Trong bản khuyến nghị phát triển Hợp tác xã của Tổ chức lao động quốc tế được thông qua tại kỳ hợp thứ 90, diễn ra vào tháng 6/2002 tại Geneve - Thụy Sỹ định nghĩa về Hợp tác xã: “Hợp tá
Trang 1MỤC LỤC
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP TÁC XÃ 2
1.1 Khái niệm Hợp tác xã 2
1.2 Đặc điểm Hợp tác xã 3
1.2.1 Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế, hoạt động như một loại hình doanh nghiệp 3
1.2.2 Mỗi Hợp tác xã có số lượng từ bảy thành viên trở lên 4
1.2.3 Các thành viên của Hợp tác xã cùng góp tài sản, công sức, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm 4
II QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1954 ĐẾN NAY 5
2.1 Thời kỳ tổ chức xây dựng hợp tác xã nông nghiệp bậc thấp (1958 – 1960) 5
2.2 Thời kỳ hợp tác xã nông nghiệp bậc cao (1960 – 1965) 5
2.3 Thời kỳ tiếp tục củng cố và phát triển hợp tác xã ở miền Bắc (1966 – 1975) 5
2.4 Thời kỳ mở rộng hợp tác hóa trên phạm vi cả nước (1976 – 1986) 6
2.5 Thời kỳ từ thực hiện “đổi mới” đến khi có Luật hợp tác xã (1987 – 1996) 6
2.6 Tình hình hợp tác xã hiện nay ở Việt Nam 7
III QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP THẠNH PHƯỚC – TỈNH HẬU GIANG 10
IV NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN 10
Trang 2I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP TÁC XÃ
1.1 Khái niệm Hợp tác xã
Ngày 23/9/1945, Đại hội Liên minh Hợp tác xã quốc tế lần thứ 31 tổ chức tại
Manchester - Vương quốc Anh đã định nghĩa về Hợp tác xã như sau: “Hợp tác xã
là hiệp hội hay là tổ chức tự chủ của cá nhân liên kết với nhau một cách tự nguyện nhằm đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một tổ chức kinh tế cùng nhau làm chủ chung và kiểm tra dân chủ”.
Trong bản khuyến nghị phát triển Hợp tác xã của Tổ chức lao động quốc tế được thông qua tại kỳ hợp thứ 90, diễn ra vào tháng 6/2002 tại Geneve - Thụy Sỹ
định nghĩa về Hợp tác xã: “Hợp tác xã là một tổ chức tự chủ của những người tình nguyện liên kết lại với nhau nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn về kinh
tế, văn hóa và xã hội thông qua việc thành lập một doanh nghiệp sở hữu tập thể, góp vốn bình đẳng, chấp nhận việc chia sẻlợi ích và rủi ro, với sự tham gia tích cực của các thành viên trong điều hành và quản lý dân chủ” Nhiều nước trên thế
giới cũng đưa ra định nghĩa Hợp tác xã cho phù hợp với điều kiện nước mình
Ở Việt Nam, căn cứ vào tình hình, đặc điểm kinh tế - xã hội của đất nước
Luật Hợp tác xã năm 2003 định nghĩa về Hợp tác xã như sau: “Hợp tác xã là một
tổ chức kinh tế tập thể do cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là
xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia Hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác của Hợp tác xã theo quy định của pháp luật”.
Luật Hợp tác xã năm 2003 đã khẳng định vai trò của kinh tế Hợp tác xã, là một tổ chức kinh tế mang tính cộng đồng và xã hội sâu sắc Việc thành lập nên Hợp tác xã dựa trên nhu cầu, lợi ích chung của các thành viên nhằm phát huy sức mạnh tập thể, cùng giúp nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, nâng cao đời sống
Trang 3vật chất cho xã viên và góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước Luật Hợp tác
xã năm 2003 đã mở rộng về đối tượng tham gia Hợp tác xã đó là cá nhân, hộ gia đình và pháp nhân Điều này cũng tạo điều kiện cho kinh tế Hợp tác xã phát triển
về số lượng và mở rộng thêm nguồn vốn đầu tư, tham gia vào Hợp tác xã
Tuy nhiên, định nghĩa như Luật Hợp tác xã năm 2003 chưa thể hiện rõ bản chất của Hợp tác xã, chưa thể phân biệt được giữa Hợp tác xã với doanh nghiệp Để
khắc phục nhược điểm đó, Dự thảo Luật Hợp tác xã (sửa đổi) quy định: “Hợp tác
xã là tổ chức kinh tế, bình đẳng với mọi loại hình kinh tế khác, có tư cách pháp nhân do ít nhất 07 cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là thành viên) tự nguyện hợp tác với nhau thành lập và đồng sở hữu theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho thành viên trên cơ sở tài sản chung và được quản lý một cách dân chủ” Định nghĩa Hợp tác xã quy định rõ hơn
bản chất của tổ chức này đó là tự nguyện hợp tác với nhau, đồng sở hữu, đồng sử dụng sản phẩm, dịch vụ của Hợp tác xã hoặc đồng là người lao động trong Hợp tác
xã Bên cạnh đó, chúng ta còn có thể phân biệt được Hợp tác xã khác với doanh nghiệp ở chỗ Hợp tác xã phục vụ nhu cầu, nguyện vọng của thành viên
1.2 Đặc điểm Hợp tác xã
1.2.1 Hợp tác xã là một tổ chức kinh tế, hoạt động như một loại hình doanh nghiệp
Là một tổ chức kinh tế, các Hợp tác xã được thành lập để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ Là một tổ chức kinh tế, Hợp tác xã có nguồn vốn riêng, có điều lệ tổ chức và hoạt động riêng, có tên gọi, biểu tượng riêng (nếu có), phải tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh,
về tài chính, phải hạch toán và hoạt động có hiệu quả để tồn tại và phát triển bền vững, đáp ứng yêu cầu của xã viên và bình đẳng như các loại hình doanh nghiệp khác Tuy nhiên, khác với các loại hình doanh nghiệp lấy lợi nhuận làm mục tiêu hoạt động, Hợp tác xã ra đời trước hết là để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của thành viên về kinh tế và xã hội, phục vụ thành viên phát triển sản xuất, kinh doanh, tăng thêm lợi ích cho thành viên Hoạt động sản xuất, kinh doanh của Hợp tác xã chỉ là một công cụ nhằm thúc đẩy tăng thêm lợi ích của thành viên
Trang 4thông qua vai trò phục vụ của Hợp tác xã Hoạt động sản xuất, kinh doanh của Hợp tác xã có thể tạo ra lợi nhuận, lợi nhuận này hoặc được sử dụng để mở rộng quy mô Hợp tác xã, hoặc được hoàn trả trực tiếp cho thành viên Mục tiêu của Hợp tác xã là phục vụ, không phải chỉ lợi nhuận Bên cạnh đó, các thành viên Hợp tác xã được bình đẳng, dân chủ trong việc quản lý Hợp tác xã thông qua mỗi người một phiếu bầu, cùng có quyền lợi, nghĩa vụ trong phát triển Hợp tác xã Chính vì vậy mà Luật Hợp tác xã năm 2003 không xác định Hợp tác xã là một loại hình doanh nghiệp mà coi Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp
1.2.2 Mỗi Hợp tác xã có số lượng từ bảy thành viên trở lên
Số lượng thành viên tham gia Hợp tác xã là một yếu tố quan trọng, ảnh hưởng lớn đến quy mô tổ chức, hoạt động sản xuất, kinh doanh của Hợp tác xã Đối tượng tham gia Hợp tác xã bao gồm tất cả các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân Việc quy định về số lượng thành viên và cơ cấu thành viên của Hợp tác xã là một trong những tiêu chí để phân biệt Hợp tác xã với các loại hình doanh nghiệp khác Chẳng hạn khi xem xét về số lượng đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thì số lượng thành viên không được vượt quá năm mươi, đối với công
ty cổ phần thì số lượng tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa Hoặc nói đến cơ cấu thành viên ở Hợp tác xã cán bộ, công chức và hộ gia đình được tham gia thành lập trong khi đó doanh nghiệp thì lại không được thành lập Tuy nhiên, Luật Hợp tác xã lại không quy định cá nhân nước ngoài, tổ chức nước ngoài có được tham gia thành lập Hợp tác xã hay không, trong khi đó đối tượng thành lập, góp vốn, mua cổ phần và quản lý doanh nghiệp thì đối tượng này được tham gia
1.2.3 Các thành viên của Hợp tác xã cùng góp tài sản, công sức, cùng hưởng lợi
và cùng chịu trách nhiệm
Pháp luật quy định khá chặt chẽ giữa các thành viên khi tham gia Hợp tác xã Mối quan hệ giữa các thành viên được hình thành trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, tương trợ lẫn nhau và cùng hưởng lợi Các thành viên cùng sản xuất, cùng
kinh doanh, cùng làm các dịch vụ và phân phối lợi nhận theo nguyên tắc “lời ăn, lỗ chịu” Các thành viên trong Hợp tác xã được Nhà nước đảm bảo quyền tự chủ
Trang 5trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, nhưng pháp luật cũng yêu cầu họ phải tự chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình
II QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ Ở VIỆT NAM
TỪ NĂM 1954 ĐẾN NAY
2.1 Thời kỳ tổ chức xây dựng hợp tác xã nông nghiệp bậc thấp (1958 – 1960)
Miền Bắc đã có 40.422 hợp tác xã nông nghiệp, thu hút 2.4 triệu hộ nông dân, chiếm 85.8% tổng số hộ với 76% diện tích ruộng đất Về cơ bản miền Bắc đã hoàn thành xây dựng hợp tác xã nông nghiệp bậc thấp
Có 4.346 hợp tác xã bậc cao và xuất hiện một số hợp tác xã quy mô toàn xã
2.2 Thời kỳ hợp tác xã nông nghiệp bậc cao (1960 – 1965)
17.562 hợp tác xã nông nghiệp bậc cao
Hợp tác xã nông nghiệp đã thu hút 90.3% số hộ nông dân miền Bắc tham gia hợp tác xã, trong đó có 80% số hộ tham gia hợp tác xã bậc cao
Phong trào hợp tác xã nông nghiệp bộc lộ nhiều khuyết điếm: số hợp tác xã yếu kém còn nhiều, hiệu quả hoạt động thấp, chưa đạt được mục tiêu hợp tác xã đề ra, chưa xây dựng được niềm tin vững chắc với người nông dân
2.3 Thời kỳ tiếp tục củng cố và phát triển hợp tác xã ở miền Bắc (1966 – 1975)
Đẩy mạnh cuộc vận động cải tiến quản lý, cải tiến kỹ thuật và tiến hành cuộc vận động dân chủ, phấn đấu đưa nông nghiệp miền Bắc tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa
97% số hộ nông dân tham gia hợp tác xã trong đó có 80% số hộ tham gia hợp tác bậc cao
Quy mô hợp tác xã không ngừng mở rộng
Diện tích gieo trồng của hợp tác xã trong giai đoạn 1966 – 1975 giảm 3.6% so với giai đoạn năm 1961 – 1965
Các hộ thành viên có thu nhập từ hợp tác xã ngày càng thấp, lương thực tính theo bình quân đầu người giảm từ 304kg thời kỳ năm 1961 – 1965 xuống 258.8kg thời kỳ năm
1966 – 1975
Tệ nạn tham ô, lãng phí và hiện tượng thất thoát, hư hao tiền vốn ở các hợp tác xã tăng cao đến mức nghiêm trọng
Trang 62.4 Thời kỳ mở rộng hợp tác hóa trên phạm vi cả nước (1976 – 1986)
Ở miền Bắc hợp tác xã nông nghiệp tiếp tục mở rộng quy mô, tổ chức lại theo hướng tập trung, chuyên môn hóa, cơ giới hóa
Ở miền Nam phong trào hợp tác xã nông nghiệp được đẩy mạnh
Cuối thập kỷ 70 đầu thập kỷ 80 của thế ký thứ XX, phong trào hợp tác xã nông nghiệp lâm vào bế tắc, những khuyết điểm, yếu kém của mô hình hợp tác xã kiểu cũ ngày càng bộ lộ nhiều khuyết điểm, tác động tiêu cực về tâm lý và xã hội trong nông thôn, người lao động không gắn bó với ruộng đất
Sản xuất nông nghiệp dậm chân tại chỗ số lượng lương thực từ năm 1976 đến năm
1981 không vượt quá 15 triệu tấn/năm
Để tháo gỡ khó khăn một số địa phương đã đi tìm mô hình mới về hợp tác xã nông nghiệp theo phương thức khoán sản phẩm đến người lao động
Tháng 01 năm 1981, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị 100-CT-TW về cải tiến công tác khoán và mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác
xã nông nghiệp và đã thu được kết quả rất lớn trong sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, mô hình hợp tác xã vẫn dựa trên sở hữu tập thể, quản lý tập trung, phân phối thống nhất theo chế độ công điểm
2.5 Thời kỳ từ thực hiện “đổi mới” đến khi có Luật hợp tác xã (1987 – 1996)
Cải biến thực sự tính chất và phương thức tổ chức quản lý hợp tác xã nông nghiệp ở nước ta: hộ gia đình thành viên được xác định là những đơn vị kinh tế tự chủ, kinh tế hộ được quyền chủ động sản xuất, kinh doanh, hợp tác xã chỉ thực hiện những khâu công việc
mà kinh tế hộ làm nhưng không hiệu quả hoặc không làm được
Do không thích ứng với cơ chế mới và do công tác quản lý nhà nước đối với hợp tác
xã không theo kịp tình hình, nên vào những năm đầu của thập kỷ 90 thế kỷ trước hầu hết các hợp tác xã và tập đoàn sản xuất nông nghiệp bị giải thể hàng loạt
Thời điểm cao nhất của phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, cả nước có 17.022 hợp tác xã nông nghiệp và 36.352 tập đoàn sản xuất nông nghiệp Thì đến tháng 12 cả nước chỉ còn 13.756 hợp tác xã nông nghiệp và 1.892 tập đoàn sản xuất nông nghiệp
Trang 72.6 Tình hình hợp tác xã hiện nay ở Việt Nam hiện nay
Phát triển kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã là một tất yếu khách quan Điều đó đã được khẳng định trong đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước ta Các hình thức hợp tác xã cũng đã ra đời từ rất sớm ở nước ta Trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp, điển hình có hợp tác xã Dân Chủ ở Thái Nguyên, cách nay đã gần 60 năm Quá trình phát triển kinh tế hợp tác
xã trải qua các giai đoạn cách mạng đã có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước
Bước vào thời kỳ đổi mới, từ năm 1986 đến cuối những năm 90 của thế kỷ
XX, do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là chuyển đổi cơ chế quản lý, thay đổi
cơ cấu tổ chức quản lý của hệ thống hợp tác xã, những yếu kém, khuyết tật và bất cập của mô hình cũ trong điều kiện mới, nên khu vực hợp tác xã đã lâm vào một cuộc khủng hoảng sâu sắc, nhiều hợp tác xã tan rã Đến tháng 12-1996, trước khi
thực hiện Luật hợp tác xã, cả nước chỉ còn lại 17.462 hợp tác xã (so với trên 79.000
hợp tác xã thời điểm trước năm 1986) Trong đó, giảm nhiều nhất là các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã tín dụng, số hợp tác xã mua bán còn lại không đáng kể
Luật hợp tác xã được ban hành và có hiệu lực từ năm 1997, nhất là sau khi
có Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 18-3-2002 Hội nghị Trung ương 5 khóa IX
về Tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, khu vực hợp
tác xã đã dần khắc phục tình trạng yếu kém, tạo những bước phát triển mới, thể hiện trên các mặt, như sau:
+ Số lượng đã tăng lên đáng kể Tiếp tục khẳng định các tổ hợp tác, hợp tác
xã vẫn là khu vực kinh tế - xã hội rộng lớn nhất Đến tháng 6-2007, cả nước có trên 320.000 tổ hợp tác, so với năm 2001 tăng 32,6%, gấp hơn 2,5 lần so với năm 1997
Có 17.599 hợp tác xã, trong đó số hợp tác xã mới được thành lập chiếm tới 57,59
%; 39 liên hiệp hợp tác xã tăng so với năm 2001 là 17,8% Các tổ hợp tác, hợp tác
xã thu hút trên 12,5 triệu xã viên Trong lĩnh vực nông, lâm, diêm nghiệp, có 8.535 hợp tác xã và trên 100.000 tổ hợp tác, với khoảng 8,3 - 8,5 triệu xã viên, hộ xã viên tham gia Hợp tác xã cũng có xu thế phát triển mạnh trong lĩnh vực tín dụng nhỏ, giao thông vận tải, tiểu thủ công nghiệp Có 934 quỹ tín dụng nhân dân với gần 1,1 triệu thành viên và trên 150.000 các tổ tín dụng
+ Các hợp tác xã cũ cơ bản đã được chuyển đổi xong theo quy định của Luật hợp tác xã; giải thể các hợp tác xã hình thức, không còn hoạt động Thời gian qua,
cả nước đã chuyển đổi 8.700 hợp tác xã cũ; từ năm 2000 đến nay đã giải quyết được gần 4.000 hợp tác xã cũ, trong đó tiếp tục chuyển đổi trên 1.400 hợp tác xã, giải thể trên 2.300 hợp tác xã yếu kém, không còn hoạt động Đến nay, cả nước chỉ còn tồn tại trên 300 hợp tác xã (chủ yếu là hợp tác xã nông nghiệp) chưa làm xong các thủ tục giải thể, nhưng cũng không còn hoạt động
+ Các hợp tác xã mới phát triển mạnh theo hướng nâng cao hiệu quả, đa dạng hơn Đến nay, cả nước đã có 5.200 hợp tác xã mới được thành lập Bên cạnh
Trang 8các lĩnh vực truyền thống, nhiều mô hình hợp tác xã trong các ngành, nghề mới xuất hiện, như hợp tác xã vệ sinh môi trường, hợp tác xã nước sạch, hợp tác xã điện, hợp tác xã quản lý kinh doanh chợ Cũng xuất hiện các mô hình hợp tác xã gắn với đáp ứng nhu cầu đời sống, kinh tế của các giới, các tầng lớp, các nhóm đối tượng khác nhau, như hợp tác xã của phụ nữ, của thanh niên, của những người tàn tật, của cựu chiến binh, do nhà chùa, nhà thờ Từ kinh nghiệm quốc tế, một số mô hình mới cũng đang được Liên minh Hợp tác xã Việt Nam nghiên cứu triển khai ở một số nơi, như hợp tác xã trường học, hợp tác xã nhà ở, hợp tác xã y tế
+ Các tổ hợp tác tuy có các tên gọi khác nhau (tổ hợp tác, tổ tín dụng và trợ vốn, tổ và tập đoàn sản xuất, nhóm sản phẩm, câu lạc bộ, hiệp hội ngành nghề ),
nhưng về bản chất vẫn là các tổ chức hợp tác xã, được hình thành xuất phát từ nhu
cầu thực sự của người dân, phát triển mạnh trong các lĩnh vực tín dụng, sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Nhiều tổ hợp tác đã được tổ chức chặt chẽ và tuân thủ các nguyên tắc của hợp tác xã
+ Các hợp tác xã (chuyển đổi cũng như thành lập mới) nhìn chung đã tuân
thủ các nguyên tắc, quy định của Luật hợp tác xã Các hợp tác xã được củng cố một
bước về tổ chức quản lý, vốn quỹ, về trách nhiệm và quan hệ giữa xã viên với hợp tác xã Hoạt động của các hợp tác xã được đổi mới, thiết thực gắn với lợi ích của các thành viên Phần lớn hợp tác xã có kế hoạch, phương án hoạt động cụ thể Các hợp tác xã nông nghiệp đã làm được các khâu dịch vụ cơ bản, phục vụ sản xuất nông nghiệp; số các hợp tác xã làm các dịch vụ tổng hợp có xu hướng tăng, hoạt động có hiệu quả hơn
+ Liên kết giữa các hợp tác xã với nhau bước đầu được tăng cường, nhất là giữa các hợp tác xã cùng ngành nghề và trên cùng địa bàn Một số hợp tác xã đã hợp nhất lại với nhau thành các hợp tác xã lớn hơn hoặc liên kết lại với nhau về tổ chức, thành lập các liên hiệp hợp tác xã hoặc hiệp hội ngành nghề để tăng khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động Trong 5 năm gần đây, cả nước đã có 540 hợp tác
xã hợp nhất lại thành 144 hợp tác xã lớn hơn; có 39 liên hiệp hợp tác xã thu hút hơn
300 hợp tác xã thành viên (năm 2001 có 8 liên hiệp hợp tác xã)
+ Các tổ hợp tác, hợp tác xã tập hợp trên 12,5 triệu người lao động, hộ kinh
tế gia đình, kinh tế cá thể, tiểu chủ, các cơ sở sản xuất, kinh doanh nhỏ phân bố trên một khu vực kinh tế - xã hội rộng lớn có tác động quan trọng, không thể thay thế được đối với nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế, nhất là những ngành nghề như nông nghiệp, thủy hải sản, tín dụng nhỏ, tiểu thủ công nghiệp, vận tải hàng hóa, hành khách và có tác dụng thiết thực đến đời sống, công ăn việc làm, thu nhập của khoảng 47-50 triệu người, chủ yếu ở khu vực nông thôn và những tầng lớp có thu nhập thấp Các tổ chức hợp tác xã còn đóng góp to lớn trong xây dựng kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là ở nông thôn, như xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục tiểu học, mẫu giáo, y tế
Nhìn chung, hoạt động của hợp tác xã không những phục vụ các nhu cầu kinh tế, đời sống của xã viên, hộ xã viên và phát triển cộng đồng là chủ yếu, mà
Trang 9còn đóng góp tới 6,83% GDP của đất nước Thông qua các hoạt động của mình, các tổ hợp tác, hợp tác xã đã khẳng định được vai trò quan trọng không chỉ đối với sản xuất, kinh doanh, mà còn trở thành nhân tố không thể thay thế, góp phần thúc đẩy dân chủ hóa, bảo đảm an sinh xã hội, ổn định chính trị ở cơ sở
Tuy có những chuyển biến tích cực, nhưng cũng phải thừa nhận rằng hợp tác
xã vẫn chưa thoát khỏi tình trạng yếu kém, còn nhiều khó khăn và bất cập lớn Cụ thể là:
- Bộc lộ tính không đồng bộ giữa mục tiêu và nội dung hoạt động kinh tế, xã hội phức tạp, quy mô lao động lớn của các tổ hợp tác, hợp tác xã với năng lực nội tại về vốn liếng, cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn nhân lực không đáp ứng được yêu cầu đổi mới và phát triển Phần lớn các hợp tác xã không có mặt bằng để triển khai các hoạt động, có hơn 52% số hợp tác xã không có trụ sở làm việc Trình độ nhận thức, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, người lao động trong các hợp tác xã vốn đang rất yếu, lại thiếu gắn bó, không yên tâm làm việc lâu dài
- Trình độ tổ chức, năng lực quản lý trong các hợp tác xã nhìn chung còn yếu Ở nhiều hợp tác xã (cả chuyển đổi và mới thành lập), việc tuân thủ các nguyên tắc, giá trị, tuân thủ các quy định về góp vốn điều lệ, về tích lũy tài sản vốn quỹ chung chưa bảo đảm
- Hoạt động của các hợp tác xã còn thiếu gắn bó với nhau, chưa có sự liên kết hệ thống chặt chẽ cả về mặt kinh tế, xã hội và tổ chức Các hoạt động liên doanh, liên kết trong sản xuất, kinh doanh giữa các hợp tác xã với nhau còn ít, nội dung còn nghèo nàn Tuy vừa qua đã hình thành được một số liên hiệp hợp tác xã, nhưng quy mô nhỏ, hiệu quả chưa cao, nhất là tác dụng hỗ trợ các hợp tác xã thành viên còn ít
III QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP THẠNH PHƯỚC – TỈNH HẬU GIANG
Hợp tác xã nông nghiệp Thạnh Phước thuộc huyện Châu Thành tỉnh Hậu Giang đã đi vào nề nếp, phát huy hiệu quả trên lĩnh vực liên kết phát triển SX, hỗ trợ kỹ thuật, cung ứng cây giống cho hộ nghèo, HTX còn ký hợp đồng bao tiêu toàn bộ sản phẩm cho nông dân Tiền thân là Câu lạc bộ khuyến nông xã Đông Thạnh, HTX NN Thạnh Phước được thành lập năm 1999 với 16 thành viên, vốn điều lệ 20 triệu đồng, diện tích đất canh tác 17 ha đất vườn, chủ yếu trồng chanh không hạt Thực hiện mô hình hợp tác xã kiểu mới, do sản xuất theo hình thức tập thể nên tất cả các chi phí từ dịch vụ đầu vào đến công lao động, vận chuyển đều giảm đáng kể, từ đó giá thành sản phẩm cũng giảm, thu hút được các doanh nghiệp đến thu mua Hơn nữa, bà con khi tham gia vào HTX được tập huấn KHKT, HTX đứng ra bảo lãnh để vay vốn, tìm đầu ra cho sản phẩm nên rất phấn khởi tham gia Phương thức hoạt động là mô hình của hộ thành viên nào, hộ thành viên đó tự quản
lý và hưởng lợi HTX đứng ra tìm thị trường và tiêu thụ sản phẩm, các sản phẩm đầu vào như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, kỹ thuật, con giống được HTX cung
Trang 10cấp Sau khi tiêu thụ sản phẩm các thành viên trích một phần lập quỹ sử dụng cho việc cung cấp đầu vào
Nhờ làm tốt công tác quản lý, năng động trong việc tìm kiếm đầu ra của sản phẩm, áp dụng KHKT trong sản xuất, HTX Thành Đạt hoạt động ngày càng có hiệu quả các thành viên của HTX hiện nay đều thoát nghèo và vươn lên khá giàu Một số thành viên có diện tích canh tác lớn có thể thu về 150 - 200 triệu đồng/ha/năm
HTX còn thực hiện trồng và nhân giống chanh không hạt để đáp ứng đủ cây trồng cho HTX và thuận lợi cho mở rộng thị trường HTX đã cung cấp trên 200.000 cây giống chanh không hạt và thu mua trên 60 tấn trái để bán cho doanh nghiệp, trừ chi phí, HTX còn lãi trên 1 tỷ đồng
Ngoài ra, HTX còn giúp cho gần 20 lao động nông thôn có việc làm ổn định, với mức thu nhập trên 3 triệu đồng mỗi tháng “Hiện nay, nhu cầu tiêu thụ chanh không hạt rất lớn, giống chanh không hạt có khả năng kháng bệnh và chịu hạn cao nên rất thích hợp trồng ở vùng ĐBSCL Khi khí hậu đang khô hạn, cây chanh không hạt vẫn phát triển tốt, giúp người nông dân tìm được hướng đi mới”, Giám đốc Nguyễn Văn Thật cho biết
IV NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể đã xác định mục tiêu đến năm 2010 là đưa kinh tế tập thể thoát khỏi những yếu kém hiện nay, đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn, tiến tới có
tỷ trọng ngày càng lớn hơn trong GDP của nền kinh tế Nghị quyết Đại hội X của Đảng tiếp tục khẳng định đường lối phát triển nền kinh tế đa sở hữu, nhiều thành
phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; đồng thời
nhấn mạnh là phải "tổng kết thực tiễn, sớm có chính sách, cơ chế cụ thể khuyến khích mạnh hơn các loại hình kinh tế tập thể đa dạng về hình thức sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, bao gồm các tổ hợp tác, hợp tác xã kiểu mới
1 Phát triển hợp tác xã gắn bó mật thiết, phục vụ thực hiện thắng lợi đường lối và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Đại hội X của Đảng đã đề ra tám nhiệm vụ chủ yếu trong 5 năm (2006-2010): "Giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực, tạo bước đột phá về xây dựng kết cấu hạ tầng và chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, nâng cao chất lượng và sức cạnh tranh, tăng tốc độ tăng trưởng kinh
tế, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng của nước đang phát triển có thu nhập thấp Phát triển mạnh khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế tri thức Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, giải quyết việc làm, khuyến khích làm giàu hợp pháp, xóa đói, giảm nghèo, phát triển hệ thống an sinh
xã hội; đẩy lùi các tệ nạn xã hội Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ, nâng cao hiệu lực của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa"1 Phát