ sở kiểm nghiệm; chỉ định đơn vị kiểm nghiệm và đơn

vị kiểm nghiệm kiểm chứng; công bố kết quả kiểm nghiệm đối với thực phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý;

Chỉ định cơ quan kiểm tra nhà nước về an toàn thực phẩm nhập khẩu đối với các sản phẩm thuộc lĩnh vực được phân công

- Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp:

Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên phạm vi địa phương, chịu trách nhiệm trước Chính phủ về an toàn vệ sinh thực phẩm tại địa phương

a) Tổ chức, điều hành Ban Chỉ đạo liên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

b) Chỉ đạo thực hiện các quy định của Chính phủ, các bộ, ngành về an toàn thực phẩm;

Ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương về an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm thực phẩm đặc thù của địa phương;

Sở Y tế chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn; đầu mối Thường trực Ban Chỉ đạo liên ngành về an toàn thực phẩm tại địa phương

a) Là đầu mối tổng hợp, báo cáo tình hình an toàn thực phẩm tại địa phương cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Bộ Y tế;

b) Định kỳ hằng năm tổ chức kiểm tra tình hình an toàn thực phẩm trên địa bàn; là đầu mối giám sát mối nguy ô nhiễm thực phẩm trên địa bàn;

Trang 26

c) Thanh tra, kiểm tra sản phẩm và các cơ sở sản xuất, kinh doanh phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến, nước uống đóng chai, nước khoáng thiên nhiên, thực phẩm chức năng, thực phẩm tăng cường vi chất dinh dưỡng trên địa bàn theo phân cấp của Bộ Y tế; cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, thức ăn đường phố;

d) Chủ trì, phối hợp với các Sở chuyên ngành tổ chức thực hiện thanh tra, kiểm tra đột xuất đối với toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của các ngành khác khi có chỉ đạo của Ủy ban nhân dân, Trưởng Ban Chỉ đạo liên ngành vệ sinh an toàn thực phẩm tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Bộ Y tế; khi phát hiện thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm lưu thông trên địa bàn

vi phạm có nguy cơ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người tiêu dùng; khi

có sự khác biệt trong kết luận thanh tra của các sở chuyên ngành; theo đề nghị của

sở chuyên ngành;

đ) Tổ chức tiếp nhận bản công bố hợp quy hoặc xác nhận công bố phù hợp quy định an toàn thực phẩm; xác nhận nội dung quảng cáo thực phẩm theo phân công tại khoản 2 Điều 4 Nghị định này; cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh các loại hình sản phẩm theo phân cấp của Bộ Y tế;

e) Chịu trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm trên địa bàn; quản lý điều kiện bảo đảm an toàn đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, thức ăn đường phố, cơ sở kinh doanh, dịch vụ ăn uống, an toàn thực phẩm tại các chợ trên địa bàn và các đối tượng theo phân cấp quản lý

- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm:

a) Thanh tra, kiểm tra sản phẩm và các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm theo phân cấp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;

b) Tổ chức cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh các loại hình thực phẩm theo phân cấp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;

c) Tổ chức việc cấp Giấy Xác nhận nội dung quảng cáo thực phẩm theo phân cấp của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;

Trang 27

d) Định kỳ, đột xuất báo cáo Thường trực Ban Chỉ đạo liên ngành (Sở Y tế)

để tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Bộ Y

tế, Bộ quản lý ngành

- Sở Công Thương chịu trách nhiệm:

a) Thanh tra, kiểm tra sản phẩm các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm theo phân cấp của Bộ Công Thương;

b) Tổ chức cấp giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh các loại hình thực phẩm theo phân cấp của Bộ Công Thương;

c) Tổ chức việc cấp Giấy Xác nhận nội dung quảng cáo thực phẩm theo phân cấp của Bộ Công Thương;

d) Thực hiện việc kiểm tra phòng chống thực phẩm giả, gian lận thương mại trên thị trường đối với tất cả các loại thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa đựng thực phẩm;

đ) Định kỳ, đột xuất báo cáo Thường trực Ban Chỉ đạo liên ngành (Sở Y tế)

để tổng hợp báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Bộ Y

Trang 28

c) Chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân quận, huyện về quản lý các hoạt động kinh doanh thức ăn đường phố, nhà hàng, khách sạn trên địa bàn xã, phường theo phân cấp

1.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm

1.1.3 1 Hoạch định chính sách về vệ sinh an toàn thực phẩm

Nhà nước hoạch định chính sách thông qua việc ban hành văn bản Việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về quản lý VSATTP sẽ tạo ra môi trường pháp thuận lợi cho các tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở chế biến và kinh doanh thực phẩm Đồng thời cũng giúp nhà nước có thể quản lý dễ dàng hơn, giảm thiểu rủi ro trong quá trình chế biến và tiêu dùng thực phẩm

Nhà nước thu thập dữ liệu, kết quả về VSATTP trên cả nước, sau đó phân tích, nghiên cứu tiến hành xây dựng các chính sách phù hợp Trong quá trình làm, có sự tham gia của các cơ quan ban ngành, sự bàn bạc kỹ lưỡng để đưa ra chính sách dự thảo tốt nhât về VSATTP Sau đó tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện những chính sách

dự thảo đó để ban hành chính sách về VSATTP đến khắp các tổ chức, cá nhân trong

cả nước Đối tượng chủ yếu của chính sách này hướng tới đó là các cơ quan, tổ chức,

cá nhân sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm, nguyên liệu thực phẩm, cũng như nâng cao ý thức cho người tiêu dùng Phải đảm bảo các nội dung sau:

- Tính thống nhất: Tăng cường quyền quản lý tập trung thống nhất của trung

ương, kết hợp chặt chẽ việc phân công, phân cấp hợp lý và quy định phối hợp chặt chẽ để tăng cường QLNN về VSATTP Các văn bản quản lý liên quan đến VSATTP không được mâu thuẫn với nhau Cần được rà soát văn bản thường xuyên nhằm chỉnh sửa bổ sung phù hợp với thực tế và thống nhất với mục tiêu phát triển kinh tế đất nước trong các giai đoạn

- Yêu cầu tính minh bạch của các văn bản quản lý: Tất cả văn bản điều chỉnh

về hàng thực phẩm tới các đối tượng liên quan đều được công bố rộng rãi Thông qua các tuyên truyền, vận động thì các văn bản này được truyền tải một cách chi tiết, cụ thể tới các đối tượng chịu trách nhiệm liên quan đến các tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh, người tiêu dùng thực phẩm và các cơ quan QLNN có liên quan Điều này đảm bảo trong quá trình thực hiện sẽ mang tính hiệu quả cao, hạn chế các

vi phạm gây thiệt hại cho xã hội

Trang 29

- Yêu cầu tính rõ ràng: Các văn bản quản lý nhà nước về VSATTP được quy

định cụ thể, dễ hiểu, không mâu thuẫn với nhau Các điều kiện quy định xuất phát

từ thực tế giảm thiểu thiệt hại người và của trong quá trình thực hiện, giữ gìn vệ sinh an toàn thực phẩm

- Tính phổ thông, đại chúng: Các quy định nằm trong các văn bản quản lý

khác nhau nhưng được liên hệ chặt chẽ với nhau, tránh tình trạng tạo ra các khe hở lớn tạo điều kiện cho các hình thức kinh doanh gian lận Các văn bản phải có hệ thống theo chiều dọc hoặc chiều ngang, tránh tình trạnh lách luật của các doanh nghiệp, cá nhân Mặt khác, tính đồng bộ của các văn bản sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cá nhân thực hiện đúng và đủ các quy định về VSATTP

Chất lượng của công cụ kế hoạch hóa, chính sách và bộ máy tổ chức trong quản lý nhà nước về VSATTP sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân sản xuất, chế biến, tiêu dùng thực phẩm phát triển đồng thời giảm thiểu ngộ độc thực phẩm, nâng cao sức khỏe giống nòi

1.1.3.2 Tổ chức thực hiện

Tổ chức thực hiện là bước tiếp theo trong nội dung quản lý nhà nước về VSATTP Các văn bản quản lý được xây dựng và ban hành sẽ được đưa vào thực tế Bản chất của việc tổ chức và quản lý hoạt động của cơ quan QLNN về VSATTP các cấp là tuyên truyền phổ biến các văn bản luật này đến các doanh nghiệp, người tiêu dùng để hướng dẫn họ thực hiện đúng quy định Hơn nữa bước này thực hiện còn nhằm mục đích đảm bảo thống nhất và phù hợp với hệ thống chính sách và cơ chế phát triển thương mại, phát triển kinh tế trong điều kiện hội nhập với kinh tế thế giới và khu vực Cần có sự hướng dẫn cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước để các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân dẽ dàng tiếp cận các thông tin về chiến lược, chính sách, quy hoạch, dự án và thông hiểu các quyết định của nhà nước Trong bước này, thực hiện một số nội dung chủ yếu như: xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách về VSATTP, phổ biến tuyên truyền chính sách, phân công phối hợp thực hiện chính sách

Để thực hiện được điều đó nhà nước thiết lập các cơ quan và hệ thống tổ chức quản lý, sử dụng bộ máy này để hoạch định các chiến lược, quy hoạch, chính

Trang 30

sách, các văn bản pháp quy khác về VSATTP Đồng thời sử dụng sức mạnh của bộ máy tổ chức để triển khai thực hiện những công việc thuộc về chức năng QLNN, nhằm đưa chính sách pháp luật vào thực tiễn, biến chiến lược, quy hoạch, kế hoạch tăng cường QLNN về VSATTP

Quản lý nhà nước về VSATTP được thực hiện dựa trên nguyên tắc phân cấp quản lý, quy định rõ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp quản lý như sau:

Một là, chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm

Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm

Hai là, các Bộ, ngành trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Y tế thực hiện quản lý nhà nước về VSATTP trong lĩnh vực được phân công phụ trách theo nguyên tắc: Trong quá trình sản xuất do Bộ ngành quản lý chuyên ngành chủ trì phối hợp với bộ Y tế các Bộ có liên quan thực hiện; trong quá trình lưu thông, do Bộ Y tế phối hợp với các ban ngành liên quan

Ba là, trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp được quy đi ̣nh như sau:

Thứ nhất, chịu trách nhiệm quản lý an toàn thực phẩm (ATTP) trên địa bàn; quản lý điều kiện bảo đảm ATTP đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm (TP) nhỏ lẻ, thức ăn đường phố (TAĐP), cơ sở kinh doanh, dịch vụ ăn uống, ATTP tại các chợ trên địa bàn và các đối tượng theo phân cấp quản lý

Thứ hai, báo cáo định kỳ, đột xuất về công tác quản lý ATTP trên địa bàn Thứ ba, bố trí nguồn lực, tổ chức bồi dưỡng nâng cao chất lượng nhân lực cho công tác bảo đảm an toàn thực phẩm trên địa bàn

Thứ tư, tổ chức tuyên truyền, giáo dục, truyền thông, nâng cao nhận thức về ATTP ý thức chấp hành pháp luật về quản lý ATTP, ý thức trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh TP đối với cộng đồng, ý thức của người tiêu dùng TP

Thứ năm, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về ATTP trên địa bàn quản lý

Trang 31

Ngoài tra, nhà nước còn kết hợp hài hòa, đúng đắn các phương pháp kinh tế, hành chính, giáo dục, tuyên truyền, động viên Trong đó phương pháp kinh tế tạo động lực trực tiếp đối với cả bên mua và bên bán, nhà kinh doanh và khách hàng, nhà sản xuất đóng gói thực phẩm và cộng đồng người tiêu dùng Phương pháp giáo dục là tác động tích cực vào nhận thức và hành động của các chủ thể kinh doanh thực phẩm cả về vấn đề kinh tế và pháp luật

1.1.3.3 Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật

Ngoài việc tổ chức thực hiện quy định pháp luật thì các cơ quan QLNN cần phải thực hiện các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực thi các chính sách và pháp luật của nhà nước đối với ATVSTP Quy định rõ quyền hạn của các tổ chức, cơ quan thực hiện kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm trên thị trường nước ta Thực hiện đúng quy định

về thủ tục, thời gian kiểm tra, thanh tra nhằm kịp thời phát hiện sai phạm để xử lý nghiêm các vi phạm

Công tác kiểm tra, thanh tra về VSATTP luôn được coi là một hoạt động quan trọng và ưu tiên của công tác quản lý nhà nước về VSATTP Hoạt động thanh tra, kiểm tra được tiến hành đồng loạt ở cấp Trung ương và địa phương, tiến hành định kỳ vào các đợt cao điểm như mùa lễ hội, bão lụt hay đột xuất như dịch bệnh, các sự cố đặc biệt như sữa nhiễm melamine Với Nhà nước, kiểm tra là nội dung không thể thiếu của công tác quản lý Thông qua kiểm tra, các chủ thể quản lý tự điều chỉnh hành vi của mình theo mục tiêu, nhiệm vụ quản lý Nhà nước, cơ quan quản lý cấp trên có thể thường xuyên xem xét tình hình triển khai, thực hiện nhiệm

vụ cơ quan cấp dưới

Việc kiểm tra, kiểm soát thực hiện về VSATTP phải có một hệ thống pháp luật đầy đủ và thực hiện được các yêu cầu như: đảm bảo sức khỏe nhân dân và phát triển giống nòi; cải tiến phù hợp với xu thế thế giới; đáp ứng được yêu cầu hội nhập hiện nay; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ Bộ, ngành tránh chồng chéo hoặc bỏ trống; đảm bảo phát hiện sai phạm, có biện pháp điều chỉnh kiểm soát bền vững các yếu tố nguy cơ VSATTP…

Trang 32

Nghị định số 79/2008/NĐ - CP quy định hệ thống tổ chức quản lý, thanh tra

và kiểm nghiệm VSATTP Nghị định này quy định rõ trách nhiệm của từng bộ, ban ngành trong việc quản lý nhà nước về VSATTP, bên cạnh đó còn quy định rõ nhiệm

vụ và chức năng của bộ phận thanh tra về việc đảm bảo VSATTP

Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về VSATTP đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa các cấp, ngành, giữa trung ương và địa phương, nhất là trong lĩnh vực QLNN về VSATTP Để công tác kiểm tra của nhà nước đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển thương mại, đòi hỏi bộ máy tổ chức và nhân sự phải phù hợp, kỹ thuật trang bị, thiết bị phục vụ nhiệm vụ kiểm soát phải được tăng cường Đồng thời, phải kết hợp với hệ thống kiểm soát khác của QLNN như thông tin, hoạch định, kiểm soát, thanh tra

1.1.3.4 Xử lý vi phạm pháp luật và cải tiến thực hiện

Khi phát hiện vi phạm trong quá trình thực hiện, thì việc xử lý, điều chỉnh chính sách sao cho khắc phục được tình trạng hiện tại, cải tiến công tác thực hiện là một vấn đề đã và đang gặp nhiều khó khăn Tùy theo mức độ vi phạm sẽ có biện pháp xử lý khác nhau

Tại Nghị định số 91/2012/NĐ-CP ngày 08/11/2012 quy định về xử phạt vi phạm hành chính về VSATTP và mức xử phạt như: cảnh cáo hoặc phạt tiền, tịch thu công cụ dụng cụ vi phạm, thu hồi giấy phép kinh doanh, Tùy từng trường hợp sẽ áp dụng những mức xử phạt khác nhau và được quy định rất rõ trong nghị định này

Dựa trên kết quả thu được trong quá trình thanh tra, kiểm tra, báo cáo kết quả thực hiện, Bộ Y tế sẽ có những điều chỉnh cho phù hợp Các địa phương khi thực hiện sẽ vận dụng sáng tạo vào điều kiện của từng địa phương mình nhưng vẫn đảm bảo đúng luật định đề ra

Để giảm thiểu những sai phạm về VSATTP, nhà nước cần phải có cơ chế đơn giản nhằm tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức thực hiện khi có sai phạm Điều này đặc biệt quan trọng đối với người tiêu dùng (NTD) vì đây là đối tượng gánh chịu trực tiếp các hậu quả của các sai phạm do mất vệ sinh an toàn thực phẩm gây ra Tuy nhiên, NTD lại đang có tâm lý e ngại khi đi khiếu nại tố cáo Do đó,

Trang 33

giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng mà các cơ quan QLNN cần nghiêm chỉnh thực hiện nhằm tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bảo vệ được quyền lợi của NTD, tăng thêm niềm tin của người dân vào công tác QLNN đối với việc tiêu dùng các sản phẩm thực phẩm

1.1.4 Nội dung, công cụ và phương pháp quản lý VSATTP đối với thịt lợn

1.1.4.1 Hoạch định chính sách về vệ sinh an toàn thực phẩm

Nhà nước hoạch định chính sách thông qua việc ban hành văn bản Việc xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về quản lý VSATTP sẽ tạo ra môi trường pháp luật thuận lợi cho các tổ chức, doanh nghiệp, cơ sở chế biến và kinh doanh thực phẩm Đồng thời giúp cho nhà nước quản lý dễ dàng hơn, giảm thiểu rủi ro trong quá trình chế biến và tiêu dùng thực phẩm

1.1.4.2 Tổ chức thực hiện

Tổ chức thực hiện là bước tiếp theo trong nội dung quản lý nhà nước về VSATTP Các văn bản quản lý được xây dựng và ban hành sẽ được đua vào thực tế Bản chất của việc tổ chức và quản lý hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về VSATTP các cấp là tuyên truyền phổ biến các văn bản luật này đến các doanh nghiệp, người tiêu dùng để hướng dẫn họ thực hiện đúng quy định Hơn nữa bước này thực hiện còn nhằm mục đích đảm bảo thống nhất và phù hợp với hệ thống chính sách và cơ chế phát triển thương mại, phát triển kinh tế trong điều kiện hội nhập với kinh tế thế giới và khu vực Cần có sự hướng dẫn cụ thể của các cơ quan quản lý nhà nước để các tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân dễ dàng tiếp cận các thông tin về chiến lược, chính sách, quy hoạch, dự án và thông hiểu các quyết định của nhà nước Trong bước này, thực hiện một số nội dung chủ yếu như: xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách về VSATTP, phổ biến tuyên truyền chính sách, phân công phối hợp thực hiện chính sách

1.1.4.3 Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật

Ngoài việc tổ chức thực hiện quy định pháp luật thì các cơ quan quản lý nhà nước cần phải thực hiện các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực thi các chính sách và pháp luật của nhà nước đối với VSATTP Quy định rõ quyền hạn của các tổ chức, cơ quan thự hiện kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm trên thị trường nước ta Thực hiện đúng quy

Trang 34

định về thủ tục, thời gian kiểm tra nhằm kịp thời phát hiện sai phạm để sử lý nghiêm các vi phạm

Công tác kiểm tra thanh tra về VSATTP luôn được coi là một hoạt động quan trọng và ưu tiên của công tác quản lý nhà nước về VSATTP

1.1.4.4 Xử lý vi phạm pháp luật và cải tiến thực hiện

Khi phát hiện vi phạm trong quá trình thực hiện, thì việc sử lý, điều chỉnh chính sách sao cho khắc phục được tình trạng hiện tại, cải tiến công tác thực hiện là

1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý Vê sinh an toàn thực phẩm

1.2.1 Chính sách, pháp luật làm hành lang pháp lý cho hoạt động VSATTP

Chính sách, pháp luật là những văn bản quy phạm pháp luật được ban hành

hệ thống từ trung ương đến địa phương Lĩnh vực an toàn vệ sinh thực phẩm là lĩnh vực rộng, trong quá trình hoạt động có nhiều việc phải giải quyết Với hệ thống chính sách, pháp luật chặt chẽ, đầy đủ, thì việc giải quyết sự việc, tình huống sẽ triệt

để và nhanh chóng kịp thời

Sơ đồ 1.1: Hệ thống chính sách pháp luật 1.2.2 Nguồn nhân lực làm công tác Quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm

Cán bộ quản lý và cán bộ làm công tác an toàn vệ sinh thực phẩm làm cho các cơ quan từ Trung ương đến địa phương bao gồm: Cục an toàn thực phẩm, chi

Trang 35

cục an toàn vệ sinh thực phẩm các tỉnh/Thành phố, Khoan ATVSTP - TTYT các huyện/thị xã/thành phố, cán bộ chuyên trách Trạm y tế, CTV ATVSTP

Cán bộ làm công tác Quản lý nhà nước về an toàn VSTP là toàn bộ những người được phân công làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm và trực tiếp theo dõi, chịu trách nhiệm đối với các hoạt động liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm

Trình độ của cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm được thể hiện thông qua bằng cấp, chứng chỉ chuyên môn mà họ được đào tạo Việc phân công nhiệm vụ phù hợp hay không phù hợp với chuyên môn được đào tạo cũng ảnh hưởng đến kết quả công việc được giao

Ngoài ra ý thức trách nhiệm đối với công việc của người làm công tác quản

lý vệ sinh an toàn thực phẩm đóng vai trò quan trọng Ngoài việc có chuyên môn thì

ý thức trách nhiệm quyết định chính trong việc hoàn thành nhiệm vụ hay không và hoàn thành nhiệm vụ ở mức độ nào

Một số chỉ tiêu thể hiện trình độ cán bộ làm công tác quản lý về VSATTP:

- Số lượng cán bộ

- Trình độ chuyên môn được đào tạo

- Kết quả công tác của mỗi cán bộ

Nguồn nhân lực là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc quản lý VSATTP Bởi

lẽ yếu tố con người luôn là yếu tố quyết định trong sự thành công của mọi vấn đề Khi đã sử dụng yếu tố con người hợp lý với năng lực, sở trường với chuyên môn của

họ thì mới đạt được mục đích và nâng cao kết quả trong công việc nói chung và trong quản lý nhà nước về VSATTP nói riêng

1.2.3 Ý thức chấp hành pháp luật của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm

Sự gia tăng nhanh chóng của các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và các chợ truyền thống do dân số đông nên nhu cầu về thực phẩm ngày càng tăng trên địa bàn huyện Để đáp ứng được nhu cầu của người dân, số lượng các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và chợ tăng nhanh trong những năm gần đây Thậm chí một số cơ sở sản xuất, kinh doanh vì lợi nhuận mà đã không quan tâm đến sức khoẻ người tiêu dùng như sử dụng chất phụ gia, chất cấm, chất tạo nạc trong chăn nuôi, sử dụng thuốc trừ sâu không đúng quy định

Trang 36

Sự gia tăng nhanh chóng của các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm gây mất kiểm soát cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc kiểm tra, kiểm soát trên địa bàn Huyện Cùng với các nguyên nhân khác ở trên, vấn đề Vệ sinh an toàn thực phẩm đang là một vấn đề cần được quan tâm hơn nữa bởi các cấp chính quyền trong địa bàn huyện

1.2.4 Ý thức của người tiêu dùng

Những nhận thức chưa đúng đắn của người tiêu dùng về VSATTP đang là một trong những nguyên nhân làm gia tăng thiệt hại về người và tài sản của chính mình cũng như của toàn xã hội

Nguyên nhân đầu tiên là do phong tục, tập quán của người dân còn lạc hậu Nguyên nhân thứ hai là do tâm lý thích sử du ̣ng sản phẩm tươi sống Nguyên nhân thứ ba do nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu về các loại thực phẩm phục vụ cho đời sống hàng ngày của người dân tăng lên

Nguyên nhân cuối cù ng là việc nhận thức về VSATTP của người dân địa phương chưa cao

1.3 Cơ sở thực tiễn

1.3.1 Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm trên thế giới

Vệ sinh an toàn thực phẩm là một trong những vấn đề được quan tâm ngày càng sâu sắc trên phạm vi mỗi quốc gia và quốc tế bởi sự liên quan trực tiếp của nó đến sức khỏe và tính mạng con người, ảnh hưởng đến sự duy trì và phát triển nòi

giống, cũng như quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế Cùng với xu hướng

phát triển của xã hội và toàn cầu hóa, bệnh truyền qua thực phẩm và ngộ độc thực phẩm đang đứng trước nhiều thách thức mới, diễn biến mới về cả tính chất, mức độ

và phạm vi ảnh hưởng Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hơn 1/3 dân số các nước phát triển bị ảnh hưởng của các bệnh do thực phẩm gây ra mỗi năm Các vụ ngộ độc thực phẩm (NĐTP) có xu hướng ngày càng tăng Nước

Mỹ mỗi năm vẫn có 76 triệu ca NĐTP với 325.000 người phải vào viện và 5.000 người chết Ở các nước phát triển khác như EU, Hà Lan, Nga, Trung Quốc, Hàn Quốc có hàng ngàn trường hợp người bị NĐTP mỗi năm và phải chi phí hàng tỉ USD cho việc ngăn chặn nhiễm độc thực phẩm (Nguyễn Thị Thanh Hương, 2012)

Trang 37

- Các nước kém phát triển: cao hơn nhiều

- Các nước có quy định báo cáo: chỉ đạt 1%

số bị NĐTP

(Nguồn: Cục quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2012)

Tại các nước đang phát triển, tình trạng ngộ độc thực phẩm lại càng trầm trọng hơn nhiều Năm 1998, khoảng 1,8 triệu trẻ em bị tử vong do nhiễm độc thực phẩm (tiêu chảy), và đến bây giờ con số đó là hơn 2,2 triệu người tử vong hàng năm, trong đó cũng hầu hết là trẻ em, tỷ lệ tử vong do NĐTP chiếm 1/3 đến 1/2 tổng số trường hợp tử vong Ở khu vực châu Phi mỗi năm có khoảng 800.000 trẻ em tử vong do tiêu chảy

Ở các nước Đông Nam Á như Thái Lan, trung bình mỗi năm có 1 triệu trường hợp bị tiêu chảy Riêng trong năm 2003, có 956.313 trường hợp tiêu chảy cấp, 23.113 ca bị bệnh lỵ, 126.185 ca ngộ độc thực phẩm Trong 9 tháng đầu năm 2007, ở Malaysia, đã có 11.226 ca NĐTP, trong đó có 67% là học sinh, tăng 100% so với cùng kỳ năm trước Tại Ấn Độ 400 ngàn trẻ em bị tử vong do tiêu chảy mỗi năm

Thực tế cho thấy các bệnh do ăn phải thức ăn bị ô nhiễm chất độc hoặc tác nhân gây bệnh đang là một vấn đề sức khoẻ cộng đồng ở các nước đã phát triển cũng như các nước đang phát triển và đây là vấn đề sức khỏe của toàn cầu Cần phải thiết lập một hệ thống quản lý ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm

Trang 38

1.3.2 Tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm tại Việt Nam

Theo thống kê của Cục An toàn thực phẩm - Bộ Y tế: Ở nước ta, tỷ lệ ngộ độc thực phẩm (NĐTP) hiện còn ở mức cao Hàng năm, 150-200 vụ ngộ độc thực phẩm với 5.000-7.000 người là nạn nhân NĐTP được báo cáo 25 - 50 ca tử vong NĐTP do hóa chất, đặc biệt là hóa chất sử dụng trong nông nghiệp như hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV), một số hóa chất bảo quản thực phẩm, chiếm khoảng 25% tổng số các vụ NĐTP Tuy nhiên trong thực tế con số này có thể cao hơn nhiều do công tác điều tra, thống kê báo cáo chưa đầy đủ

Trong chăn nuôi, giết mổ: Hoá chất tồn dư trong sản phẩm chăn nuôi là nguy

cơ tiềm ẩn đe dọa tới sức khoẻ của con người Phần lớn các lò mổ tập trung thiếu mặt bằng cho giết mổ, các công đoạn giết mổ không được phân chia riêng rẽ; nguồn nước sử dụng, đặc biệt là nước thải không bảo đảm vệ sinh thú y Công tác kiểm dịch động vật còn kém hiệu quả, trang thiết bị cho các chi cục thú y, trạm, chốt kiểm dịch còn hạn chế Nghiên cứu của Đào Tố Quyên cho thấy dư lượng kháng sinh Enrofroxacin chiếm 31,4%, tỷ lê ̣ nhiễm Ecoli trong thịt lợn là 40%, có 25,7% mẫu thịt lợn không đa ̣t tiêu chuẩn về nhiễm Salmonela Tỷ lệ nhiễm Salmonella và S.aureus vượt quá giới hạn cho phép trong thịt lợn tại Hà Nội lần lượt là 4,1% và

5,5%; trong thịt gà là 8,3% và 9,7% Tại TP Hồ Chí Minh trong thịt lợn là 5,8% và 53,6%; trong thịt gà là 8,7% và 59,4% Tồn dư hóa chất và hóa chất bảo quản thực phẩm trong thịt và sản phẩm động vật tươi sống là vấn đề rất cần được quan tâm, Salbutamol và Clenbuterol là chất cấm sử dụng do có ảnh hưởng đến sức khỏe con người nhưng vẫn còn tồn dư trong thịt (Nguyễn Thị Thanh Hương, 2012)

Tại Hội thảo “Vì thị trường thực phẩm” diễn ra ngày 26/3/2016 tại TP

HCM, ông Đỗ Ngọc Chính - Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam cho biết, tình trạng ung thư trong những năm gần đây liên tục gia tăng

Theo thống kê, năm 2000, tại Việt Nam chỉ có khoảng 69.000 ca mới mắc bệnh ung thư, nhưng cho đến năm 2015 vừa qua, số ca mới mắc ung thư tăng lên hơn gấp đôi, có đến xấp xỉ 150.000 ca Nếu cứ theo đà này, ước tính đến năm 2020,

số ca mắc mới ung thư sẽ lên đến gần 200.000 ca, đồng nghĩa với việc Việt Nam có thể trở thành một trong những quốc gia có tỷ lệ mắc ung thư cao nhất thế giới

Trang 39

Cũng theo đánh giá của một số chuyên gia trong lĩnh vực ung thư cho thấy,

tỷ lệ người mắc ung thư do sử dụng thực phẩm “bẩn” gây ra chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 35%, hút thuốc lá chiếm khoảng 30%, còn lại là yếu tố di truyền khoảng 10% và một số nguyên nhân khác

* Tình hình VSATTP trên địa bàn huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên

Hầu hết việc giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn huyện Đaị Từ được thưc hiện tại các cơ sở nhỏ lẻ, phương thức giết mổ thủ công theo truyền thống… cơ bản chưa đáp ứng yêu cầu vệ sinh thú y, vệ sinh an toàn thực phẩm

Tổng số cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm trên địa bàn huyện có 222 cơ sở, trong đó: + Cơ sở giết mổ trâu bò, ngựa: 5 cơ sở, quy mô nhỏ lẻ, chủ yếu giết mổ theo đơn đặt hàng, trung bình 01 con/02 ngày + Cơ sở giết mổ lợn: 208 cơ sở, chủ yếu các cơ

sở là giết mổ nhỏ lẻ trung bình 1con/ngày; có 01 cơ sở Tiến Hảo - TT Hùng Sơn, TB 10 con/ngày + Cơ sở giết mổ gia cầm: 9 cơ sở, quy mô < 10con/ngày

Từ trước ngày 15 tháng 7 năm 2016, thực hiện theo Luật Thú y năm 2004, UBND huyện Đại Từ chỉ đạo Trạm Thú y huyện và UBND các xã, thị trấn thực hiện nghiêm túc công tác kiểm dịch và kiểm soát giết mổ tại các điểm giết mổ và tại các chợ, nên không phát hiện ra tình trạng gia súc đưa vào giết thịt không qua kiểm dịch và mất vệ sinh ATTP

Từ ngày 16 tháng 7 năm 2016 thực hiện theo Luật Thú y mới và Quyết định số 11/2014/QĐ-UBND ngày 25/4/2014 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc ban hành quy định về kiểm dịch, kiểm soát giết mổ, vận chuyển, kinh doanh động vật, sản phẩm động vật trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên đã quy định tạm dừng hoạt động kiểm soát giết mổ, kiểm tra vệ sinh thú y tại các chợ và cơ sở giết mổ nhỏ lẻ trên địa bàn toàn tỉnh vì vậy công tác kiểm dịch, kiểm soát giết mổ tại các cơ sở trên địa bàn huyện cũng tạm dừng

Lãnh đạo, lực lượng cán bộ quản lý, kiểm tra VSATTP còn thiếu đáng kể, chủ yếu là kiêm nhiệm dẫn đến công tác quản lý VSATTP trên địa bàn còn hạn chế

Đầu tư kinh phí cho các hoạt động về ATTP còn hạn chế (công tác kiểm tra, xét nghiệm, tuyên truyền ) Sự tham gia của chính quyền cấp xã đối với công tác VSATTP chưa được thường xuyên, cấp xã chưa được phân bổ kinh phí

để hoạt động

Trang 40

Ý thức chấp hành pháp luật về ATTP và trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh thực phẩm đối với cộng đồng còn chưa cao, người sản xuất, kinh doanh chạy theo lợi nhuận trước mắt, coi thường tính mạng, sức khỏe người tiêu dùng Tình trạng các cơ sở thực phẩm chưa tuân thủ các quy định của pháp luật về lĩnh vực ATTP vẫn còn tồn tại như: chưa thực hiện xét nghiệm nguồn nước định kỳ; chưa có hợp đồng về nguồn cung cấp thực phẩm (chủ yếu mua lẻ ở chợ); chưa thực hiện lưu mẫu thức ăn 24h, chưa lập sổ lưu mẫu, kiểm thực 3 bước; một số cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống điều kiện chỉ đạt ở mức cửa hàng nhưng treo biển quảng cáo nhà hàng (do nhận thức về điều kiện ATTP còn hạn chế); chưa thực hiện khám sức khỏe và cập nhật kiến thức ATTP định kỳ cho đối tượng theo quy định…

Việc quy hoạch vùng sản xuất thực phẩm an toàn chưa gắn với thị trường tiêu thụ nên thực phẩm an toàn chưa tạo được niềm tin cho người tiêu dùng, giá thành cao khó cạnh tranh với thực phẩm thông thường, vì vậy chưa tạo động lực cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn

1.3.3 Một số bài học kinh nghiệm vận dụng về vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm

Cần xây dựng hệ thống kiểm soát thực phẩm theo nguyên tắc: phân tích mối nguy, tiếp cận quản lý hệ thống “ngăn ngừa, phòng chống, kiểm soát và xử lý” và kiểm soát toàn bộ chu trình thực phẩm “từ trang trại đến bàn ăn”

Nhất thiết phải xây dựng được hệ thống quy định pháp luật đồng bộ từ các biện pháp VSATTP đến các biện pháp kiểm dịch động vật theo tiêu chuẩn chung quốc tế (có tính đến điều kiện cụ thể của đất nước) Hệ thống này phải đầy đủ trên các khía cạnh về luật thực phẩm, phụ gia thực phẩm, vấn đề hóa chất bảo vệ thực vật, vấn đề kiểm dịch… và việc cụ thể hóa các quy định pháp luật bằng những biện pháp cụ thể trong từng hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu, lưu thông thực phẩm đóng vai trò quan trọng khi thực thi chúng

Trên cơ sở nguyên tắc tiếp cận hệ thống và toàn bộ chu trình thực phẩm, xây dựng bộ máy quản lý và kiểm soát VSATTP, phân công trách nhiệm các bộ/ngành, địa phương liên quan và cơ chế phối hợp giữa chúng bởi năng lực của bộ máy là yếu

tố quyết định hiệu quả công tác quản lý thực phẩm

Công tác thanh tra là biện pháp quan trọng nhất trong kiểm soát thực phẩm, vì vậy cần có một đội ngũ thanh tra đủ lớn và bảo đảm đủ năng lực chuyên môn mới kiểm soát và xử lý được tất cả các khâu của chu trình thực phẩm

Ngày đăng: 16/08/2017, 15:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm