Quan hệ song song’ sách giáo khoa có giới thiệu một số khái niệm, trong đó có khái niệm về giao điểm của đường thẳng và mặt phẳng, giao tuyến của hai mặt phẳng, thiết diện cắt bởi một mặ
Trang 1I PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài:
Từ đầu lớp 11 trở về trước học sinh mới chỉ làm việc với phần lớn chỉ là
hình phẳng Mỗi hình đều có thể biểu diễn một cách tường minh, phản ánh trung
thành hình dạng và có thể cả về kích thước trên mặt giấy Mọi quan hệ giữa các
đối tượng đều được biểu diễn một cách trực quan Từ chương II hình học lớp 11
trở đi, hình vẽ là những hình phẳng không thể phản ánh trung thành các quan hệ
như quan hệ vuông góc, quan hệ cắt nhau, của các đối tượng Đó là một khó
khăn rất lớn của học sinh
Trong quá trình giảng dạy tôi nhận thấy học sinh rất e ngại học môn hình
học không gian vì các em nghĩ rằng nó rất trừu tượng, thiếu tính thực tế khách
quan Chính vì thế mà có rất nhiều học sinh học yếu môn học này, về phần giáo
viên củng gặp không ít khó khăn khi truyền đạt nội dung kiến thức và phương
pháp giải các dạng bài tập hình hoc không gian Qua nhiều năm giảng dạy môn
học này tôi cũng đúc kết được một số kinh nghiệm nhằm giúp các em tiếp thu kiến
thức được tốt hơn, từ đó mà chất lượng giảng dạy cũng như học tập của học sinh
ngày được nâng lên Do đây là phần nội dung kiến thức mới nên nhiều học sinh
còn chưa quen với tính tư duy trừu tượng của nó,nên tôi nghiên cứu nội dung này
nhằm tìm ra những phương pháp truyền đạt phù hợp với học sinh, bên cạnh cũng
nhằm tháo gỡ những vướng mắc khó khăn mà học sinh thường hay gặp phải với
mong muốn nâng dần chất lượng giảng dạy học sinh nói chung và môn hình học
không gian nói riêng
Điểm mới trong kết quả nghiên cứu là tính thực tiễn và tính hệ thống,
không áp đặt hoặc dập khuôn máy móc do dó mà học sinh dễ dàng áp dụng được
vào việc giải quyết các bài toán lạ, các bài toán khó
Từ lí do trên tôi đã khai thác, hệ thống hóa các kiến thức và tổng hợp thành
một chuyên đề: ‘Phân loại và phương pháp giải một số bài toán về quan hệ song
song trong không gian’
Qua nội dung này tôi mong muốn sẽ cung cấp cho học sinh lớp 11 có thêm
một số kĩ năng cơ bản, phương pháp chứng minh của một số dạng bài toán liên
quan đến quan hệ song song trong không gian Học sinh thông hiểu và trình bày
bài toán đúng trình tự, đúng lôgic, không mắc sai lầm khi làm bài tập Hy vọng đề
tài nhỏ này sẽ giúp các em học sinh có cơ sở cũng như phương pháp giải một số
bài toán bắt buộc trong sách giáo khoa Chương II Hình học lớp 11 một cách có
hiệu quả
1.2 Mục đích nghiên cứu:
Do đây là phần nội dung kiến thức mới nên nhiều học sinh còn chưa quen
với tính tư duy trừu tượng của nó, nên tôi nghiên cứu nội dung này nhằm tìm ra
những phương pháp truyền đạt phù hợp với học sinh, bên cạnh cũng nhằm tháo gỡ
những vướng mắc, khó khăn mà học sinh thường hay gặp phải với mong muốn
nâng dần chất lượng giảng dạy học nói chung và môn hình học không gian nói
riêng
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
1
Trang 2Đối tượng nghiên cứu trong đề tài giao điểm của đường thẳng và mặt
phẳng, giao tuyến của hai mặt phẳng, thiết diện của hình đa diện cắt bởi một mặt
phẳng
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là “Chương II: Đường thẳng và mặt phẳng trong
không gian Quan hệ song song” sách giáo khoa hình học 11
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điều tra,khảo sát thực tế,thu thập thông tin
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm
Phát triển các bài toán về tỉ số trong không gian về các bài toán trong mặt
phẳng
II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2
Trang 32.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
Trong nghiên cứu khoa học, việc tìm ra quy luật, phương pháp chung để
giải quyết một vấn đề là việc vô cùng quan trọng vì nó giúp chúng ta có định
hướng tìm lời giải của một lớp các bài toán tương tự nhau Trong dạy học, giáo
viên có vai trò thiết kế và điều khiển sao cho học sinh thực hiện và luyện tập
những hoạt động tương thích với nội dung dạy học trong điều kiện được gợi động
cơ , hướng có đích, có kiến thức về phương pháp tiến hành và có trải nghiệm
thành công Do vậy trang bị về phương pháp cho học sinh là một nhiệm vụ quan
trọng của người giáo viên
Trong chương II ‘ Đường thẳng và mặt phẳng trong không gian Quan hệ song
song’ sách giáo khoa có giới thiệu một số khái niệm, trong đó có khái niệm về
giao điểm của đường thẳng và mặt phẳng, giao tuyến của hai mặt phẳng, thiết diện
cắt bởi một mặt phẳng với một hình đa diện Do đó nếu có được hệ thống phương
pháp giải các bài toán:
Bài toán 1: Tìm giao điểm của đường d và mặt phẳng( )
Bài toán 2: Tìm giao tuyến của hai mặt phẳng ( ) và ()
Bài toán 3: Tìm thiết diện cắt bởi một mặt phẳng với một hình đa diện
Bài toán 4: Đưa bài toán tỉ số trong không gian về các bài toán trong mặt phẳng
Thì học sinh có thể nắm vững được kiến thức để vận dụng làm các bài tập, gây
hứng thú trong học tập cho học sinh Mặt khác đây lại là chương kiến thức nền
tảng cho cả phần hình học không gian nên rất cần thiết
Vì vậy tôi thấy việc đưa ra : ‘Phân loại và phương pháp giải một số toán
về quan hệ song song trong không gian’ là một việc rất bổ ích cho việc dạy của
giáo viên cũng như việc học hình học không gian của học sinh
2.2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ
Trong quá trình giảng dạy của mình tôi nhận thấy phần lớn học sinh thường rất
lơ mơ và ngại học môn hình học không gian Khi gặp các bài toán thì không phân
loại và định hình được cách giải, lúng túng khi làm bài tập Trong khi đó sách giáo
khoa hình học 11 không nêu cách giải tổng quát cho từng dạng, thời lượng dành
cho việc làm bài tập các dạng này là rất ít Do đó học sinh thường bế tắc trong
việc vẽ hình , xác định yếu tố nào trước và làm như thế nào, cụ thể:
Khi dạy cho học sinh tôi nhận thấy:
- Khi xác định giao điểm A của đường thẳng a và mặt phẳng (P) đa số học
sinh ở mức trung bình đều không biết làm thế nào Về mặt hình vẽ thì thể hiện
chới với không chính xác Giáo viên phải hướng cho học sinh quy về giao điểm
của hai đường thẳng
- Khi gặp các bài toán xét trên các mặt phẳng, chẳng hạn mặt phẳng (ABC)
thì rất nhiều học sinh thường hiểu rằng mặt phẳng (ABC) chỉ gồm các điểm thuộc
miền trong và nằm trên các cạnh của tam giác ABC Do đó khi xác định giao điểm
của mặt phẳng này hoặc của đường thẳng nằm trong mặt này với các đối tượng
khác là rất khó khăn
- Hình biểu diễn của các hình không gian không trực quan như hình phẳng
mà lâu nay các em đã học, do đó dựa vào hình vẽ nhiều học sinh nhầm lẫn giữa
những đường thẳng thực tế không cắt nhau nhưng trong hình biểu diễn các em lại
thấy như là chúng cắt nhau
3
Trang 4D
C
E
F
O
C
S
K
M
H I
J
K
Y
X
W
V
E O
O'
D
C
A
B
L
Z
U
A1
Chẳng hạn khi gặp bài toán:
Bài toán 1 Cho 4 điểm A,B,C,D không đồng phẳng
Gọi E, F theo thứ tự là 2 điểm trong của các tam
giác ABC và BCD Gỉa sử đường thẳng EF
cắt mặt phẳng (ACD) tại điểm J Hãy xác định
điểm J đó
Với hình biểu diễn trên, nhiều học sinh ngộ
nhận rằng đường thẳng EF và AC cắt nhau và đó
chính là giao điểm J Một số học sinh khá hơn
sẽ nhận ra điều đó là sai song chưa xác định được
đường thẳng EF sẽ cắt đường nào của mặt (ACD) Hình 1
Bài toán 2: Cho hình hộp ABCD.A’B’C’D’ Gọi O’ là tâm của hình bình hành
A’B’C’D’; K là trung điểm của CD, E là trung điểm của BO’
a) Chứng minh rằng E nằm trên mặt phẳng (ACB’)
b) Xác định thiết diện của hình hộp khi cắt bởi mặt phẳng (P) đi qua K và song
song với mặt phẳng (ACE)
*Học sinh thường lúng túng không biết cách chứng minh cho E thuộc một đường
thẳng khác nằm trên mặt phẳng (ACB’) Do đó đến câu b) học sinh sẽ không
nhận ra được mặt phẳng (ACE) chính là mặt phẳng (ACB’) nên rất khó khăn
trong việc xác định thiết diện
Lúc này vai trò của giáo
viên là phải định hướng
cho học sinh chứng minh
được E là giao điểm của
BO’ với OB’ nằm trong mặt
phẳng (ACB’)
Hình 2
đáy là một tứ giác lồi Gọi O là giao điểm của hai
a) Xác định thiết diện của hình chóp khi cắt bởi mặt
phẳng (P) qua M song song với SO và BC
mặt phẳng (Q) chứa O song song với BM và SD
4
Trang 5A B
D
C
S
L
J
O
M
G
I K
A
D
C
E
F
Hình 3 Hình 4
Học sinh thường rất lúng túng vì mặt phẳng cho trước song song với 2 đường
thẳng chéo nhau nên không xác định được mặt phẳng đó là mặt phẳng nào Đến
đây giáo viên phải định hướng cho học sinh mặt phẳng mà ta đang xác định song
song với mặt phẳng nào ( ta thường chỉ ra nó song song với một mặt phẳng chứa
đường này và song song với đường còn lại )
2.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Qua nghiên cứu ,trao đổi đúc rút kinh nghiệm và ý kiến của đồng nghiệp, tôi
mạnh dạn đưa ra hướng giải quyết các vấn đề trên của học sinh như sau:
1 Đưa mô hình trực quan
Ta đã biết trong triết học: “ Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng” vì
vậy để học sinh có hình ảnh trực quan tôi sẽ cho các em chuẩn bị một số mô hình
về các hình không gian như hình tứ diện, hình hộp,…các hình này được làm
khung bằng các que, các mặt thì gắn bằng bìa Ngoài ra còn chuẩn bị một số que
làm mô hình đường thẳng và giấy bìa làm mô hình mặt phẳng Khi dạy đến từng
phần tôi sẽ chỉ cho học sinh thấy bằng mô hình trực quan đó, sau đó yêu cầu học
sinh vẽ lại hình biểu diễn của hình
Ví dụ dạy về bài toán tìm giao điểm của đường thẳng và mặt phẳng tôi sẽ lấy ví dụ
Bài toán Cho 4 điểm A,B,C,D không đồng phẳng
Gọi E, F theo thứ tự là 2 điểm trong của các tam
giác ABC và BCD Gỉa sử đường thẳng EF
cắt mặt phẳng (ACD) tại điểm J Hãy xác định
điểm J đó
Lúc này mô hình mà tôi sử dụng là hình tứ
diện với khung được làm bằng các que các mặt
ngoài không gắn bìa, tôi sẽ chỉ cho các em thấy
đường thẳng EF là đường nào Sau đó cho các em
nhận xét quan hệ giữa đường thẳng EF với các cạnh
của tứ diện Tiếp đó tôi sẽ gọi một học sinh lên
5
Trang 6a A
a
d
A
bảng vẽ hình biểu diễn
Để tìm giao điểm J tôi sẽ định hướng cho học sinh đường thẳng EF nằm trên
mặt phẳng (BEF) và bằng tấm bìa cho các em quan sát mặt phẳng (BEF) không
phải chỉ là phần chứa tam giác BEF
Khi dạy bài toán thiết diện trước hết cần cho học sinh nhìn thấy trực quan thiết
diện của một hình đa diện cắt bởi một mặt phẳng Tôi sẽ sử dụng mô hình là một
khung chóp và một tấm bìa, tùy vào vị trí của tấm bìa tôi sẽ chỉ cho học sinh thấy
thiết diện
2 Phân loại và phương pháp giải một số bài toán về quan hệ song song trong
không gian
Bài toán 1: Tìm giao điểm của đường d và mặt phẳng( )
thẳng d với mặt phẳng () ta tìm giao điểm của đường thẳng
d với một đường thẳng a nằm trên mp( ) ( hình 5)
Tóm tắt: Nếu ( )
A d
A a mp
thì A d mp ( )
* Chú ý: Nếu đường thẳng a chưa có trên hình vẽ thì ta tìm a như sau:
- Tìm mp() chứa d sao cho mp() cắt mp()
- Tìm giao tuyến a của hai mp() và mp() (hình 6)
* Nhận xét: Vấn đề của bài toán là xác định cho được đường thẳng a Nhiệm vụ
của giao viên là hướng dẫn, gợi mở cho học sinh biết cách tìm đường thẳng a và
chọn mp() sao cho phù hợp với từng yêu cầu của bài toán trong trường hợp
đường thẳng a chưa có trên hình vẽ
- Muốn làm được điều đó học sinh cần nắm chắc hệ thống các tiên đề của hình
học không gian
Tiên đề 1: Có một và chỉ một đường thẳng đi qua hai điểm phân biệt cho trước
Tiên đề 2: Có một và chỉ một mặt phẳng đi qua ba điểm không thẳng hàng cho
trước
Tiên đề 3: Tồn tại bốn điểm không cùng nằm trên một mặt phẳng
6
Trang 7B
D
C
A
K
J I
B
D
C
A
J
Tiên đề 4: Nếu hai mặt phẳng phân biệt có một điểm chung thì chúng có một
đường thẳng chung duy nhất chứa tất cả các điểm chung của hai mặt phẳng đó
Tiên đề 5: Trong mỗi mặt phẳng, các kết quả đã biết của hình học phẳng đều
đúng
* Ví dụ:
Bài 1: Cho tứ diện ABCD Gọi I là trung điểm của AB, J là một điểm trên AD sao
cho
2
AJ=
3AD Tìm giao điểm của đường thẳng IJ với mp(BCD)
Nhận xét: Với bài toán này thì học sinh dễ dàng phát hiện được đường thẳng a cần
tìm chính là đường thẳng BD Nhiệm vụ của giáo viên là cần lưu ý cho học sinh
điều kiện để hai đường thẳng cắt nhau là hai đường thẳng đó phải cùng nằm trên
một mặt phẳng và không song song
Hình 7 Hình 8
Lời giải:
Từ giả thiết IJ và BD không song song
Gọi K IJ BD
IJ
K BD (BCD)
K
Kết luận: K IJ (BCD) (hinh 7)
Bài 2: Cho hình chóp S.ABCD có đáy ABCD là hình thang đáy lớn AB Gọi I, J
lần lượt là trung điểm của SA và SB, M là một điểm tùy ý thuộc đoạn SD
a) Tìm giao điểm của đường thẳng BM với mp(SAC)
b) Tìm giao điểm của đường thẳng IM với mp (SBC)
c) Tìm giao điểm của đường thẳng SC với mp(IJM)
Nhận xét: Với giả thiết của bài toán thì dựa vào hình vẽ ( hình 8) học sinh khó mà
tìm được đường thẳng a nằm trên mp(SAC) bây giờ là đường thẳng nào để cắt
được đường thẳng BM, nếu không khéo léo hướng dẫn sẽ có nhiều học sinh nhầm
là đường thẳng SC Vai trò của giáo viên là gợi ý cho học sinh biết chọn mp(SBD)
chứa BM và tìm giao tuyến của hai mp( SBD) và (SAC) là đường thẳng SO Từ
đó kết luận giao điểm P của hai đường thẳng BM và SO chính là giao điểm cần
tìm (hình 10)
7
Trang 8P H
J I
O
E
S
M
F
J I
S
D
C
M
P
J I
O
S
D
C M
Hình 9 Hình 10
Với câu b) (hình 11) thì học sinh cũng khó mà tìm được đường thẳng a nằm
trên mp(SBC) bây giờ là đường thẳng nào để cắt được đường thẳng IM nếu không
có sự hướng dẫn của giao viên Giáo viên yêu cầu học sinh cho biết đường thẳng
IM nằm trên mp nào ? và đi tìm giao tuyến của mp đó với mp(SBC) Từ đó tìm
được giao tuyến là đường thẳng SE và giao điểm cần tìm chính là điểm F ( hình
12)
P
J I
O
S
D
C
M
P
J I
O
E
S
D
C
M
F
Hình 11 Hình 12
Tượng tự câu a) để tìm giao điểm của đường thẳng SC với mp(IJM) ta phải
chọn mặt phẳng phụ chứa SC và đi tìm giao tuyến của mặt phẳng phụ đó với
mp(IJM) Với bài toán này thì có nhiều mặt phẳng chứa đường thẳng SC như
mp(SAC), mp(SCD) và mp(SBC) Vấn đề là chọn mặt phẳng nào sao cho việc tìm
giao tuyến được thuận lợi là tùy thuộc vào khả năng của mỗi học sinh, giáo viên
không nên gò học sinh đi theo lời giải của mình
P
J I
O
E
S
D
C
M
F
Hình 13 Hình 14
8
Trang 9* Lời giải:
a) Ta có BM(SBD)
Xét 2 mp( SAC) và (SBD) có
S là điểm chung thức nhất.(1)
Gọi OAC BD O là điểm chung thứ hai (2)
Từ (1) và (2) SO (SAC) ( BD) S
Gọi P=BM SO
Kết luận: P=BM (SAC)
b) Ta có IM (SAD)
Xét hai mp(SAD) và (SBC) có:
S là điểm chung thứ nhất
Gọi E = ADBC E là điểm chung thứ hai
SE = (SAD) ( SBC)
Gọi F= IM SE F =IM (SBC) ( Hình 13)
c) Ta có SC (SBC)
Xét 2 mp( IJM) và (SBC)
Ta có JF=(IJM) (SBC)
Gọi H =JF SC H=SC(IJM) (Hình 14.)
Bài tập tự luyện Cho hình chóp S.ABCD có đáy là một hình bình hành, tâm của
đáy, M,N lần lượt là trung điểm của SA, SC Gọi (P) là mặt phẳng qua M, N và
B
a) Tìm giao điểm I của đường thẳng SO với mp(P) và giao điểm K của đường
thẳng SD với mp(P)
b) Xác định các giao điểm E,F các đường thẳng DA, DC với mp(P) và chứng
minh rằng ba điểm E, B, F thẳng hàng
Bài toán 2: Tìm giao tuyến của hai mặt phẳng () và ()
* Phương pháp:
Cách 1: Xác định hai điểm chung của hai mp
Tóm tắt: Nếu
( ) ( )
B ( ) ( )
thì AB=( ) ( ) ( Hình 15)
Hình 15
Cách 2: Xác định một điểm chung và song song với một đường thẳng cho trước:
Dựa vào các định lý sau:
* Đlý 2 ( SGK trang 57) : Nếu
( ) ( ) ( ) ( )=b ( ) ( )= c
a
thì a // b // c hoặc a, b, c đồng quy
9
Trang 10* Hệ quả: Nếu
//
( ), b ( ) ( ) ( )= d
a b
thì d // a // b hoặc d trùng a hoặc d trùng với b
Hình 16 Hình 17 Hình 18
* Đlý 2:(SGK trang 61) Nếu
//( ) ( ) ( ) ( )= b
a a
thì a//b ( hình 19)
* Hệ quả: Nếu
( ) //
( ) //
( ) ( )= a
d d
thì a // d ( hình 20)
Hình 19 Hình 20 Hình 21
* Đlý 3 (Sgk trang 67) Nếu
( ) // ( )
( ) ( ) a
( ) ( ) //
b
a b
* Nhận xét: Để tìm giao tuyến của hai mặt phẳng ta ưu tiên cho cách 1 là tìm hai
điểm chung lần lượt nằm trên hai mặt phẳng đó bằng cách dựa vào hình vẽ Nếu
trên hình vẽ chỉ có một điểm chung thì ta chuyển sang cách hai ( dựa vào các định
lý và hệ quả nêu trên)
* Ví dụ:
Bài 3: Trong mp( ) cho tứ giác ABCD có AB và CD cắt nhau tại E, AC và BD
cắt nhau tại F Gọi S là một điểm nằm ngoài mp() Tìm giao tuyến của các mp
sau:
a) Mp (SAB) và mp(SCD)
b) Mp(SAC) và mp(SBD)
c) Mp(SEF) với hai mp(SAD) và (SBC)
* Nhận xét:
Với hai mp(SAB) và mp(SCD) thì học sinh dễ dàng tìm được hai điểm
chung lần lượt là S là E dựa vào hình vẽ (hình 22) Tương tự đối với hai mp(SAC)
10