Nghiên cứu tác động của con người đến thảm thực vật, ở xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu tác động của con người đến thảm thực vật, ở xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu tác động của con người đến thảm thực vật, ở xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu tác động của con người đến thảm thực vật, ở xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu tác động của con người đến thảm thực vật, ở xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu tác động của con người đến thảm thực vật, ở xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu tác động của con người đến thảm thực vật, ở xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu tác động của con người đến thảm thực vật, ở xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu tác động của con người đến thảm thực vật, ở xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu tác động của con người đến thảm thực vật, ở xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu tác động của con người đến thảm thực vật, ở xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu tác động của con người đến thảm thực vật, ở xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)Nghiên cứu tác động của con người đến thảm thực vật, ở xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên (LV thạc sĩ)
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI ĐẾN THẢM THỰC VẬT Ở XÃ VĂN HÁN, HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI ĐẾN THẢM THỰC VẬT Ở XÃ VĂN HÁN, HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60.42.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS MA THỊ NGỌC MAI
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi, công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Ma Thị Ngọc Mai Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Tác giả
Nguyễn Thị Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp hoàn thành luận văn, tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS
Ma Thị Ngọc Mai - người đã bồi dưỡng kiến thức quý báu và đã dành tình cảm tốt đẹp cho tác giả từ khi hình thành, phát triển ý tưởng, xây dựng đề cương, tổ chức triển khai và hoàn thiện luận văn.Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới kỹ sư Lâm nghiệp Phạm Văn Tuân, đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu ngoài thực địa
Đối với địa phương, tác giả chân thành cảm ơn Ủy ban nhân dân huyện Đồng Hỷ, Ủy ban nhân dân xã Văn Hán, Hạt kiểm Huyện Đồng Hỷ và Hạt kiểm
Xã Văn Hán và bà con các dân tộc ở địa phương - nơi tác giả đã đến thu thập số liệu để thực hiện luận văn
Xin cảm ơn các cán bộ, xã Văn Hán, giúp đỡ và hỗ trợ tác giả thu thập số liệu tại hiện trường
Xin cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp, gia đình đã khuyến khích, giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Mặc dù đã làm việc nghiêm túc với tất cả nỗ lực, nhưng do trình độ và thời gian hạn chế, nên luận văn này không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các Thầy, Cô giáo, các nhà khoa học, các bạn bè đồng nghiệp và xin chân thành tiếp thu các ý kiến đóng góp đó
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Phương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Một số khái niệm cơ bản 3
1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững 3
1.1.2 Khái niệm về thảm thực vật 3
1.1.3 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới và ở Việt Nam 3
1.1.4 Nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới và Việt Nam 6
1.5 Nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống 6
1.5.1 Những nghiên cứu về thành phần loài 6
1.5.2 Những nghiên cứu về thành phần dạng sống 8
1.6 Những nghiên cứu về loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng 11
1.7 Nghiên cứu về tác động của con người tới thảm thực vật 13
Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 18
2.2 Đối tượng nghiên cứu 18
2.3 Nội dung nghiên cứu 18
2.4 Phương pháp nghiên cứu 18
2.4.1 Phương pháp luận 18
2.4.2 Phương pháp cụ thể 19
Trang 6Chương 3 ĐIỀU KIÊN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA
VÙNG NGHIÊN CỨU 24
3.1 Điều kiên tự nhiên của vùng nghiên cứu 24
3.1.1 Vị trí địa lý 24
3.1.2 Địa hình 25
3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng 25
3.1.4 Diện tích đất của toàn xã 26
3.1.5 Khí hậu, thủy văn 28
3.2 Điều kiện kinh tế và xã hội 31
3.2.1 Dân số, dân tộc và lao động 31
3.2.2 Điều kiện kinh tế - xã hội nhân văn 33
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
4.1 Hiện trạng các thảm thực vật tại xã Văn Hán 37
4.1.1 Hệ thực vật 37
4.1.2 Các trạng thái thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu 38
4.2 Đa dạng về cấu trúc và hình thái của các trạng thái thảm thực vật 41
4.2.1 Rừng tái sinh 43
4.2.2 Thảm cây bụi 44
4.2.3 Thảm cỏ 45
4.2.4 Rừng keo tai tượng 45
4.2.5 Rừng mỡ 45
4.2.6 Rừng thông 46
4.3 Đa dạng về giá trị sử dụng 47
4.4 Đa dạng về phổ dạng sống 49
4.4.1 Đa dạng về thành phần dạng sống ở rừng tái sinh 50 - 65 năm 51
4.4.2 Đa dạng về thành phần dạng sống ở thảm cây bụi 52
4.4.3 Đa dạng về thành phần dạng sống ở thảm cỏ 52
4.4.4 Đa dạng về thành phần dạng sống ở rừng keo tai tượng 53
Trang 74.4.5 Đa dạng về thành phần dạng sống ở rừng mỡ 54
4.4.6 Đa dạng về thành phần dạng sống ở rừng thông 54
4.5 Những tác động của con người đến thảm thực vật 55
4.5.1 Những tác động tiêu cực của con người đến thảm thực vật 55
4.5.2 Những tác động tích cực của con người đến tài nguyên rừng 77
4.6 Đề xuất các giải pháp phát triển bền vững 83
4.6.1 Về công tác quản lý 83
4.6.2 Thường xuyên kiểm tra công tác PCCCR và phòng chống sâu bệnh 86
4.6.3 Tuyên truyền, tập huấn và vận động 87
4.6.4 Nhóm giải pháp giảm áp lực tác động đến rừng 88
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90
1 Kết luận 90
2 Kiến nghị 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92 PHỤ LỤC
Trang 8KBTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên
KVNC : Khu vực nghiên cứu
UBND : Uỷ ban nhân dân
VQG : Vườn Quốc gia
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Ký hiệu mức độ nhiều của thực bì theo Drude 22
Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai xã Văn Hán qua 3 năm (2007 - 2009) 27
Bảng 3.2 Nhiệt độ trung bình tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 29
Bảng 3.3 Số giờ nắng trung bình trong tháng tại huyện Đồng Hỷ 29
Bảng 3.4 Độ ẩm không khí trung bình tháng tại huyện Đồng Hỷ 30
Bảng 3.5 Tổng lượng mưa các tháng trong năm 30
Bảng 3.6 Dân số và lao động của xã năm 2010 32
Bảng 4.1 Thành phần thực vật trong các điểm nghiên cứu 37
Bảng 4.2 Cấu trúc hình thái của các trạng thái thảm thực vật KVNC 42
Bảng 4.3 Thống kê về giá trị sử dụng của thực vật tại KVNC 47
Bảng 4.4 Thành phần dạng sống trong khu vực nghiên cứu 49
Bảng 4.5 Thành phần dạng sống trong các trạng thái thảm thực vật KVNC 50
Bảng 4.6 Tác động của gia tăng dân số đến diện tích đất ở giai đoạn 2010 - 2015 và dự báo đến năm 2020 57
Bảng 4.7 Tác động của dân số đến tình hình sử dụng đất xã văn Hán năm 2020 58
Bảng 4.8 Thống kê số người khai thác gỗ chia theo thời gian 61
Bảng 4.9 Nhu cầu sử dụng gỗ củi trên địa bàn xã 63
Bảng 4.10 Nguồn củi cung cấp cho sao chè 64
Bảng 4.11 Thông kê loại gia súc theo các phương thức chăn thả 66
Bảng 4.12 Số hộ tham gia canh tác nhương rẫy theo thành phần dân tộc 69
Bảng 4.13 Tình hình khai thác lâm sản ngoài gỗ trong các hộ điều tra 72
Bảng 4.14 Khai thác dược liệu Crinum asiaticum L 74
Bảng 4.15 Diện tích đất lâm nghiệp có rừng của xã Văn Hán từ năm 2007 - 2010 77
Bảng 4.16 Các hộ áp dụng các phương pháp khoanh nuôi phục hồi rừng 80
Bảng 4.17 Thống kê số vụ vi phạm công tác quản lý bảo vệ rừng tại xã Văn Hán 81
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ các Taxon trong các ngành của hệ thực vật ở KVNC 38 Hình 4.2 Biểu đồ thành phần dạng sống trong khu vực nghiên cứu 50 Hình 4.3 Biểu đồ hành phần dạng sống trong các trạng thái thảm thực vật 51 Hình 4.4 Biểu đồ dự báo tình hình sử dụng đất xã văn Hán 59 Hình 4.5 Biểu đồ tình hình vi phạm công tác QLBVR xã Văn Hán 82 Hình 4.6 Sơ đồ VENN vai trò của các bên liên quan trong QLBV và PTR
ở xã Văn Hán 85
Trang 11MỞ ĐẦU
Rừng là nguồn tài nguyên quý giá của đất nước ta, rừng không những là
cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng, rừng tham gia vào quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển oxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai, bảo tồn nguồn nước và làm giảm mức ô nhiễm không khí
Nhưng hiện nay, nguồn tài nguyên quý giá đó đang dần bị suy thoái Những năm qua, ở Việt Nam nạn phá rừng, mất rừng ngày càng nghiêm trọng, hàng ngàn diện tích ha rừng càng bị thu hẹp lại Mất rừng và suy thoái rừng gây nên hiện tượng sa mạc hoá và làm nghèo đất tại nhiều địa phương Tình trạng đó đã tạo ra hàng loạt các tác động tiêu cực và thách thức sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường như gây lũ lụt, hạn hán gây khó khăn trong việc cung ứng lâm sản, làm giảm diện tích đất trồng khiến tình trạng nghèo đói và thất nghiệp ở nhiều khu vực càng đáng lo ngại hơn, đặc biệt suy thoái rừng làm phá vỡ các hệ sinh thái quan trọng khác…
Văn Hán là xã miền núi nằm phía Đông Bắc của huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái nguyên, diện tích tự nhiên 7784 ha, trong đó đất rừng là 2027,4 ha chiếm 26% diện tích đất tự nhiên, xã có 10 dân tộc sinh sống là: kinh, tày, sán dìu, sán chỉ…
là xã miền núi, đường giao thông đi lại khó khăn, người dân sống bằng nghề nông nghiệp, canh tác nông nghiệp còn phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên rừng Trước những năm 1995, việc phá rừng làm nương rẫy, khai thác gỗ làm nhà rất phổ biến, nhiều diện tích rừng tái sinh tự nhiên bị mất đi; từ năm 2000 trở lại đây trên toàn xã thực hiện trồng rừng theo đề án 611 do đó diện tích rừng trồng ngày càng gia tăng đã phủ xanh đất trống đồi trọc nhờ đó đời sống của người dân cũng được nâng cao, môi trường sống cũng được cải thiện hơn Là một xã miền núi của huyện miền núi, thu nhập của người dân địa phương dựa chủ yếu vào rừng
Trang 12và trồng cây công nghiệp lâu năm, trong quá trình này con người đã có nhiều tác động đến đất lâm nghiệp và thảm thực vật rừng Đến nay có một số công trình nghiên cứu về phát triển vốn rừng trồng trên địa bàn huyện Đồng hỷ, chưa có công trình nghiên cứu nào về tác động của con người tới thảm thực vật tại xã Văn hán
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu tác động của con người đến thảm thực vật, ở xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm về phát triển bền vững
Khái niệm về phát triển bền vững đã được Ủy ban Môi trường và Phát
triển Thế giới (WCED) thông qua vào năm 1987: “sự phát triển có thể đáp ứng
được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai”
Nói cách khác, phát triển bền vững phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường
1.1.3 Những nghiên cứu về thảm thực vật trên thế giới và ở Việt Nam
Trên thế giới
H.G Champion (1936) khi nghiên cứu các kiểu rừng Ấn Độ - Miến Điện
đã phân chia 4 kiểu thảm thực vật lớn theo nhiệt độ đó là: nhiệt đới, á nhiệt đới,
ôn đới và núi cao (theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004) [36]
Trang 14J Beard (1938) đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần hệ
và loạt quần hệ) Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần hệ rừng xanh từng mùa; loạt quần hệ khô thường xanh; loạt quần hệ miền núi; loạt quần hệ ngập từng mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm (theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004) [36]
Maurand (1943) nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm thực vật Đông Dương thành 3 vùng thảm thực vật: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng trung gian và đã liệt kê ra 8 kiểu thảm thực vật trong các vùng
Bản phân loại đầu tiên của ngành lâm nghiệp Việt Nam về thảm thực vật rừng ở Việt Nam là bản phân loại của Cục điều tra và quy hoạch rừng thuộc tổng cục lâm nghiệp Việt Nam, bảng phân loại này xây dựng năm 1960, theo bảng phân loại này, rừng trên toàn lãnh thổ Việt Nam được chia làm 4 loại hình lớn (theo Thái Văn Trừng, 1978) [30]
Loại I: Đất đai hoang trọc, những trảng cỏ và cây bụi, trên loại này cần
phải trồng rừng
Loại II: Gồm những rừng non mới mọc, cần phải tra dặm thêm cây hoặc
tỉa thưa
Trang 15Loại III: Gồm tất cả các loại hình rừng bị khai thác mạnh nên trở thành
nghèo kiệt tuy còn có thể khai thác lấy gỗ, trụ mỏ, củi, nhưng cần phải xúc tiến tái sinh, tu bổ, cải tạo
Loại IV: Gồm những rừng già nguyên sinh còn nhiều nguyên liệu, chưa
bị phá hoại, cần khai thác hợp lý
Năm 1970, Trần Ngũ Phương đưa ra bảng phân loại rừng ở miền Bắc Việt Nam, chia thành 3 đai lớn theo độ cao: Đai rừng nhiệt đới mưa mùa, rừng á nhiệt đới mưa mùa, rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao [24]
Thái Văn Trừng (1998) đã đưa ra 5 kiểu quần lạc lớn (quần lạc thân gỗ kín tán; quần lạc thân gỗ thưa; quần lạc thân cỏ kín rậm; quần lạc thân cỏ thưa và những kiểu hoang mạc) và nguyên tắc đặt tên cho các thảm thực vật [31]
Phan Kế Lộc (1985) dựa trên bảng phân loại của UNESCO 1973, cũng đã xây dựng thang phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam thành 5 lớp quần hệ, 15 dưới lớp, 32 nhóm quần hệ và 77 quần hệ khác nhau [19]
Thái Văn Trừng (1998) khi nghiên cứu hệ sinh thái rừng nhiệt đới Việt Nam đã kết hợp 2 hệ thống phân loại (hệ thống phân loại lấy đặc điểm cấu trúc ngoại mạo làm tiêu chuẩn và hệ thống phân loại thực vật dựa trên yếu tố hệ thực vật làm tiêu chuẩn) để phân chia thảm thực vật Việt Nam thành 5 kiểu thảm (5 nhóm quần hệ) với 14 kiểu quần hệ (14 quần hệ) [30]
Lê Ngọc Công (2004) cũng dựa theo khung phân loại của UNESCO (1973) đã phân chia thảm thực vật của tỉnh Thái Nguyên thành 4 lớp quần hệ: rừng rậm; rừng thưa; trảng cây bụi và trảng cỏ Ở đây, những trạng thái thứ sinh (được hình thành do tác động của con người như: khai thác gỗ, củi, chặt đốt rừng làm nương rẫy…) bao gồm: trảng cỏ; trảng cây bụi và rừng thưa [7]
Như vậy, những nghiên cứu về thảm thực vật của các tác giả chủ yếu tập chung ở một vùng hoặc một khu vực nghiên cứu cụ thể Tuy vậy, số lượng công trình nghiên cứu còn chưa nhiều, cần phải có sự nghiên cứu cụ thể hơn, rộng hơn
ở từng khu vực nghiên cứu và một quốc gia
Trang 161.1.4 Nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới và Việt Nam
Tolmachev I cho rằng chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao trùm được sự phong phú của nơi sống, nhưng không có sự phân hóa về mặt địa lý, ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể, ông đã đưa ra nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500-2000 loài
Hiện nay trên thế giới, chưa có các con số cụ thể về thống kê chính xác tổng số loài thực vật Một số các nhà thực vật học dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện nay có trên thế giới vào khoảng 500.000 - 600.000 loài
Al A Phêđôrốp (1965) đã dự đoán thế giới có khoảng: 300.000 loài thực vật hạt kín; 5.000 - 7.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 - 10.000 loài quyết thực vật; 14.000 - 18.000 loài rêu; 19.000 - 40.000 loài tảo; 15.000 - 20.000 loài địa y; 85.000
- 100.000 loài nấm và các loài thực vật bậc thấp khác [10], [17]
Ở Việt Nam, trong thực vật chí đại cương Đông Dương và các tập bổ sung tiếp theo đã mô tả và ghi nhận có khoảng 240 họ với khoảng 7.000 loài thực vật bậc cao có mạch [45]
1.5 Nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống
1.5.1 Những nghiên cứu về thành phần loài
Trên thế giới
Trên thế giới, có những công trình nghiên cứu về thành phần loài từ rất sớm như của Vưsotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933) như vậy các tác giả cho thấy thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởi thành phần loài, thành phần dạng sống, cấu trúc và động thái của nó Vì thế, việc nghiên cứu thành phần loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu quan trọng trong phân loại loại hình thảm thực vật [23]
Longchun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét: khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hoá 19 năm thì có
60 họ, 134 chi và 167 loài (theo Ma Thị Ngọc Mai, 2007) [22]
Trang 17Dầu (Euphorbiaceae) ở Việt Nam, ông thu được 156 loài trong tổng số 425 loài
của họ Thầu dầu ở Việt Nam chia làm 7 nhóm theo cách sử dụng [34]
Thái Văn Trừng (1998) khi nghiên cứu về hệ thực vật Việt Nam đã có nhận xét về tổ thành loài thực vật của tầng cây bụi như sau: trong các trạng thái thảm khác nhau của rừng nhiệt đới Việt Nam, tổ thành loài của tầng cây bụi chủ
yếu có sự đóng góp của các chi Psychotria, Prismatomeris, Pavetta (họ Cà phê
- Rubiaceae); chi Tabermontana (họ Trúc đào - Apocynaceae); chi Ardisia,
Maesa (họ Đơn nem - Myrsinaceae) [31]
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) khi tổng kết các công trình nghiên cứu về khu
hệ thực vật ở Việt Nam đã ghi nhận có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 1.373 loài thực vật bậc cao thuộc 2.524 chi, 378 họ [34]
Đặng Kim Vui (2002), nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng sau nương rẫy
ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên cho thấy 1 - 2 tuổi có 76 loài thuộc 36 họ,
3 - 5 tuổi có 65 loài thuộc 34 họ, 5 - 10 tuổi có 56 loài thuộc 36 họ, 11 - 15 tuổi
có 57 loài thuộc 31 họ [42]
Lê Ngọc Công (2004) nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống
kê các loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ, 468 chi,
Trang 18654 loài chủ yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây gỗ quý như: Lim, Dẻ, Trai, Nghiến…[7]
Theo hệ thống phân chia dạng sống thực vật của Raunkiaer (1934), thực vật có các nhóm dạng sống chính, phân biệt theo vị trí của chồi mầm trong mùa khắc nghiệt nhất đối với sinh trưởng của chúng Theo đó có 5 nhóm dạng sống
cơ bản sau [4]
Phanerophytes (Ph): nhóm cây có chồi trên mặt đất
- Cây gỗ lớn (Mg): gồm các cây gỗ to lớn, chiều cao trên 30m
- Cây gỗ vừa (Me): gồm các cây gỗ có chiều cao trung bình từ 8 đến 30m
- Cây gỗ nhỏ (Mi): gồm những cây gỗ có chiều cao trung bình từ 2 đến 8m
- Cây bụi hoặc cây thân gỗ (Na): có nhiều cao từ 25cm đến 8m
- Cây gỗ vừa và lớn (MM): gồm những cây gỗ có chiều cao trên 8m có thể được gộp thành một nhóm
- Ngoài ra, sau khi nghiên cứu ở các khu vực nhiệt đới ẩm, Raunkiær còn
bổ sung thêm các dạng khác gồm:
- Cây chồi trên leo quấn (Lp)
- Cây bì sinh, phụ sinh (Ep)
- Cây chồi trên thân thảo (Hp)
- Cây chồi trên mọng nước (Sp)
Trang 191 Chamaetophytes (Ch): nhóm cây có chồi sát mặt đất
2 Hemicryptophytes (Hm): nhóm cây có chồi nửa ẩn
3 Cryptophytes (Cr): nhóm cây có chồi ẩn
4 Therophytes (Th): nhóm cây sống 1 năm
Raunkiær đã tính toán cho hơn 1000 loài cây ở các vùng khác nhau trên thế giới và tìm được tỉ lệ phần trăm bình cách (vai trò ngang nhau) cho từng loài, gộp lại thành phổ dạng sống tiêu chuẩn SN (Natural spectrum):
Hay công thức phổ dạng sống là SN = 46 Ph + 9 Ch + 26 Hm + 6 Cr + 13 Th Phân chia dạng sống của Raunkiær đã được nhiều nhà nghiên cứu khoa học áp dụng để xắp xếp các loài thực vật vào trong các nhóm dạng sống Phân chia dạng sống của ông dựa vào đặc điểm cơ bản của thực vật như: đặc điểm cấu tạo, phương thúc sống của thực vật
Ở Việt Nam
Hoàng Chung (1980) thống kê thành phần dạng sống cho loại hình đồng
cỏ Bắc Việt Nam, đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu đồng cỏ sa van, thảo nguyên [3]
Kiểu 1: Cây gỗ
Kiểu 2: Cây bụi
Kiểu 3: Cây bụi thân bò
Kiểu 4: Cây bụi nhỏ
Kiểu 5: Cây bụi nhỏ thân bò
Kiểu 6: Cây nửa bụi
Kiểu 7: Cây thảo lâu năm có hệ rễ cái
Kiểu 8: Cây có chồi mọc từ rễ
Kiểu 9: Cây thảo sống lâu năm có hệ rễ cái, có thân rễ ngắn
Kiểu 10: Cây thảo có hệ rễ chùm, sống lâu năm
Trang 20Kiểu 11: Cây thảo có hệ rễ chùm,sống lâu năm, có thân bò
Kiểu 12: Cây thảo mọc thành búi thưa, sống lâu năm
Kiểu 13: Cây thảo mọc thành búi dày, sống lâu năm
Kiểu 14: Cây thảo sống lâu năm có thân rễ dài
Kiểu 15: Cây thảo sống lâu năm có thân rễ dài và thân bò
Kiểu 16: Cây thảo một năm có hệ rễ cái
Kiểu 17: Cây thảo một năm có hệ rễ cái, có thân bò
Kiểu 18: Cây thảo một năm có hệ rễ chùm
Lê Trần Chấn (1990) khi nghiên cứu hệ thực vật Lâm Sơn tỉnh Hoà Bình cũng phân chia hệ thực vật thành 5 nhóm dạng sống chính theo phương pháp của Raunkiaer Tuy nhiên tác giả đã dùng thêm ký hiệu để chi tiết hoá một số dạng sống (a: ký sinh; b bì sinh; c dây leo; d cây chồi trên thân thảo) Tác giả không xếp phương thức sống ký sinh, bì sinh vào dạng sống cơ bản mà chỉ coi đây là những dạng phụ [9]
Phan Nguyên Hồng (1991) khi nghiên cứu hình thái thảm thực vật rừng ngập mặn Việt Nam đã chia thành 7 dạng sống cơ bản: cây gỗ (G), cây bụi (B), cây thân thảo (T), dây leo (L), cây gỗ thấp hoặc dạng cây bụi (G/B), ký sinh (K), bì sinh (B) [17]
Đặng Kim Vui (2002) nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã phân chia dạng sống thực vật dựa vào hình thái cây: cây gỗ, cây bụi, cây leo và cây cỏ, đồng thời ông đã xác định được có 17 kiểu dạng sống, trong đó có 5 kiểu dạng cây bụi (cây bụi; cây bụi thân bò; cây bụi nhỏ; cây bụi nhỏ thân bò; cây nửa bụi) [42]
Nguyễn Thế Hưng (2003) khi nghiên cứu dạng sống thực vật trong các trạng thái thảm thực vật tại Hoành Bồ (Quảng Ninh) đã kết luận: nhóm cây chồi trên đất có 196 loài chiếm 60,49% tổng số loài của toàn hệ thực vật; nhóm cây chồi sát đất có 26 loài chiếm 8,02%; nhóm cây chồi nửa ẩn có 43 loài chiếm 13,27%; nhóm cây chồi ẩn có 24 loài chiếm 7,47%; nhóm cây 1 năm có 35 loài chiếm 10,80% [14]
Trang 21Vũ Thị Liên (2005) phân chia dạng sống thực vật trong thảm thực vật sau nương rẫy ở Sơn La theo thang phân loại của Raunkiaer Kết quả phổ dạng sống như sau [21]
SB = 69,69Ph + 3,76Ch + 9,29Hm + 10,84Cr + 6,42Th Phạm Ngọc Thường (2003) khi nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy ở Thái Nguyên và Bắc Kạn đã cho kết quả phổ dạng sống của hệ thực vật là [40]
SB = 56,37Ph + 12,73Ch + 14,23He +8,80Cr + 7,87Th
Vũ Thị Liên (2005) phân chia dạng sống thực vật trong thảm thực vật sau nương rẫy ở Sơn La theo thang phân loại của Raunkiaer Kết quả phổ dạng sống như sau [21]
SB = 69,69Ph + 3,76Ch + 9,29He + 10,84Cr + 6,42Th Như vậy, những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống ở trên thế giới và ở Việt Nam vẫn tập trung ở một số khu vực cụ thể mà tác giả nghiên cứu, các tác giả đều đã phân chia và xắp xếp các loài thực vật vào các nhóm dựa vào những gì mà tác giả nghiên cứu được ở những điều kiện sinh thái
ở khu vực nghiên cứu
1.6 Những nghiên cứu về loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng
Dân số không ngừng gia tăng, khai thác tự nhiên quá mức của con người và các loài động thực vật bị săn bắt qua mức là những nguyên nhân chính gây ra tuyệt chủng ở các loài Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu là một yếu tố đe dọa sự tồn tại của các loài thực vật, đi kèm với các hành động phá hủy môi trường sống, phá rừng
để lấy gỗ, phá rừng để xây dựng các tòa nhà cao lớn… của con người cũng được xem là những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự sống của các loài thực vật Một tỷ
lệ lớn các loài bị đe dọa tuyệt chủng ở Việt Nam Ủy ban cứu trợ các loài Động vật, Thực vật của Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) đã đề xuất thứ hạng và tiêu chuẩn để phân hạng tình trạng các loài bị đe dọa tuyệt chủng trên thế giới như sau: Loài tuyệt chủng (EX), loài rất nguy cấp (EN), loài nguy cấp (EN), loài sẽ nguy cấp (VU)
Trang 22Ở Việt Nam, tuyển tập “Sách đỏ Việt Nam (phần thực vật)” của tập thể tác giả thuộc Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia, nay là Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam là tài liệu duy nhất công bố một cách đầy đủ các loài thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam Cuốn sách được xuất bản vào các năm 1992, 1996 và mới nhất là năm 2007 Trong cuốn “sách
đỏ Việt Nam (phần thực vật)” năm 2007 đã công bố 847 loài (thuộc 201 họ) quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ
Theo nghị định 32/2006/NĐ- CP về quản lý thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm
Thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm được phân thành hai nhóm như sau:
Nhóm I: Nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị đặc biệt về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn rất ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao
Thực vật rừng, động vật rừng Nhóm I được phân thành:
Nhóm I A, gồm các loài thực vật rừng Nhóm I B, gồm các loài động vật rừng
Nhóm II: Hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn ít trong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng
Thực vật rừng, động vật rừng Nhóm II được phân thành: Nhóm II A, gồm các loài thực vật rừng Nhóm II B, gồm các loài động vật rừng
Nguyễn Thị Yến (2003) nghiên cứu đặc điểm cấu trúc và tính đa dạng tài nguyên cây thuốc ở một số kiểu thảm thực vật tại xã Xuân Sơn, huyên Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, đã thống kê được 18 loài thực vật quý hiếm trong đó có 15 loài ở mức sẽ nguy cấp (VU) và 3 loài ở mức nguy cấp (EN) dựa theo những thứ hạng
và tiêu chuẩn của Sách đỏ Việt Nam (2007) và IUCN [44]
Trang 23Như vậy, các loài bị đe dạo tuyệt chủng chủ yếu do khách quan (con người gây lên) và phần nào đó do cá thể ít làm cho số lượng thực vật có giá trị sử dụng đang bị suy giảm,đe dạo và có nguy cơ bị tuyệt chủng Kết quả nghiên cứu các loài thực vật bị đe dọa chủ yếu dựa trên các tư liệu thu thập được từ điều tra phân loại thực vật Vì vậy, nhiều nội dung và số liệu yêu cầu phân hạng của IUCN đều thiếu thậm chí không có như khu phân bố, diện tích nơi cư trú, số lượng các thể,… Do vậy, cần có nhiều nghiên cứu các loài một cách đầy đủ, có hệ thống
để bảo tồn các loài thực vật quý hiếm có giá trị
1.7 Nghiên cứu về tác động của con người tới thảm thực vật
Xã hội càng phát triển đi cùng đó là sự tàn phá các tài nguyên thiên nhiên, trong đó có tài nguyên rừng Trong quá trình phát triển, con người đã tác động đến hệ sinh thái rừng tự nhiên rất nhiều như: phá rừng là nương rẫy để chăn nuôi, trồng trọt, phá rừng để xây dựng các công trình thủy điện, các khu công nghiệp, khai thác các sản phẩm của rừng…Vấn đề cấp thiết đặt ra cho chúng ta hiện nay
là phải bảo vệ nguồn tài nguyên rừng; bảo vệ rừng không có nghĩa là chúng ta bảo vệ nguồn tài nguyên hiện có mà song song với bảo vệ con người cần phải nâng cao chất lượng và số lượng tài nguyên rừng, tuy nhiên công tác bảo vệ rừng hiện nay còn gặp nhiều khó khăn do các nguyên nhân: địa hình phức tạp, dân trí của người dân chưa cao, nhu cầu và thói quen sử dụng các sản phẩm của rừng, đời sống người dân còn thấp Bên cạnh những tác động tiêu cực đến tài nguyên rừng thì con người còn tạo ra những hệ sinh thái nhân tạo như kết hợp trồng trọt, trồng rừng, chăn nuôi và con người tích cực tham gia bảo vệ môi trường, chống lại quá trình ô nhiễm môi trường và quản lý các nguồn tài nguyên tự nhiên và môi trường
Những tác động tích cực, con người đã để lại những tác động tiêu cực xấu đến môi trường gây những hậu quả khác nhau Sự tác động của con người lên hệ sinh thái rừng luôn được xem là những vấn đề mang tính tất yếu Chính vì vậy chưa có nghiên cứu nào đề cập một cách sâu sắc về vấn đề này Dưới đây là một
Trang 24số các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước của các tác giả để đánh giá những tác động tiêu cực và tích cực của con người tới thảm thực vật rừng
Trên thế giới
Năm 1872, vườn quốc gia (VQG) đầu tiên trên thế giới được thành lập ở
Mỹ, đó là VQGYellowstone VQG nằm trên vùng đất do người Crow và người Shoshone sinh sống trên cơ sở sử dụng bạo lực ép buộc hai cộng đồng tộc người này phải rời bỏ mảnh đất của họ Nhiều khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) và VQG được thành lập sau đó ở các nước khác nhau trên thế giới cũng sử dụng phương thức quản lý theo mô hình này, có nghĩa là ngăn cấm người dân địa phương thâm nhập vào KBTTN, VQG và tiếp cận tài nguyên trong đó Điều đó dẫn đến những hậu quả tất yếu là làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn giữa cộng đồng địa phương, khu bảo tồn (KBT) và mục đích bảo tồn tài nguyên đã không đạtđược [29]
Ở Kakadu (Australia), những người thổ dân chẳng những được chung sống với VQG một cách hợp pháp mà họ còn được thừa nhận là chủ rừng của VQG
và được tham gia quản lý thông qua các đại diện của họ trong ban quản lý Tại VQG Wasur (Indonesia) vẫn tồn tại 13 làng bản với cuộc sống gắn với săn bắn
cổ truyền [37]
Ở Thái Lan, vào khoảng những năm 1945, độ che phủ của rừng đạt tới 60%, nhưng đến năm 1995 giảm xuống còn 26% Hơn 170.000 km2 rừng bị tàn phá Năm1989, Cục Lâm nghiệp của Hoàng Gia Thái Lan (The Royal Forest Department) thành lập khu bảo tồn để bảo vệ diện tích rừng còn lại Điều này dẫn tới xung đột giữa các cộng đồng địa phương Một thử nghiệm của Dự án
“Quản lý rừng bền vững thông qua sự cộng tác” thực hiện tại Khu bảo tồn động vật hoang dã Phu Kheio, tỉnh Chaiyaphum ở Đông Bắc Thái Lan Kết quả chỉ ra rằng, điều căn bản để quản lý bền vững tài nguyên là phải thu hút sự tham gia của các bên liên quan và đặc biệt là phảibao gồm cả phát triển cộng đồng địa phương bằng các hoạt động làm tăng thu nhập của họ (dẫn theo Ngô Ngọc Tuyên, 2007) [37, tr 6]
Trang 25Năm 1986, trong tác phẩm “Lâm nghiệp xã hội và hành động của cộng đồng” các tác giả Dorji, D.C Chavada, B Thinley và Wangchuks cho rằng: Rừng chủ yếu là nguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung cấp củi, nơi chăn thả và chuồng trại cho gia súc Chúng cũng cung cấp một phần lớn những yêu cầu về thức ăn gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất và nước trên vùng đất dốc (FAO) [37]
Các nghiên cứu trên thế giới được liệt kê trên đây mới chỉ có những phân tích định tính về sự phụ thuộc của các cộng động dân cư vào tài nguyên và khẳng định cần thiết phải có sự tham gia của người dân vào các hoạt động bảo tồn TNR Tuy nhiên, chưa có các nghiên cứu định lượng xác định những tác động của cộng đồng vào TNR và những nguyên nhân cụ thể dẫn tới những tác động đó vào TNR
Ở Việt Nam
Trải qua thời gian, diễn biến TNR ở các khu rừng đặc dụng nước ta đã có nhiều thay đổi do sức ép của sự gia tăng dân số, nhu cầu về gỗ, LSNG ngày một gia tăng đối với cộng đồng dân cư sinh sống là nguyên nhân tác động sâu sắc tới thảm thực vật rừng Việc đầu tư quản lý bảo vệ và phát triển các khu rừng còn hạn hẹp Việc triển khai, thực thi các chính sách, pháp luật của nhà nước đối với
hệ thống này chưa đồng bộ, kịp thời Vì thế, dẫn đến có nhiều vi phạm nghiêm
hộ Hiện nay, các nông hộ đang có sự chuyển đổi về sinh kế, song mới chỉ có rất
ít ở các hộ có hiểu biết và có vốn đầu tư; (2) Hầu hết người dân địa phương vẫn còn sử dụng tài nguyên rừng (TNR) một cách bất hợp pháp Tại thời điểm nghiên cứu, 34% tổng thu nhập hàng năm của một hộ gia đình trong vùng đệm và 62% tổng thu nhập của một hộ gia đình trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt là từ rừng Việc thành lập KBTTN (năm 1997) đã làm giảm 30% - 71,4% diện tích đất và
Trang 26khoảng 50% thu nhập từ rừng của người dân địa phương; (3) Mặc dù đã có một vài chương trình hỗ trợ được thực hiện tại KBTTN Pù Mát, song chúng chưa bù đắp được những mất mát do việc thành lập KBTTN gây ra [37]
Nguyễn Thị Phương (2003) khi “Nghiên cứu tác động của cộng đồng địa phương vùng đệm đến tài nguyên rừng VQG Ba Vì - Hà Tây”, đã vận dụng phần mềm SPSS trong việc tổng hợp và xử lý số liệu về hình thức tác động và các nguyên nhân tác động và chỉ ra rằng: Cộng đồng ở đây sống chủ yếu bằng nghề nông nhưng diện tích đất nông nghiệp rất ít và năng suất lúa thấp Vì vậy, để giải quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày họ tác động tới tài nguyên rừng dưới nhiều hình thức như: sử dụng đất rừng để sản xuất hàng hoá, khai thác sản phẩm với mục đích tiêu dùng, chăn thả gia súc… trong đó hình thức sử dụng đất rừng để sản xuất hàng hoá cho tỷ trọng thu nhập cao nhất trong cơ cấu thu nhập của cộng đồng (36,4%) Tuy nhiên, đề tài chưa đánh giá được mức độ tác động tới tài nguyên rừng của các dân tộc, các nhóm hộ khác nhau [26]
Một nghiên cứu về nhu cầu sử dụng gỗ củi của Lê Thu Hiền (2003) được thực hiện tại xã Khang Ninh - một xã vùng đệm VQG Ba Bể cho thấy: Gỗ củi là nhiên liệu chính sử dụng làm chất đốt ở đây, loại nhiên liệu này có nguồn gốc từ
gỗ lớn là 2,8%, gỗ nhỏ là 27%, cây bụi là 53,5% và cành nhánh là 16,9% Nhu cầu sử dụng gỗ củi bình quân mỗi hộ gia đình là khá cao 20,3 kg/ngày, trong đó
ở vùng cao là 26 kg/ngày, ở vùng thấp là 17,5 kg/ngày Đặc biệt, nguồn cung cấp
gỗ củi cho người dân địa phương chủ yếu từ rừng tự nhiên, rừng phục hồi, đồi trọc và cây trồng phân tán [38]
Cũng tại VQG Ba Bể, tác giả Lê Đức Vượng (2007) đã bước đầu tìm hiểu
sự phụ thuộc của người dân địa phương vào tài nguyên rừng tại 2 thôn của xã Nam Mẫu - một xã nằm trọn trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt Kết quả nghiên cứu tuy độc lập ở từng thôn trong xã Nam Mẫu nhưng phần nào đã khẳng định được vai trò của lâm sản đối với người dân địa phương cũng như sự phụ thuộc của họ vào TNR thông qua tỷ trọng giữa thu nhập từ lâm sản nói chung so với tổng thu nhập của hộ gia đình (40,18% đối với thôn Cốc Tộc, 50,92% đối với thôn Nặm Dài) Nghiên cứu mới chỉ tập trung ở 2 thôn, đối với 2 dân tộc Tày và
Trang 27H’Mông do vậy chưa phản ánh được đầy đủ sự phụ thuộc của người dân sống trong và xung quanh VQG Ba Bể vào TNR [43]
Ngô Ngọc Tuyên (2007) đã lượng hoá tốt thể hiện sinh động ảnh hưởng của các yếu tố sản xuất đến tổng thu nhập của hộ gia đình cũng như mối quan hệ giữa tổng thu nhập với các nhân tố trong khai thác TNR thông qua việc thực hiện nghiên cứu tác động của người dân địa phương đến TNR tại KBTTN Na Hang, Tuyên Quang Tác giả đã lựa chọn 4 dân tộc chính trong khu vực, mỗi dân tộc
30 HGĐ để phỏng vấn, nhưng chưa chỉ ra cho người đọc cách thức và nguyên tắc chọn mẫu Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, để giải quyết nhu cầu cuộc sống hàng ngày người dân đã tác động tới TNR dưới nhiều hình thức song “sử dụng tài nguyên rừng” là hình thức có tác động bất lợi nhất, các dân tộc khác nhau thì mức độ tác động cũng khác nhau Nghiên cứu đã sử dụng hàm Cobb-Douglas để phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đến thu nhập của HGĐ, tuy nhiên phân tích mới dừng lại ở 3 yếu tố nguồn lực mà chưa phân tích đến các yếu tố hiệu quả [37]
Nguyễn Anh Hùng (2014) nghiên cứu những tác động của con người đến tính bền vững của hệ sinh thái rừng ở vùng ATK huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, tác giả đã kết luận như sau: ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái rừng do tác động của con người; làm suy giảm đa dạng sinh học, phẩm chất cây tái sinh, phá hủy cấu trúc hệ sinh thái rừng, suy giảm môi trường đất và nước Như vậy, các nghiên cứu đã thực hiện chủ yếu là phân tích, đánh giá sự phụ thuộc của cộng đồng địa phương vào rừng và đất rừng Nhưng vấn đề nhìn nhận từ góc độ cộng đồng địa phương đối với tài nguyên rừng còn chưa được nghiên cứu sâu sắc Một
số nghiên cứu trong những năm gần đây đã đề cập đến vấn đề tác động của cộng đồng địa phương tới tài nguyên rừng nhưng chỉ giới hạn ở tác động của cộng đồng địa phương vùng đệm đến các VQG hoặc KBTTN [15]
Trang 28Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu hiện trạng thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng tác động của con người đến thảm thực vật
- Đề xuất một số biện pháp bảo vệ và phát triển rừng tại khu vực nghiên cứu 2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Những tác động của con người làm ảnh hưởng suy giảm đến diện tích rừng tự nhiên, ảnh hưởng đến cấu trúc, tính đa dạng của thảm thực vật ở xã Văn Hán, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái nguyên
- Những tác động tích cực của con người để ngăn chặn tình trạng mất rừng, bảo vệ và phát triển vồn rừng, bảo tồn đa dạng sinh học ở khu vực nghiên cứu (KVNC)
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Phân loại trạng thái thảm thực vật rừng tại khu vực nghiên cứu
- Đặc điểm cấu trúc theo chiều thẳng đứng của thảm thực vật
- Những tác động của con người làm suy thoái thảm thực vật
- Những tác động tích cực của con người làm tăng độ che phủ của thảm thực vật rừng
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn nhằm phát triển bền vững thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp luận
- Tiếp cận các phương pháp sinh thái nhân văn đối với việc nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ tự nhiên và hệ xã hội trong việc khai thác và sử dụng bền vững thảm thực vật rừng
- Phát triển sự tham gia của cộng đồng dân tộc theo phương thức xã hội hóa trong công tác quản lý, khai thác và sử dụng thảm thực vật nhằm cải thiện
Trang 29và nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc Tuy nhiên vẫn đảm bảo tính đa dạng
và bền vững của thảm thực vật
- Phối hợp với các ban ngành tại địa phương nơi nghiên cứu, các hộ gia đình được giao quản lý bảo vệ rừng trong công tác thu thập thông tin, số liệu
- Kế thừa các số liệu đã có, bổ sung và cập nhật những thông tin cần thiết
Sử dụng phương pháp điều tra có sự tham gia của người dân thông qua phỏng vấn người dân, học sinh, cán bộ lãnh đạo các cấp, các cán bộ lâm nghiệp địa phương để tìm hiểu và thu thập số liệu đánh giá tác động của con người đến thảm thực vật, các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đối với phát triển vốn rừng tại địa phương
- Thực hiện các đợt điều tra để thu thập số liệu ngoài thực địa, phân tích
- Tình hình khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên rừng; sử dụng diện tích đất rừng;
- Các dự án đầu tư và phát triển vốn rừng trên địa bàn xã;
- Tình hình thực hiện chính sách phát triển lâm nghiệp của nhà nước;
- Các biện pháp kỹ thuật đã áp dụng trong việc xây dựng và phát triển rừng;
- Chọn một số nơi để khảo sát đánh giá trên thực địa
2.4.2.2 Phương pháp điều tra thu mẫu và sử lý số liệu
- Phỏng vấn cán bộ phòng NN và PTNT Huyện, trạm khuyến nông và kiểm lâm xã Văn Hán, để nắm bắt tính hình chung về tài nguyên rừng của xã và thu thấp các số liệu liên quan
Trang 30- Phương pháp điều tra các trạng thái thảm thực vật rừng được tiến hành theo tuyến trên cơ sở làm việc với chính quyền địa phương:
Bước 1 Điều tra khảo sát tổng thể để nắm được các đặc điểm chung trên
cơ sở đó phân loại đối tượng và chọn các điểm điều tra tiếp theo
Bước 2 Trên cơ sở bước 1 tiến hành đánh giá chi tiết về các vấn đề: Các trạng thái thảm thực vật KVNC; những tác động của con người đến thảm thực vật; các biện pháp kỹ thuật đã sử dụng; các chính sách ảnh hưởng tới phát triển vốn rừng
Bước 3 Xác định tuyển điều tra để thu thập số liệu, xác định OTC để đo
đếm các số liệu cận thiết
a Phương pháp tuyến điều tra(TĐT) và ô tiêu chuẩn (OTC)
* Tuyến điều tra
Tuyến điều tra (TĐT): Căn cứ vào địa hình cụ thể của khu vực nghiên cứu lập các tuyến điều tra Các thông tin từ ban quản lý, cán bộ chuyên môn, người dân địa phương Các tuyến điều tra đi qua tất cả các trạng thái rừng,các dạng địa hình, đai độ cao, các trạng thái rừng bị phá huỷ hay suy thoái do tác động của con người Tuyến điều tra có hướng vuông góc hoặc song song với đường đồng mức, khoảng cách giữa các tuyến điều tra là 50-100 m tùy vào loại hình cụ thể của từng quần xã Dọc tuyến điều tra bố trí các ô tiêu chuẩn (OTC) và các ô dạng bản để thu thập số liệu
* Ô tiêu chuẩn (OTC)
Điều tra theo ô tiêu chuẩn (OTC), tại mỗi trạng thái thảm thực vật, chúng tôi lập 6 OTC ở các vị trí: đỉnh đồi (2 OTC), lưng đồi (2 OTC) và chân đồi (2 OTC) Mỗi OTC có kích thước (20m x 20m) đối với trạng thái rừng, kích thước (10m x 10m) đối với thảm cây bụi và 1m2 (1m x 1m) đối với thảm cỏ thấp Tổng
số OTC được lập là 36
Trang 31Cách bố trí ô tiêu chuẩn trong các trạng thái thảm thực vật
Trong mỗi OTC, chúng tôi mô tả vị trí địa lý, hướng phơi, độ dốc, độ cao tương đối, lịch sử hình thành, thời gian phục hồi, đặc trưng thổ nhưỡng; điều tra
về thành phần loài, kiểu dạng sống (dựa trên sự phân chia nhóm dạng sống của Raunkiaer (1934), số lượng cây, chiều cao, độ che phủ, sự phân tầng
Tại mỗi OTC đặt các ô dạng bản Tùy theo kích thước OTC là 100m2hay 400m mà đặt 5 ô dạng bản có diện tích 4 m2(2m x2 m) bố trí theo hình gọng
Thu thập các số liệu về cây gỗ:
- Đo chiều cao cây - chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) được đo bằng thước đo chiều cao Blumeleiss, đo theo nguyên tắc lượng giác (trị số trung bình của 3 lần đo) Những cây có chiều cao vút ngọn (Hvn), chiều cao dưới cành (Hdc) từ 4m trở xuống được đo bằng sào có chia vạch đến 0,1m
Trang 32- Đo đường kính cây tại điểm cách mặt đất 1,30 m (D1,30 cm) - đường kính ở độ cao ngang ngực Những cây có đường kính từ 20cm trở xuống được đo trực tiếp bằng thước kẹp với độ chính xác 0,10 cm, đo theo 2 hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau đó tính trị số trung bình Cây lớn hơn 20cm được đo chu vi bằng thước dây, tra bảng tương quan đường kính - chu vi, tính được đường kính tương ứng
- Đo đường kính tán cây gỗ (Dt): được đo bằng thước dây và sào trên
hình chiếu thẳng đứng của tán lá, đo theo 2 hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau
đó tính trị số trung bình
+ Độ che phủ được xác định bằng quan trắc và ước tính tỷ lệ phần trăm
diện tích đất bị thảm thực vật che phủ Độ che phủ được tính theo tỷ lệ phần trăm
Đánh giá độ nhiều: Độ nhiều là mức độ tham gia của 1 loài thực vật
nào đó trong quần xã về số lượng cá thể Người ta đã đưa ra nhiều loại thang thống kê độ nhiều khác nhau; trong luận văn này, chúng tôi sử dụng thang 6 cấp hay còn gọi là thang Drude (theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2008) được trình bày ở bảng 1.1
Bảng 1.1 Ký hiệu mức độ nhiều của thực bì theo Drude
Soc Số cá thể của loài mọc thành thảm rộng khắp, chiếm trên 90% Cop3 Số cá thể của loài rất nhiều, chiếm 70 - 90%
Cop2 Số cá thể của loài nhiều, chiếm 50 - 70%
Cop1 Số cá thể của loài tương đối nhiều, chiếm 30 - 50%
Sp Số cá thể của loài mọc rải rác phân tán, chiếm 10 - 30%
Sol Số cá thể của loài gặp rất ít, chiếm dưới 10%
b Phương pháp điều tra phỏng vấn người dân
Trực tiếp phỏng vấn người chủ rừng hoặc các cơ quan chuyên môn (chi cục kiểm lâm, UBND xã Văn Hán) để nắm được các thông tin về điều kiện
Trang 33tự nhiên ở khu vực nghiên cứu, trạng thái của rừng, tên các loài thực vật (tên địa phương), những tác động của con người và động vật…
Tiến hành thảo luận, lấy ý kiến, phân tích khó khăn thuận lợi, đề xuất giải pháp quản lý phát triển bền vững thảm thực vật rừng
c Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Xác định các trạng thái thảm thực vật dựa theo khung phân loại của
UNESCO (1973) Phân tích phổ dạng sống theo Raunkiaer (1934)
- Xác định tên các loài cây theo Phạm Hoàng Hộ (1991 - 1992 - 1993), theo “Danh lục thực vật Việt Nam” (tập 1,2,3) để chỉnh lí và lập danh lục các loài thực vật tại vùng nghiên cứu
- Xác định tên khoa học của các loài thực vật theo danh mục các loài thực vật Việt Nam (2003, 2005), những loài chưa xác định được tên thì lấy cành, lá, hoa
về phân tích trong phòng thí nghiệm của Khoa Sinh Trường ĐHSP
- Đếm số loài, độ tuổi, sự phân tầng
- Phân loại thảm thực vật
- Xử lý các số liệu thu được bằng Excell
Trang 34Chương 3 ĐIỀU KIÊN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI
CỦA VÙNG NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiên tự nhiên của vùng nghiên cứu
3.1.1 Vị trí địa lý
Xã văn Hán là xã miền núi có vị trí địa lý như sau:
- Phía Đông giáp với xã Cây Thị - Huyện Đồng Hỷ
- Phía Tây giáp với xã Khe Mo - Huyện Đồng Hỷ
- Phía Nam giáp với xã Nam Hòa - Huyện Đồng Hỷ
- Phía Bắc giáp với xã La Hiên, Liên Minh - Huyện Võ Nhai
Xã Văn Hán nằm ở phía Đông Bắc của huyện Đồng Hỷ, cách trung tâm của huyện 15km, tiếp giáp với huyện Võ Nhai và các xã khác trong Huyện là tạo điều kiện để lưu thông và trao đổi hàng hóa trên thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân trong xã phát triển và giao lưu kinh tế - văn hóa - xã hội.Tổng diện tích đất tự nhiên của Xã là 6.546,9ha
Hệ thống giao thông chủ yếu là đường đất gây khó khăn cho việc giao lưu hàng hóa, văn hóa xã hội với các vùng lân cận để học hỏi, tiếp thu những kinh nghiệm sản xuất, các hình thức phát triển sản xuất đa ngành nghề cũng như việc tiêu thụ sản phẩm và phát triển ngành thương mại, dịch vụ, du lịch
Với vị trí địa lý như vậy, hơn nữa Xã nằm trong vùng nguyên liệu chè và
đã được UBND Tỉnh, UBND Huyện quy hoạch thành trung tâm cụm nên rất thuận lợi cho việc trao đổi hàng hoá, giao lưu kinh tế với các xã trong Huyện, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Trang 353.1.2 Địa hình
Do cấu trúc địa chất nên địa hình của Xã nghiêng dần từ Đông sang Tây,
độ cao trung bình khoảng 150m Phía Đông là những dãy núi đất có độ cao trung bình từ 200 - 300m, tầng đất dày, tuy nhiên lớp phủ thực vật kém nên hiện tượng xói mòn rửa trôi diễn ra phổ biến Phía nam là dãy núi đất xen với những đồi thấp có độ cao trung bình từ 100 - 250m Các dãy núi trên địa bàn Xã nằm trải dài nên tạo ra các thung lũng rộng, xen kẽ là những cánh đồng có khả năng phát triển nông nghiệp tốt Xã có nhiều rừng và đất rừng chiếm tỷ lệ ¾ diện tích đất
tự nhiên
3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng
- Theo kết quả tổng hợp trên bản đồ thổ nhưỡng tỉ lệ 1/25.000, đất đai của
Xã được chia ra các loại đất chính sau:
Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét chiếm khoảng 15% tổng diện tích đất tự nhiên toàn Xã Đất có màu vàng nâu, thành phần cơ giới nhẹ, độ dốc lớn Loại đất này thích hợp để trồng cây lâu năm và cây lâm nghiệp
Trang 36Đất phù sa ngòi suối chiếm khoảng 18% tổng diện tích đất tự nhiên, thành phần cơ giới nhẹ, địa hình bậc thang, thích hợp với cây trồng ngắn ngày
Đất vàng nhạt trên đá cát chiếm khoảng 50% tổng diện tích đất tự nhiên, đất có tầng dày trên 100 cm, độ dốc dưới 200, thích hợp với cây công nghiệp dài ngày và cây hàng năm
Đất dốc tụ chiếm khoảng 17% tổng diện tích đất tự nhiên toàn Xã Đất được hình thành chủ yếu do những sản phẩm bào mòn từ đồi núi đưa xuống theo dòng chảy và tích tụ lại tạo nên những cánh đồng thích hợp với trồng lúa
- Đất đai toàn xã chia làm hai loại chính:
+ Đất đồi núi chiếm 85% diện tích tự nhiên, tầng đất tương đối dày, thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, nghèo dinh dưỡng Loại đất này chủ yếu được người dân sử dụng để xây dựng nhà ở, trồng chè, cây lâm nghiệp và một số loại cây trồng lâu năm
+ Đất ruộng và đất màu có tầng dày, hàm lượng đạm (N) mức khá cao, hàm lượng lân (P) và kali (K) ở mức trung bình khá Loại đất này thích hợp với cây lương thực và các loại cây hoa màu
3.1.4 Diện tích đất của toàn xã
Văn Hán là một xã có diện tích đất tương đối lớn Sở dĩ tổng diện tích đất
tự nhiên năm 2008 tăng lên so với năm 2007 là do năm 2008 Xã đã tiến hành đo đạc lại diện tích đất đai để lập bản đồ địa chính, các loại đất đều được đo đạc lại một cách chính xác bằng máy Tổng diện tích đất tự nhiên năm 2008 tăng 7,67%
so với năm 2007
Trang 37Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai xã Văn Hán qua 3 năm (2007 - 2009)
Năm
Chỉ tiêu
2007 2008 2009 Tốc độ phát triển (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%)
Diện tích (ha)
Cơ cấu (%) 08/07 09/08 BQ
năm khác 122,27 22,77 122,27 22,63 123 22,82 100 100,60 100,30 1.2 Đất trồng cây lâu
2 Đất lâm nghiệp 2374 72,93 3596,2 82,73 3646,2 83,06 151,48 101,39 123,93
2.1 Đất rừng sản xuất 2160 90,99 3382,2 94,05 3432,2 94,13 156,58 101,48 126,05 2.2 Đất rừng phòng hộ 214 9,01 214 5,95 214 5,87 100 100 100
3 Đất nuôi trồng thuỷ
sản 4,2 0,13 8,6 0,20 9 0,21 204,76 104,65 146,39
II Đất phi nông
nghiệp 155,77 2,57 156,57 2,41 171,57 2,63 100,51 109,58 105,02 III Đất chưa sử dụng 2639,1 43,63 2010,5 30,86 1952,87 29,98 76,18 97,13 86,02
(Nguồn: UBND xã Văn Hán)
Diện tích đất nông nghiệp qua các năm đều tăng, năm 2008 tăng 33,54%
so với năm 2007, năm 2009 tăng 0,49% so với năm 2008 và đạt tốc độ phát triển
Trang 38bình quân là 16,13% Đất nông nghiệp tăng chủ yếu là do sự tăng lên của đất lâm nghiệp Diện tích đất phi nông nghiệp qua 3 năm cũng tăng lên, năm 2008 tăng 0,51% so với năm 2007, năm 2009 tăng 9,58% so với năm 2008 Diện tích đất nông nghiệp và phi nông nghiệp đều tăng là do có sự giảm đi đáng kể của diện tích đất chưa sử dụng, năm 2008 giảm 23,82% so với năm 2007, năm 2009 giảm
2,87% so với năm 2008
Trong đất nông nghiệp, đất sản xuất nông nghiệp qua 3 năm có xu hướng giảm dần, năm 2008 giảm 15,36% so với năm 2007, năm 2009 giảm 1,05% so với năm 2008 Bình quân 3 năm đất sản xuất nông nghiệp giảm 8,48%, đến năm
2009 chỉ còn chiếm 16,73% trong tổng diện tích đất nông nghiệp Đất lâm nghiệp
là loại đất có diện tích lớn nhất trong đất nông nghiệp, chiếm tới 83,06% (năm 2009) và tăng lên qua các năm Năm 2007 diện tích đất lâm nghiệp là 2374 ha; năm 2008 là 3596,2 ha, tăng 51,48% so với năm 2007; diện tích năm 2009 là 3646,2 ha, tăng 1,39% so với năm 2008; bình quân 3 năm đất lâm nghiệp tăng 23,93% Đất lâm nghiệp tăng là do tăng diện tích rừng sản xuất bằng cách khai thác diện tích đất đồi núi chưa sử dụng Năm 2008 khi đo đạc bằng máy thì diện tích đất nuôi trồng thuỷ sản là 8,6 ha, năm 2009 tăng 4,65% lên 9 ha
Trong đất sản xuất nông nghiệp thì diện tích đất trồng cây hàng năm tương đối ổn định, tăng, giảm không đáng kể Trong khi đó đất trồng cây lâu năm lại giảm mạnh, bình quân 3 năm giảm 24,17%, nguyên nhân là do có nhiều hộ chặt
bỏ những loại cây ăn quả không cho hiệu quả kinh tế cao, chuyển đổi mục đích
Trang 39Nhiệt độ: có sự phân mùa rõ rệt, nhiệt độ mùa hè cao nhất vào tháng 6,7,8 với mức nhiệt từ 25 -300C Mùa Đông từ tháng 11 đến tháng 3, nhiệt độ vào khoảng từ 12- 150C Nhiệt độ trung bình năm 22,50C - 24,50C
Bảng 3.2 Nhiệt độ trung bình tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
NHIỆT ĐỘ KHÔNG KHÍ TRUNG BÌNH - THÁNG ( 0 C) N/Th Th 1 Th 2 Th 3 Th 4 Th 5 Th 6 Th 7 Th 8 Th 9 Th 10 Th 11 Th 12 TỔNG TB
Nguồn: Trạm khí tượng thủy văn tỉnh Thái Nguyên cung cấp (2010-2015)
- Nắng: Số giờ nắng trung bình hàng năm 1600 - 1700 giờ
Bảng 3.3 Số giờ nắng trung bình trong tháng tại huyện Đồng Hỷ
TỔNG SỐ GIỜ NẮNG - THÁNG N/Th Th 1 Th 2 Th 3 Th 4 Th 5 Th 6 Th 7 Th 8 Th 9 Th10 Th 11 Th 12 TỔNG TB
2010 33 88 36 51 107 136 178 147 166 142 117 81 1282 1068
2011 10 32 10 49 137 132 182 183 143 93 137 95 1204 1003
2012 5 18 29 111 159 116 167 207 139 127 75 34 1187 989
2013 12 36 49 50 150 165 140 167 116 147 98 186 1316 1096
Trang 402014 137 26 10 13 161 125 166 151 166 171 93 106 1325 1104
2015 100 46 22 115 208 186 158 172 132 185 81 55 1460 1217 Nguồn: Trạm khí tượng thủy văn tỉnh Thái Nguyên cung cấp (2010-2015)
- Độ ẩm: độ ẩm khá cao, biến động theo mùa, độ ẩm trung bình năm dao động từ 70 - 80% Độ ẩm lớn nhất vào các tháng 3 là tháng có lượng mưa lớn trong năm, với độ ẩm cao 85%.Độ ẩm thấp nhất vào các tháng 11 - 12 do chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông bắc khô và lạnh, độ ẩm thấp nhất 70%
Bảng 3.4 Độ ẩm không khí trung bình tháng tại huyện Đồng Hỷ
ĐỘ ẨM KHÔNG KHÍ TRUNG BÌNH - THÁNG N/Th Th 1 Th 2 Th 3 Th 4 Th 5 Th 6 Th 7 Th 8 Th 9 Th 10 Th 11 Th 12 TỔNG TB
Nguồn: Trạm khí tượng thủy văn tỉnh Thái Nguyên cung cấp (2010-2015)
- Lượng mưa: Lượng mưa trung bình hàng năm là 1718 - 1850 mm Nhìn chung lượng mưa phân bố không đều trong năm, cụ thể:
+ Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 70% lượng mưa cả năm, tập trung vào các tháng 6, 7, 8
+ Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, chiếm 10 - 20% lượng mưa
cả năm
Bảng 3.5 Tổng lượng mưa các tháng trong năm
TỔNG LƯỢNG MƯA THÁNG N/Th Th 1 Th 2 Th 3 Th 4 Th 5 Th 6 Th 7 Th 8 Th 9 Th 10 Th 11 Th 12 TỔNG TB
2010 100,4 1,4 45,5 116,7 186,9 241,8 245,9 442,8 222,8 15,7 0,0 60,2 1680,1 140,0
2011 7,4 6,9 108,8 32,8 216,4 175,8 189,7 203,4 211,3 151,1 15,1 22,9 1341,6 111,8