Nói cách khác, phân môn Tập làm văn góp phần thực hiện mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc dạy học và học Tiếng Việt là dạy học sinh sử dụng Tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt, trong
Trang 1A- Đặt vấn đề:
I/- Mở đầu:
1- Nhân loại đã bớc vào thế kỷ XXI, một thế kỷ sẽ tiếp tục có nhiều biến
đổi to lớn, khoa học và công nghệ sẽ có bớc tiến nhảy vọt, kinh tế, tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lợng sản xuất, toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan lôi cuốn ngày càng nhiều nớc tham gia Sự tranh chấp quốc tế trên tất cả các lĩnh vực ngày càng gay gắt Phân tích tình hình trong nớc và thế giới khi bớc vào thế kỷ XXI đại hội IX của Đảng đã xác định:
"Con đờng công nghiệp hoá - hiện đại hoá của đất nớc ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bớc tuần tự, vừa có những bớc nhảy vọt Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh trí tuệ của ngời Việt Nam; coi phát triển giáo dục
và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá".
Mặt khác, sự công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc và những thách thức của hội nhập quốc tế đòi hỏi chúng ta phải khẩn trơng đổi mới giáo dục - đào tạo, trong đó có đổi mới chơng trình dạy học bao gồm cả đổi mới về nội dung và
ph-ơng pháp dạy học Thực hiện chủ trph-ơng đúng đắn đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã
và đang triển khai đổi mới chơng trình dạy học và cấp học nói chung, chơng trình Tiểu học nói riêng Chính vì vậy, việc soạn thảo chơng trình Tiểu học mới góp phần chuẩn bị lớp ngời phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc
và hội nhập quốc tế đầu thế kỷ XXI là vô cùng cần thiết
Xu thế phát triển chơng trình và đổi mới quan niệm về sách giáo khoa của giáo dục phổ thông trong khu vực và trên thế giới đòi hỏi phải khẩn trơng điều chỉnh cách soạn thảo chơng trình và biên soạn sách giáo khoa ở chơng trình phổ thông nói chung và Tiểu học nói riêng Theo lối trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI
do UNESCO đề xớng là: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học
để tự khẳng định mình
2- Nh chúng ta đã biệt, môn Tiếng Việt ở Tiểu học là một trong những môn
học giữ vị trí vô cùng quan trọng Mục tiêu chính của môn Tiếng Việt ở Tiểu học nhằm:
Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe -nói - đọc - viết) để học sinh học và giao tiếp trong các môi trờng hoạt động của lứa tuổi Thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của t duy
Trang 2Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội tự nhiên, về con ngời, về văn hoá, văn học Việt Nam và nớc ngoài
Bồi dỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con ngời Việt Nam xã hội chủ nghĩa
Môn Tiếng Việt ở trờng Tiểu học đợc chia thành nhiều phân môn nh: Tập
đọc, tập viết, chính tả, kể chuyện, luyện từ và câu, tập làm văn Mỗi phân môn đều
có mục đích và nhiệm vụ riêng của nó song đều có một điểm chung là hình thành
và phát triển bốn kĩ năng: nghe - nói - đọc - viết Thông qua hoạt động giao tiếp cho học sinh, riêng phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt trong dạy học Tiếng Việt xét trên hai phơng diện
- Phân môn Tập làm văn tận dụng các hiểu biết và kĩ năng về Tiếng Việt do các phân môn khác rèn luyện và cung cấp, đồng thời góp phần hoàn thiện chúng
Để làm đợc một bài văn nói hoặc viết, ngời làm phải hoàn thiện cả bốn kỹ năng: nghe - nói - đọc - viết, phải biết vận dụng các kiến thức về Tiếng Việt
- Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinh văn bản Nhờ vậy, Tiếng Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc đợc xem xét từng phần, từng mặt, qua từng phân môn và trở thành công cụ giao tiếp t duy, học tập Nói cách khác, phân môn Tập làm văn góp phần thực hiện mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc dạy học và học Tiếng Việt là dạy học sinh sử dụng Tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt, trong quá trình lĩnh hội các tri thức, khoa học Tập làm văn là thớc đo đánh giá kết quả học tập và giảng dạy phân môn khác
Để làm đợc một bài văn hay theo đúng nghĩa là một văn bản sản sinh một nhân cách có sáng tạo là rất khó Học sinh phải nắm chắc các kiến thức về thể loại, hệ thống các kĩ năng phân tích các vấn đề, tím ý, lập dàn ý Đặc biệt kiến thức về các kiểu bài tập làm văn, không chỉ dừng lại ở việc nắm vững từng thể loại văn mà học sinh cần phải có vốn văn học điều đó phải đợc tích luỹ trong quá trình lĩnh hội tri thức của từng phân môn cùng với khả năng quan sát tinh tế, giàu trí t-ởng tợng, giàu t duy hình tợng, vốn từ phong phú và điều quan trọng là các em đợc nói, đợc viết, đợc nhận xét và đánh giá kết quả
Kết quả học tập của học sinh phản ảnh chất lợng của một nền giáo dục Muốn đạt đợc kết quả học tập cao, học sinh học tốt thì trớc hết ngời giáo viên phải dạy tốt Trên cơ sở tìm tòi, nắm vững nội dung chơng trình, mục tiêu đào tạo, ngời giáo viến phải biết tổ chức, hớng dẫn và có phơng pháp dạy học, biết tìm tòi, sáng
Trang 3tạo hình thức tổ chức và phơng pháp dạy học thích hợp để hớng cho học sinh biết cách học và tự học tốt để lĩnh hội, chiếm lĩnh tri thức
Nhận thức rõ tầm quan trọng của phân môn Tập làm văn, đồng thời phấn
đấu hoà nhập với sự đổi mới chung của ngành giáo dục Bản thân không ngừng tìm tòi, sáng tạo, phát huy hết khả năng của chính minh nhằm nâng cao chất lợng dạy học Chính vì thế tôi quyết định chọn đề tài:
"Một số biện pháp dạy Tập làm văn lớp 3"
II/- thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
1- Thực trạng:
Việc nghiên cứu đề tài: "Một số biện pháp dạy Tập làm văn lớp 3" để thấy
sự thay đổi so với chơng trình 165 tuần cả về nội dung, cấu trúc và phơng pháp giảng dạy, đồng thời có sự thay đổi so sánh giữa các lớp trong cùng một chơng trình để thấy đợc tính liên tục và sự kế thừa của các nội dung Tiếng Việt ở các lớp Tiểu học Từ đó thấy đợc những u điểm, những bất hợp lí (nếu có) của bộ sách Tiếng Việt lớp 3 - chơng trình 2000 và đề ra phơng pháp dạy học phù hợp với mục
đích, yêu cầu của từng bài học Từ đó nhằm nâng cao chất lợng và hiệu quả dạy và học Tập làm văn ở trờng Tiểu học, thực hiện mục tiêu giáo dục đã đề ra "Đào tạo con ngời phát triển toàn diện"
Để việc dạy học tập làm văn có hiệu quả cần phải sử dụng các phơng pháp dạy học phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, các phơng pháp đặc trng của môn học Phơng pháp thực hành giao tiếp (nghe - nói - đọc - viết) trong các tình huống gia tiếp cụ thể
ở giai đoạn một - lớp 1, 2, 3 yêu cầu:
- Đọc thông thạo hiểu đợc một văn bản ngắn
- Viết rõ ràng và đúng chính tả
- Nghe và nói chủ động, rành mạch
Với môn tập làm văn chủ yếu yêu cầu học sinh thực hành ngôn ngữ bằng chữ (thực hành ngôn ngữ viết), viết đoạn văn, viết văn bản và thực hành ngôn ngữ bằng lời (thực hành ngôn ngữ nói) gồm các hình thức luyện tập, luyện nghe, luyện nói, tập nói trong các hình thức giao tiếp, trong giờ tập làm văn nói
Trang 4Phân môn tập làm văn lớp 3 vẫn tiếp tục học một số kiểu bài của chơng trình CCGD và thêm nhiều kiểu bài mới để phù hợp với mục tiêu đã đề ra và xu h-ớng phát triển của học sinh Nội dung, kiến thức của các kiểu bài tập làm văn lớp
3 chơng trình mới đợc cung cấp thông qua hệ thống các bài tập chứ không phải một đề bài cụ thể nh chơng trình CCGD
Khi thực hiện các kiểu bài tập làm văn lớp 3 chơng trình 2000, tôi thấy
điểm nổi bật của các kiểu bài đều hớng học sinh vào trung tâm Trong các tiết học, giáo viên vẫn giữ đúng vị trí của ngời tổ chức, hớng dẫn các hoạt động giao tiếp cũng nh các trò chơi đóng vai (giờ học trả lời câu hỏi theo mẫu cho sẵn, tập giới thiệu về mình ) của học sinh Vì thế thông qua các hoạt động giao tiếp, hình thành ở học sinh tính bạo dạn, huy động ở học sinh vốn ngôn ngữ sáng tạo, luyện
kỹ năng nói, viết, kỹ năng sản sinh văn bản đáp ứng mục tiêu của môn học đề ra
2- Kết quả, hiệu quả của thực trạng trên:
Từ thực trạng trên đối tợng khảo sát của tôi là học sinh lớp 3A - trờng Tiểu học Hải Thanh B do tôi phụ trách và trực tiếp giảng dạy
Đây là lớp học 5 buổi/tuần và học theo chơng trình mới Toàn lớp tôi có 31 học sinh, trong đó có 16 em nam và 15 em nữ
Vào đầu năm học 2005-2006, tôi thấy nhìn chung chất lợng học sinh còn yếu, cha cao Đặc biệt là môn tập làm văn, học sinh cha biết viết đủ ý trong câu, ngắt nghỉ cụm từ trong câu, dùng từ còn tối nghĩa, chữ còn xấu
Từ tình hình thực tế này tôi đã tạo ra một thế chủ động Tôi bắt tay ngay vào việc để có biện pháp lựa chọn phơng pháp giảng dạy, truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm thực hành cho học sinh
Tôi bắt đầu kiểm tra phân loại học sinh Qua khảo sát điều tra đối tợng cụ thể cho thấy:
Viết không biết ngắt nghỉ cụm từ trong câu 7 22,6
Trang 5Dùng từ tối nghĩa trong câu 6 19,5
B- Giải quyết vấn đề I/- Các giải pháp thực hiện dạy học tập làm văn lớp 3:
Hiện nay việc dạy các kiểu bài tập làm văn lớp 3 đợc thiết kế thành một số giải pháp chung nh sau:
1- Giải pháp thứ nhất: Là hớng dẫn học sinh làm bài tập tức là trong một
giờ tập làm văn lớp 3 đều đi vào thực hành một là nói, hai là viết Không có tiết cung cấp lý thuyết mà chỉ qua thực hành học sinh tự rút ra những điều cần nhớ -cần biết Vì vậy chơng trình lớp 3 mới lại có rất nhiều dạng bài tập khác nhau
Xét theo kĩ năng đợc rèn luyện có các loại sau: Bài tập về kỹ năng phục vụ học tập và đời sống hàng ngày nh điền vào các từ in sẵn, viết th, làm đơn, tổ chức họp và phát biểu trong cuộc họp, giới thiệu hoạt động của tổ, lớp và trờng, ghi chép sổ tay bài tập kể chuyện (kể về một sự việc đơn giản) và bài tập miêu tả (tả sơ lợc về ngời và vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh, bằng câu hỏi)
Xét theo mục đích có các loại bài tập sau: bài tập nhận diện, bài tập phân tích lới nói, bài tập tạo lập lời nói qua các bài tập mà các em nghe - hiểu đợc ý kiến của bản, có thể nêu ý kiến bổ sung nhận xét
Xét về hình thức của bài tập có các loại bài tập sau: Trả lời câu hỏi, quan sát tranh và trả lời câu hỏi, đọc văn bản - trả lời câu hỏi
Kể lại chuyện đã học hoặc đã đợc nghe, nói và viết theo mẫu cho sẵn nói và viết theo tình huống giao tiếp, kể hoặc tả theo yêu cầu
Những bài tập đã có, nhng làm sao để có cách hớng dẫn học sinh làm bài tập? Vì vậy ngời giáo viên phải:
Giúp học sinh nắm vững yêu cầu của bài tập (bằng câu hỏi, bằng lời giải thích), chẳng hạn bài yêu cầu ta làm gì? Giáo viên giải thích cụ thể
Ngời giáo viên còn giúp các em học sinh chữa một phần của bài tập hay làm mẫu hoặc hớng dẫn chi tiết cụ thể (một học sinh làm mẫu trên bảng lớp hoặc cả
Trang 6lớp làm bài vào vở hay bảng con) Qua đó, giáo viên quan sát, uốn nắm cho học sinh
Ngoài ra giáo viên phải là ngời tổ chức cho học sinh trao đổi, nhận xét về kết quả, rút ra những điểm ghi nhớ về tri thức
2- Giải pháp thứ hai: Là phải đánh giá kết quả thực hành, luyện tập ở lớp
và hớng dẫn hoạt động nối tiếp (ở ngoài lớp sau tiết học) Hớng dẫn học sinh nhận xét kết quả của bạn, tự đánh giá kết quả của bản thân trong quá trình luyện tập Giáo viên tóm tắt, nhận xét chung (cần khen nhiều, biểu dơng những em tốt) Yêu cầu, hớng dẫn học sinh thực hiện những hoạt động tiếp nối nhằm củng cố kết quả thực hành luyện tập ở lớp (viết bài ở nhà, thực hành giao tiếp ngoài lớp học, sử dụng kỹ năng đã học và thực tế cuộc sống)
Qua hai biện pháp trên, tôi thấy cái mới của chơng trình nội dung và biện pháp chính là: Bài làm rất cụ thể, với đề tài nào là đa các em thực hành luôn mà học sinh lại nắm đợc và hiểu bài Giáo viên là ngời hớng dẫn, tổ chức hoạt động học của học sinh Tuy nhiên trong khi hớng dẫn học sinh kể nếu có em gặp lúng túng vì quên chuyện thì giáo viên có thể nhắc nhẹ nhàng để các em có thể nhớ lại Nếu có em kể thiếu chính xác thì giáo viên cũng không nên ngắt lời mà chỉ nhận xét khi các em kể xong
Giáo viên phải động viên, khuyến khích các em kể tự nhiên, hồn nhiên nh là
kể trong gia đình, với bạn bè Loại văn này đối với học sinh lớp 3 yêu cầu sáng tạo
là kể một cách tự nhiên, lời kể đơn giản, sống động Biết dựa vào chuyện trong chừng mực vừa thêm cụ thể Các em chỉ cần kể với những tình tiết, nhân vật nguyên bản Không khuyến khích học sinh thay những từ ngữ đợc chọn rất chính xác bằng từ ngữ khác, không coi việc học sinh kể học thuộc lòng là thiếu sáng tạo,
kể một cách sinh động nh sống với câu chuyện
Ví dụ: Kể lại một việc tốt em đã làm để bảo vệ môi trờng.
Giáo viên phải gợi ý: Trớc hết các em phải kể cho các bạn cùng nhóm: Ai
đã có việc làm giống bé Thu trong đoạn bài kết bài? Ai có việc làm khác để chăm sóc, bảo vệ con vật, cây cối, để giữ cho nhà, cho phố sạch sẽ?
Trang 7Giáo viên hớng dẫn chia nhóm và kể cho nhau nghe việc đã làm (gợi ý: Sự việc bắt đầu nh thế nào? Xảy ra ở đâu? lúc nào? diễn biến ra sao? Kết thúc thế nào? )
Nếu học sinh lúng túng cha tìm ra đợc việc bản thân đã làm để bảo vệ môi trờng Giáo viên đa ra một số tranh
Với những biện pháp trên thì học sinh sẽ làm tốt hơn và đầy đủ, giáo viên phải quan sát nhiều hơn
Để đánh giá đợc bài văn kể chuyện lớp 3 thì cách đánh giá kết quả thực hành luyện tập không chỉ phải có giáo viên mà chính bản thân học sinh cùng tham gia
II/- Các biện pháp để tổ chức thực hiện dạy các kiểu bài tập làm văn lớp 3:
1- Biện pháp dạy văn kể chuyện:
Theo chơng trình cải cách giáo dục biện pháp dạy văn kể chuyện là:
- Cho học sinh đọc nhiều lần câu chuyện phải kể Nhớ kỹ những nhân vật chính và chi tiết nổi bật
- Tóm tắt ngắn gọn nội dung câu chuyện
- Dựa vào câu hỏi để kể theo trình tự câu chuyện, hoàn cảnh xảy ra câu chuyện diễn biến và kết thúc câu chuyện
- Liên kết các đoạn văn thành bài văn trọn vẹn diễn ý bằng lời văn của chính mình
Chơng trình 2000 có sự thay đổi Giáo viên là ngời tổ chức điều khiển hoạt
động học của học sinh theo các biện pháp dạy học sau:
- Giúp học sinh nắm đợc yêu cầu của bài và gợi ý theo câu hỏi sách giáo khoa (giáo viên viết lên bảng lớp những câu hỏi gợi ý làm điểm tựa cho học sinh nhớ chuyện)
+ Truyện tên là gì?
+ Truyện có những ai?
+ Diễn biến ra sao?
+ Kết quả thế nào?
Trang 8- Học sinh dựa vào đó để kể lại bằng lời của mình.
- Học sinh viết bằng những lời mình kể ở trên thành một đoạn văn đúng về nội dung và nghữ pháp, có mối quan hệ và ý để tạo một đoạn văn thống nhất
2- Biện pháp dạy văn miêu tả:
Chơng trình cải cách giáo dục dạy theo các biện pháp:
- Vận dụng các giác quan kết hợp với tởng tợng và liên tởng để quan sát (hình dáng, màu sắc, tên gọi ) hoàn cảnh xuất hiện Chú ý tới các đặc điểm của vật đó
- Nêu rõ mối quan hệ với con ngời
- Trả lời câu hỏi và sắp xếp bài văn cho mạch lạc
Chơng trình 2000 cũng dạy theo biện pháp đó nhng ngời giáo viên phải chú
ý hớng dẫn một cách thống nhất mà trọn vẹn nhất là quan sát tranh các em nhìn thấy gì nói vậy Làm sao cho các hình ảnh có trật tự đan xen lẫn nhau
Cái khác thứ hai là hớng dẫn học sinh chia nhóm, từng em trình bày bài nói cho các bạn nghe và góp ý trớc lớp để giáo viên và các ban nhận xét Cần chú ý học sinh giúp các em biết cách dùng từ ngữ gợi tả và hình ảnh so sánh để miêu tả những gì các em định nói, viết bớc đầu các em đợc bộc lộ suy nghĩ tình cảm của bản thân đối với những gì em tả
Văn miêu tả đợc đánh giá kết quả luyện tập thực hành của các em cần phải dựa vào bài làm cụ thể Đó là sản phẩm của quá trình của các em tả, suy nghĩ những gì nó đợc thể hiện Vì vậy cần phải nhận xét một cách chính xác, rõ ràng
Đối với văn miêu tả chơng trình 2000 khác hơn chơng trình cũ đó là đề bài quan sát tranh và trả lời câu hỏi ở chơng trình cũ chỉ có một đề, một tranh chung cho cả lớp Nhng chơng trình 2000 thì phát triển t duy khác hơn, rộng hơn cho các
em tự do về tranh ảnh mà mình thích không ai giống ai Tranh do các em tự chọn
Ví dụ: Chơng trình cũ: Quan sát tranh và trả lời câu hỏi: "Cây dừa nhà em"
thì buộc học sinh tả thân, cành, lá Từng bộ phận của cây dừa Còn chơng trình
2000 thì sao? Nói về cảnh đẹp đất nớc quê hơng Mỗi em một tranh và nói những điều có trong tranh ảnh
Trang 9Cái hay, cái mới là vậy nhng ngời giáo viên phải biết kết hợp các biện pháp lại với nhau để có một bài văn miêu tả hay
3- Biện pháp dạy văn viết th:
Đây là một kiểu văn mới đối với học sinh lớp 3 chơng trình 2000 Vì vậy biện pháp dạy học chủ yếu là hớng dẫn ngay vào luyện tập, thực hành qua cách giới thiệu bài tập đọc đã học giáo viên hớng dẫn gợi ý
- Dòng đầu th em viết nh thế nào? (Nơi gửi, ngày tháng năm ) giáo viên hớng dẫn học sinh đa ra cụ thể
- Em sẽ viết th gửi ai? (Ông bà, anh chị, bạn bè ) em viết lời xng hô với ngời thân nh thế nào để thể hiện thái độ đúng mực? (học sinh tự nêu cụ thể) Giáo viên cần lu ý cách xng hô đối với ông bà khác với bạn bè Đối với ngời thân cần phải xng hô bộc lộ tình cảm quý mến và sự kính trọng Đối với ban bè cần bộc lộ tình cảm và sự thân mật
Trong phần nội dung, em sẽ hỏi thăm điều gì? Muốn báo tin cho ngời nhận th? Ví dụ: (Thăm hỏi sức khoẻ, báo tin gì đó, hay kể lại một việc làm gì của mình)
Cuối th em chúc ngời thân điều gì? muốn báo tin gì cho ngời thân? kết thúc lá th em viết những gì? (lời chào - ký tên, học sinh tự nêu nôi dung cụ thể)
Ngoài những việc viết th giáo viên còn phải hớng dẫn các em ghi phong bì
th, góc bên trái phía trên ghi gì? góc bên phải phía dới ghi gì?
Giáo viên hớng dẫn cho các em, nếu em nào yếu, kém, giáo viên cần theo dõi hớng dẫn giúp đỡ Sau khi học sinh viết xong giáo viên cho vài em xung phong đọc trớc lớp để nhận xét, rút kinh nghiệm chung
Bài đánh giá kết quả thực hành luyện tập ở lớp của bài văn viết th cần phải:
- Hình thức trình bày cần đúng và đẹp (Vị trí ghi ngày, tháng, lời xng hô, lời chào )
Từ ngữ diễn đạt đúng ý và thể hiện thái độ kính trọng với ngời trên, đặt câu
đúng ngữ pháp, viết đúng chính tả
Đối với yêu cầu đánh giá của bài văn viết th lớp 3 tôi thấy có nhiều u điểm Qua đây học sinh có thể viết một bức th ngắn cho ai đó mà chơng trình cũ cha có Mặc dù đa vào lớp 3 nhng rất phù hợp với lứa tuổi, viết th không yêu cầu nhiều về nôi dung mà hình thức là chủ yếu
4- Biện pháp dạy văn thuyết minh:
Trang 10Đây là biện pháp quan trọng nhất đối với mục tiêu mà chơng trình 2000 đặt
ra Biện pháp ở đây là đợc thông qua nhiều bài học mang tính tình huống, phù hợp với nhiều tình huống mang tính tự nhiên Các kỹ năng giao tiếp cùng đòi hỏi cao dần về mức độ, chẳng hạn nh từ yêu cầu đọc trơn (lớp 1) nâng dần lên đọc thầm rồi đọc lớt nắm ý Đó là từ yêu cầu giao tiếp đơn giản nâng cao lên yêu cầu giao tiếp chính thức
Cũng nh văn viết th, viết đơn, biện pháp dạy học đa các em vào thực hành ngay
Thứ nhất là giáo viên cho học sinh xác định rõ nội dung hay chủ đề giao tiếp
Ví dụ: Em cùng các bạn trong tổ tổ chức một cuộc họp Nội dung cuộc họp
là trao đổi về trách nhiệm trong cộng đồng
Chẳng hạn: - Tôn trọng luật đi đờng
- Giúp đỡ ngời có hoàn cảnh khó khăn
Thứ hai ngời giáo viên phải là ngời tổ chức điều khiển hoạt động của học sinh tức là phải biết cách tổ chức họp Cho các em giao tiếp trong từng nhóm Mỗi bạn đóng vai tổ trởng một lần nhng mỗi một cuộc họp bàn khác nhau Giáo viên hớng dẫn tổ trởng nêu cho các em nội dung cần bàn Mọi thành viên đều phát biểu
ý kiến, tổ trởng cùng kết luận và giao việc cho từng ngời
Để đánh giá đợc bài văn giao tiếp của học sinh ngời giáo viên cần phải nắm
đợc nội dung giao tiếp của tổ nhóm, cách thức tổ chức, hoạt động của thành viên trong tổ nh thế nào? nói ra sao? cả lớp và giáo viên tính điểm thi đua Đánh giá kiểu bài này cần phải nói một cách rõ ràng, rành mạch với thái độ đàng hoàng, tự nhiên và tự tin Cũng nh văn kể chuyện, giáo viên cần nhắc nhở các em về giọng
điệu, cử chỉ nhng không quá cứng nhắc
Nhìn chung với những biện pháp cho từng kiểu bài thì học sinh hoạt động tích cực, chủ động nắm kiến thức mới Đối với môn học này thì các em đi ngay vào thực hành Vì vậy ngời giáo viên là ngời nói nhiều Nhng áp dụng biện pháp dạy học cho một tiết rõ ràng, cụ thể thì tiết tơng tự các em làm bài đợc
5- Biện pháp dạy văn nhật dụng (Viết đơn từ):