Đổi mới và hiện đại hóa phương phápgiáo dục theo hướng chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động sang hướng dẫnngười học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho ngườ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
Người thực hiện : Trần Thị Huyền Chức vụ : Giáo viên
SKKN thuộc môn: Sinh học
THANH HÓA, NĂM 2017
Trang 3I Mở đầu
1 Lí do chon đề tài:
Đổi mới phương pháp dạy học là một yêu cầu tất yếu trong sự nghiệp đổimới Giáo dục và Đào tạo của nước ta Đổi mới và hiện đại hóa phương phápgiáo dục theo hướng chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động sang hướng dẫnngười học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức, dạy cho người họcphương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy phântích, tổng hợp, phát triển được năng lực của mỗi cá nhân, tăng cường tính chủđộng, tính tự chủ của học sinh trong quá trình học tập, hoạt động tự quản trongnhà trường và tham gia các hoạt động xã hội là vấn đề cấp bách trong xã hộingày nay
Mặt khác Sinh học là một bộ môn khó và mang tính chất trừu tượng cao
vì nó nghiên cứu về các cơ thể sống, các quá trình sống và đặc biệt nó gắn liềnvới hoạt động thực tiễn của con người Vì vậy nắm bắt tốt các kiến thức sinhhọc sẽ góp phần nâng cao đời sống loài người Do đó việc tìm ra phương phápnâng cao chất lượng dạy học là một vấn đề cực kì quan trọng
Trong thực tế hiện nay, còn nhiều HS học tập một cách thụ động, chỉđơn thuần là nhớ kiến thức một cách máy móc mà chưa rèn luyện kĩ năng tưduy Học sinh chỉ học bài nào biết bài đấy, cô lập nội dung của các môn, phânmôn mà chưa có sự liên hệ kiến thức với nhau vì vậy mà chưa phát triển được tưduy logic và tư duy hệ thống Sử dụng bản đồ tư duy (BĐTD) giúp các em giảiquyết được các vấn đề trên và nâng cao hiệu quả học tập
Từ những lý do nêu trên, tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến: “Một số biện pháp sử dụng hiệu quả bản đồ tư duy giảng dạy sinh học 10 THPT"
2 Mục đích nghiên cứu:
Sử dụng một số sơ đồ tư duy vào dạy học Sinh học 10 làm cho tiết học trởlên nhẹ nhàng, sinh động, hiệu quả, không đơn điệu, nhàm chán Học sinh nhớnhanh, nhớ lâu, hiểu sâu các kiến thức trọng tâm cơ bản, biết liên tưởng, liên kếtthành một hệ thống các kiến thức có liên quan với nhau, tập trung được sứcmạnh tập thể, sự tự tin và sáng tạo
3
Đối tượng nghiên cứu:
Một số sơ đồ tư duy trong chương trình Sinh học 10 THPT
4 Phương pháp nghiên cứu:
4.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài để làm cơ sở lí luận
4.2 Phương pháp điều tra cơ bản
Điều tra về thực trạng của việc sử dụng sơ đồ tư duy để rèn luyện kỹ năng
tư duy cho học sinh trong dạy học Sinh học hiện nay ở nhà trường THPT
4.3 Phương pháp chuyên gia
Gặp gỡ, trao đổi với người hướng dẫn giỏi về lĩnh vực mình nghiên cứu,lắng nghe sự tư vấn của những người có kinh nghiệm để giúp định hướng choviệc triển khai nghiên cứu đề tài
Trang 44.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Tiến hành thực nghiệm ở các trường THPT nhằm đánh giá hiệu quả củaviệc sử dụng BĐTD để rèn luyện cho học sinh kỹ năng suy luận trong dạy họcSinh học
- Tiến hành theo phương pháp thực nghiệm chéo:
+ Lớp thực nghiệm (TN): giáo án thiết kế theo hướng sử dụng các BĐTD+ Lớp đối chứng (ĐC): giáo án thiết kế theo phương pháp thuyết trình -Tái hiện thông báo
Các lớp TN và ĐC do một giáo viên giảng dạy, đồng đều về thời gian, nộidung kiến thức, điều kiện dạy học và hệ thống câu hỏi đánh giá sau mỗi tiết học
II Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm:
- Quá trình dạy học bao gồm 2 mặt liên quan chặt chẽ: Hoạt động dạycủa thầy và hoạt động học của trò Xu thế đổi mới phương pháp dạy học hiệnnay là thiết kế các hoạt động học hướng cho trò tự lực khám phá, chiếm lĩnh cáctri thức mới dưới sự chỉ đạo của thầy, từ đó giúp người học hướng vào việc cảibiến chính mình, nếu người học không chủ động, tự giác, không có phương pháphọc tập đúng đắn thì mọi nỗ lực của giáo viên chỉ đem lại những kết quả hạnchế
- Bản đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộngmột ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đềbằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết…Đặcbiệt đây là một sơ đồ mở, việc thiết kế sơ đồ là theo mạch tư duy của mỗi người
- Việc ghi chép thông thường theo từng hàng chữ khiến chúng ta khó hìnhdung tổng thể vấn đề, dẫn đến hiện tượng đọc sót ý, nhầm ý Còn bản đồ tư duytập trung rèn luyện cách xác định chủ đề rõ ràng, sau đó phát triển ý chính, ýphụ một cách logic Bản đồ tư duy có ưu điểm:
• Dễ nhìn, dễ viết
• Kích thích hứng thú học tập và khả năng sáng tạo của học sinh
• Phát huy tối đa tiềm năng ghi nhớ của bộ não
• Rèn luyện cách xác định chủ đề và phát triển ý chính, ý phụ một cách logic.Bản đồ tư duy sẽ giúp:
Sáng tạo hơn
Tiết kiệm thời gian
Ghi nhớ tốt hơn
Nhìn thấy bức tranh tổng thể
Phát triển nhận thức, tư duy, …
- Giáo viên, học sinh có thể sử dụng BĐTD để hệ thống hoá một vấn đề,một chủ đề, ôn tập kiến thức…
- Học sinh hoạt động nhóm thông qua BĐTD trên lớp học, hoặc hoạt động
cá nhân, ôn luyện ở nhà…
Dạy học bằng BĐTD giúp học sinh không nhàm chán về bài học mà luônsôi nổi, hào hứng từ đầu đến cuối tiết học Phương pháp này đặc biệt có ích
Trang 5trong việc củng cố kiến thức và rèn luyện, phát triển tư duy logic, năng lực chohọc sinh, nhất là những học sinh khá, giỏi
Sơ đồ minh họa về bản đồ tư duy:
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
2.2.1 Thực trạng.
Sinh học là bộ môn đòi hỏi học sinh có khả năng tư duy, biết suy luận, vậndụng kiến thức liên môn và ứng dụng vào thực tiễn Nội dung kiến thức chủ yếu
là lí thuyết vì vậy nếu giáo viên không thiết kế bài dạy đa dạng, phong phú thì
dễ gây nhàm chán trong học sinh Mặt khác nhiều em học sinh còn chưa biếtcách học, cách ghi kiến thức mà chỉ học thuộc lòng, thuộc một cách máy móc,không nhớ được kiến thức trọng tâm hoặc không biết liên tưởng, liên kết cáckiến thức với nhau
Nội dung chương trình Sinh học 10 truyền đạt những tri thức cơ bản vềnhững đặc điểm chủ yếu nhất của các tổ chức cơ thể và hoạt động sống của sinhgiới Các kiến thức thường đi vào nghiên cứu các hệ thống sống ở các cấp độkhác nhau về cấu trúc, đặc điểm, chức năng Do đó nếu sử dụng phương phápdạy cũ đó là giảng giải, minh hoạ thì học sinh nhớ máy móc kiến thức, ít nghiêncứu sách giáo khoa, không sáng tạo trong giờ học, kiến thức thu được rời rạckhông có tính hệ thống, không biết vận dụng vào thực tế
2.2.2 Kết quả thực trạng
Qua thực tế cho thấy việc giảng dạy có sử dụng sơ đồ đã tạo hứng
thú cho học sinh Mỗi học sinh có thể tự lập sơ đồ tư duy cho mình dưới sựhướng dẫn của giáo viên để bài học trở nên dễ thuộc, dễ hiểu, dễ nhớ hơn Cùngmột nội dung nhưng các em có thể thêm nhánh, thêm chú thích dưới dạng hình
vẽ nhiều màu sắc tùy vào cách hiểu, cách lĩnh hội kiến thức trong bài học củamình
Như vậy, thay vì phải học thuộc lòng các khái niệm, định nghĩa hay cảbài giảng đọc chép như lúc trước, giờ đây học sinh có thể hiểu và nắm được kháiniệm qua hình vẽ Chính sự liên tưởng theo hướng dẫn của giáo viên cũng giúpcác em nhớ được phần trọng tâm của bài giảng
Trang 6Cách học này còn phát triển được năng lực riêng của từng học sinhkhông chỉ về trí tuệ, vẽ, viết gì trên sơ đồ tư duy, hệ thống hóa kiến thức chọnlọc những phần nào trong bài để ghi, thể hiện dưới hình thức kết hợp hình vẽ,chữ viết, màu sắc, vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống Kết quả khảo sát đầu năm như sau:
Lớp Sĩ số Điểm dưới 5 Điểm 5,6 Điểm 7,8 Điểm 9,10
2 3 Biện pháp giải quyết vấn đề:
SỬ DỤNG BẢN ĐỒ TƯ DUY GIẢNG DẠY MỘT SỐ NỘI DUNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH SINH HỌC LỚP 10.
2.3.1 Biện pháp 1: Giáo viên cần hướng dẫn học sinh về cách ghi chép trên
sơ đồ tư duy.
Trong quá trình giảng dạy, mỗi nội dung kiến thức, giáo viên cần lựachọn, sử dụng phương pháp, phương tiện dạy học phù hợp mới phát huy tối ưutính tích cực của học sinh, đạt mục tiêu đề ra của bài học Để hướng dẫn họcsinh học và nghiên cứu các nội dung học tập bằng sơ đồ tư duy giáo viên cần:
- Giới thiệu cho học sinh làm quen với BĐTD bằng các sơ đồ cụ thể đểcác em biết định hướng, hình thành thói quen tư duy lôgic theo hình thức sơ đồhoá
- Hướng dẫn học sinh chọn chủ đề chính và đưa ra các ý lớn thứ nhất, ýlớn thứ hai, thứ ba mỗi ý lớn lại có các ý nhỏ liên quan với nó, mỗi ý nhỏ lại
có các ý nhỏ hơn các nhánh này như “bố, mẹ” rồi “con, cháu, chắt, chút,chít” các đường nhánh có thể là đường thẳng hay đường cong
- Cho học sinh thực hành vẽ BĐTD trên giấy duy theo nhóm hoặc từng
cá nhân và để các em tự tạo sơ đồ tư duy cho riêng mình
Đối với giáo viên, để thiết kế một BĐTD cho một bài học, có thể sửdụng bản vẽ trên giấy, hệ thống kiến thức bằng sơ đồ trên bảng, hoặc có thểdùng phần mềm Mindmap Giáo viên có thể sử dụng phần mềm để xây dựngnội dung bài học thành một giáo án hay một bài giảng điện tử với kiến thứcđược mô tả dạng sơ đồ, đồng thời có thể kết hợp để trình chiếu những nội dungcần lưu ý hay những đoạn phim có liên quan được liên kết với sơ đồ giúp họcsinh hệ thống được kiến thức vừa học, khắc sâu được kiến thức trọng tâm và vậndụng thực tiễn
Cách ghi chép trên sơ đồ tư duy:
- Nghĩ trước khi viết
- Viết ngắn gọn
- Viết có tổ chức
- Viết lại theo ý của mình, nên chừa khoảng trống để có thể bổ sung ý (nếusau này cần)
Điều cần tránh khi ghi chép trên sơ đồ tư duy:
• Ghi lại nguyên cả đoạn văn dài dòng
Trang 7• Ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết.
• Dành quá nhiều thời gian để ghi chép
Sơ đồ mô tả về cách ghi chép
Quy trình lập sơ đồ tư duy
Từ cơ sở lí luận và thực trạng trên, tôi đã xây dựng quy trình chung tạo
BĐTD cho người dạy và người học gồm các bước cơ bản như sau:
- Bước 1: Bắt đầu từ trung tâm với hình ảnh của chủ đề, hay có thể với
một từ khóa được viết in hoa, viết đậm Một hình ảnh có thể diễn đạt được cả
ngàn từ và giúp ta sử dụng trí tưởng tượng của mình Một hình ảnh ở trung tâm
sẽ giúp ta tập trung được vào chủ đề và làm cho ta hưng phấn hơn
- Bước 2: Lựa chọn nội dung và bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm
- Bước 3: Nối các nhánh chính (cấp một) đến hình ảnh trung tâm, nối các
nhánh cấp hai đến các nhánh cấp một,… bằng các đường kẻ, đường cong vớimàu sắc khác nhau
- Bước 4: Mỗi từ/ảnh/ý nên đứng độc lập và được nằm trên một đường kẻ
hay đường cong
- Bước 5: Luôn sử dụng màu sắc Bởi vì màu sắc cũng có tác dụng kích
Sơ đồ tư duy’ trong chương trình sinh học 10 như sau:
Trang 8Bài 13: Khái quát về năng lượng và chuyến hóa vật chất
* Hướng dẫn lập bản đồ tư duy:
Chủ đề: Năng lượng
Nhánh cấp 1: Các dạng năng lượng
Nhánh cấp 2: Ví dụ về các dạng năng lượng
Chủ đề: ATP.
Nhánh cấp 1: Cấu trúc, chức năng, cơ chế truyền năng lượng
Nhánh cấp 2: Nội dung về cấu trúc, chức năng, cơ chế truyền năng lượng
Trang 9* Chủ đề: Chuyển hóa vật chất và năng lượng.
- Nhánh cấp 1: Khái niệm, bản chất, ý nghĩa.
- Nhánh cấp 2: Nội dung về ví dụ, khái niệm, bản chất, ý nghĩa.
Trang 10Bài 18: Chu kì tế bào và quá trình nguyên phân
Hướng dẫn HS lập sơ đồ
Chủ đề: Nguyên phân
Nhánh cấp 1: Phân chia nhân, phân chia tế bào chất
Nhánh cấp 2: Các kì phân chia nhân, phân chia tế bào chất ở động vật vàthực vật
Nhánh cấp 3: Nội dung các kì, cách phân chia tế bào chất ở động vật và thựcvật
Trang 11Bài 19 GIẢM PHÂN
Hướng dẫn HS lập sơ đồ
Chủ đề: giảm phân
Nhánh cấp 1: Phân chia nhân, phân chia tế bào chất
Nhánh cấp 2: Các kì phân chia nhân, phân chia tế bào chất ở động vật vàthực vật
Nhánh cấp 3: Nội dung các kì, cách phân chia tế bào chất ở động vật và thựcvật
Trang 12Bài 29: Cấu trúc các loại virut
Hướng dẫn học sinh lập sơ đồ:
Chủ đề: Cấu trúc các loại virut
- Nhánh cấp 1: Cấu tạo, hình thái
- Nhánh cấp 2: Các thành phần cấu tạo và các dạng hình thái của virut
- Nhánh cấp 3: Đặc điểm, chức năng của các thành phần cấu tạo, hình vẽ về
các dạng hình thái
2.3.3 Biện pháp 3: Lựa chọn thời điểm vận dụng phương pháp sơ đồ tư duy
a Vận dụng khi kiểm tra bài cũ
- Sử dụng bản đồ tư duy vừa giúp giáo viên kiểm tra được phần nhớ lẫnphần hiểu của học sinh đối với bài học cũ
- Các bản đồ tư duy thường được giáo viên sử dụng ở dạng thiếu thôngtin, yêu cầu học sinh điền các thông tin còn thiếu và rút ra nhận xét về mối quan
hệ của các nhánh thông tin với từ khóa trung tâm
b Trong dạy học kiến thức mới
Giáo viên có thể tổ chức như sau:
- Hoạt động nhóm (Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp họcsinh hoàn chỉnh BĐTD từ đó dẫn dắt đến kiến thức trọng tâm của bài học)
- Yêu cầu học sinh lên trình bày, thuyết minh thông qua một BĐTD dogiáo viên đã chuẩn bị sẵn (vẽ ở bảng phụ hoặc ở bìa) hoặc BĐTD mà các emvừa thiết kế và cả lớp đã chỉnh sửa, hoàn thiện
Trang 13- Giới thiệu BĐTD là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các nhómhọc sinh có chung 1 kiểu BĐTD, giáo viên chỉ nên chỉnh sửa cho học sinh vềmặt kiến thức và góp ý thêm về đường nét vẽ và hình thức (nếu cần).
c Vận dụng phương pháp sơ đồ tư duy vào cuối giờ học
Khác với việc sử dụng ‘sơ đồ tư duy” ở thời điểm kiểm tra bài cũ, sử dụngvào cuối giờ học có mục đích là : để học sinh dễ dàng nắm bắt nội dung bài học,giúp khắc sâu, nhớ rõ kiến thức vừa học Vận dụng ‘sơ đồ tư duy” vào cuối giờhọc, giáo viên nên tổ chức cho nhiều nhóm hoạt động
Bước 1: Chia nhóm học, cử nhóm trưởng, thư ký
Bước 2: Giao từ khóa và các câu hỏi cho các nhóm (Muốn vậy giáo viênphải chuẩn bị trước từ khóa và câu hỏi vào phiếu)
Bước 3: Tổ chức cho học sinh thảo luận và hoàn thiện bản đồ
Bước 4: Treo kết quả các nhóm lên bảng lớp
Bước 5: Cho HS trong nhóm hoặc nhóm khác nhận xét; sau đó giáo viênđánh giá, nhận xét, bổ sung cho điểm
Điều đặc biệt là tổ chức phương pháp sơ đồ tư duy theo nhóm học sẽkhuyến khích mọi học sinh tham gia vào quá trình thảo luận, góp ý kiến, nhất lànhững học sinh rụt rè, nhút nhát
d Trong dạy bài ôn tập, củng cố và hệ thống hóa kiến thức
Có nhiều cách xây dựng BĐTD cho bài ôn tập, tổng kết:
1 HS tự lập BĐTD ôn tập tổng kết ở nhà, giáo viên cho học sinh traođổi, tranh luận rồi chỉnh sửa lại BĐTD của mình cho hợp lí nhất
2 Cho các học sinh lập BĐTD theo nhóm, trình bày và tranh luận trướclớp, chỉnh sửa cho hợp lí nhất
3 Giáo viên cùng học sinh xây dựng BĐTD trên lớp
Vận dụng BĐTD vào thời điểm này có tác dung:
- Học sinh đỡ lo lắng vì kiến thức dài Dễ dàng hơn khi nắm bắt kiến thứctổng hợp, khắc kĩ, nhớ sâu
- Tạo sự hào hứng, phấn khởi trong dạy và học
- Giáo viên đỡ mất thời gian công sức, chỉ cần có những câu hỏi hợp lícho học sinh tìm hiểu
2.3.4 Vận dụng vào dạy một số bài cụ thể
Bài 13: Khái quát về năng lượng và chuyến hóa vật chất
- Mô tả được cấu trúc và nêu được chức năng của ATP
- Trình bày được khái niệm chuyển hoá vật chất
b Trọng tâm
Trang 142 Kỹ năng
* Kỹ năng nhận thức: Rèn luyện kỹ năng phân tích hình vẽ, tư duy, so sánh,tổng hợp
* Kỹ năng sống:
- Thể hiện sự tự tin khi trình bày ý kiến trước nhóm, tổ, lớp
- Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin năng lượng và quá trình chuyểnhóa vật chất
- Kỹ năng trình bày suy nghĩ, hợp tác, quản lý thời gian và đảm nhậntrách nhiệm trong hoạt động nhóm
3.Thái độ, hành vi:
- Nhận thức đúng quy luật vận động của vật chất sống cũng luôn tuân theo các
quy luật vật lý, hóa học
- Biết được vai trò của năng lượng mà có cách vận dụng năng lượng và chămsóc cơ thể cho phù hợp
II CHUẨN BỊ
1 Giáo viên: - Tranh vẽ hình 13.1 và 13.2 SGK.
- Tranh minh hoạ cho thế năng và động năng (bắn cung)
- Phiếu học tập để thảo luận nhóm
2 Học sinh: - Xem trước bài mới, tìm hiểu các kiến thức vật lí có liên quan III TIẾN TRÌNH:
1 Ổn định lớp: (2 phút)
2 Kiểm tra bài cũ: (5 phút)
Mô tả cấu trúc và chức năng của màng sinh chất?
3 Bài mới: (33 phút)
*Hoạt động 1: Năng lượng và các dạng năng lượng trong tế bào(20 phút) Phương pháp: Trực quan, vấn đáp gợi mở, vấn đáp tìm tòi.
- Gv: Yêu cầu học sinh làm việc theo
nhóm trả lời câu hỏi:
(?)Năng lượng là gì?
(?) Các em hãy kể tên một số loại
năng lượng mà các em biết
- HS cử đại diện trình bày cho cả lớp
nghe
- GV yêu cầu HS hoạt động nhóm :
“Vẽ sơ đồ tư duy về năng lượng”
- HS:
I Năng lượng và các dạng năng lượng trong tế bào:
1 Khái niệm về năng lượng:
- Năng lượng là đại lượng đặc trưngcho khả năng sinh công
- Trạng thái của năng lượng: