1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

sử dụng kiến thức liên môn để dạy bài các nguyên tố hóa học và nước của tế bào, môn sinh học lớp 10

15 311 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 882 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

cho nên cần đòi hỏi người giáo viên cần phải có những phương pháp dạy học mới, sáng tạo, hiệu quả giáo dục cao chính vì thế tôi mạnh dạn “sử dụng kiến thức liên môn để dạy bài: Các nguyê

Trang 1

A Mở đầu

Nhằm thực hiện nhiệm vụ năm học, năm học với chủ đề “Tiếp tục đổi

mới phương pháp học và cải cách hành chính toàn nghành ” đồng thời tiếp

tục thực hiện chỉ thị 06 CT/TW về “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức

Hồ Chí Minh”, và cuộc vận động “Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường THPT Để phát huy được tính tích cực trong học tập của học sinh bản thân tôi luôn có những suy nghĩ và trăn trở làm thế nào để nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục qua bộ môn Sinh học cấp THPT nhằm đáp ứng được những yêu cầu của nhiệm vụ năm học

I Lý do chon đề tài.

Môn Sinh học là môn học có sự tổng hợp các kiến thức hóa học, vật lý, toán học, địa lý đây là những kiến thức khó và khô khan cho nên dễ gây nhàm chán cho học sinh trong một tiết học Chính vì vậy để tạo sự hứng thú học tập, nâng cao hiệu quả chất lượng bộ môn đồng thời đáp ứng yêu cầu đổi mới, Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, xuất phát từ yêu

cầu của mục tiêu dạy học phát triển năng lực học sinh, đòi hỏi phải tăng

cường yêu cầu học sinh vận dụng kiến thức vào giải quyết những vấn đề thực tiễn

cho nên cần đòi hỏi người giáo viên cần phải có những phương pháp

dạy học mới, sáng tạo, hiệu quả giáo dục cao chính vì thế tôi mạnh dạn “sử

dụng kiến thức liên môn để dạy bài: Các nguyên tố hóa học và nước của tế bào, môn sinh học lớp 10”

II Mục đích nghiên cứu.

Dạy học liên môn là làm cho quá trình học tập của học sinh có ý nghĩa hơn, hình thành ở người học một năng lực một cách rõ ràng

Trang 2

Giúp học sinh phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trong hơn và dự tính được những điều cần thiết cho bản thân Quan tâm việc sử dụng kiến thức trong tình huống cụ thể từ đó giúp học sinh hòa nhập vào thực tiễn cuộc sống

Qua việc dạy học tích hợp liên môn sẽ lấy học sinh làm trung tâm, định hướng phân hóa được năng lực người học, việc dạy của thầy và việc học của trò được gắn với thực tiễn rõ ràng hơn

Chính vì vậy mà dạy học liên môn giúp học sinh trở thành người học tích cực người công dân có năng lực giải quyết tốt các tình huống có vấn đề mang tính tích hợp trong thực tiễn cuộc sống

Việc dạy học tích hợp liên môn sẽ rút ngắn được thời gian dạy học nhưng khối lượng kiến thức và những thông tin vẫn đảm bảo cho học sinh tiếp nhận

III Đối tượng nghiên cứu.

Trong phạm vi của đề tài đối tượng nghiên cứu là học sinh khối 10 trường THPT Nông Cống 4, tôi sử dụng kiến thức của các môn học như: sinh học, vật lý, hóa học và toán học Qua đó giúp học sinh nắm được nội dung cơ bản của tiết học đồng thời giúp các em có những cách nhìn nhận vấn đề, giải quyết vấn đề một cách chủ động và sâu sắc hơn qua việc tích hợp liên môn

Qua việc tích hợp các em thấy được để học tốt các môn thuộc ban KHTN thì cần học tốt các môn sinh học, vật lý, hóa học , toán học, địa lý từ

đó các em có ý thức, định hướng cho bản thân ngay từ đầu cấp học Qua đó bản thân học sinh sẽ chủ động hơn trong việc lĩnh hội tri thức thông qua những hướng dẫn của giáo viên

IV Phạm vi nghiên cứu.

Bài : Các nguyên tố hóa học và nước trong tế bào, sinh học 10

V Phương pháp nghiên cứu.

Phương pháp giảng dạy sinh học ở trường THPT rất đa dạng và phong phú, tuy nhiên việc kết hợp các phương phù hợp với từng nội dung, từng hình

Trang 3

thức thực hiện luôn đóng vai trò quyết định kết kết quả đạt được.Các phương pháp mà tôi thường thực hiện :

- Phương pháp thảo luận nhóm :

Thảo luận là phương pháp mà trong đó các thành viên trong tổ phải trao đổi, bàn bạc cùng nhau để giải quyết chung một vấn đề Nhờ đó các thành viên trong tổ có cơ hội làm quen với nhau, để hiểu nhau hơn và đặt biệt là được kiểm chứng ý kiến của mình

- Phương pháp tình huống:

Tình huống là một hoàn cảnh gắn với câu chuyện có chứa đựng mâu thuẩn HS được đặt mình vào tính huống đòi hỏi đưa ra các phương án giải quyết Phương pháp này rèn cho HS kĩ năng tìm đáp án

- Phương pháp giao nhiệm vụ :

Đây là phương pháp đặt học sinh vào vị trí nhất định buộc các em phải thực hiện trách nhiệm cá nhân Nhờ đó giúp học sinh có cơ hội thể hiện khả năng của mình nhằm tích luỹ kinh nghiệm cho bản thân các em

- Phương pháp diễn giảng

Diễn giảng giáo dục học với tư cách là một phương pháp vì đó là cách thức trình bày bằng lời một khối lượng lớn tài liệu học tập có nội dung sâu sắc, khái quát và có hệ thống Diễn giảng giáo dục học vơi tư cách là một hình thức tổ chức dạy học vì đây là hình thức làm việc tập thể , do giáo viên trình bày, học sinh tham gia đông đảo cả lớp, bài giảng được trình bày hoàn chỉnh với các yếu tố cấu trúc liên hệ hữu cơ với nhau, nội dung được quy định trong chương trình

- Phương pháp phân tích tổng hợp.

Thông qua các tình huống có vấn đề, từ sự tìm hiểu nội dung kiến thức học sinh sẽ tự phân tích tổng hợp, khái quát hóa để tìm ra bản chất quy luật của vấn đề và từ đó tự rút ra luận

B Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.

I Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm

Trang 4

Trong dạy học liên môn được hiểu là sự kết hợp tổ hợp các nội dung từ các môn học trong các lĩnh vực học tập khác nhau thành một môn tổng hợp mới hoặc lồng ghép các nội dung cần thiết vào nội dung vốn có của môn học

ví dụ như tích hợp môn vật lý, hóa học, toán học, địa lý … vào môn sinh học Như vây thông qua việc dạy học liên môn thì những kiến thức kỹ năng được học ở môn này có thể sử dụng như công cụ để nghiên cứu học tập ở môn khác

Xu thế trên thế giới hiện nay việc áp dụng dạy học liên môn đang được

sử dụng rất phổ biến ví dụ: khung chương trình giáo dục quốc gia của Áo, Bỉ, Vương quốc Anh đều nhấn mạnh việc phát triển các kĩ năng chung như đọc hiểu, tính toán và sử dụng ICT như là công cụ học tập trong tất cả các môn học Ở nhiều nước phát triển như: Anh, Đức, Thụy Điển, Australia, Singapore trong chương trình phổ thông trung học đã xuất hiện chương trình và SGK cho những môn học tích hợp (nghiên cứu xã hội, nghiên cứu môi trường, nghiên cứu tự nhiên ), hoặc các môn tích hợp như Toán – Vật lý – Hóa học, Toán – Hóa học – Sinh học, Lịch sử - Địa lý hay Địa lý - Chính trị

- Giáo dục công dân

Ở nước ta hiện nay đã được Quốc hội thông qua và đang thực hiện đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo và thực hiện nghị quyết số 88/2014/QH13 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, ngoài những nhiệm vụ thường xuyên, toàn ngành Giáo dục tập trung vào các nhóm nhiệm vụ trọng tâm sau là những hoạt động diễn ra ngoài giờ các môn học trên lớp Đây là sự tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, góp phần hình thành niềm tin và nhân cách cho học sinh cho nên việc dạy học liên môn là phù hợp với xu hướng

II Thực trạng việc dạy học môn Sinh học ở trường THPT Nông Cống 4.

Trang 5

1 Thuận lợi:

- Được sự quan tâm của cấp uỷ chi bộ, ban giám hiệu nhà trường và các tổ chức chuyên môn trong nhà trường

- Đội ngũ giáo viên nhiệt tình, có trách nhiệm cao trong công tác giáo dục học sinh Giáo viên được tập huấn về việc đổi mới phương pháp dạy học …

- Phần lớn học sinh có thái độ học tập đúng đắn, thông minh, nhanh nhẹn nên thuận lợi cho việc tổ chức các hoạt động dạy học

- Xã hội ngày càng phát triển, cộng nghệ thông tin và các phương tiện ngày càng hiện đại tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức phân công các hoạt động cho học sinh

2.Khó khăn:

- Trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học tích hợp liên môn còn hạn chế

- Học sinh THPT đang ở độ tuổi thanh thiếu niên nên tâm lý chưa ổn định, đang muốn tìm tòi những điều mới mẻ trong cuộc sống, chưa nhận thức được việc học tập một cách đầy đủ, dễ bị dụ dỗ, đua đòi, ham chơi,…

- Phần lớn phụ huynh do điều kiện kinh tế nên ít có sự quan tâm sát sao, kèm cặp các em, thậm chí còn có tư tưởng phó mặc cho GV nên đã ảnh hưởng rất lớn đến ý thức học tập và rèn luyện kĩ năng sống của học sinh

- Nhìn nhận của học sinh môn Sinh học ít được học sinh quan tâm lựa chọn

- Giáo viên dạy bộ môn chưa được đào tạo cơ bản về dạy học liên môn cho nên phần nào sẽ gây những khó khăn trong quá trình giảng dạy

Khi chưa áp dụng phương pháp này, qua điều tra kết quả năm học: 2015 –

2016 của bộ môn ở các lớp tôi dạy như sau:

số

Trang 6

Với kết quả dạy học đơn môn như trên, ta thấy chất lượng giáo dục bộ môn còn thấp, học sinh có học lực yếu kém vẫn còn, số lượng học sinh giỏi chưa cao

Mức độ hứng thú học tập bộ môn còn hạn chế, các em coi là môn phụ cho nên chỉ có mặt trong lớp để có điểm và lên lớp

Trong tiết học gây nhàm chán học sinh không chịu tìm tòi, suy nghĩ, vì thế chất lượng giáo dục không khả quan

Với những thực trạng như trên qua nhiều năm công tác bản thân tôi đã mạnh dạn áp dụng kiến thức liên môn để tạo hứng thú trong giờ học, nâng cao chất lượng

III Các giải pháp thực hiện.

1 Vận dụng kiến thức môn hóa học

* Nội dung kiến thức : Các nguyên tố hóa học

- Để giảng dạy phần này giáo viên cho học sinh nghiên cứu nội dung SGK và đặt các câu hỏi

? Có phải thế giới sống và không sống đều được cấu tạo từ các nguyên tố hóa học không?

+ HS nghiên cứu trả lời: Có

+ GV mở rộng: Trong 92 nguyên tố hóa học trong tự nhiên, người ta đã tìm thấy có khoảng 25 nguyên tố có trong cơ thể sống, phổ biến là C,H,O,N chiếm khoảng 96% trọng lượng cơ thể sống

- GV cho HS quan sát bảng 3 SGK , đặt câu hỏi

Nguyên

tố

Tỷ lệ

%

6 5

? Tại sao các tế bào khác nhau lại được cấu tạo chung từ một số nguyên tố hóa học?

Trang 7

+ Từ đó, (thông qua quan sát ,thảo luận lớp) giáo viên phân tích kết luận: Các nguyên tố hóa học nhất định tương tác với nhau theo quy luật lý, hóa, sinh hình thành nên sự sống và dẫn tới đặc tính sinh học nổi trội chỉ có ở thế giới sống

? Tại sao 4 nguyên tố C,H,O,N là những nguyên tố chính cấu tạo nên tế bào? + Dựa vào kiến thức hóa học, HS trả lời, sau đó GV củng cố:

C là nguyên tố đặc biệt quan trọng trong việc tạo nên sự đa dạng của phân tử hữu cơ( C thuộc phân nhóm chính nhóm 4, có 4 e lớp ngoài cùng, C không những liên kết được với nhau mà còn liên kết được nguyên tố khác, nó tạo nên bộ khung xương của các hợp chất hữu cơ)

? Dựa vào tỷ lệ của các nguyên tố trong cơ thể sống, chia các nguyên tố thành mấy loại?

+ Có 2 loại

? Nguyên tố đại lượng là gì? Ví dụ ? Chúng có vai trò như thế nào, ví dụ? + Nguyên tố đại lượng ( chiếm > 0,01% trọng lượng khô của tế bào)

Vd: C, H, O, N, S, P, K…

Vai trò: Cấu tạo các đại phân tử hữu cơ: protein, lipit, axit nucleic…những chất hóa học chính cấu tạo nên tế bào

? Nguyên tố vi lượng là gì? Ví dụ ? Chúng có vai trò như thế nào, ví dụ?

2 Vận dụng kiến thức hóa học, vật lý

* Nội dung kiến thức :Nước và vai trò của nước trong tế bào

Hoạt động nhóm

-GV chia nhóm học sinh nêu câu hỏi và yêu cầu học sinh thực hiện

- HS tách nhóm theo hướng dẫn của GV

Tiến hành thảo luận theo sự phân công

Nhóm 1 và 2:

Trang 8

Hình 3.2 Mật độ của các phân tử nước ở trạng thái rắn và lỏng

Trang 9

Câu hỏi : Phân tích cấu trúc liên quan đến đặc tính hóa lí của nước?

* Nhóm 1 và 2 thảo luận, ghi và dán kết quả lên bảng

?Quan sát hình 3.2 và cho biết hậu quả gì sẽ xảy ra khi ta đưa các tế bào sống

vào ngăn đá trong tủ lạnh ?

?Tại sao con gọng vó, nhện nước đi được trên mặt nước ?

- Cấu tạo : Gồm 1 nguyên tử Ôxi và 2 nguyên tử Hiđrô, liên kết với nhau bằng liên kết cộng hóa trị

Do đôi điện tử chung bị kéo về phía Ôxi nên phân tử nước có tính phân cực, các phân tử nước này hút phân tử kia và hút các phân tử khác nên nước có vai trò đặc biệt quan trọng đối với cơ thể sống

- Tế bào sẽ bị vỡ khi ta đưa tế bào sống váo ngăn đá , vì nước sẽ dãn nở

do tăng thể tích và các tinh thể nước đá sắc nhon sẽ đâm thủng tế bào

- Các phân tử liên kết với nhau tạo nên sức căng bề mặt nên gọng vó,nhện nước đi được trên mặt nước

Câu hỏi : Phân tích vai trò của nước trong tế bào và cơ thể ?

* Nhóm 3, 4 tiến hành thảo luận, ghi và dán kết quả lên bảng

-GV nhận xét, đánh giá, kết luận vấn đề

- Nước là thành phần cấu tạo tế bào

- Nước là dung môi hòa tan các chất

- Nước là môi trường của các phản ứng sinh hóa

→ Nước chiếm tỉ lệ lớn trong tế bào, nếu không có nước tế bào sẽ không thể tiến hành chuyển hóa các chất để duy trì sự sống

IV Giáo án cụ thể để giảng dạy

Tiết 4: CÁC NGUYÊN TỐ HÓA HỌC VÀ NƯỚC

I Mục tiêu bài học

1 Về kiến thức

- Nêu được các nguyên tố hóa học chính cấu tạo nên tế bào

- Phân biệt được nguyên tố đại lượng và nguyên tố vi lượng

Trang 10

- Nêu được vai trò của các nguyên tố hóa học đối với tế bào.

- Nêu được cấu trúc và đặc tính hóa lí của nước

- Nêu được vai trò của nước đối với tế bào

2 Về kỹ năng, thái độ

- Phát triển kĩ năng quan sát và phân tích hình, thảo luận nhóm và làm việc độc lập

- Phát triển khả năng tư duy, so sánh, tổng hợp

- Hiểu được tầm quan trọng và vận dụng hợp lí kiến thức bài vào trong thực tiễn đời sống

II Phương tiện dạy học

- GV chuẩn bị: Hình phóng to, mẫu vật, giáo án, bút lông, giấy Ao, nam châm,

sách giáo khoa, sách giáo viên, máy chiếu

- HS chuẩn bị: Sách giáo khoa, đồ dùng học tập

III Phương pháp dạy học

Thuyết trình – Giảng giải ; Quan sát – Vấn đáp – Thảo luận – Tìm tòi

IV Trọng tâm bài học

- Phân biệt được nguyên tố đại lượng và nguyên tố vi lượng

- Nêu được vai trò của các nguyên tố hóa học đối với tế bào

- Nêu được cấu trúc và đặc tính hóa lí của nước

- Nêu được vai trò của nước đối với tế bào

V Các hoạt động dạy học

1 Ổn định lớp

2 Kiểm tra bài cũ : Giới là gì? Nêu trình tự các cấp đơn vị phân loại thế giới sinh vật theo thứ tự nhỏ dần?

3 Dạy bài mới

Hoạt động 1: Tìm hiểu các nguyên tố hóa học

- Nêu được các nguyên tố hóa học chính cấu tạo nên tế bào

- Phân biệt được nguyên tố đại lượng và nguyên tố vi lượng

- Nêu được vai trò của các nguyên tố hóa học đối với tế bào

- GV yêu cầu HS nghiên cứu mục I

SGK và trả lời câu hỏi:

? Có phải thế giới sống và không sống

đều được cấu tạo từ các nguyên tố hóa

học không?

- GV mở rộng: Trong số 92 nguyên tố

có trong tự nhiên thì chỉ có vài chục

nguyên tố là cần thiết cho sự sống

Trong đó, C – H – O – N chiếm khoảng

96% và còn lại là các nguyên tố khác

- Quan sát bảng 3 sgk: ? Có phải thành

I Các nguyên tố hóa học:

- Có khoảng vài chục nguyên tố vô

cơ cần thiết cho sự sống.Những nguyên tố chủ yếu là : C, H, O, N chiếm khoảng 96%

Trang 11

phần nguyên tố hóa học trong cơ thể

sống và không sống đều giống nhau

không? Vì sao?

? Dựa vào tỉ lệ có trong khối lượng cơ

thể sống, các nguyên tố hóa học gồm có

mấy loại?

? Nguyên tố đại lượng là gì? Ví dụ?

Chúng có vai trò như thế nào?

? Nguyên tố vi lượng là gì? Ví dụ?

Chúng có vai trò như thế nào?

- GV yêu cầu HS nghiên cứu thêm bảng

3 SGK

- GV mở rộng: Vai trò của các nguyên

tố hóa học đối với cơ thể sống không

hoàn toàn phụ thuộc vào nó là nguyên

tố đại lượng hay vi lượng Vì vậy, cần

sử dụng nhiều loại thức ăn để bổ sung

kịp thời các nguyên tố hóa học cần

thiết

- Dựa vào tỉ lệ tồn tại trong cơ thể, nguyên tố hóa học được chia thành:

a) Nguyên tố đa lượng :

+ Chiếm tỉ lệ > 0,01% như C,

H, O, N, P, S, … + Vai trò : Tham gia cấu tạo nên các đại phân tử hữu cơ như protein , cacbohidrat ,lipit , axitnucleic

b) Nguyên tố vi lượng :

+ Chiếm tỉ lệ < 0,01% như Fe,

Zn, Cu, I,…

+ Vai trò : Tham gia cấu tạo nên các enzim , vitamin

Ví dụ : Thiếu iốt sẽ bị bướu cổ

Hoạt động 2: Tìm hiểu nước và vai trò của nước đối với tế bào

- Nêu được cấu trúc và đặc tính hóa lí của nước

- Nêu được vai trò của nước đối với tế bào

Hoạt động nhóm

-GV chia nhóm học sinh nêu câu hỏi và yêu

cầu học sinh thực hiện

- HS tách nhóm theo hướng dẫn của GV

Tiến hành thảo luận theo sự phân công

Nhóm 1 và 2:

Câu hỏi : Phân tích cấu trúc liên quan đến

đặc tính hóa lí của nước?

- Nhóm 1 và 2 thảo luận, ghi và dán kết quả

lên bảng

II Nước và vai trò của nước trong

tế bào:

1 Cấu trúc và đặc tính hóa lí của nước:

- Cấu tạo : Gồm 1 nguyên tử Ôxi và

2 nguyên tử Hiđrô, liên kết với nhau bằng liên kết cộng hóa trị

Ngày đăng: 16/08/2017, 13:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w