Nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh vật học và khả năng nhân giống của loài cây lá Bép (Gnetum Gnemon L.) (LV thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh vật học và khả năng nhân giống của loài cây lá Bép (Gnetum Gnemon L.) (LV thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh vật học và khả năng nhân giống của loài cây lá Bép (Gnetum Gnemon L.) (LV thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh vật học và khả năng nhân giống của loài cây lá Bép (Gnetum Gnemon L.) (LV thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh vật học và khả năng nhân giống của loài cây lá Bép (Gnetum Gnemon L.) (LV thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh vật học và khả năng nhân giống của loài cây lá Bép (Gnetum Gnemon L.) (LV thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh vật học và khả năng nhân giống của loài cây lá Bép (Gnetum Gnemon L.) (LV thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh vật học và khả năng nhân giống của loài cây lá Bép (Gnetum Gnemon L.) (LV thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh vật học và khả năng nhân giống của loài cây lá Bép (Gnetum Gnemon L.) (LV thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh vật học và khả năng nhân giống của loài cây lá Bép (Gnetum Gnemon L.) (LV thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh vật học và khả năng nhân giống của loài cây lá Bép (Gnetum Gnemon L.) (LV thạc sĩ)Nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh vật học và khả năng nhân giống của loài cây lá Bép (Gnetum Gnemon L.) (LV thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM THỊ NGOAN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI,
SINH VẬT HỌC VÀ KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG
CỦA LOÀI CÂY LÁ BÉP (GNETUM GNEMON L.)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
PHẠM THỊ NGOAN
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI,
SINH VẬT HỌC VÀ KHẢ NĂNG NHÂN GIỐNG
CỦA LOÀI CÂY LÁ BÉP (GNETUM GNEMON L.)
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Anh Hùng
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố
Tác giả luận văn
Phạm Thị Ngoan
Trang 4
- Ban giám hiệu trường THPT Sông Mã, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La cùng các đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện về thời gian công tác
để tôi có thể học tập và nghiên cứu khoa học
- Các vị lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Bù Đăng, Bù Gia Mập, Đồng Phú tỉnh Bình Phước đã ủng hộ, tạo điều kiện giúp đỡ cung cấp số liệu, giúp tôi nghiên cứu thực địa
- Thầy giáo TS Nguyễn Anh Hùng đã quan tâm, tận tình hướng dẫn và giúp
đỡ tôi trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, ngày… tháng 4 năm 2017
Tác giả luận văn
Phạm Thị Ngoan
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
3 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Nội dung nghiên cứu 3
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1 Thị trường rau xanh một số nước trên thế giới 4
1.2 Các nghiên cứu về vai trò và giá trị sử dụng các loài rau 5
1.3 Nghiên cứu rau rừng trong nước 11
1.4 Các nghiên cứu về cây lá Bép 14
1.4.1 Nghiên cứu về giá trị sử dụng 14
1.4.2 Nghiên cứu về khả năng nhân giống 18
1.5 Nghiên cứu về bảo tồn tài nguyên thực vật 19
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.2 Phương pháp nghiên cứu 28
2.2.1 Phương pháp điều tra 28
2.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 31
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI 32
3.1 Điều kiện tự nhiên 32
Trang 63.1.1 Vị trí địa lý, địa hình 32
3.1.2 Khí hậu - Thủy văn 33
3.1.3 Tài nguyên đất 34
3.1.4 Tài nguyên rừng 34
3.1.5 Tài nguyên khoáng sản 35
3.2 Điều kiện kinh tế xã hội 35
3.2.1 Một số chỉ tiêu về kinh tế xã hội của tỉnh Bình Phước 35
3.2.2 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 38
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41
4.1 Đặc điểm hình thái và giải phẫu cây lá Bép 41
4.1.1 Đặc điểm hình thái 41
4.1.2 Đặc điểm giải phẫu 43
4.2 Đặc điểm sinh thái môi trường nơi loài rau phân bố 46
4.2.1 Đặc điểm phân bố của cây lá Bép 46
4.2.2 Đặc điểm sinh thái môi trường nơi loài rau phân bố 47
4.3 Thực trạng khai thác và sử dụng cây lá Bép tại tỉnh Bình Phước 48
4.4 Kết quả nghiên cứu nhân giống của cây Lá Bép 52
4.4.1 Kết quả nghiên cứu nhân giống bằng phương pháp gieo hạt 52
4.4.2 Kết quả nghiên cứu nhân giống bằng phương pháp giâm hom 54
4.5 Đề xuất giải pháp bảo tồn nguồn tài nguyên cây rau Lá Bép 57
4.5.1 Các yếu tố tác động đến sự phát triển của cây rau Lá Bép 57
4.5.2 Các giải pháp bảo tồn cây lá Bép 57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
1 Kết luận 60
2 Kiến nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Kết quả thống kê số lượng cây lá Bép tái sinh quanh gốc cây mẹ43Bảng 4.2 Thành phần cát, sét, thịt trong đất 48Bảng 4.3 Thành phần các chất khoáng trong đất 48Bảng 4.4 Khối lượng rau Lá Bép người dân thu hái từ rừng vào mùa mưa 49Bảng 4.5 Khối lượng rau Lá Bép người dân thu hái từ rừng vào mùa khô 49Bảng 4.6 Thống kê số lượng cây Lá Bép người dân lấy từ rừng tự nhiên 51Bảng 4.7 Tần suất mua, sử dụng rau Lá Bép của người dân KVNC 52Bảng 4.8 Ảnh hưởng của cách xử lý hạt giống đến kết quả thí nghiệm 53Bảng 4.9 Ảnh hưởng của độ sâu lấp đất đến kết quả thí nghiệm 54Bảng 4.10 Ảnh hưởng của nồng độ IBA, IAA và NAA đến tỷ lệ hom sống 54Bảng 4.11 Ảnh hưởng của loại giá thể dùng giâm hom đến tỷ lệ hom sống 56Bảng 4.11 Ảnh hưởng của loại giá thể dùng giâm hom đến tỷ lệ hom sống 60
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bình Phước 32
Hình 4.1 Cây Lá Bép tại xã Đak Ơ, huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước 41 Hình 4.2 Ảnh quả cây rau Lá Bép 42
Hình 4.3 Lát cắt ngang thân 44
Hình 4.4 Lát cắt tiếp tuyến 45
Hình 4.5 Lát cắt xuyên tâm 45
Hình 4.6 Tế bào biểu bì mặt trên 46
Hình 4.7 Tế bào biểu bì mặt dưới 47
Hình 4.8 Bản đồ phân bố Chi dây Gắm (Gnetum) trên Thế giới [34] 47
Hình 4.9 Thí nghiệm giâm hom cây lá Bép 55
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đã từ lâu, con người biết sử dụng những cây hoang dại để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống Ở Việt Nam, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Mỹ, cây rau rừng đã trở thành lương thực không thể thiếu trong bữa ăn hàng ngày Ngày nay, cây rau rừng vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp chất dinh dưỡng, làm thuốc cho mọi tầng lớp nhân dân từ thành thị đến nông thôn,
từ vùng cao đến vùng sâu, vùng xa Trước tầm quan trọng của các loài rau hoang dại, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu về thực trạng, bảo tồn, nhân giống, gây trồng, thành phần dinh dưỡng đối với các loại rau này Trong
đó, cây rau lá Bép là một loài cây rau rừng hiện đang được người dân các tỉnh Lâm Đồng, Đắc Lắk, Bình Phước sử dụng làm thực phẩm hàng ngày và đang
có nguy cơ bị cạn kiệt nguồn tài nguyên này
Ở Việt Nam, cây Lá Bép (Gnetum gnemon L.) là một loài thuộc chi dây
Gắm (Gnetum), họ Dây Gắm (Gnetaceae), phân bố ở một số tỉnh thuộc miền
Trung, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ như ở Quảng Nam, Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Bình Phước, Bình Thuận
và Côn Đảo Cây lá Bép thuộc thực vật Hạt trần Là loài cây thân
gỗ mảnh, kích thước từ nhỏ đến trung bình Lá thuộc loại thường xanh, lá đơn mọc đối, không có lá kèm, mép lá nguyên, gân lá lông chim, dài 8-20 cm và rộng 3-10 cm, lúc mới mọc có màu đồng, khi trưởng thành có màu lục sẫm và bóng mặt, có mũi nhọn ở chóp, thon dẹp dần ở gốc, gân lá 5-7 cặp dính nhau Lá có hình dạng, kích thước gần giống với lá chôm chôm, lá nhãn
Rau lá Bép đã được dùng làm rau ăn của người dân tộc thiểu số từ lâu đời, có thể ăn ở dạng xào hoặc nấu canh với cá suối Rau lá Bép trở nên nổi tiếng trong thời kỳ kháng chiếng chống Mỹ khi bộ đội Việt Nam sống trong chiến khu thiếu lương thực phải ăn rau rừng để sống trong thời kỳ chiến trường
ác liệt
Trang 11Trong quyển "Những kỷ niệm ở rừng miền Đông" của Nhà xuất bản Quân đội nhân dân có kể rằng, một đơn vị bộ đội khi hành quân trên vùng Bình Phước chẳng may bị lạc rừng Hết lương thực, đoàn quân hàng trăm người phải tìm lá cây rừng ăn cầm hơi suốt một tuần Đó là những thứ lá rừng vị ngọt thanh, ăn khá ngon miệng Mãi sau này, nhiều người mới biết đó là lá Bép Để giúp bộ đội Trường Sơn chủ động tìm nguồn thức ăn khi thiếu lương thực, Nhà Xuất bản Quân đội nhân dân in ấn sách rau rừng dạng sổ tay khổ nhỏ, trong đó
mô tả hàng trăn loại rau rừng, củ, quả và nấm rừng ăn được có hình ảnh mẫu kèm theo để giúp bộ đội đi tới đâu, gặp rau nào thì đối chiếu tìm nấu Trong đó
có loài rau Bép thuộc những cây rau chủ lực
Theo Đông y, cây lá Bép hay còn gọi là cây lá Bét có tiềm năng lớn không chỉ bởi giá trị dinh dưỡng mà còn vì dược tính của nó Không chỉ ngon,
đủ calo, an toàn, nó còn chứa các hoạt chất sinh học tự nhiên cần cho sức khỏe, kéo dài tuổi thọ Theo Tây y, năm 1955, Masilungan và những đồng nghiệp phát hiện chất chiết trong lá cây có chứa các chất kháng sinh
Trước tầm quan trọng như trên, cây lá Bép đã và đang bị người dân khai thác quá mức, nguồn tài nguyên này đang có nguy cơ bị cạn kiệt Vì vậy, đề tài
tập trung “Nghiên cứu đặc điểm sinh thái, sinh vật học và khả năng nhân giống của loài cây lá Bép (Gnetum Gnemon L.)” là một việc rất cần thiết và
cấp bách
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Góp phần bổ sung kiến thức về đặc điểm sinh thái, sinh vật học và kỹ
thuật nhân giống của loài rau Lá Bép (Gnetum Gnemon L) làm cơ sở cho công
tác bảo tồn và phát triển cây Lá Bép tại tỉnh Bình Phước, Lâm Đồng và mở rộng sản xuất
Trang 12- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, sinh vật học,
thực trạng khai thác, sử dụng và khả năng nhân giống cây rau Lá Bép (Gnetum
Gnemon L.)
- Phạm vi về không gian: Tiến hành nghiên cứu tại tỉnh Bình Phước
- Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu từ tháng 5/2016 đến tháng 6/2017
4 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu về đặc điểm hình thái, sinh trưởng và phát triển của cây
Lá Bép
- Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái môi trường nơi loài rau phân bố
- Nghiên cứu về thực trạng khai thác và sử dụng cây Lá Bép tại tỉnh Bình Phước
- Nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống đối với cây Lá Bép
- Nghiên cứu giải pháp bảo tồn cây Lá Bép
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Thị trường rau xanh một số nước trên thế giới
Trong những năm gần đây, thị trường rau tươi ở châu Âu giảm về khối lượng nhưng tăng về giá trị Ở nhiều nước phía Đông châu Âu, mức tiêu dùng sản phẩm rau tươi vẫn tiếp tục tăng và người tiêu dùng đang chuyển dần từ tiêu dùng một số loại rau cơ bản sang những sản phẩm đa dạng hơn bao gồm cả các loại nhập khẩu Bên cạnh đó, sự tồn tại sẵn có của nhiều đồ ăn khác như thức
ăn nhẹ, đồ ăn nhanh đã trở thành sản phẩm cạnh tranh gay gắt đối với sản phẩm rau tươi Các nước như Đức, Tây Ban Nha, Ý, Pháp là những thị trường lớn nhưng đã gần như bão hòa Chỉ có một số thị trường ngách và một số nhóm sản phẩm nhất định còn có cơ hội tăng trưởng Đây cũng là cơ hội cho các nước đang phát triển đẩy mạnh việc xuất khẩu rau xanh và thị trường châu Âu [33]
Tại các cửa hàng bán đồ châu Á và các khu chợ buôn bán ở một số thành phố lớn như Moscow, Berlin, Praha, Warsaw, London, Paris… những mớ rau muống, mùng tơi, cải xanh, rau bí, mướp, bầu, cùng rau thơm đủ loại: rau mùi, húng láng, húng chó, tía tô, kinh giới… được bầy bán khắp nơi, nhìn qua tưởng “thuần Việt”, nhưng thật ra được trồng tại chính các nước sở tại Nhu cầu sử dụng rau xanh của các nước trên thế giới ngày một tăng cao Bảng theo dõi chi phí sinh hoạt các mặt hàng tiêu dùng hàng ngày của Mirror.co.uk cũng cho thấy người tiêu dùng tại Anh hiện đang phải chi thêm trung bình hơn 3%
so với năm 2009 để mua rau xanh [37]
Nếu ở Việt Nam, các loại rau xanh bị coi là thực phẩm “bình dân”, nhà nào cũng có trong bữa cơm gia đình thì khi đã “định cư” ở trời Tây, lại được xem là món “sơn hào hải vị” Điển hình nhất là rau muống, từ lúc nào đã trở thành mặt hàng rất hút khách ở các nước châu Âu và chỉ dành cho những gia đình khá giả Không chỉ người châu Á thích ăn rau muống, mà cả dân Tây cũng
Trang 14ưa chuộng Tùy theo mùa, rau muống ở Nga có giá dao động từ 4,5 - 10 USD 1kg; ở Đức là 7 USD, Praha 5 USD… Theo ủy ban Phát triển Thị trường Trái cây và Rau quả tại Kalimati ở Ấn Độ, tổng lượng rau các loại đưa ra thị trường
đã lên đến 360 tấn/ngày bắt đầu từ 17/01/2010 Trước khi lễ hội, cung lượng trung bình hàng ngày của các mặt hàng nông sản trên thị trường vào khoảng
600 - 650 tấn/ngày Với sự cải thiện nguồn cung cấp, giá các loại rau quan trọng đã liên tục giảm trên thị trường "Hầu hết các mặt hàng rau quả hiện đang được bán với giá thấp hơn so với giá đã ghi nhận một vài tuần trước đây", ông Ramesh Dangol, một quan chức của ủy ban cho biết Theo tin từ ủy ban, giá cả của Cà chua lớn, khoai tây đỏ và khoai tây trắng giảm xuống lần lượt là 24 Rupi, 20 Rupi và 14 Rupi/kg từ các mức giá 26 Rupi, 22 Rupi và 16 Rupi/kg ghi nhận được trước đây hai tuần Tương tự như vậy đối với một số loại rau khác như hành, súp lơ thường và súp lơ Tarai cũng được bán với giá lần lượt là
33 Rupi, 18 Rupi và 10 Rupi/kg, giảm từ 36 Rupi, 22 Rupi và 18 Rupi/kg tương ứng Giá của tỏi Trung Quốc cũng giảm xuống còn 120 Rupi/kg từ 124 Rupi/kg trong khoảng thời gian này Tuy nhiên, giá của dưa chuột lại tăng từ 20 Rupi/kg lên 24 Rupi/kg [18]
1.2 Các nghiên cứu về vai trò và giá trị sử dụng các loài rau
Cây rau xanh là thành phần quan trọng trong bữa ăn hàng ngày của nhân dân ta Những câu nói “cơm không rau như đau không thuốc” hoặc “đói ăn rau, đau uống thuốc” đã được khẳng định tầm quan trọng, sự cần thiết của rau trong bữa ăn và trong đời sống của con người [4]
Nhân dân ta có rất nhiều loại rau, phổ biến nhất trong bữa ăn hàng ngày
là các loại rau cải, rau muống, rau ngót đặc biệt người dân sống ở miền núi
thường sử dụng các loài rau rừng như rau Dớn (Diplazium esculentum), rau Sắng (Meliantha suavis P.) Trong bữa ăn của người dân ta chỉ có hai loại
thực phẩm (tính bằng gam) thường xuyên chiếm 3 con số là gạo và rau Cơm rau cũng là thành ngữ quen thuộc và phổ biển ở Việt Nam
Trang 15Khoa học dinh dưỡng đã phân tích và xác định trong rau quả hầu hết các chất dinh dưỡng cần thiết cho con người Không những rau quả đã góp phần quan trọng và kịp thời chống đói ở những vùng đói thường xuyên hoặc bị thiên tai mà quan trọng hơn cả là vì rau là nguồn cung cấp chủ yếu vitamin, chất khoáng, chất xơ và một phần quan trọng chất đạm là những chất dinh dưỡng không thể thiếu đối với hoạt động sinh lý của cơ thể [4]
Rau là nguồn cung cấp nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho hoạt động bình thường của các chức phận sinh lý và sự chuyển hoá của các chất trong cơ thể Lịch sử còn ghi lại 100 người trong số 160 thủy thủ của đoàn thám hiểm Vasco de Gama đi tìm đường sang phương Đông đã bị chết về bệnh scorbut, do chế độ ăn dài ngày trên biển thiếu Vitamin C Lịch sử cũng ghi lại nhiều cuộc chiến tranh đã phải nhanh chóng kết thúc vì hàng vạn quân số của 2 bên đều bị bệnh thiếu vitamin, không còn sức chiến đấu [4]
Giá trị dinh dưỡng của rau cũng rất cao, nếu ăn mỗi ngày khoảng 300g rau rừng sẽ cung cấp cho cơ thể khoảng 70 - 80 calo và trên 10g protein đồng thời có thêm lượng vitamin C cần thiết cho cơ thể [4]
Ngày nay tuy là thời bình, thực phẩm đầy đủ nhưng vẫn còn nhiều người thiếu kiến thức về ăn uống hợp lý dẫn đến xảy ra một số bệnh như khô mắt do thiếu Vitamin A, tê phù do thiếu Vitamin B1 Thiếu Vitamin sẽ gây rất nhiều bệnh tật, ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể, thường xuyên gây cho người ta cảm giác mệt mỏi, thiếu sức bền bỉ, năng suất lao động và công tác sút kém [4]
Theo Farmsworth et al và cộng sự vào năm 1985 có khoảng 119 hợp chất hóa học chiết suất từ thực vật bậc cao được sử dụng vào sản xuất thuốc trên toàn thế giới Tổ chức y tế thế giới (WHO) ước tính là có 80% người dân ở các nước đang phát triển của thế giới hiện nay đang phụ thuộc vào các loại thuốc truyền thống để chữa bệnh và trong khoảng 85% các loại thuốc truyền thống đó có sử dụng các chiết xuất từ thực vật Rất nhiều nước trên thế giới quan tâm đầu tư nghiên cứu tìm các hợp chất mới từ thực vật như Trung Quốc,
Trang 16Nhật Bản, Mỹ, Đức, Ấn Độ Trong thực tế các nghiên cứu như vậy chỉ được bắt đầu từ thế kỷ 19 và công nghệ cũng phát triển rất mạnh mẽ từ đó Tại trung tâm Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ đã kiểm tra rất nhiều loài thực vật để tìm kiếm chất ung thư, rất nhiều loài đã chứng tỏ có hoạt chất chống ung thư, một số hoạt chất đã được chiết xuất và nghiên cứu về cấu trúc để thử nghiệm chữa trị cho con người [18]
Tại Hồng Kông vào năm 1981 với dân số gần 5,7 triệu người, Hồng Kông có ít nhất 346 người bán cây cỏ làm thuốc và 1477 cửa hàng bán thuốc từ các loại cây cỏ, trong khi đó có 3362 thầy thuốc có đăng ký và 375 hiệu thuốc Hiệp hội các nhà thuốc Bắc ở đây có khoảng 5.000 hội viên Có thể nói Hồng Kông là một thị trường đông dược lớn nhất thế giới, nhập khẩu vượt con số 190 triệu đô la Mỹ mỗi năm Chỉ có khoảng 70% các loại sản phẩm thảo dược đó là được sử dụng tại chỗ, còn 30% lại được tái xuất Theo tính toán thì mỗi năm người dân nơi đây tiêu thụ khoảng 25 đô la Mỹ cho thuốc Bắc Đây mới chỉ là
số liệu tính riêng cho Hồng Kông mà chưa hề đưa ra các số liệu cho cả Trung Quốc, một đất nước mà từ hàng nghìn năm qua người dân đã quen sử dụng thuốc dân tộc sản xuất từ thực vật để chữa bệnh [18]
Tại Nhật Bản hệ thống y học cổ truyền được gọi là Kampo là một dạng ứng dụng y học Trung Quốc Thuốc dân tộc bao gồm các sản phẩm từ tự nhên,
mà chủ yếu là các chiết xuất từ thực vật Tổng chi phí cho các sản phẩm thuốc tại Nhật Bản là khoảng 8,3 tỉ đô la Mỹ trong năm 1986, song các loại thuốc dân tộc chỉ chiếm 12,5 triệu đô la Mỹ Vào năm 1984, tổng chi phí cho các loại thuốc đã lên tới 14,6 tỉ đô la Mỹ và chi phí cho thuốc dân tộc cũng tăng lên 150 triệu đô la Mỹ (Terasawa, 1986) [18]
Tonga Noweg và cộng sự (2003) nghiên cứu những loài cây làm rau lấy
từ rừng của các cộng đồng trong khu vực Vườn quốc gia Crocker Range, Sabah, Malaysia cho thấy có đến 70,6% cộng đồng dân cư có lấy các loài rau từ rừng, 82% phụ nữ tham gia lấy các loại rau rừng phục vụ cho gia đình 18% vừa lấy để dùng vừa đem bán ở các chợ địa phương
Trang 17Wang Guang-Yin và cộng sự (2002) nghiên cứu về khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên rừng tại tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, chỉ ra có tới 91 họ, 226 chi và 415 loài Phân bố địa lý, sự khai thác và cách thức sử dụng được chỉ rõ
và đặc tính của loài, đặc điểm sinh học, các phần có thể ăn được, thời gian thu hái và sinh cảnh của chúng cũng đề cập tới
Tugba Bayrak Ozbucak và cộng sự đã nghiên cứu phân bố các loài cây
ăn được ở vùng biển đen Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy các loài cây ăn được rất phổ biến và được dân cư vùng này sử dụng thường xuyên, thống kê được có 52 loài cây ăn được thuộc trong 26 họ Họ có số loài nhiều nhất là họ Lamiaceae (10 loài), tiếp theo là các họ Asteraceae (5loài), Apiaceae và Boraginaceae (4 loài), Liliaceae (3 loài), Orchidaceae và Polygonaceae (2 loài)
Ở Thái Lan đã và đang phát triển các mô hình trồng cây rau Sắng (Melientha suavis) dưới tán các vườn cây ăn quả hay trong các mô hình nông lâm kết hợp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông lâm nghiệp [18]
Rau quả là một trong 4 nhóm thực phẩm cần thiết để có một bữa ăn hợp
lý Giá trị của rau quả là cung cấp cho cơ thể các chất dinh dưỡng có hoạt tính sinh học cao, đặc biệt là các vitamin (vitamin A, vitamin C) chất khoáng, vi khoáng Ngoài ra là các chất axit hữu cơ, xenluloza Ở các nước đang phát triển, hơn 80% nguồn vitamin A sẵn có được cung cấp từ rau quả tươi dưới dạng caroten và gần 100% vitamin C cũng được cung cấp từ rau Trong các kết quả dưới đây cho thấy: Trong các loại rau thì rau ngót, rau đay, rau dền là những loại rau quý, có giá trị dinh dưỡng cao, đồng đều về vitamin A, caroten (tương đương 1.760 mcg retinol), vitamin C (179-64-52 mg) và hàm lượng sắt (2,8-2,5-2,1 mg %) giàu các chất muối khoáng, vi khoáng, protein gấp 3-5 lần các loại rau khác (3- 6g%) Rau muống có giá trị dinh dưỡng trung bình (380 mcg % retinol; 2,8mg% vitamin C; 1,2 g sắt) có kém rau Ngót, rau Đay nhưng được nhiều người ưa thích, sử dụng thường xuyên, quanh năm với số lượng lớn (gấp vài chục lần các loại rau khác) nên giá trị của nó không nhỏ Các loại rau
Trang 18gia vị (mùi, tía tô, húng, thì là ) có hàm lượng vitamin A, caroten cao và đồng đều hơn so với rau ăn và quả ngọt (bình quân 400-900 mcg% retinol) cao nhất
là Tía tô, Húng quế, Ớt vàng (hơn 9.000 mcg%) giàu sắt (1-3mg%) Rau gia vị lại được sử dụng tươi sống, không bị tổn thất qua nấu nướng, nên giá trị sử dụng các vitamin cao Ngoài ra, các rau gia vị còn cung cấp nguồn kháng sinh thực vật rất có giá trị Tác dụng của rau ngoài cung cấp vitamin, khoáng chất, phòng ngừa ung thư rất tốt, còn có khả năng chữa trị được nhiều loại chứng bệnh Ví dụ như: hành ta, hành tây, tỏi, củ sả, cà rốt, cà chua, bí ngô, ớt là những loại rau có nhiều beta- caroten, vitamin C và chất xơ, các chất này trong rau có hàm lượng cao hơn so với trái cây Các chất xơ trong rau có tác dụng phòng bệnh rất tốt, mà chất xơ chủ yếu có trong rau, nên nó thúc đẩy sự hấp thụ của cơ thể đối với 3 nhóm thức ăn cơ bản (nhóm đạm, đường, béo) Nếu chỉ ăn đơn thuần các protein động vật, thì hiệu suất hấp thụ protein trong ống tiêu hóa chỉ là 70%, còn nếu ăn thêm rau thì hiệu suất hấp thụ protein sẽ đạt tới 90% Như vậy có thể thấy, rau có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sức khỏe và tuổi thọ Đồng thời không thể dùng trái cây thay thế rau xanh trong mỗi bữa ăn gia đình [35]
Dược phẩm: Các loại dược phẩm có nguồn gốc tự nhiên có vai trò quan trọng trong công tác bảo vệ sức khoẻ trên phạm vi toàn cầu Ước tính 80% dân
số của các nước kém phát triển trông cậy vào các dược phẩm truyền thống trong việc chăm sóc sức khoẻ; và sự phụ thuộc này không hề giảm đi kể cả khi
có mặt các loại tây dược Khoảng 120 hoá chất được chiết xuất thành dạng tinh khiết từ 90 loài sinh vật đang được dùng trong y học trên toàn thế giới Khá nhiều trong số đó không thể sản xuất nhân tạo được: digitoxin khích thích hoạt động tim, một thuốc trợ tim phổ biến nhất của đông y, được chiết xuất trực tiếp
từ cây Mao địa hoàng (Digitalis); vincristine nhân tạo, được dùng để điều trị bệnh bạch cầu ở trẻ em chỉ đạt 20% hiệu quả của sản phẩm tự nhiên có nguồn gốc từ cây Catharanthus roseus (Rosy Periwinkle)
Trang 19Cùng với nông nghiệp, và việc từ bỏ y học truyền thống, hiện tại chỉ còn một tỷ lệ rất nhỏ đa dạng sinh học trên thế giới có đóng góp cho chăm sóc sức khoẻ trên phạm vi toàn cầu Nhiều dẫn chứng về những tiến bộ về công nghệ trong công nghiệp dược phẩm, và cụ thể có liên quan đến việc chế tạo và sản xuất dược phẩm nhân tạo, sẽ có nghĩa là đóng góp này sẽ giảm nhiều hơn là tăng Tuy nhiên, tính đa dạng tự nhiên có thể ngày càng có giá trị đối với việc chế tạo ra những dược phẩm nhân tạo mới
Rau xanh là loại thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hằng ngày Nhiều loại rau xanh sẵn có và rẻ tiền còn là những vị thuốc rất có giá trị, một số loại rau nếu biết cách kết hợp chế biến lại trở thành những "bài thuốc" chữa bệnh, làm đẹp có hiệu quả Ưu điểm nổi bật khi sử dụng rau xanh thay cho thuốc chữa bệnh là vừa cung cấp chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, vừa chữa được bệnh, lại không có ảnh hưởng phụ như khi dùng thuốc Ngày nay, rau xanh được chế biến đến không chỉ đơn thuần là nguồn thực phẩm nuôi sống con người, mà còn được coi là nguồn dược liệu an toàn, rẻ, thông dụng và không có tác dụng phụ Trong rau xanh chứa rất ít chất béo và calo, nhưng lại cung cấp nguồn năng lượng đáng kể Rau xanh cũng chứa ít Natri, làm giảm lượng nước hấp thụ vào cơ thể Ăn rau xanh thường xuyên mang lại nhiều lợi ích về sức khỏe Cùng với những ích lợi giảm thiểu bệnh tật, rau xanh còn là thực phẩm giúp giảm cân hiệu quả Trong rau xanh chứa rất ít chất béo và calo, nhưng lại cung cấp nguồn năng lượng đáng kể nên thường được áp dụng trong các chế độ ăn kiêng Tất cả những đặc tính này mang lại hiệu quả cho việc giảm cân Chất xơ trong rau xanh cũng giúp cảm thấy no nhanh hơn và do đó hạn chế được lượng thức ăn tiêu thụ Ngoài ra, rau xanh cũng bổ sung nhưng dưỡng chất cần thiết cho cơ thể để đẩy mạnh quá trình sản sinh năng lượng tại các tế bào cơ Nhờ vậy, bạn sẽ luôn cảm thấy đầy sức sống để có một ngày năng động, giúp tiêu hao nhiều năng lượng hơn nữa [32]
Trang 20Theo một nghiên cứu mới, vitamin B9 được tìm thấy đặc biệt trong các loại rau với lá xanh có tính năng giúp những người cao tuổi phòng ngừa chứng
sa sút trí tuệ Vitamin B9, còn gọi là acid folic, đã được cô lập và tổng hợp từ năm 1945 Cơ thể không thể tự sản xuất chất này mà cần được bổ sung nhờ thực phẩm Acid folic có mặt chủ yếu trong các lá cải, rau xanh, hạt như bắp, đậu Vitamin B9 giúp não hoạt động tốt, tham gia trong việc tổng hợp nhiều chất dẫn truyền thần kinh, chất hóa học cho phép các tế bào thần kinh truyền tin Trí nhớ và các chức năng nhận thức khác sẽ có chất lượng tốt hơn nếu được cung cấp đầy đủ vitamin B9 Ở người cao tuổi, lượng acid folic bổ sung thường rất thấp Bà Katherine Tucker và các cộng sự thuộc Trung tâm nghiên cứu dinh dưỡng con người ở trường đại học Tufts (Mỹ) đã nghiên cứu trong suốt ba năm việc bổ sung vitamin B và khả năng trí tuệ của 321 người tuổi từ 50 đến 85 Những người tham gia đã trải qua một loạt thử nghiệm khi nghiên cứu mới bắt đầu và lặp lại các thử nghiệm này 3 năm sau Các nhà nghiên cứu đã so sánh hai kết quả, phân tích đáp án của những người tham gia nghiên cứu trong bảng câu hỏi về chế độ ăn và cho họ xét nghiệm máu để đánh giá hàm lượng vitamin trong máu Các bài trắc nghiệm về nhận thức nhắm vào trí nhớ, khả năng ăn nói lưu loát và định vị trong không gian Kết quả là những người đã dùng nhiều acid folic nhất ít bị sa sút trí tuệ nhất và đặc biệt là có khả năng diễn đạt lưu loát Theo bà Tucker, nghiên cứu này tiết lộ tác động của vitamin B9 đối với chứng sa sút trí tuệ do tuổi già [36]
1.3 Nghiên cứu rau rừng trong nước
Những nghiên cứu về rau hoang dại ở Việt Nam hiện nay tập trung chủ yếu vào rau rừng Đến đầu thế kỷ 20 việc nghiên cứu về tài nguyên thực vật rừng, đặc biệt là tài nguyên cây rau rừng mới rõ nét Các nhà khoa học người Việt Nam tiếp tục nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam, có thể nói rằng, ấn phẩm “Sổ tay rau rừng” của Từ Giấy, Vũ Văn Cẩn ấn hành lần đầu vào năm
1963 là công trình đầu tiên về rau rừng ở Việt Nam Công trình đã thống kê được 620 loại rau, (128 loài rau hoang dại); 433 loại củ, quả, hạt; 144 loại nấm, rong có thể ăn được [21]
Trang 21Theo kết quả nghiên cứu của Võ Văn Chi vào năm 1976, có 145 loài dùng để làm rau ăn thuộc 61 họ thực vật, trong đó có 10 họ có số cây dùng làm rau ăn nhiều nhất Đứng đầu là họ Đậu, tiếp đến là họ Cúc, họ Bầu bí, họ Ráy
và họ Dền [37]
Đến năm 1994, một công trình nữa về rau rừng đã được ấn hành, đó là cuốn “Một số rau dại ăn được ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Tiến Bân, Bùi Minh Đức Trong ấn phẩm này, có 113 loài rau ăn được nghiên cứu Trong công trình đồ sộ về hệ thực vật Việt Nam: Cây cỏ Việt Nam, của tác giả Phạm Hoàng Hộ, có 169 loài rau ăn hoang dại được mô tả, mặc dù không có các kết quả về phân tích dinh dưỡng nhưng đây là nguồn tài liệu quan trọng để nhận biết, xác định danh pháp các loài rau rừng [4]
Bùi Văn Tân (2010), đã nghiên cứu và đánh giá đặc điểm sinh thái, sinh vật học, những kinh nghiệm truyền thống về quản lý sử dụng 3 loại rau: rau
Sắng (Meliantha suavis P.) rau Bò Khai (Erythropalum scandens B.), và rau Dớn (Diplazium esculentum) trong khu vực miền núi Đông Bắc Việt Nam (cụ
thể nghiên cứu tại vườn quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn và khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa, Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên đây là những tỉnh có điều kiện tự nhiên gần tương đồng, có thể làm đại diện được cho vùng núi Đông Bắc nước
ta [18]
Ninh Khắc Bẩy (2013) Đã thống kê trong hệ thực vật tỉnh Phú Thọ có
225 loài cây ăn được thuộc 77 họ, 3 ngành thực vật Trong đó cây được sử dụng làm rau có 113 loài thuộc 96 chi 48 họ, cây cho quả ăn được 115 loài 77 chi 36 họ và cây có thể làm lương thực có 10 loài thuộc 7 chi 5 họ Tác giả cũng đã nghiên cứu tuyển chọn được 8 loài cây ăn được triển vọng có giá trị kinh tế để phát
triển trồng trọt bao gồm: Rau sắng (Melientha suavis), Bò khai (Erythropalum
scandens), Gioi xanh (Michelia mediocris), Chuối phấn vàng (Musa paradisiaca),
Trám trắng (Canarium album), Trám đen (Canarium tramdenum), Khoai môn
(Calocasia esculenta), Củ mài (Diospyros permisilis) [3]
Trang 22Nguyễn Quốc Bình (2013), Khi nghiên cứu thành phần các loài cây làm rau ăn ở 2 tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai cho thấy rất đa dạng và phong phú với các dạng sống khác nhau như cây thảo, dây leo, cây gỗ, cây bụi Với 234 loài thuộc
169 chi, 71 họ đã được xác định, số lượng các loài rau ăn ở 2 tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai nhiều hơn rất nhiều so với các tài liệu nghiên cứu trước đây Các dân tộc bản địa 2 tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai có nhiều kinh nghiệm sử dụng các loài cây rừng làm rau ăn rất độc đáo Một số loài cây có độc tính, nhưng tùy thời
điểm thu hái có thể sử dụng làm rau ăn, như lá cây Lim xanh (Erythrophleum
fordii) rất độc, nhưng lá non vào đầu mùa mưa được dùng làm rau ăn [5]
Trương Thị Bích Quân và cộng sự (2013) đã xác định với ít nhất 100 loài thực vật khác nhau được ghi nhận làm thực phẩm, trong đó đã định loại được
81 loài, nghiên cứu này cho thấy cộng đồng Chơ Ro có một kiến thức bản địa phong phú về sử dụng tài nguyên thực vật làm thực phẩm, đồng thời cũng cho thấy một sự phụ thuộc rất lớn vào tài nguyên rừng trong sinh sống hàng ngày Đây là điều cần được quan tâm trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại địa phương Cộng đồng Chơ Ro chủ yếu sử dụng các bộ phận của cây như ngọn, lá
và quả làm thực phẩm Việc sử dụng những loại thực phẩm này có tính bền vững khá cao và không ảnh hưởng nhiều đến tài nguyên rừng Đây cũng là cơ
sở làm tiền đề xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích cho cộng đồng và đóng góp vào
sự phát triển du lịch sinh thái [16]
Hoàng Văn Sâm và cộng sự (2011), tại huyện Sa Pa tỉnh Lào Cai chúng tôi xác đinh được 107 loài thuộc 73 chi 46 họ thực vật rừng được người dân sử dụng làm rau ăn Số loài tập trung chủ yếu là ngành Ngọc lan với 104 loài, thuộc 43 họ Rau rừng sử dụng làm rau ăn tại khu vực nghiên cứu có 9 dạng sống khác nhau, trong đó tlực vật thân thảo chiếm số loài nhiều nhất với 53 loài chiếm 49,53% và thấp nhất là dạng sống dây leo gỗ và phụ sinh với 1 loài Rau rừng được người dân địa phương sử dụng khá đa dạng và phong phú về bộ phận với 10 bộ phận khác nhau, trong đó lá được sử dụng nhiều nhất với 45
Trang 23loài chiếm 42,06% Người dân địa phương chế biến rau rừng phổ biến nhất là xào với 66 loài chiếm 61,68% và ít nhất là ăn quả với 7 loài chiếm 6,54% Nghiên cứu về kiến thực bản địa tại Sa Pa với 3 dân tộc khác nhau là Dao, Mông và Tày trong đó người dân tộc Dao sử dụng nhiều loài rau rừng nhiều nhất với 75 loài chiếm 70,09%, người H’Mông sử dụng 64 loài và ít nhất là dân tộc Tày chỉ với 50 loài [17]
Song song với những nghiên cứu về các loại rau rừng thì trong những năm gần đây cũng đã có các hoạt động bảo tồn và phát triển chúng Ví dụ Mô hình bảo tồn và phát triển rau Sắng ở vườn quốc gia Xuân Sơn, mô hình xây dựng cơ sở chuyên canh rau rừng thương phẩm công ty Sannamfood (Hà Nội)
… Tuy đây cũng là 1 lĩnh vực mới, kết quả còn nhiều hạn chế, song tiềm năng phát triển còn rất nhiều
1.4 Các nghiên cứu về cây lá Bép
1.4.1 Nghiên cứu về giá trị sử dụng
Trên thế giới ngày nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về cây rau Bép ở các khu vực có điều kiện thích hợp cho sinh trưởng phát triển Những nghiên cứu tác dụng và nhân giống cây rau Bép đã được tiến hành với sự ủng hộ rộng rãi
Theo Barua và cộng sự (2015) đã đánh giá toàn diện về cây rau Bép và
có kết luận rằng cây rau bép là một cây thường xanh và cây lâu năm có nguồn gốc từ Ấn Độ về phía Đông Bắc, nó được sử dụng trong một số loại thuốc traditional để chữa các bệnh khác nhau Các dẫn xuất từ hạt của nó có thể chống vi khuẩn, chống oixhoa, ức chế angiogennesis, chống lão hóa và các hợp chất như Saponin, tannin, flaronoids và stilbenoids [23]
Kenji Watanabe (2015) nghiên cứu chất chiết xuất từ hạt rau Bép là MSE
và RSV chúng có tác dụng của MSE đối với những bệnh học về da liên quan đến tuổi tác gây ra bởi những tổn thương do oxyhoa [25]
Trang 24Hiroyuki Konno và cộng sự (2013) nghiên cứu ảnh hưởng có lợi của MSE trong hạt rau Bép đối với nam giới trưởng thành từ 35 - 70 tuổi, MSE có thể làm giảm nồng độ axit uric bất kể kháng insulin và có thể cải thiện chuyển hóa lipip bằng cách gia tăng cholesterol [24]
Ngoài ra Narayanan K Narayanan và cộng sự (2015) đã nghiên cứu về chất chiết xuất từ hạt rau Bép và chứng minh rằng MSE và GC được chiết xuất
từ hạt rau Bép có tính kháng u mạnh [26]
Tại Việt Nam, những nghiên cứu về loài cây này còn rất ít, chưa được các nhà khoa học quan tâm Theo Nguyễn Thành Đạt (2008) khi đánh giá tiềm năng làm rau ăn của cây lá Bép tại tỉnh Lâm Đồng, kết quả phân tích tại các cơ quan chuyên môn ở TP Hồ Chí Minh cho thấy lá Bép có tới 16 loại Aminoacid (trong số 20 Aminoacid quan trọng không thể thiếu đối với con người) tham gia xây dựng Protein nhằm đảm bảo các chức năng xúc tác, miễn dịch, vận chuyển… cho các hoạt động sống hàng ngày của cơ thể Qua phân tích tại Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt, thành phần cũng như hàm lượng các chất khoáng trong lá Bép khá cao, trong đó K, Fe, Cu, Zn, Mo, Mg và Mn cao hơn nhiều so với xà lách, bông cải trắng…Hàm lượng đường trong lá Bép cũng đạt 0,93%,
do vậy khi nấu canh có vị ngọt; đồng thời với hàm lượng đường khử 0,88% giúp cơ thể dễ dàng hấp thụ nguồn năng lượng này một cách nhanh chóng Nhân hạt lá Bép chứa khoảng 10,9% protein, 1,6% lipid và 50,4% tinh bột - nguồn bổ sung quan trọng trong điều kiện thiếu lương thực Cây lá Bép sinh trưởng và phát triển trong môi trường tự nhiên, không bón phân, phun thuốc trừ sâu nên hạn chế được các tác nhân gây ngộ độc như dư lượng nitrate, kim loại nặng… Không chỉ ngon, đủ calo, an toàn, lá Bép còn chứa các hoạt chất sinh học tự nhiên cần cho sức khỏe, kéo dài tuổi thọ Ngoài ra, lá Bép có tác dụng như vị thuốc Kỹ sư Nguyễn Thành Đạt đã sử dụng các phương pháp giâm hom, gieo hạt và chuyển cây con từ rừng Di Linh về trồng ở Đà Lạt Kết quả
Trang 25thật bất ngờ: Cây con trồng dưới tán rừng tạp với cây gỗ nhỏ, cây bụi, tre nứa… hoặc trồng xen với một số loại cây khác trong vườn đều phát triển tốt
mở ra triển vọng trồng cây lá Bép ở tất cả các huyện, thị, thành [12]
Lương Văn Dũng (2012) khi nghiên cứu tuyển chọn và xây dựng các mô hình trồng một số loài rau rừng có giá trị ở Lâm Đồng đã thu thập và lập danh mục được hơn 120 loại rau rừng hiện có ở Lâm Đồng Trong đó, 9 loài rau đã xây dựng được mô hình trồng, chăm sóc, thu hoạch và nhân giống là lá bép, lỗ bình, cần dại, dưa núi, lạc tiên, dớn, ráy thon, sâm đu đủ và sơn địch Trong số này, lá Bép là loại rau rừng được quan tâm nhất [10]
Rau Lá Bép đã được dùng làm rau ăn của người dân tộc thiểu số từ lâu đời, có thể ăn ở dạng xào hoặc nấu canh với cá suối Rau Lá Bép trở nên nổi tiếng trong thời kỳ kháng chiếng chống Mỹ khi bộ đội Việt Nam sống trong chiến khu thiếu lương thực phải ăn rau rừng để sống trong thời kỳ chiến trường
ác liệt Ngày nay, Lá Bép trở thành món ăn quen thuộc đối với người dân vùng Tây Nguyên, có mặt trong thực đơn của các nhà hàng, như là một món ngon đặc sản của núi rừng
Ở nước ngoài, hạt cây Lá Bép được dùng để nấu món súp rau chua Indonesia (Sayur Asem) và cũng có thể nghiền thành bột và chiên thành món bánh emping, một loại bánh ghém krupuk giống như bánh phòng tôm ở Việt Nam Loại bánh này có hương vị hơi đắng và thường được dùng để ăn nhẹ hoặc
ăn kèm với các món chiên, xào khác
Hoa, lá non và quả tươi được dùng như thành phần trong món cà ri rau truyền thống gọi là Kuah pliek Món ăn này được phục vụ trên tất cả các dịp lễ truyền thống quan trọng, chẳng hạn như khanduri và keureudja
Bánh quy dòn Melinjo là một phần của thực đơn trong bữa ăn tối để tiếp đãi tổng thống Mỹ Barack Obama trong chuyến thăm cấp nhà nước với Indonesia vào năm 2010, ngài tổng thống da đen này đã ca ngợi bánh quy giòn
là ngon
Trang 26Theo Đông y, cây Lá Bép hay còn gọi là cây Lá Bét có tiềm năng lớn không chỉ bởi giá trị dinh dưỡng mà còn vì dược tính của nó Không chỉ ngon,
đủ calo, an toàn, nó còn chứa các hoạt chất sinh học tự nhiên cần cho sức khỏe, kéo dài tuổi thọ Theo Tây y, năm 1955, Masilungan và những đồng nghiệp phát hiện chất chiết trong lá cây có chứa các chất kháng sinh
Gần đây, cây Lá Bép được phát hiện là loài cây giàu các hợp chất hoạt động sinh hóa nhóm stilbenoid, bao gồm chất resveratrol (3,5,4 '-trihydroxy-trans-stilbene) là một chất phenol tự nhiên và chất phytoalexin (sản xuất tự nhiên khi cây bị tấn công bởi các tác nhân gây bệnh như vi khuẩn hoặc nấm) Đây là những hợp chất dimer (kết hợp bởi hai phân tử cùng loại bởi nối cộng hóa trị) Một ví dụ về một stilbenoid là resveratrol, được tìm thấy trong Nho và
đã được công nhận có nhiều lợi ích sức khỏe Chất resveratrol trong cây Lá Bép giống như ở cây Nho Kết quả này đã được công bố tại Hội nghị XXIII quốc tế
về polyphenol, Canada, vào năm 2006
- Trong các thí nghiệm ở chuột, khả năng chống ung thư, chống viêm, hạ lượng đường trong máu và mang lại lợi ích tim mạch do tác động của resveratrol đã được báo cáo nói chung là tích cực
- Trong một thử nghiệm ở con người với liều cao (3-5g) resveratrol, trong một công thức thiết kế để tăng cường khả dụng sinh học, lượng đường trong máu hạ thấp đáng kể
- Chất resveratrol trong cây Lá Bép có tính kháng khuẩn và chống hoạt động oxy hóa, được dùng như là một chất bảo quản thực phẩm Loài này có thể
có những ứng dụng trong các ngành công nghiệp thực phẩm mà không sử dụng bất kỳ hóa chất tổng hợp nào
- Bốn chất oligomers stilbene mới, gồm gnemonol G, H, I và J, được phân lập từ chiết xuất acetone của cây Lá Bép (Gnetum gnemon) cùng với năm chất stilbenoids được biết đến là: E ampelopsin, cis-ampelopsin E, gnetin
C, D và E
Trang 27- Ly trích lá khô của cây Lá Bép bằng acetone dưới nước (tỷ lệ 1:1) thu được các chất C -glycosylflavones (gồm isovitexin, vicenin II, isoswertisin, swertisin, swertiajaponin, isoswertiajaponin) Ly trích bào tử khô của cây Lá Bép bằng ethanol 50% thu được C gnetin, gnetin L (một stilbenoid mới), gnemonosides A, C, và D và resveratrol Các chất này có hoạt tính kháng khuẩn và ức chế lipase và α- amylase từ tụy lợn Gnetin C cho thấy hiệu quả tốt nhất giữa các stilbenoids
Ngoài ra, cây lá Bép còn có các các công dụng khác như: Hạt rang lên ăn bùi như Lạc; Vỏ cây có sợi rất dai, chịu được nước biển, nên được dùng làm dây thừng và lưới đánh cá; Gỗ xấu, ít có giá trị, được sử dụng để sản xuất bột giấy ở Indonesia, Malaysia và Hồng Kông; Ở Indonesia người dân dùng gỗ đốt xông khói để đuổi muỗi [15]
1.4.2 Nghiên cứu về khả năng nhân giống
Theo Arumsokar wulandari và Supriyanto (2013) [22] tại học viện Pertanian Bogor Indonesia đã nghiên cứu kĩ thuật để làm tăng sản xuất cây giống với mục đích của nghiên cứu này là áp dụng kĩ thuật tỉa rễ để tăng sản xuất cây giống và có kết luận rằng việc tỉa rễ không ảnh hưởng đến sự phát triển của cây giống Trái lại việc tỉa rễ làm tăng số lượng các nhánh rễ, việc tỉa 50% rễ làm tăng việc sản xuất cây giống có vi khuẩn cộng sinh
Rossa Yunita (2004) nghiên cứu sự nhân lên của cây rau Bép bằng cách
sử dụng công nghệ nuôi cấy mô tế bào Kết quả chỉ ra rằng tác nhân với nồng
độ 0,3 trong môi trường MS có thể làm tăng sự nhân lên của cây rau bép [27]
Theo Rumilac.Bullecer (2011) trường đại học Bohol Island state tại zamora, Bilar, Bohol, Philippines nghiên cứu sự tăng trưởng của các cành chiết cây rau bép với các tác nhân khác nhau Kết luận rằng cây rau bép có thể nhân giống một cách thành công bằng việc sử dụng các cành chiết và các tác nhân kích thích ra rễ [28]
Trang 28Theo Yadi Rusyadi (1995) nghiên cứu sự nhân giống cây rau bép trong ống nghiệm được cho là thu được kết quả nhanh hơn, mô được nuôi cấy trên 2 loại môi trường cơ bản là WPM và Anderson Kết quả thí nghiệm cho rằng môi trường cơ bản của Anderson tốt hơn của WPM, thành phần của môi trường Anderson với BA 0,5mg/l và thidiazuron 0,1 mg/l có hiệu quả cao hơn [29]
Hiện nay, những nghiên cứu về các loài rau hoang dại, rau rừng đã được các nhà khoa học quan tâm, đặc biệt cây lá Bép đã được các nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu bảo tồn, gây trồng, mở rộng sản xuất, chế biến thành phẩm
Ở Việt Nam, cây lá Bép cũng đã được quan tâm nghiên cứu nhưng hiệu quả chưa cao, việc mở rộng sản xuất còn hạn chế, vì vậy cần có sự đầu tư nghiên cứu hơn nữa cho loài cây có giá trị này
1.5 Nghiên cứu về bảo tồn tài nguyên thực vật
Trước đây khi nguồn lâm sản ngoài gỗ đặc biệt là cây rau còn phong phú, người ta ít chú ý đến việc bảo tồn nguồn gen của chúng Đến cuối thế kỷ
XX khi nhận ra rất nhiều loài lâm sản ngoài gỗ đã trở lên khan hiếm, một số loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng nên chúng ta mới bắt đầu chú ý bảo tồn nguồn gen Ở Việt Nam hiện nay quan điểm bảo tồn nguồn gen thường kết hợp với bảo tồn đa dạng sinh học vì nếu bảo vệ được hệ sinh thái, bảo vệ được các loài động thực vật thì cũng bảo vệ được nguồn gen của chúng Hiện nay có 2 hình thức để bảo tồn nguồn gen lâm sản ngoài gỗ là: Bảo tồn nội vi (In situ) và bảo tồn ngoại vi (Ex situ) [6]
Bảo tồn nội vi (Bảo tồn In situ): Là hình thức bảo tồn các hệ sinh thái và những nơi cư trú tự nhiên, duy trì và phục hồi các quần thể loài đang tồn tại trong điều kiện sống tự nhiên của chúng Trong trường hợp các loài được thuần hoá và canh tác, công việc này được tiến hành tại khu vực mà các giống vật nuôi cây trồng đó hình thành nên đặc tính của mình
Trang 29Hiện nay, đối với một bộ phận lớn của đa dạng sinh học trên trái đất, công tác bảo tồn chỉ khả thi khi các loài đó được duy trì trong phạm vi phân
bố cũng như ở trạng tự nhiên của chúng Điều này còn có nhiều ý nghĩa khác như cho phép loài tiếp tục quá trình thích nghi trong tiến hoá và về nguyên tắc đảm bảo cho việc tiếp tục sử dụng các loài (mặc dù điều này đòi hỏi phải
Nước ta nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa; nhiệt độ trung bình năm khác nhau giữa các địa phương; lượng mưa trung bình lớn nhưng phân bố không đều theo vùng lãnh thổ và trong năm
Nhờ có yếu tố về địa hình và khí hậu đa dạng, do vậy nước ta có thảm thực vật phong phú và nguồn cây làm thuốc dồi dào Bảo tồn và phát triển nguồn gien, giống cây làm thuốc là một việc làm cần thiết góp phần tăng nguồn lực chăm sóc sức khỏe nhân dân
Các nhà khoa học đã phát hiện ở nước ta có 3.948 loài thực vật và nấm lớn được dùng làm thuốc, thuộc 307 họ của 9 ngành và nhóm thực vật khác nhau Trong đó có 52 loài tảo biển, 22 loài nấm, 4 loài rêu và 3.870 loài thực vật bậc cao Mỗi loài lại có bộ gien đa dạng riêng của mình Điều này làm cho kho tàng nguồn gien cây thuốc ở Việt Nam vô cùng đa dạng, từ cấp hệ sinh thái đến cấp loài và phân tử
Phần lớn số loài cây thuốc ở nước ta được ghi nhận dựa trên tri thức và kinh nghiệm sử dụng của cộng đồng dân tộc ở khắp các địa phương trên toàn quốc Tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc ở nước ta tồn tại ở nền y học chính là
Trang 30y học cổ truyền chính thống, với các hệ thống lý luận và thực hành được tư liệu hóa trong sách vở như các học thuyết Âm - Dương, Ngũ hành, v.v Các nền y học nhân dân hay y học cổ truyền dân tộc, thường được gọi là thuốc Nam Điều này đã tạo nên một kho tàng tri thức sử dụng cây thuốc của các dân tộc ở nước
ta rất phong phú
Nhận thức được vai trò và tiềm năng của cây thuốc trong công tác chăm sóc sức khỏe, chữa trị bệnh tật và phát triển kinh tế, bảo vệ bản sắc văn hóa các dân tộc, nước ta đã tích cực tham gia và phê chuẩn các công ước quốc tế như Công ước Đa dạng sinh học (1992), Kế hoạch và Hành động đa dạng sinh học (1994) và ban hành nhiều luật và chính sách gắn liền việc chăm sóc sức khỏe nhân dân, phát triển ngành dược và bảo tồn cây thuốc Một trong số đó là việc triển khai nhiệm vụ Bảo tồn nguồn gien và giống cây thuốc của Bộ Khoa học
và Công nghệ và Môi trường từ năm 1988, trước khi có hướng dẫn bảo tồn cây thuốc của Tổ chức Y tế thế giới và chuyển thành Đề án bảo tồn nguồn gien và giống cây thuốc vào năm 1997
Công tác bảo tồn và phát triển giống cây thuốc trong 20 năm qua đã thu được kết quả đáng khích lệ Các địa phương đã hình thành hệ thống bảo tồn cây thuốc rộng khắp, từ vườn thực vật, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên đến các vườn thuốc Nam thiết yếu và vườn hộ tại các cộng đồng Các nguồn gien
và giống cây thuốc cũng như tri thức sử dụng chúng đang được lưu giữ trong các hệ thống bảo tồn trong cả nước có giá trị tiềm năng to lớn Có hàng triệu hộ gia đình ở nước ta thuộc vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa đang hằng ngày sử dụng cây thuốc được trồng trọt và lưu giữ tại các vườn hộ, tại các vườn thuốc Nam thiết yếu cũng như ở thiên nhiên chung quanh nơi sinh sống Các hoạt động bảo tồn như chọn tạo, phục tráng, đột biến gien, nghiên cứu quy trình trồng trọt, v.v đã tạo ra những giống cây thuốc có năng suất và hàm lượng hoạt chất cao, ổn định Điều này tạo nền tảng quan trọng trong việc thực hiện thực hành trồng trọt tốt các cây thuốc, một điều kiện tiên quyết để thực
Trang 31hiện thực hành sản xuất thuốc tốt trong công nghiệp dược, tạo ra các sản phẩm hàng hóa có chất lượng ngày càng cao, bảo đảm hiệu lực điều trị cũng như nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng thuốc và sản phẩm thiên nhiên của nước
ta Mặc dù đã đạt được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng trong công tác bảo tồn nguồn gien phát triển giống cây thuốc, ngành dược đang gặp nhiều khó khăn, cần tháo gỡ
Nhiều nhà khoa học, cán bộ quản lý tham gia Hội nghị tổng kết 20 năm thực hiện nhiệm vụ bảo tồn nguồn gien và phát triển giống cây thuốc, cho rằng: Khung pháp lý cho công tác bảo tồn chưa được kiện toàn một cách đồng bộ Nhiều điều luật, chủ trương, chính sách chưa được cụ thể hóa dẫn đến sự lúng túng trong triển khai công tác bảo tồn cây thuốc, có khi chồng chéo nhau nhưng lại có những lĩnh vực không biết của ngành nào Điều này dẫn đến hậu quả là chúng ta chưa thật sự huy động được các nguồn nhân lực, vật lực và tài lực đầy
đủ cho công tác bảo tồn, cũng như chưa khai thác được các giá trị to lớn của hoạt động bảo tồn mang lại
Nguồn lực tài chính cho công tác bảo tồn và phát triển còn rất hạn chế so với tiềm năng và tầm quan trọng của cây thuốc Lý do chính là chúng ta còn nặng tư tưởng bao cấp, phụ thuộc vào nguồn ngân sách Nhà nước, hoặc nếu muốn cũng chưa biết cách làm; chưa huy động được sự tham gia của khối doanh nghiệp; chưa tạo ra hành lang pháp lý trong việc tạo ra các nguồn ngân sách từ chính các hoạt động bảo tồn và khai thác cây thuốc để phục vụ cho công tác bảo tồn Chúng ta chưa chú ý phát triển và thương mại hóa các loài bảo tồn mà mới chú trọng bảo tồn gien Đội ngũ làm công tác bảo tồn nhìn chung vẫn còn mỏng
và yếu, chưa đáp ứng nhu cầu công tác bảo tồn ngày càng nặng nề trong bối cảnh mới, chưa huy động được sự tham gia của cộng đồng trong công tác bảo tồn, mà dường như mới là hoạt động của các nhà chuyên môn
Theo các nhà khoa học, quản lý trong ngành dược nhiệm vụ trọng tâm của ngành trong thời gian tới cần tiến hành điều tra cơ bản một cách có hệ
Trang 32thống và chắc chắn, hệ thống cây làm thuốc ở nước ta Tiếp tục tổng kết lý luận
và thực tiễn bảo tồn nguồn gien trong thời gian qua để phát triển các lý thuyết
và phương pháp luận bảo tồn cây thuốc trong giai đoạn tới Mở rộng mạng lưới
ra các vùng sinh thái chưa có cơ sở đại diện, ngược lại cắt giảm các đơn vị trùng lặp về vùng sinh thái (thí dụ: Hà Nội chỉ cần một vườn bảo tồn - đại diện cho đồng bằng Bắc Bộ) Xây dựng quy chế hoạt động, phân công nhóm, đối tượng, nhiệm vụ bảo tồn cây thuốc trong các cơ quan thành viên Tập trung nguồn lực bảo tồn những cây có nguy cơ bị tuyệt chủng, hoặc đang bị đe dọa tuyệt chủng, các cây quý hiếm mà không bảo tồn tràn lan, các cây thuốc di thực
đã bị thoái hóa về nguồn gien Xây dựng một đến ba vườn quốc gia cây thuốc quốc gia tại các vùng sinh thái để bảo tồn từ 60 đến 80% số cây thuốc của cả nước Các vườn cây này phải có diện tích đủ lớn (150 - 300 ha) để bảo đảm điều kiện sinh thái và lưu giữ an toàn cây thuốc Vườn cây thuốc quốc gia nên gắn với hoạt động du lịch nhằm có nguồn thu để có thể tồn tại và phát triển lâu dài Tăng cường nghiên cứu cơ bản các nền y học cổ truyền dân tộc Trước mắt tập trung vào các dân tộc có lịch sử lâu đời ở Việt Nam như Thái, Chăm, Khmer, Tày, Nùng, Xây dựng một số thương hiệu sản phẩm từ dược liệu, chỉ dẫn địa lý thông qua sự hợp tác với doanh nghiệp và địa phương
Viện Dược liệu đã nghiên cứu xác định được 134 loài cây thuốc có nguy
cơ tuyệt chủng và nhân trồng được 65 loài ở các vườn dược liệu trên toàn quốc
Viện còn bảo tồn giống một số loài thuốc quý trong ngân hàng hạt, góp phần cứu vãn những quần thể cây thuốc quý còn sót lại trong tự nhiên và mở ra triển vọng tạo thêm nguồn dược liệu
Các nhà khoa học Nguyễn Tập, Phạm Thanh Huyền, Lê Thanh Sơn, Ngô Đức Phương và Ngô Văn Trại ở Viện Dược liệu đã tiến hành khảo sát, thu thập các loài cần được ưu tiên bảo tồn, dựa trên các tiêu chí: loài có ranh giới, phạm
vi phân bố hẹp và số lượng cá thể ít hoặc loài tiêu biểu cho một dòng tiến hóa,
có mức độ khác biệt cao về di truyền
Trang 33Trong số 134 loài được coi là có nguy cơ tuyệt chủng ở nước ta, nhóm nghiên cứu đã phân cấp mức độ ưu tiên theo ba nhóm
Nhóm cực kỳ nguy cấp (CR) có 18 loài như ba gạc hoa đỏ, sâm vũ điệp, bình vôi, hoàng liên
Nhóm nguy cấp (EN) có 42 loài Đa số các loài như sâm Ngọc Linh, mã đâu linh, hoàng tinh vòng vốn không thật hiếm song đã bị khai thác kiệt quệ, nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời chúng sẽ chuyển sang nhóm cực kỳ nguy cấp, 74 loài còn lại được xếp ở dạng sẽ bị nguy cấp (VU) Đó là các loài vốn phân bố phổ biến nhưng bị khai thác tàn phá đến mức nghiêm trọng như
Hà thủ ô đỏ, Đẳng sâm [18]
Từ nhiều năm qua, Viện Dược liệu đã thu thập hơn 500 loài cây thuốc, đem về trồng, nhân giống ở các vườn cây thuốc 65 loài có nguy cơ cao đã được trồng ở Trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Sa Pa (Lào Cai), Vườn trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Vườn Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến thuốc Hà Nội (Thanh Trì), Vườn trung tâm nghiên cứu dược liệu bắc Trung Bộ (Thanh Hóa) và vườn bảo tồn cây thuốc vùng cao Phó Bảng (Đồng Văn - Hà Giang)
Các vườn thuốc này có đủ điều kiện giống như điều kiện sống tự nhiên của chúng và lý lịch thu thập, ngày trồng, tình hình sinh trưởng phát triển, ra hoa - quả được ghi lại để đánh giá khả năng bảo tồn
Ghi nhận của các nhà khoa học là 90% số loài thích nghi, sinh trưởng tốt Mùa hoa quả của chúng trùng với cây mọc ngoài tự nhiên Nhiều cây đã cho hạt giống và tạo ra các thế hệ tiếp theo Hạt giống của nhiều loài như ba gạc, hoàng liên gai, hoàng liên ô rô được bảo quản trong ngân hàng hạt
Song song với việc bảo tồn nguồn gen quý, các nhà khoa học ở Viện Dược liệu chủ trương mở rộng phát triển và khai thác sử dụng, đưa vào nhân giống một số loài tại nơi chúng phân bố Tam thất hoang, sì tô được trồng ở Sa
Pa (Lào Cai), ngũ gia bì hương trồng ở Hà Giang, Lào Cai Sâm Ngọc Linh
Trang 34phân bố ở một điểm duy nhất là núi Ngọc Linh (Quảng Nam và Kon Tum) đã
bị khai thác hết trong tự nhiên
Ở Việt Nam, khoảng 30% người được chữa khỏi bệnh nhờ cây thuốc Tuy nhiên, theo cảnh báo của các nhà khoa học, trữ lượng cây thuốc quý đang ngày càng giảm sút Nếu nước ta không có chiến lược bảo tồn, trong thời gian không xa, rất nhiều cây thuốc quý sẽ biến mất
Có thể khẳng định, giá trị và lợi nhuận mà cây thuốc đem lại rất lớn ở
Mỹ mỗi năm lợi nhuận thu được từ cây thuốc khoảng 1,5 tỷ USD Ở Trung Quốc, chỉ riêng việc xuất khẩu cao Đơn hoàn tán cũng đem lại doanh thu khoảng 2 tỷ USD/năm Còn ở Việt Nam, hiện vẫn chưa có số liệu thống kê nào
về lĩnh vực này Nhưng với 30% người bệnh được khám chữa nhờ Đông y và chủ yếu bằng cây thuốc cũng đủ thấy giá trị to lớn của nó
Thống kê chưa đầy đủ của Viện Dược liệu (Bộ Y tế) cho thấy, hiện nước
ta có khoảng 3.800 loài thực vật có thể làm thuốc Trong đó có những loại quý
mà nền y học thế giới rất cần như: Hoàng liên, Hoàng tinh, Bách hợp, Tiền hồ, đặc biệt là giống Sâm thuộc loại chi Pinax Ngoài lợi ích về kinh tế, xã hội, cây thuốc còn mang lại giá trị không thể tính được về sinh thái và môi trường Tuy nhiên, do bị khai thác tràn lan với số lượng lớn, mỗi loại hàng chục nghìn tấn/năm, nên số lượng và trữ lượng cây thuốc ngày càng giảm sút Theo điều tra của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, riêng những người hành nghề y dược tư nhân đã sử dụng trên 20.000 tấn dược liệu/năm Ngành công nghiệp dược, mỹ phẩm, hương liệu mỗi năm cũng cần nguồn nguyên liệu tương đương Ngoài ra, hàng trăm doanh nghiệp xuất khẩu đã góp phần làm giảm 10.000 tấn cây thuốc/năm Chính vì vậy, một loạt cây thuốc có giá trị như Bình vôi, Tiết nhân sâm, Cỏ nhung, Thạch hộc đã và đang cạn kiệt Báo động đỏ
về số lượng và nguồn gen cây thuốc cũng được nhiều thành viên Hội Đông y Việt Nam lên tiếng Hiện tại, số lượng các loại cây thuốc quý chỉ còn ở con số hàng chục, điều này thể hiện ngay trong các vườn cây thuốc Nam ở các trạm y
tế xã, nơi được coi là đầu mối lưu giữ nguồn cây quý
Trang 35Theo giới khoa học, nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên vẫn là sự kém hiểu biết và tình trạng khai thác tràn lan, bất hợp lý Chúng ta chưa có kế hoạch hợp lý để vừa phát triển sản xuất mà vẫn sử dụng lâu bền nguồn tài nguyên đó Mặt khác, công tác nghiên cứu gen, nhất là nguồn gen cây thuốc ở nước ta còn yếu Ngay như Viện Dược liệu, do nhiều nguyên nhân nên đến nay, mới chỉ thu thập được khoảng 100 loại gen cây thuốc
Phải làm gì để bảo tồn nguồn gen cây thuốc? Không có cách nào khác là những bài học xưa cũ: Vận động, tuyên truyền người dân có ý thức bảo vệ cây thuốc Đặc biệt là cần sớm lập ngân hàng gen và một khung pháp lý cụ thể cho nguồn gen thực vật nói chung và nguồn gen cây thuốc nói riêng
Tầm quan trọng của bảo tồn đa dạng sinh học:
Các lý do của việc bảo tồn đa dạng sinh học được đặt ra từ nhiều góc độ khác nhau và tuỳ thuộc vào các yếu tố văn hoá và kinh tế Các mục tiêu bảo tồn khác nhau có các đối tượng và quy mô được bảo tồn khác nhau Trong số những mục tiêu đó có thể kể đến:
- Phục vụ cho mục đích sử dụng trong hiện tại và tương lai các nhân tố của đa dạng sinh học như các nguồn tài nguyên sinh học
- Phục vụ cho việc duy trì sinh quyển trong trạng thái có thể hỗ trợ cho cuộc sống con người
- Phục vụ bảo tồn bản thân đa dạng sinh học mà không vì một mục đích nào khác, đặc biệt tất cả các loài đang sống hiện nay
Đa dạng sinh học là một nguồn tài nguyên:
- Đa dạng sinh học (Biodiversity) bao gồm cả sự đa dạng của các dạng sống, vai trò sinh thái mà chúng thể hiện và đa dạng di truyền (Genetic Diversity) mà chúng có Nói đến đa dạng sinh học và các hệ sinh thái, không thể không kể đến các hệ sinh thái rừng, bởi vì chúng đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác bảo vệ đa dạng sinh học
Trang 36- Đa dạng sinh học phải được coi như là nguồn tài nguyên toàn cầu và bảo tồn đa dạng sinh học phải là nhiệm vụ cấp bách của toàn cầu, toàn nhân loại
Có 3 lý do chính để cho công tác này trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết là:
- Con người đang phá hoại môi trường sống với một số độ báo động, đặc biệt là ở vùng nhiệt đới
- Khoa học đang phát hiện ta những tiềm năng sử dụng mới của đa dạng sinh học mà để khai thác tiềm năng đó, đôi khi nó lại gây hại cho môi trường
- Một phần khá lớn của sự đa dạng bị mất đi bằng con đường tuyệt chủng
mà cũng không thể nào có thể tái tạo lại được do bởi môi trường sống đang hủy hoại nghiêm trọng
Cần phải có một chính sách bảo tồn và phát triển phù hợp để đa dạng sinh học nguồn tài nguyên quý giá đó của nhân loại còn có thể tiếp tục tồn tại cho hôm nay và cho các thế hệ tương lai
Rõ ràng là đa dạng sinh học ở một mức độ nào đó có vai trò quan trọng trong việc cung cấp cơ sở vật chất cho cuộc sống con người: ở mức độ này, nó duy trì sinh quyển như một hệ thống chức năng, ở một mức độ khác, nó cung cấp các vật liệu cơ bản cho nông nghiệp và và nhu cầu thiết thực khác [13]
Trang 37Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, sinh vật học, khai thác, sử dụng,
nhân giống và bảo tồn cây rau lá Bép (Gnetum Gnemon L)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp điều tra
2.2.1.1 Điều tra về đặc điểm sinh thái, sinh vật học
- Để nghiên cứu đặc điểm sinh học của cây lá Bép, chúng tôi sử dụng theo
phương pháp của Hoàng Chung (2008) [7] và Nguyễn Nghĩa Thìn (2008) [19]
- Đo cường độ chiếu sáng bằng máy MC-88 Light Meter (TPS)
- Đo độ ẩm đất, độ pH bằng máy Soil pH and Moisture Tester (Model DM-15)
- Đối với mẫu đất: Các mẫu đất lấy theo phương pháp điểm, vào ngày nắng tại các trạng thái thảm thực vật có cây lá Bép
2.2.1.2 Điều tra về quá trình khai thác và sử sụng cây lá Bép
- Phương pháp điều tra phỏng vấn: Sử dụng phương pháp điều tra
nhanh nông thôn (RRA) kết hợp với phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (PRA) để thu thập kiến thức bản địa về gây trồng, chăm sóc, thu hái và sử dụng cây lá Bép
2.2.2.3 Phương pháp nhân giống
* Phương pháp thí nghiệm nhân giống bằng gieo hạt cây lá Bép [14], [20]
- Nguồn giống:
Chọn cây mẹ thân thẳng, tròn, đường kính từ 10mm - 15mm có đoạn thân dưới cành dài, tán lá đều, không bị sâu bệnh Hàng năm, mùa quả chín vào cuối tháng 9 dương lịch Quả thường chín rải rác, khi phần lớn quả có vỏ chuyển màu đỏ, bóp nhẹ thấy quả mềm thì thu hái Quả hái về ủ 1-2 ngày cho
Trang 38chín đều rồi ngâm vào nước, chà xát, đãi loại bỏ hết vỏ và thịt quả để lấy hạt Phơi hạt 1-2 ngày trong nắng nhẹ rồi đem gieo hoặc cất trữ trong chum vại theo cách bảo quản khô thông thường
- Làm đất gieo:
Chọn đất cát pha nhẹ, mịn để lên luống, mặt luống rộng 1m, dài 2m, gờ luống cao 15 - 20 cm, tưới nước cho đất đủ ẩm để gieo hạt Khử trùng đất trước khi gieo hạt 1 ngày bằng Benlat (6g Benlat hòa tan trong 10 lít nước phun đều cho 100 m2)
- Xử lý hạt giống và gieo hạt:
Hạt giống trước khi gieo được ngâm trong thuốc tím (KMnO4) nồng độ 0,05% trong 10 phút, sau đó vớt ra rửa sạch và tiến hành thí nghiệm bằng 2 phương pháp sau:
+ Phương pháp 1: Tiếp tục xử lý hạt trước khi gieo bằng 3 công thức:
CT 1: Gieo ngay lên luống đất
CT 2: Ngâm trong nước lã 10 giờ, rồi mới đem gieo
CT 3: Ngâm trong nước ấm 400C 10 giờ, rồi mới đem gieo
+ Phương pháp 2: Tiến hành gieo hạt với các độ dày khác nhau của lớp đất vùi hạt, tương ứng với 4 công thức
CT 1: Vùi hạt dưới lớp đất dày 15 mm
CT 2: Vùi hạt dưới lớp đất dày 5 mm
CT 3: Vùi hạt dưới lớp đất dày 2 mm
CT 4: Cắm ½ hạt vào đất
- Chăm sóc luống ươm:
+ Tưới ẩm: Hai ngày tưới 1 lần, đảm bảo ẩm độ 70 đến 80%
+ Điều chỉnh ánh sáng: Che phủ ánh sáng từ 70 đến 80%
* Phương pháp thí nghiệm nhân giống bằng giâm hom cây lá Bép [1],
[8], [9], [20]
Trang 39- Chọn hom và tiến hành cắt hom:
Tiến hành cắt hom vào buổi sáng, khi trời mát là tốt nhất Nên chọn những cành bánh tẻ (không già quá và không non quá) để cắt làm hom giống, dùng dao sắc cắt chéo góc 450 thành các đoạn hom sao cho vết cắt không được dập nát, mỗi đoạn hom có khoảng 2-3 đốt (khoảng 20-30cm), sau đó cắt hết lá
ở phía gốc hom rồi cho ngay vào sô nước sạch để cho hom khỏi bị héo, nên cắt gần sát mắt gốc để hom dễ ra rễ Sau khi cắt hom, các hom giống được di chuyển đến vườn ươm
- Làm đất vườn ươm:
Tùy theo các nghiệm thức thí nghiệm, chọn loại giá thể khác nhau để lên luống, mặt luống rộng 1m, dài 2m, gờ luống cao 15 - 20 cm để tránh ngập úng, rãnh luống từ 40-50cm để dễ dàng đi lại, tưới nước cho đất đủ ẩm để gieo hạt Khử trùng đất trước khi gieo hạt 1 ngày bằng Benlat (6g Benlat hòa tan trong
10 lít nước phun đều cho 100 m2)
- Xử lý hom và tiến hành giâm hom:
Trước khi giâm hom, tiến hành cắt tỉa bớt phần lá phía ngọn của hom, chỉ để lại 2-3 lá, mỗi lá cắt bỏ đi ½ diện tích lá, sau đó ngâm hom trong thuốc tím (KMnO4) nồng độ 0,05% trong 10 phút rồi vớt ra rửa sạch Tùy theo các nghiệm thức khác nhau, chúng tôi tiến hành ngâm hom trong các loại hóa chất kích thích ra rễ IBA, NAA, IAA trong thời gian 30 phút, mỗi loại hóa chất chúng tôi lại thử nghiệm với các nồng độ khác nhau, rồi tiến hành cắm hom xuống luống ươm đã chuẩn bị sẵn
Khi cắm hom xuống luống ươm, cần chú ý cắm dứt khoát, cắm ngập xuống luống từ 10-15cm, sau đó lấy tay ấn nhẹ đất xung quanh gốc cho vừa đủ
độ chặt, tránh cây bị lay gốc
- Chăm sóc luống ươm:
+ Tưới ẩm: Tùy vào giai đoạn ta tiến hành cung cấp nước khác nhau