Liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia (LA tiến sĩ)Liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia (LA tiến sĩ)Liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia (LA tiến sĩ)Liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia (LA tiến sĩ)Liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia (LA tiến sĩ)Liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia (LA tiến sĩ)Liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia (LA tiến sĩ)Liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia (LA tiến sĩ)Liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia (LA tiến sĩ)Liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia (LA tiến sĩ)Liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia (LA tiến sĩ)Liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia (LA tiến sĩ)Liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia (LA tiến sĩ)Liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia (LA tiến sĩ)Liên kết vùng đồng bằng sông Cửu Long góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia (LA tiến sĩ)
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HỮU HIỆP
LIÊN KẾT VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
GÓP PHẦN ĐẢM BẢO AN NINH LƯƠNG THỰC QUỐC GIA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2017
Trang 2VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HỮU HIỆP
LIÊN KẾT VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
GÓP PHẦN ĐẢM BẢO AN NINH LƯƠNG THỰC QUỐC GIA
Chuyên ngành: Kinh tế Phát triển
Mã số: 62.31.01.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 GS.TS Nguyễn Quang Thuấn
2 PGS.TS Nguyễn Văn Sánh
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong Luận án là trung thực Những kết luận khoa học của Luận án chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trần Hữu Hiệp
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ LIÊN KẾT VÙNG VÀ AN NINH LƯƠNG THỰC ….16
1.1 Phát triển vùng và liên kết vùng 16
1.2 An ninh lương thực 24
1.3 Một số lý thuyết có liên quan đề tài 33
1.4 Khoảng trống nghiên cứu 38
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG CỦA LIÊN KẾT VÙNG ĐẾN AN NINH LƯƠNG THỰC 41
2.1 Các khái niệm liên quan 41
2.2 Tác động của liên kết vùng đến đảm bảo an ninh lương thực quốc gia 51
Chương 3: NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN VÙNG, THỰC TRẠNG NGÀNH HÀNG LÚA GẠO VÀ LIÊN KẾT VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 56
3.1 Nguồn lực phát triển vùng 56
3.2 Thực trạng ngành hàng lúa gạo 71
3.3 Thực trạng liên kết vùng ĐBSCL 80
3.4 Đánh giá các nguồn lực, thực trạng liên kết vùng ĐBSCL 100
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP LIÊN KẾT VÙNG, ĐẢM BẢO AN NINH LƯƠNG THỰC 114
4.1 Bối cảnh quốc tế và trong nước 114
4.2 Phương hướng, giải pháp liên kết vùng, đảm bảo an ninh lương thực 117
4.3 Đề xuất, kiến nghị 144
KẾT LUẬN 147
TÀI LIỆU THAM KHẢO 149
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 161
PHỤ LỤC 143
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG VIỆT
ANLT : An ninh lương thực
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TIẾNG ANH
ADB : Asian Development Bank (Ngân hàng Phát triển châu Á) ASEAN : Association of Southeast Asian Nations (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á)
FAO : Food and Agriculture Organization of the United Nations (Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc)
FDI : Foreign Direct Investment (Đầu tư trực tiếp nước ngoài)
GIZ : Gesellschaft Internationale Zusammenarbeit (Tổ chức Hợp tác quốc tế Đức)
IUCN : International Unionfor Conservation of Nature (Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế)
MDEC : Mekong Delta Conference (Diễn đàn Hợp tác Kinh tế ĐBSCL) MDP : Mekong Delta Plan (Kế hoạch ĐBSCL)
UNDP : United Nations Development Programme (Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc)
SWOT : Strengths - Weaknesses - Opportunities - Threats (điểm mạnh điểm yếu - cơ hội - thách thức)
WB : World Bank (Ngân hàng Thế giới)
WTO : World Trade Organization (Tổ chức Thương mại Thế giới)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Mức độ đồng ý về khung pháp lý, chính sách liên kết vùng 53
Bảng 2.2 Cảm nhận rào cản chi phí tham gia liên kết 54
Bảng 3.1 Thời gian đi lại trung bình bằng ô tô TP HCM - Cần Thơ (170 km) 63
Bảng 3.2 Sản lượng điện thương phẩm vùng ĐBSCL 67
Bảng 3.3 Xếp hạng PCI các tỉnh, thành vùng ĐBSCL 68
Bảng 3.4 Một số chỉ tiêu về hiện trạng dân số, lao động vùng ĐBSCL 69
Bảng 3.5 Phân tích tổng hợp kinh tế chuỗi giá trị gạo hàng hóa vùng ĐBSCL 74
Bảng 3.6 Tỉ trọng (theo khối lượng) của 10 DN XK gạo lớn nhất VN 2012 77
Bảng 3.7 Cảm nhận của chuyên gia vùng và chính quyền địa phương Về vai trò của BCĐ Tây Nam Bộ trong thúc đẩy liên kết vùng 84
Bảng 3.8 Cảm nhận của địa phương về vai trò của BCĐ Tây Nam Bộ 84
Bảng 3.9 Cảm nhận của các đối tượng về vai trò của BCĐ điều phối các vùng KTTĐ trong thúc đẩy liên kết vùng 88
DANH MỤC CÁC HỘP Trang Hộp 3.1 GS.TS Võ Tòng Xuân (1) 76
Hộp 3.2 GS.TS Võ Tòng Xuân (2) 112
Hộp 4.1 Thông điệp đầu năm 2014 của nguyên TTg CP Nguyễn Tấn Dũng 118
Hộp 4.2 Việt Nam tiếp nhận Kế hoạch phát triển ĐBSCL (MDP) 121
Hộp 4.3 Tuyên bố chung của các đối tác phát triển về điều phối vùng tại VN 139
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 3.1 Diện tích đất sản xuất nông nghiệp ĐBSCL 62
Biểu đồ 3.2 Sản lượng lúa các tỉnh vùng ĐBSCL năm 2015 72
Biểu đồ 3.3 Nhà máy xay xát và lau bóng ở ĐBSCL 75
Biểu đồ 3.5 Tỉ trọng đóng góp vào tổng GTSX của các lĩnh vực kinh tế của các vùng trong cả nước năm 2013 103
DANH MỤC SƠ ĐỒ Trang Sơ đồ 1.1 Khung nghiên cứu của Luận án 15
Sơ đồ 3.1 Tổ chức Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ 82
Sơ đồ 3.2 Tổ chức Diễn đàn Hợp Kác kinh tế ĐBSCL – MDEC 85
Sơ đồ 3.3 Cơ cấu tổ chức điều phối tại các vùng KTTĐ 87
Sơ đồ 3.4 Vai trò của các bên trong “liên kết bốn nhà” 91
Sơ đồ 3.5 “Cánh đồng lớn” mô phỏng theo mô hình của AGPPS 95
Sơ đồ 3.6 Chuỗi giá trị lúa gạo ĐBSCL 100
Sơ đồ 4.1 Định hướng điều chỉnh QH tổng thể KT-XH vùng ĐBSCL 124
Sơ đồ 4.2 Hội đồng Vùng ĐBSCL 136
Sơ đồ 4.3 Mô hình tổ chức điều phối liên kết PT ngành hàng lúa gạo ĐBSCL 143
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 2.1
Hình 2.2
Hình 2.3
Hình 3.1
Hình 3.2
Hình 4.1
Mô hình phát triển bền vững ………
Các mức độ ứng dụng chuỗi giá trị
6 vùng kinh tế - xã hội ở Việt Nam………
Vị trí vùng ĐBSCL………
Vùng dự án thí điểm “canh tác lúa giảm khí thải”…………
Tiếp cận vùng theo lợi thế sinh thái các tiểu vùng…………
37
38
44
57
98
122
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Liên kết vùng (LKV) và an ninh lương thực (ANLT) là những vấn đề quan trọng
được nhiều học giả trong, ngoài nước nghiên cứu, là chủ đề được trao đổi, bàn luận tại nhiều diễn đàn, hội nghị, hội thảo trong nước và quốc tế Các kết quả nghiên cứu vấn đề này đã có những đóng góp đáng kể về lý luận và thực tiễn, khẳng định yêu cầu tăng cường liên kết vùng, vai trò và tầm quan trọng của nhiệm vụ đảm bảo ANLT quốc gia và trên thế giới
Ở Việt Nam, ANLT luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm Sản xuất lúa gạo không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước, đảm bảo ANLT quốc gia mà còn đưa nước ta từ một nước thiếu lương thực những năm 80, trở thành một trong những quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới từ những năm 90 đến nay Hệ thống lưu thông đã có nhiều đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân tiếp cận lương thực Thị trường lương thực nội địa chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, tham gia vào chuỗi cung ứng lúa gạo
toàn cầu Theo TS Nguyễn Đức Thành, TS Đinh Tuấn Minh (2015), “Thị trường lúa gạo Việt Nam: Cải cách để hội nhập – Cách tiếp cận cấu trúc thị trường”, NXB Hồng Đức [71], thì xuất khẩu gạo của Việt Nam chiếm khoảng 18 - 20% thị phần gạo
xuất khẩu của thế giới “Nghị quyết 63/NQ-CP ngày 23-12-2009 của Chính phủ về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia” ghi nhận, cùng với sự gia tăng sản lượng và xuất khẩu gạo, tình trạng suy dinh dưỡng của người dân cũng được cải thiện đáng kể [18]
Số liệu của Tổng cục Thống kê (2015), Niên giám Thống kê 2015, NXB Thống kê [92] cho thấy, ĐBSCL có tiềm năng, lợi thế to lớn về nông nghiệp với hơn 2,607 triệu ha đất nông nghiệp, chiếm 64,3% cơ cấu sử dụng đất trong vùng và 25,5% diện tích đất nông nghiệp cả nước ĐBSCL là vùng sản xuất lúa lớn nhất nước với diện tích cả năm hơn 4,308 triệu ha, chiếm gần 55% tổng diện tích trồng lúa (7,835
Trang 112
triệu ha), chiếm 56,8% sản lượng lúa quốc gia (45,215 triệu tấn) và luôn chiếm hơn 90% lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam nhiều năm qua Số hộ trồng lúa của vùng này tuy chỉ chiếm 16% trong tổng số hộ trồng lúa, nhưng sản xuất hơn một nửa tổng sản lượng lúa quốc gia Vào năm 1990, sản lượng lương thực của vùng chỉ đạt 9,48 triệu tấn, đã tăng lên 16,7 triệu tấn vào năm 2000, đạt 19,24 triệu tấn vào năm 2005
và 25,7 triệu tấn vào năm 2015
Tuy nhiên, theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016), Kịch bản BĐKH ở Việt Nam [14], thì vùng này đang đứng trước nhiều thách thức ĐBSCL là một trong ba
đồng bằng trên thế giới bị tác động nặng nề do biến đổi khí hậu (BĐKH), nước biển dâng (NBD) Mặt trái của quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá cũng tạo ra áp lực mạnh mẽ đối với ngành sản xuất lúa Trong khi đó, ANLT chưa được nhận thức một cách đầy đủ trong tiến trình hoạch định và thực thi các cơ chế, chính sách có liên quan trong việc lựa chọn, bố trí và sử dụng các nguồn lực như điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên thuận lợi vốn là lợi thế so sánh của ngành sản xuất lúa gạo ĐBSCL Thực trạng này thường dẫn đến xu hướng, sản xuất lúa gạo chạy theo sản lượng, xem nhẹ vai trò của ngành trồng lúa, hoặc là tạo ra gánh nặng cho người nông dân với nhiệm
vụ đảm bảo ANLT quốc gia
Nhìn chung, cơ sở hạ tầng, hậu cần logistics, dịch vụ nông nghiệp vùng ĐBSCL cùng với các vấn đề quản lý sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu lương thực còn nhiều yếu kém, bất cập Thu nhập của người trồng lúa thấp, bấp bênh Đặc biệt, thời gian gần đây nổi lên yêu cầu cần tiếp cận đa ngành, theo vùng, liên vùng; phải tăng cường LKV, liên kết doanh nghiệp (DN) - nông dân, các chủ thể kinh doanh và
các bên liên quan theo chuỗi giá trị lúa gạo, càng bộc lộ thêm điểm yếu đó “Liên kết bốn nhà” (nhà nước, nhà nông, DN, nhà khoa học) được đề cập nhiều và triển khai
trong thực tế từ sau Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg ngày 24-6-2002 của Thủ tướng
Chính phủ về Chính sách khuyến khích tiêu thụ hàng hóa thông qua hợp đồng [91],
nhưng vẫn còn nhiều bất cập Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg ngày 25-10-2013 của
Thủ tướng Chính phủ V/v Chính sách khuyến khích liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ
Trang 123
nông sản, xây dựng cánh đồng lớn [82] đã có những đóng góp nhất định trong việc
thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo theo quy mô sản xuất lớn hơn Song, cũng bộc lộ những bất cập trong thực tiễn cần được tháo gỡ và hoàn thiện
Cùng với ANLT, phát triển vùng và liên kết kinh tế vùng là những vấn đề quan
trọng Việt Nam được chia thành 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Vùng ĐBSCL gồm 13 tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và
Cà Mau Việc tổ chức chính quyền Trung ương và địa phương, phân bổ ngân sách được thực hiện theo các cấp hành chính đó mà không có tổ chức bộ máy hành chính cấp vùng Cấp tỉnh ngày càng được trao quyền nhiều hơn, đã giúp chính quyền địa phương chủ động, sáng tạo hơn trong việc ra quyết định Song, nó cũng tạo ra sự chia
cắt “không gian kinh tế vùng”, cùng với các thách thức về BĐKH, NBD, quản lý, sử
dụng nguồn tài nguyên nước sông Mê Kông, thách thức trước hội nhập, cạnh tranh, đặt ra yêu cầu bức thiết cần tăng cường liên kết vùng
Thời gian qua, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, ở cấp độ khác nhau đều có đề cập đến “phát triển vùng lãnh thổ” và “liên kết vùng” Liên tục trong các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX, X và
XI đều có nội dung “phát triển vùng, lãnh thổ” Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần
thứ XII (2016-2020) [25] cũng đưa ra vấn đề “phát triển kinh tế vùng, liên vùng”, xác định nhiệm vụ “sớm xây dựng và thể chế hóa cơ chế điều phối liên kết vùng” thành
nội dung quan trọng trong việc “Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (CNH, HĐH)” Đặc biệt, điều 52
Hiến pháp năm 2013 ghi nhận “Thúc đẩy liên kết kinh tế vùng” Đây là khung pháp
lý cao nhất cho đến nay về vấn đề này, rất cần được cụ thể hóa bằng cơ chế pháp lý
cụ thể trên cơ sở kết quả nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, kiểm nghiệm và phát triển lý luận về vùng và LKV ở Việt Nam
Trang 134
Nhìn ở góc độ vùng ĐBSCL, thì yêu cầu bức xúc cũng đang nổi lên là cần tăng cường liên kết nội vùng, liên vùng để khắc phục tình trạng không gian kinh tế vùng bị chia cắt theo địa giới hành chính tỉnh, cạnh tranh cục bộ giữa các địa phương LKV để huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển vùng; tạo ra năng lực cạnh tranh tốt hơn cho ĐBSCL, chủ động ứng phó BĐKH, NBD, hội nhập, cạnh tranh khu vực và quốc tế Liên kết để phát huy thế mạnh của vùng trọng điểm sản xuất lúa gạo lớn nhất nước, không chỉ góp phần đảm bảo ANLT quốc gia, mà quan trọng hơn là nâng cao giá trị gia tăng, thu nhập của người trồng lúa, cư dân nông thôn, xây dựng nông thôn mới thực chất và bền vững
Thực tế đang nổi lên một số vấn đề liên quan đến LKV và đảm bảo ANLT cần được nghiên cứu làm rõ:
- Một là, vấn đề ANLT chưa được nhận thức một cách đầy đủ trước yêu cầu
phát triển bền vững (PTBV), cạnh tranh và hội nhập quốc tế Sản xuất lúa gạo ở ĐBSCL đang nổi lên trước các thách thức lớn của thị trường, BĐKH, NBD, ngập lụt, khô hạn, xâm nhập mặn … đòi hỏi cần phải tiếp cận và giải quyết theo vùng, không thể riêng lẻ từng tỉnh Sản xuất lúa gạo ở ĐBSCL đang rất cần động lực từ thể chế,
cơ chế, chính sách LKV, liên kết thực chất giữa DN, nông dân và các bên liên quan, đảm bảo ANLT quốc gia và PTBV
- Hai là, LKV được đề cập nhiều, nhưng cho đến nay, khái niệm vùng, phân
vùng còn nhập nhằng (vùng nằm trong vùng), dẫn đến khó khăn trong việc xây dựng, hoạch định hệ thống cơ chế, chính sách vùng Chưa rõ chủ thể cấp vùng là chủ thể nào so với chủ thể “Trung ương” (Chính phủ, các Bộ, Ban, ngành) và “địa phương” (Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân) đã được xác định rõ ràng trong Hiến pháp, luật và các văn bản pháp quy Chưa rõ nguồn lực nào để chủ động đầu tư cho vùng trong khi chỉ có ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương Phát triển vùng phụ thuộc vào các nguồn lực này, trong khi vùng lại được định ra các mục tiêu, chỉ tiêu, giải pháp phát triển riêng
Trang 145
- Ba là, tổ chức và cơ chế phối hợp vùng, liên vùng còn nhiều hạn chế Thiếu cơ sở
dữ liệu vùng, nhất là các dữ liệu cơ bản, chuyên ngành làm cơ sở khoa học và thực tiễn
để hoạch định chính sách, quy hoạch, bố trí, sử dụng hiệu quả các nguồn lực phát triển vùng Thông tin dữ liệu chủ yếu được xây dựng theo đơn vị hành chính tỉnh, vẫn còn tình trạng cát cứ thông tin, thiếu liên kết, thiếu chia sẻ phục vụ lợi ích chung của vùng
- Bốn là, sự cạnh tranh giữa các tỉnh có thể phá vỡ qui hoạch vùng, đặc biệt tác
động trực tiếp đến ngành trồng lúa khi các địa phương ngày càng có xu hướng quan tâm “cơ cấu kinh tế đẹp” (phát triển công nghiệp, dịch vụ, xem nhẹ nông nghiệp, mặc
dù nông nghiệp có nhiều tiềm năng, lợi thế) Hoặc là theo xu hướng ngược lại, lấy
“tăng sản lượng lúa” hàng năm làm chỉ tiêu thành tích, dẫn đến tăng diện tích lúa vụ
3, tăng chi phí đầu vào, tăng giá thành, giảm giá trị lúa gạo, nông dân lợi nhuận thấp
Nhận thức về an ninh lương thực vừa qua còn nặng về “đảm bảo an toàn” bằng
lượng thông qua việc xác định các chỉ tiêu sản lượng lúa trong kế hoạch sản xuất hàng năm của các địa phương; tăng diện tích “lúa vụ 3” ở ĐBSCL và tăng năng suất, sản lượng chủ yếu bằng tăng “đầu vào”, sử dụng nhiều vật tư, phân bón, làm tăng chí phí,
giá thành sản xuất Mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã ban hành “Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10-6-2013 phê duyệt đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” [81] Các địa phương trong
vùng ĐBSCL đều triển khai thực hiện đề án, nhưng làm riêng lẻ từng tỉnh, thiếu liên kết vùng, thiếu sự tiếp cận theo lợi thế của điều kiện tự nhiên, sinh thái và thị trường được nhìn rộng ra cấp vùng Chuỗi giá trị lúa gạo đang bị “cắt khúc” theo đơn vị hành chính tỉnh Vì vậy, yêu cầu đặt ra, cần tăng cường liên kết vùng phát triển ngành hàng lúa gạo vùng ĐBSCL Cách tiếp cận này được xem là yếu tố quan trọng góp phần
đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
Trong bối cảnh đó, đề tài nghiên cứu Luận án Tiến sĩ “Liên kết vùng ĐBSCL
góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia”, giai đoạn 2016-2020 và những
Trang 156
năm tiếp theo nhằm tăng cường liên kết, giải quyết các yêu cầu, thách thức trong phát triển vùng
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận án: xác định cơ sở khoa học và thực tiễn để tăng cường liên kết vùng ĐBSCL gắn với vấn đề đảm bảo ANLT quốc gia như là một
phương thức hiệu quả để phát triển sản xuất, kinh doanh lúa gạo ĐBSCL bền vững, góp phần đảm bảo ANLT quốc gia trước yêu cầu cạnh tranh, hội nhập quốc tế
Để đạt được mục đích, Luận án tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng ngành hàng lúa gạo và thực trạng liên kết vùng ĐBSCL; đánh giá, rút ra kết luận về vai trò, vị trí các nguồn lực và những tác động tích cực của liên kết vùng ĐBSCL đối với ngành hàng lúa gạo, nâng cao giá trị gia tăng chuỗi giá trị lúa gạo, góp phần đảm bảo ANLT quốc gia Nghiên cứu, đề xuất phương hướng, giải pháp liên kết vùng, phát triển sản xuất, tiêu thụ lúa gạo bền vững, góp phần đảm bảo ANLT quốc gia trong tình hình mới
Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án:
Một là, làm rõ các khái niệm: vùng, vùng kinh tế, liên kết kinh tế vùng, liên kết chuỗi giá trị, khái niệm về chính sách phát triển vùng, ANLT, ngành hàng lúa gạo và
mối liên hệ biện chứng giữa vấn đề LKV với đảm bảo ANLT quốc gia; trình bày cơ
sở lý luận về các vấn đề trên; xác định phương pháp nghiên cứu … để làm cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng, đề xuất cơ chế, chính sách, giải pháp tăng cường LKV, góp phần đảm bảo ANLT quốc gia
Hai là, phân tích vai trò, vị trí và các nguồn lực phát triển vùng ĐBSCL đối
với yêu cầu tăng cường LKV, đảm bảo ANLT quốc gia; phân tích thực trạng ngành hàng lúa gạo, liên kết vùng ở ĐBSCL thông qua các hình thức liên kết
Ba là, phân tích rõ bối cảnh trong và ngoài nước tác động đến phát triển kinh
tế vùng, liên kết vùng và an ninh lương thực quốc gia
Trang 167
Bốn là, đề xuất phương hướng, giải pháp liên kết vùng, góp phần đảm bảo
ANLT quốc gia Tập trung các giải pháp: cải cách thể chế liên kết vùng, quy hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng, xây dựng cơ chế thí điểm liên kết vùng, cơ chế tài chính sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực, phát huy vai trò các hiệp hội ngành hàng, mô hình tổ chức, điều phối liên kết vùng, xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu vùng và tăng cường hợp tác quốc tế
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài Luận án là vấn đề liên kết vùng và an ninh lương thực trước yêu cầu tăng cường liên kết vùng ĐBSCL gắn với tái cơ cấu nông
nghiệp, phát triển ngành hàng lúa gạo, góp phần đảm bảo ANLT quốc gia trong tình hình mới
Để làm rõ đối tượng, Luận án tập trung nghiên cứu vấn đề về lý luận, khái
niệm, các kết quả nghiên cứu có liên quan về vùng, phát triển vùng, liên kết kinh tế vùng Tổng luận các kết quả nghiên cứu có liên quan về ANLT, đảm bảo ANLT quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam, trong đó có vùng ĐBSCL Nhận diện các nguồn lực
phát triển vùng, bao gồm các nguồn lực tự nhiên và xã hội với việc bố trí, khai thác,
sử dụng hiệu quả chúng, liên quan đến điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức cho phát triển vùng Tác động của liên kết vùng đến đảm bảo ANLT quốc gia Tìm
ra mối liên hệ và sự cần thiết tăng cường LKV nhằm đảm bảo ANLT quốc gia, để tăng
giá trị sản phẩm lúa gạo, lương thực một cách bền vững
Trang 17Tuy nhiên, LKV là vấn đề khó, liên quan nhiều lĩnh vực, nhiều ngành, trong khuôn khổ của Luận án, thì không thể đề cập, giải quyết hết Do vậy, đề tài chỉ tập
trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về liên kết vùng ĐBSCL, chọn vấn đề
an ninh lương thực như một lát cắt để phân tích thực trạng, việc chọn lựa và liên kết
các nguồn lực phát triển kinh tế vùng dưới góc độ một nghiên cứu chuyên ngành phát triển kinh tế
Để tránh dàn trải, tác giả chỉ tập trung vào việc luận giải các vấn đề liên quan trực tiếp của vùng ĐBSCL để đề xuất cơ chế, chính sách tăng cường LKV, phát triển ngành hàng lúa gạo bền vững, góp phần đảm bảo ANLT quốc gia Đề tài chủ yếu sử dụng nguồn số liệu thứ cấp từ số liệu thống kê, báo cáo có liên quan sau khi phân loại, phân tích và tổng hợp, đảm bảo độ tin cậy, yêu cầu khoa học Tuy nhiên, để tăng
độ tin cậy của số liệu, NCS cũng đã sử dụng các số liệu sơ cấp từ kết quả tổng hợp
các Phiếu hỏi điều tra thuộc đề tài “Nhận diện các nhân tố ảnh hưởng tới liên kết giữa các địa phương trong vùng ĐBSCL” được trình bày tại mục 4.2 Phương pháp
nghiên cứu
3.2.2 Phạm vi thời gian
Sử dụng số liệu báo cáo chính thức của Tổng cục Thống kê, Bộ, Ban, ngành Trung ương, BCĐ Tây Nam Bộ, các tỉnh, thành trong vùng và một số kết quả nghiên cứu của các đề tài khoa học, bài báo khoa học đã được công bố trong khoảng thời
Trang 189
gian 2011-2016, có xem xét, đối chiếu giai đoạn 10 năm qua (2006-2016) để định hướng đến năm 2020 và các năm tiếp theo
Tuy nhiên, thực trạng thống kê hiện nay cho thấy, thông tin và số liệu thống
kê theo vùng (khác với quốc gia và tỉnh) chưa thật đầy đủ, còn nhiều bất cập Mặc dù
có những thuận lợi nhất định từ cơ quan tác giả đang công tác; song, thông tin, số liệu cần phải xử lý để phục vụ vào việc nghiên cứu của đề tài là rất lớn và chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn Vì vậy, mốc thời gian lấy số liệu chỉ có ý nghĩa tương đối để làm
cơ sở phân tích, đánh giá Riêng đối với các vấn đề lý luận nhằm xây dựng khung lý thuyết cho đề tài Luận án, các kết quả nghiên cứu khoa học, lý luận cần có tính hệ thống, nên phạm vi thời gian được mở rộng hơn, là các lý luận, kết quả nghiên cứu
có liên quan trước đó ở trong và ngoài nước
3.2.3 Phạm vi không gian
Không gian nghiên cứu được giới hạn trên địa bàn vùng ĐBSCL, gồm 13 tỉnh, thành phố: Cần Thơ, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau.Luận án
có xem xét tình hình chung cả nước và một số vùng, miền khác trong mối quan hệ với vùng ĐBSCL
Tuy phạm vi không gian nghiên cứu của Luận án chỉ tập trung chủ yếu ở vùng ĐBSCL, nhưng để xây dựng cơ sở lý luận cho nghiên cứu, tác giả cũng sử dụng những kết quả nghiên cứu cả trong và ngoài nước có liên quan được công bố
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
Tác giả dùng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của lý luận Mác - Lênin, các quan điểm của Đảng, cơ chế chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển vùng, đồng thời kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu về
Trang 1910
liên kết vùng và an ninh lương thực Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng, coi một sự vật, hiện tượng trong trạng thái luôn phát triển và có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, không tách rời một cách tuyệt đối với các sự vật, hiện tượng khác Từ đó, có thể tìm ra mối liên hệ giữa tăng cường LKV với phát triển ngành hàng lúa gạo bền vững, đảm bảo ANLT quốc gia
4.2 Phương pháp nghiên cứu
4.2.1 Phương pháp phân tích tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng để tổng hợp, phân tích các tài liệu về lý thuyết, các nghiên cứu trong nước và quốc tế về LKV và ANLT Các tài liệu được sưu tập qua sách, tạp chí, ấn phẩm khoa học của các nhà xuất bản, các tham luận khoa học,
kỷ yếu hội nghị, hội thảo, nguồn tài nguyên mạng Internet; lược khảo nguồn tài liệu thông qua các Diễn đàn hợp tác kinh tế ĐBSCL (Mekong Delta Economic Conference) do BCĐ Tây Nam Bộ chủ trì phối hợp các Bộ, ngành Trung ương, địa phương tổ chức liên tục hàng năm từ năm 2007 đến nay
Tác giả Luận án cũng tổng hợp các tài liệu nghiên cứu đã có, các nguồn số liệu thứ cấp như số liệu điều tra về KT-XH, thống kê chuyên đề của Tổng cục Thống
kê, các Báo cáo hàng năm của BCĐ Tây Nam Bộ, các Bộ, ngành Trung ương (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và PTNT, Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường…), các địa phương trong vùng ĐBSCL và các cơ quan khác, của một số tổ chức quốc tế (WB, FAO, UNDP, IUCN, GIZ …) mà BCĐ Tây Nam Bộ đã phối hợp thời gian qua Tổng hợp và sử dụng các kết quả nghiên cứu khoa học đã được công
bố về LKV và ANLT, phát triển sản xuất và tiêu thụ lúa gạo
Được sự cho phép của đại diện Chương trình hoạt động hỗ trợ phát triển trợ giúp nhân đạo tại Việt Nam, Tổ chức Phát triển vì tự do CHLB Đức – Friedrich
Foundation Freedom (Phụ lục số 5, Xác nhận được phép sử dụng kết quả nghiên cứu),
Nghiên cứu sinh với tư cách là thành viên tham gia thực hiện đề tài “Nhận diện các
Trang 2011
nhân tố ảnh hưởng tới liên kết giữa các địa phương trong vùng ĐBSCL” đã sử dụng kết quả khảo sát nhằm mục đích phục vụ cho việc nghiên cứu Luận án “Liên kết vùng ĐBSCL góp phần đảm bảo ANLT quốc gia” Vì vậy, ngoài số liệu thứ cấp, NCS cũng
sử dụng số liệu sơ cấp được phân tích, tổng hợp từ các Phiếu hỏi điều tra (Phụ lục số 4a, 4b, 4c) của đề tài bằng phần mềm chuyên dụng SPSS (Statistical Package for the Social Sciences) là phần mềm thống kê được sử dụng khá phổ biến phục vụ công tác phân tích thống kê Để khắc phục những thông tin còn thiếu ở bảng hỏi của Phiếu điều tra, tác giả còn sử dụng thêm kết quả khảo sát 4 tỉnh, thành phố trong vùng ĐBSCL mà đề tài nêu trên tiến hành
Để việc phân tích, tổng hợp đạt yêu cầu, tác giả cũng tiến hành rà soát, tổng hợp các văn kiện của Đảng, văn bản pháp lý của Nhà nước và các tài liệu, báo cáo có liên quan về sự cần thiết tăng cường LKV, đảm bảo ANLT quốc gia, làm cơ sở để đề xuất định hướng, giải pháp
Việc sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp đảm bảo tính kế thừa nghiên cứu Yêu cầu tiếp thu có chọn lọc kết quả, kinh nghiệm nghiên cứu của những nhà khoa học trước làm cơ sở phát triển cái mới trong vấn đề nghiên cứu liên quan LKV
và đảm bảo ANLT quốc gia
4.2.2 Phân tích SWOT (weaknesses, opportunities, threats)
Phương pháp này được sử dụng để phân tích điểm mạnh (strengths), điểm yếu (weaknesses), cơ hội (opportunities) và thách thức (threats) của ngành hàng lúa gạo cũng như các nguồn lực phát triển vùng, yếu tố liên kết vùng tác động đến vùng ĐBSCL và phát triển ngành hàng lúa gạo bền vững
4.2.3 Nghiên cứu tình huống
Phương pháp này được sử dụng để nghiên cứu các mô hình liên kết ở vùng ĐBSCL Đó là các liên kết giữa chính quyền-chính quyền, bao gồm chính quyền địa
Trang 215 Đóng góp mới của Luận án
- Một là, tổng quan một cách có hệ thống các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án ở trong và ngoài nước về LKV và ANLT để chỉ ra khoảng
trống nghiên cứu và khẳng định đề tài được lựa chọn không có sự trùng lắp với bất
kỳ công trình nghiên cứu nào được công bố trước đó
- Hai là, hệ thống hoá những vấn đề lý luận: xây dựng cơ sở khoa học về phát
triển kinh tế vùng, liên kết vùng ĐBSCL gắn với đảm bảo an ninh lương thực quốc gia Đây là đóng góp quan trọng cho chủ đề nghiên cứu và cơ sở lý luận cơ bản cho các nghiên cứu tiếp theo
- Ba là, xác lập cơ sở thực tiễn: từ các kết quả phát triển vùng, LKV và vấn đề
đảm bảo ANLT quốc gia và thế giới trước yêu cầu tình hình mới, kết quả phân tích thực trạng sản xuất lúa gạo, đánh giá vai trò, vị trí, tiềm năng và các nguồn lực phát triển vùng gắn với vấn đề liên kết vùng ĐBSCL, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
- Bốn là, từ nhận diện điểm mạnh, điểm yếu, thách thức, cơ hội, dự báo tình
hình trong nước và quốc tế có liên quan, đề tài Luận án đã đề xuất phương hướng và
Trang 2213
giải pháp tăng cường liên kết vùng ĐBSCL phát triển ngành hàng lúa gạo, góp phần đảm bảo ANLT quốc gia ở Việt Nam
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án
- Về lý luận và khoa học: trên cơ sở xây dựng các luận cứ khoa học, Luận án
góp phần bổ sung, hoàn thiện cơ sở lý luận về phát triển kinh tế vùng, liên kết vùng, chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo và vấn đề an ninh lương thực
- Về thực tiễn: thông qua phân tích thực trạng ngành hàng lúa gạo, liên kết
vùng và các nguồn lực phát triển vùng, Luận án đề xuất phương hướng, giải pháp tăng cường liên kết vùng ĐBSCL, đảm bảo an ninh lương thực; có ý nghĩa thiết thực
và mang tính thực tiễn trong bối cảnh vùng ĐBSCL đang đứng trước các thách thức
về BĐKH, NBD, các yêu cầu phải tiếp cận và giải quyết theo vùng
Tính thực tiễn của đề tài gắn với yêu cầu triển khai thực hiện Quy chế thí điểm liên kết phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL giai đoạn 2016-2020, ban hành kèm theo Quyết định số 593/QĐ-TTg ngày 06-4-2016 của Thú tướng Chính phủ và Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số 593/QĐ-TTg ban hành kèm theo Quyết định
số 2220/QĐ-TTg ngày 17-11-2016 của Thủ tướng Chính phủ
Các ý nghĩa lý luận, khoa học và thực tiễn của Luận án phù hợp với chuyên ngành nghiên cứu kinh tế phát triển
7 Kết cấu của Luận án
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận án có 4 chương, gồm:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về liên kết vùng và an ninh lương thực
Chương 2: Cơ sở lý luận và các yếu tố tác động của liên kết vùng đến an ninh lương thực
Trang 242.1 CÁC KHÁI NIỆM
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG CỦA LIÊN KẾT VÙNG ĐẾN AN NINH LƯƠNG THỰC
2.2 TÁC ĐỘNG CỦA LKV ĐẾN ANLT QUỐC GIA
3.1 NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN VÙNG
Chương 3 NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN VÙNG , THỰC TRẠNG NGÀNH HÀNG LÚA GẠO VÀ LIÊN KẾT VÙNG ĐBSCL
3.1 NGUỒN LỰC PHÁT TRIỂN VÙNG
4.2.6
Phát huy vai trò hiệp hội ngành hàng
4.2.4
Xây dựng cơ chế tài chính sáng tạo
4.2.7
Mô hình
tổ chức, điều phối liên kết vùng
3.2 THỰC TRẠNG NGÀNH HÀNG LÚA GẠO
4.2.1
Cải cách thể chế vùng, liên kết vùng
3.4 ĐÁNH GIÁ CÁC NGUỒN LỰC VÀ THỰC TRẠNG
4.2.2
Quy hoạch, đầu tư CSHT
4.2.3
Xây dựng cơ chế thí điểm liên kết vùng
4.2.8
Xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở
dữ liệu vùng
4.2.9
Tăng cường hợp tác quốc tế
3.3 THUC TRẠNG LIÊN KẾT VÙNG
1.3 MỘT SỐ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN
4.3 ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ
Trang 2516
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ LIÊN KẾT VÙNG
VÀ AN NINH LƯƠNG THỰC
Phát triển vùng, liên kết kinh tế vùng và an ninh lương thực là những vấn đề
quan trọng được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu Chỉ riêng về ANLT
đã có rất nhiều tài liệu, nghiên cứu của Việt Nam và quốc tế Trong khuôn khổ giới hạn của một Luận án, tác giả chỉ nêu tổng quan một số tài liệu, kết quả nghiên cứu tiêu biểu Qua đó, dẫn chiếu đến mục tiêu, nhiệm vụ, định hướng nghiên cứu của đề tài này là vấn đề LKV ĐBSCL, như là một phương thức hữu hiệu hiện nay nhằm góp phần đảm bảo ANLT quốc gia ở Việt Nam
1.1 Phát triển vùng và liên kết kinh tế vùng
TS Nguyễn Văn Huân (2012), Viện Kinh tế Việt Nam, “Liên kết vùng từ lý luận đến thực tiễn”, về tổng quan, khoa học vùng trên thế giới đã phát triển thành một
“hệ lý thuyết” về vùng từ những năm 1960 [47] PGS.TS Nguyễn Văn Sánh (2015),
thì liên kết vùng (regionalism) là “học thuyết” nền tảng, quan trọng có tác động thúc đẩy liên kết phát triển và sử dụng nguồn lực hiệu quả trong bối cảnh toàn cầu hóa, từ cấp độ khu vực như cộng đồng châu Âu, ASEAN, khu vực Bắc Mỹ, … đến cấp độ quốc gia và vùng kinh tế ở mỗi quốc gia [65] Hệ lý thuyết này được áp dụng ở một
số nước, đặc biệt là ở châu Âu và châu Mỹ
1.1.1 Một số nghiên cứu ngoài nước tiêu biểu
Một trong những nội dung cơ bản của vấn đề này là lý luận về lợi thế cạnh tranh (competitive advantage) Tiêu biểu cho lý thuyết về lợi thế cạnh tranh
(competive advantage) có thể kể đến Michael E Porter với 3 quyển sách: “Chiến lược cạnh tranh” (competitive strategy), “Lợi thế cạnh tranh” (competitive advantage) và
“Lợi thế cạnh tranh quốc gia” (competitive advantage of nations) [115] Tác giả có
những phân tích sâu sắc nhiều khái niệm và có đề cập đến một phần liên quan vấn đề
Trang 2617
cơ bản của kinh tế vùng Michael E Porter đã làm thay đổi cả lý thuyết, thực hành và việc giảng dạy chiến lược kinh doanh Ông giới thiệu một trong những công cụ cạnh tranh mạnh mẽ nhất là chiến lược cạnh tranh phổ quát - chi phí thấp, khác biệt hóa và trọng tâm, biến định vị chiến lược trở thành một hoạt động có cấu trúc Tác giả chỉ rõ lợi thế cạnh tranh không chỉ nằm ở bản thân mỗi hoạt động, mà còn ở cả mối liên kết giữa các hoạt động với nhau
Lợi thế cạnh tranh và nội lực của một vùng lãnh thổ được xem là điều kiện tiên quyết của quá trình phát triển vùng Điều này cũng được thể hiện rõ trong một nghiên cứu của Grant R M (1991) về lý thuyết lợi thế cạnh tranh dựa vào nguồn lực: Gợi ý cho xây dựng chiến lược (Resource-based theory of competitive advantage: Implications for Strategy Formulation) [107] Tác giả này đã có những phân tích sâu sắc vai trò của nguồn lực, nội lực và lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh đối với quá trình xây dựng chiến lược phát triển (strategy formulation)
Nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển vùng gần đây có xu hướng thiên về những phân tích, đánh giá liên kết phát triển kinh tế vùng trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do thương mại Phần lớn các nghiên cứu tập trung vào những vùng thuộc khu vực Liên minh châu Âu Có thể kể đến quyển “Regional Economic Integration” (1995) của nhóm tác giả Baldwin Richard E., and Anthony J Venables bàn về vấn đề liên kết phát triển kinh tế vùng ở châu Âu và Bắc Mỹ, nơi lúc bấy giờ hình thành những hiệp định LKV (regional integration agreements – “RIA”) [104] Đây là yếu tố mà nhóm tác giả này cho rằng, có tác động mạnh đến trên 40% thương mại thế giới Nghiên cứu của Agbodji A E (2008) cũng bàn về một số tác động của liên kết tiểu vùng lên vấn đề thương mại đa phương (bilateral trade) [102]
Về vấn đề xây dựng chính sách vùng (regional policies), các nghiên cứu gần đây thiên về xu hướng thu hẹp phạm vi không gian vùng (regions) để bàn về các chính sách phát triển toàn diện hơn Rumscheidt S (2012) khi bàn về vấn đề cân bằng trong phát triển giữa các vùng kinh tế đã cho rằng, Liên minh châu Âu cần tìm
Trang 2718
kiếm các giải pháp sắp xếp lại sự không đồng đều giữa các vùng trong Liên minh, phát triển cân bằng thông qua khuôn khổ của Liên minh và xúc tiến các cơ hội bình đẳng cho cả Liên minh
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là, làm thế nào để thúc đẩy phát triển vùng trong nội
bộ của từng quốc gia thành viên vốn có nhiều chênh lệch, thì chưa được các tác giả này đề cập Đâu là những thách thức và những thách thức này có gì khác nhau giữa các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có thể chế chính trị khác nhau hay kiểu nhà nước khác nhau (nhà nước đơn nhất, nhà nước liên bang) Những mục tiêu cơ bản của phát triển vùng và công cụ chính sách nào? Khung pháp lý và thể chế nào có thể
áp dụng cho quá trình hoạch định chính sách? Đó là những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu về lý luận và thực tiễn, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia và các vùng lãnh thổ
1.1.2 Một số nghiên cứu trong nước tiêu biểu
- TS Hoàng Văn Phong (Chủ nhiệm, 2016), đề tài khoa học cấp Nhà nước
Thể chế kinh tế vùng ở Việt Nam – Hiện trạng và giải pháp Nhóm tác giả dựa trên
cơ sở lý luận cơ bản về thể chế kinh tế vùng, liên kết vùng, thực trạng quy hoạch vùng, quy hoạch ngành và phát triển kinh tế, xã hội các vùng ở Việt Nam, đã đánh giá tổng quát về hệ thống chính sách, đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế kinh tế vùng đến năm 2030 Theo đó, ưu tiên các giải pháp về định hướng phân vùng lại để đảm bảo tính liên kết vùng, nhóm các giải pháp về chính sách, quy hoạch phát triển vùng, tổ chức bộ máy quản lý vùng, xây dựng hệ thống thông tin và phối hợp vùng Nhìn chung, đề tài là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị liên quan vấn đề nghiên
cứu của Luận án là liên kết vùng Tuy nhiên, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của
đề tài này chủ yếu liên quan vấn đề thể chế cho các vùng ở Việt Nam nói chung, trong khi Luận án tập trung nghiên cứu về liên kết vùng ĐBSCL gắn với đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
Trang 28về phát triển kinh tế vùng ở Việt Nam Tuy nhiên, sách không phải là công trình nghiên cứu riêng về phát triển vùng, LKV ĐBSCL và cũng không gắn với vấn đề ANLT
- TS Nguyễn Tiến Dũng (chủ biên, 2009), sách “Kinh tế và chính sách phát triển vùng”, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân [23] đã giới thiệu tổng quan về vùng
kinh tế và chính sách phát triển vùng, khái quát các mô hình đánh giá tăng trưởng và phát triển vùng như: phân tích cơ sở kinh tế, phân tích thu nhập - chi tiêu, mô hình đầu vào – đầu ra và các chính sách: marketing vùng, chính sách thu hẹp khoảng cách phát triển vùng, chính sách phát triển vùng có sự tham gia của cộng đồng Đây là tài liệu tham khảo có giá trị trong học tập, nghiên cứu về kinh tế, chính sách công và chính sách vùng nói chung, có thể làm cơ sở nền tảng mang tính lý thuyết để tiếp cận vấn đề Nhưng nội dung chủ yếu của quyển sách cũng chỉ là các vấn đề lý luận, không phải là một nghiên cứu kết hợp với thực tiễn ĐBSCL và đặc biệt, sách cũng không
đề cập cụ thể đến vấn đề LKV với đảm bảo ANLT
- Kế hoạch Đồng bằng sông Cửu Long (Mekong Delta Plan – MDP): Giáo sư
Cees Veerman, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp, Tài nguyên nước và Môi trường
Hà Lan cùng các cộng sự thuộc Nhóm chuyên gia Hà Lan [15] đã phối hợp với các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu và đệ trình Kế hoạch ĐBSCL (MDP), được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam tiếp nhận cuối năm 2013 Theo đó, với tầm nhìn và chiến lược dài hạn đến năm 2100 về một ĐBSCL phát triển an toàn, trù phú và bền vững trước thách thức BĐKH, NBD, MDP là một nghiên cứu chiến lược về vùng ĐBSCLvới phương pháp tiếp cận xây dựng kế hoạch hợp lý, nhiều phân tích sắc xảo
và đề xuất cho kế hoạch phát triển có giá trị
Trang 2920
Đáng chú ý là MDP đã đề xuất 4 kịch bản phát triển vùng: (1) Kịch bản công nghiệp hoá hành lang ĐBSCL (2) Kịch bản sản xuất lương thực hay ANLT (3) Kịch bản công nghiệp hóa “nút kép” (4) Kịch bản công nghiệp hoá kinh doanh lương thực với các khuyến nghị về cải thiện thể chế ở ĐBSCL, lộ trình phát triển cho Chương trình ĐBSCL
Đây là một tài liệu tham khảo rất có giá trị, đặc biệt có ích cho việc dựng khung nghiên cứu về ĐBSCL, tạo nền tảng lý luận và kết quả đúc kết từ thực tiễn cho đề tài nghiên cứu về phát triển vùng, liên kết kinh tế vùng ĐBSCL và ANLT
Tính đa dạng và cấp bách của các vấn đề phát triển vùng ĐBSCL ngày càng thể hiện rõ trong các hoạt động nghiên cứu liên ngành những năm gần đây Xu hướng này là một khía cạnh nổi bật với sự xuất hiện một loạt các diễn đàn của vùng như Diễn đàn Hợp tác Kinh tế ĐBSCL (The Mekong Delta Economic Cooporation - MDEC) do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, BCĐ Tây Nam Bộ chủ trì, phối hợp thực hiện hàng năm (từ năm 2007 đến nay) [87] Diễn đàn được tổ chức theo các chủ đề quan trọng của vùng mà nội dung xuyên suốt là thúc đẩy liên kết nội vùng, liên vùng, đặc biệt là liên kết, hợp tác với thành phố Hồ Chí Minh Trong năm
2016, MDEC tiếp tục thúc đẩy liên kết hợp tác Ngày 26-5-2016, tại Hà Nội, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ (đại diện 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL) ký Chương trình hợp tác toàn diện với UBND TP Hà Nội, giai đoạn 2016-2020
Một số Diễn đàn đối thoại chính sách khác cũng được tổ chức thường xuyên trong vùng ĐBSCL như: Diễn đàn Bảo tồn Thiên nhiên, Diễn đàn ABCĐ Mekong (gồm 4 tỉnh An Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp và Hội hàng Việt Nam chất lượng cao) Thông qua các diễn đàn này, các nhà khoa học, nhà quản lý và hoạt động thực tiễn mong muốn thúc đẩy hợp tác và liên kết nội vùng, liên kết và hợp tác giữa vùng ĐBSCL và các bộ ngành, liên kết và hợp tác giữa vùng với trung tâm kinh
tế và cực phát triển năng động nhất nước là thành phố Hồ Chí Minh trở nên có hiệu quả và sâu rộng, hướng đến hợp tác phát triển toàn diện
Trang 3021
- Trong khuôn khổ Chương trình Khoa học và Công nghệ phục vụ cho Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH, Viện Địa lý Nhân văn thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam thực hiện đề tài khoa học, công nghệ cấp nhà nước
“Nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách LKV trong ứng phó với BĐKH ở Việt Nam”
cũng đề cập đến phát triển các vùng, LKV ở Việt Nam; trong đó có vùng Tây Nam
Bộ Tác giả Trần Hữu Hiệp tham gia đề tài này với chuyên đề “LKV ĐBSCL, chủ động ứng phó BĐKH – Thực trạng, định hướng, giải pháp và kiến nghị” [35] Qua
đó, đề xuất các định hướng dài hạn, chủ động thích nghi, ứng phó BĐKH, NBD của vùng ĐBSCL thông qua các giải pháp tăng cường LKV, đề xuất xây dựng cơ chế phối hợp liên tỉnh, chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp, các giải pháp quy hoạch, tập trung xây dựng và phát triển các chuỗi giá trị nông sản chủ lực vùng như lúa gạo, thủy sản, trái cây Tuy nhiên, đề tài của Viện Địa lý và Nhân văn chủ yếu nghiên cứu
Từ đó, đề xuất thúc đẩy LKV ĐBSCL để tăng cường năng lực cạnh tranh và PTBV Trong đó, đáng chú ý là các khuyến nghị ban hành cơ chế điều phối LKV, thành lập
cơ quan Hội đồng vùng để thực hiện điều phối liên kết, triển khai các nội dung LKV
và cơ chế tài chính phục vụ LKV Đây là một nghiên cứu có giá trị, đề cập trực tiếp
Trang 31đề cập và không giải quyết mối quan hệ giữa LKV với ngành sản xuất lúa gạo và đảm bảo ANLT quốc gia, để từ đó có thể đề xuất các cơ chế, chính sách có liên quan trực tiếp
Tiếp theo là nghiên cứu của TS Nguyễn Văn Huân cùng cộng sự (2012) về
“Thực trạng tính liên kết vùng trong thực trạng phân cấp kế hoạch tại Trung ương
và địa phương” [47] Nghiên cứu cũng mới chỉ dừng lại ở việc phân tích những điểm
mạnh và bất cập của việc các địa phương tự liên kết hợp tác trong bối cảnh phân cấp khá mạnh cho chính quyền địa phương Ngoài ra, GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân [93], TS Nguyễn Văn Huân (2012) [47], PGS.TS Nguyễn Văn Sánh [66], TS Đinh Sơn Hùng và cộng sự (2011) [49], PGS.TS Trương Thị Hiền (2011) [44], … cũng
có nhiều tham luận, bài báo khoa học và kết quả nghiên cứu về LKV nói chung và
LKV ĐBSCL nói riêng PGS.TS Ngô Doãn Vịnh (2014) với tham luận: “Thể chế kinh tế vùng và cơ chế liên kết kinh tế vùng ở Việt Nam: Vấn đề lý luận và thực tiễn” [99] GS.TS Nguyễn Quang Thái (2014) với tham luận “Mấy vấn đề về thể chế kinh
tế vùng, phân tích và tổng thuật” trong khuôn khổ hội thảo “Lý luận và thực tiễn về
thể chế kinh tế vùng và cơ chế LKV”, Hà Nội, ngày 18-9-2014 [69] và nhiều tài liệu khác phân tích một số vấn đề từ lý luận đến thực tiễn về chính sách vùng của Việt
Trang 3223
Nam (liên kết để tăng cường năng lực cạnh tranh, PTBV; liên kết kinh tế giữa vùng ĐBSCL và thành phố Hồ Chí Minh) Các bài báo khoa học, tham luận và nghiên cứu của nhóm tác giả này cũng tập trung làm rõ lý luận và và thực tiễn về sự cần thiết phải tăng cường LKV, nhu cầu thúc đẩy điều phối liên kết phát triển vùng ĐBSCL nói riêng và các vùng ở Việt Nam nói chung
Tác giả Trần Hữu Hiệp cũng đã thực hiện hàng loạt nghiên cứu chuyên đề về LKV đối với vùng ĐBSCL Một số nghiên cứu gần đây nhất của tác giả là các quyển
sách: “Một số vấn đề phát triển vùng và liên kết vùng ĐBSCL” (in chung sách “PTBV vùng ĐBSCL – Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, NXB ĐHQG TPHCM năm 2014) [36], “Phát triển kinh tế vùng ĐBSCL – Thực trạng và giải pháp”, NXB Chính trị Quốc gia, năm 2012 [42] Các bài báo khoa học của tác giả này như: “Góp phần hình thành tư duy mới về liên kết phát triển kinh tế vùng ĐBSCL”, Tạp chí Cộng sản – Chuyên đề cơ sở (số 94 - 10-2014); “LKV ĐBSCL ứng phó BĐKH”, Tạp chí Nhân lực Khoa học Xã hội (số 4 năm 2015); “Tìm hướng liên kết thực chất cho vùng ĐBSCL”, Tạp chí Đầu tư nước ngoài (số ra ngày 26/4/2011”; “LKV nhìn từ xung đột lợi ích địa phương”, Thời báo Kinh tế Sài Gòn (số 32-2015), “Về thí điểm “LKV ĐBSCL”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 19 tháng 10-2015 Tác giả Trần Hữu Hiệp
cũng đã tham gia nghiên cứu 2 đề tài có liên quan là đề tài khoa học cấp thành phố
của Trường Đại học Cần Thơ “Tổng kết 30 năm (1986-2016) phát triển KT-XH thành phố Cần Thơ” với chuyên đề “Phân tích hệ thống hoạt động liên kết, hợp tác tạo đột phá PTBV TP Cần Thơ” và “Nghiên cứu về sự cần thiết phối hợp liên tỉnh, vùng ĐBSCL trong khuôn khổ Chương trình quản lý tổng hợp và bảo vệ rừng ngập mặn ven biển ĐBSCL (ICMP/CCCEP)” do Chính phủ CHLB Đức và Chính phủ Úc đồng
tài trợ
Tuy nhiên, các quyển sách, đề tài nghiên cứu và bài viết này chỉ đề cập đến vấn đề LKV ĐBSCL nói chung, hoặc LKV trước yêu cầu ứng phó BĐKH, LKV trong sản xuất nông nghiệp nói chung, chưa đi sâu nghiên cứu, làm rõ và đề xuất giải pháp tập trung vào việc tăng cường LKV phát triển sản xuất và tiêu thụ lúa gạo vùng
Trang 3324
ĐBSCL trong mối quan hệ với yêu cầu đảm bảo ANLT quốc gia như đề tài Luận án
“Liên kết vùng ĐBSCL góp phần đảm bảo an ninh lương thực quốc gia” đề cập
1.2 An ninh lương thực
Có thể nêu một số tài liệu và nghiên cứu tiêu biểu sau đây:
1.2.1 “Tổng quan tài liệu liên quan đến an ninh lương thực thế giới”
Trong tài liệu này, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc - FAO, Bộ Nông nghiệp Hoa kỳ - USAID và Viện Nghiên cứu lúa Quốc tế - IRRI (2009) đã đặt ra vấn đề ANLT trong bối cảnh gia tăng dân số, đặc biệt ở các nước kém phát triển, suy thoái môi trường, BĐKH, sản xuất lương thực tăng trưởng chậm
và khủng hoảng kinh tế Các vấn đề này gây ra mối đe doạ suy dinh dưỡng và đói trên quy mô lớn, làm bất ổn xã hội Trên thế giới vẫn còn 925 triệu người bị đói và thiếu dinh dưỡng ANLT toàn cầu liên quan đến kinh tế, xã hội và ổn định chính trị của nhiều quốc gia Hầu hết các nước đang phát triển, ngay cả các quốc gia phát triển cũng nhận thức được tác động đáng lo ngại của tình hình này
Các chuyên gia quốc tế nhận thấy, tốc độ tăng trưởng sản lượng và năng suất lúa của thế giới có chiều hướng giảm và tốc độ tăng trưởng của sản lượng thấp hơn
sự gia tăng nhu cầu lúa gạo trong suốt giai đoạn từ 1990 đến 2005 Mặc dù nhu cầu tăng, nhưng nghịch lý là giá lúa gạo có xu hướng giảm hoặc tăng chậm, trong khi chi phí sản xuất lúa, giá vật tư tăng, phần lớn nông dân trồng lúa, nhất là hộ nông dân sản xuất nhỏ lẻ ở các nước đang phát triển gặp nhiều khó khăn
Điểm đáng chú ý của tài liệu này là, các chuyên gia nghiên cứu khuyến cáo,
để đảm bảo ANLT thế giới, cần có các giải pháp đồng bộ: (1) Đầu tư thích đáng cho phát triển nông nghiệp bền vững và cải thiện chất lượng cuộc sống nông dân (2) Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học để thích ứng BĐKH (3) Phát triển
Trang 341.2.2 Chiến lược an ninh lương thực quốc gia của Việt Nam
Chiến lược được ban hành kèm theo Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày
23-12-2009 của Chính phủ [18] đã nêu rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu
và việc tổ chức thực hiện Chiến lược nhằm đảm bảo vững chắc ANLT quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030
Theo đó, mục tiêu chung được xác định là “Đến năm 2020, tầm nhìn đến năm
2030 phải đảm bảo đủ nguồn cung cấp lương thực với sản lượng cao hơn tốc độ tăng dân số; chấm dứt tình trạng thiếu đói lương thực, nâng cao chất lượng bữa ăn; bảo đảm cho nông dân sản xuất lúa có lãi bình quân trên 30% so với giá thành sản xuất” Các mục tiêu cụ thể là: Đảm bảo nguồn cung lương thực, đảm bảo nhu cầu về dinh dưỡng, khả năng tiếp cận lương thực của người dân Các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu gồm: quy hoạch, phát triển cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, chính sách đối với nông dân, địa phương và DN sản xuất, kinh doanh lúa gạo Trọng tâm là “3 khuyến khích”: nông dân giữ đất lúa, địa phương giữ đất lúa và DN tiêu thụ lúa; cùng với việc hoàn thiện hệ thống lưu thông, xuất khẩu lương thực, đổi mới tổ chức sản xuất, phát triển hệ thống thông tin ANLT và tăng cường hợp tác quốc
tế
Nhìn chung, Chiến lược tiếp cận và giải quyết vấn đề khá toàn diện Tuy nhiên, mục tiêu “bảo vệ nghiêm ngặt” diện tích 3,8 triệu ha đất lúa, tuy được xem là “giải
Trang 3526
pháp an toàn” cho ANLT, nhưng lại “đặt” thêm gánh nặng cho người nông dân, đặc biệt là nông dân ĐBSCL phải đảm nhiệm chính vai trò này trong điều kiện sản xuất lương thực lợi nhuận thấp, lúa hàng hoá tiêu thụ bấp bênh
Mặc dù Chiến lược ANLT quốc gia có đề cập đến việc “Tiếp tục hoàn thiện các loại hình tổ chức sản xuất lương thực theo hướng liên kết nông hộ để hình thành các tổ chức hợp tác, hợp tác xã theo địa bàn hoặc sản phẩm; tạo điều kiện gắn sản xuất với DN tiêu thụ; phát triển kinh tế trang trại, DN sản xuất lương thực, nông dân góp cổ phần bằng giá trị quyền sử dụng đất để tham gia DN; phát triển mạng lưới cung ứng dịch vụ nông nghiệp”, nhưng chưa đặt vấn đề xây dựng cơ chế, chính sách LKV là sự cần thiết để giải quyết vấn đề đó
Chiến lược đã có cách tiếp cận đa ngành, nhưng chưa có cách tiếp cận rõ ràng theo vùng và liên kết nội vùng, liên vùng theo hướng phát triển bền vững (PTBV), gắn với chiến lược đảm bảo ANLT quốc gia, nhất là đối với vùng ĐBSCL giữ vai trò quyết định cho việc đảm bảo này Sự tác động của xu hướng “thương mại hóa ngành lúa gạo” (xuất khẩu, bán kiếm lãi) thay cho trồng lúa “để ăn” là chủ yếu trước đây đến mục tiêu “an ninh lương thực” để nông dân giữ đất lúa đã làm phát sinh mâu thuẫn mới chưa được giải quyết Hay nói khác hơn là Chiến lược chưa đưa ra chính sách rõ ràng, giải quyết hài hòa cho 2 mục tiêu: “chính trị” – ANLT, nâng cao uy thế của đất nước trên trường ngoại giao với tư cách là một quốc gia “cung lương thực” cho thế giới và mục tiêu “thương mại” – kiếm lãi, tạo sinh kế cho nông dân vẫn chưa được giải quyết thấu đáo để họ an tâm làm nhiệm vụ “đảm bảo ANLT” và làm giàu được từ nghề nông
1.2.3 “Chuyển đổi nông nghiệp Việt Nam: Tăng giá trị, giảm đầu vào”
Nghiên cứu của Nhóm Chuyên gia Ngân hàng Thế giới – WB (2016) trong khuôn khổ Báo cáo Phát triển Việt Nam 2016, NXB Hồng Đức [58] Nghiên cứu này
đã phát họa bức tranh nhiều màu sắc về thực trạng chuyển đổi cấu trúc nông nghiệp Việt Nam, các thành tựu phát triển cũng như các tồn tại, yếu kém của ngành dựa trên
Trang 3627
các kết quả phân tích về năng suất lao động trong nông nghiệp, năng suất yếu tố tổng hợp – TFP, sử dụng tài nguyên đất và nước, chuỗi giá trị nông sản còn kém hiệu quả, thiếu hành động tập thể, tình trạng lạm dụng nhiều vật tư nông nghiệp, vấn đề dấu chân môi trường của nông nghiệp Việt Nam trước thách thức hội nhập của thị trường quốc tế
Trong bối cảnh hội nhập, cạnh tranh, trước tác động của BĐKH, nhu cầu thay đổi về thị trường nông sản trong nước, khu vực và trên thế giới, nghiên cứu này đã
đề cập đến vai trò của Nhà nước và các vấn đề xuyên suốt vượt ra ngoài khuôn khổ nông nghiệp truyền thống, bớt chỉ đạo, tăng kiến tạo; đồng thời cũng khuyến nghị về các vấn đề thể chế cho ngành kinh doanh nông nghiệp hiện đại, hiện thực hoá tầm nhìn thông qua đổi mới chính sách và thể chế, tăng cường năng lực cạnh tranh nền nông nghiệp Việt Nam, hướng đến mục tiêu PTBV
1.2.4 Nghiên cứu “An ninh lương thực Việt Nam và chuỗi giá trị lúa gạo” của Ngân hàng Thế giới
Nghiên cứu của TS Hoàng Văn Dũng (2011) và nhóm chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB) về “An ninh lương thực Việt Nam và chuỗi giá trị lúa gạo” [22] đã tập trung phân tích thực trạng và khuyến nghị chính sách một số vấn đề như:
(1) Phân tích “Cán cân lúa gạo Việt Nam - Xu hướng, dự báo và tác động đối với chính sách” Qua đó, phân tích sâu, đằng sau câu chuyện từ thiếu gạo đến thừa gạo của Việt Nam, bối cảnh chính sách, dự báo các kịch bản cán cân lúa gạo và đề xuất các lựa chọn về chính sách
(2) Vấn đề cải cách chính sách gắn với sản xuất và xuất khẩu gạo, mô phỏng tác động kinh tế vĩ mô, ngành và phân phối thu nhập Qua đó, phân tích các khía cạnh kinh tế trong các chính sách can thiệp của Chính phủ như chỉ định đất dành riêng cho sản xuất lúa, quota xuất khẩu gạo, trợ giá lúa, mua tạm trữ gạo, những tác động đối với sản xuất gạo và ANLT theo ngành, phân phối thu nhập và tác động theo vùng
Trang 3728
(3) “Dựa trên thành tựu quá khứ để cải thiện chất lượng, sự bền vững và công bằng trong tăng trưởng ở vùng ĐBSCL” Qua đó, phân tích thực trạng hình thành chuỗi giá trị lúa gạo ở ĐBSCL từ sự quan sát cấu trúc và hiệu quả, sản xuất lúa với nguyên lý kinh tế, lý giải việc “ai có thể kiếm sống từ gạo?” và khuyến nghị lựa chọn chính sách Đáng chú ý là những phân tích, luận giải hiện trạng sản xuất lúa manh mún, thiếu liên kết và độc canh, dẫn đến việc người trồng lúa khó làm giàu
TS Hoàng Văn Dũng và nhóm chuyên gia Ngân hàng Thế giới (2011) [22] cũng đã có 5 khuyến nghị chính sách, bao gồm: (1) Tiếp cận linh hoạt hơn đối với quy hoạch sử dụng đất (2) Thực hiện các chiến lược hỗ trợ khác nhau ở cấp vùng và tỉnh, và giữa các hộ gia đình khác nhau (3) Tăng cường chiến lược đa ngành để giải quyết vấn đề mất ANLT(thiếu ăn) ở hộ gia đình và giảm đáng kể suy dinh dưỡng ở trẻ em (4) Tách biệt hẳn các hệ thống và chiến lược đối với XK gạo mang “tính xã hội” và “thương mại” (5) Chính phủ cần định hướng lại trọng tâm chuyển từ các chức năng “thương mại” sang tập trung vào các mục tiêu xã hội, “hàng hóa công” và quản trị rủi ro Trong đó, đáng chú ý là từ những phân tích sắc xảo về “Cán cân lúa gạo Việt Nam - Xu hướng, dự báo và tác động đối với chính sách”; mô phỏng tác động kinh tế vĩ mô, ngành và phân phối thu nhập qua thực hiện cải cách chính sách gắn với sản xuất và xuất khẩu gạo, đề xuất việc hình thành “vùng lõi” sản xuất lúa với 30 huyện của vùng ĐBSCL và tách bạch, có chính sách rõ ràng giữa sản xuất lúa để đảm bảo ANLT và lúa thương mại
Nhìn chung đây là một nghiên cứu có giá trị, đặc biệt là những khuyến nghị liên quan đến việc cải cách chính sách để phát triển chuỗi giá trị lúa gạo một cách bền vững, gắn với ANLT Luận án có thể kế thừa các kết quả nghiên cứu Tuy nhiên, cách tiếp cận và mục tiêu của nghiên cứu này hướng trọng tâm đến vấn đề an ninh lương thực và chuỗi giá trị lúa gạo Việt Nam nói chung, được hoàn thành vào thời điểm 2009; trong khi đề tài Luận án “liên kết vùng ĐBSCL, góp phần đảm bảo ANLT quốc gia” lại đặt trọng tâm là vấn đề “liên kết vùng ĐBSCL ” gắn với “đảm bảo an ninh lương thực quốc gia” Việc xem xét hiện trạng ngành hàng lúa gạo chỉ là một lát cắt
Trang 3829
để nghiên cứu về liên kết vùng, liên kết chuỗi giá trị lúa gạo ở vùng ĐBSCL Vì vậy, tài liệu “An ninh lương thực Việt Nam và chuỗi giá trị lúa gạo” của Ngân hàng Thế giới vẫn còn “khoảng trống nghiên cứu” cho đề tài Luận án
1.2.5 “Thị trường lúa gạo Việt Nam: Cải cách để hội nhập – Cách tiếp cận cấu trúc thị trường” [71]
Quyển sách này được thực hiện trong khuôn khổ dự án nghiên cứu “Ảnh hưởng của cấu trúc ngành lúa gạo đến lợi ích của nông dân sản xuất nhỏ ở Việt Nam”, một hoạt động của Liên minh “Vì quyền của nông dân và hiệu quả của nền sản xuất nông nghiệp Việt Nam” thuộc Chương trình “Hỗ trợ liên minh vận động chính sách”
do Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID) tài trợ và tổ chức Oxfam tại Việt Nam quản lý
Nhóm tác giả tập trung nghiên cứu đặc điểm cấu trúc thị trường lúa gạo Việt Nam trên cơ sở so sánh với các nước khác Qua đó, xác định được tính hiệu quả và công bằng của cấu trúc thị trường hiện tại và ảnh hưởng của các đặc điểm cấu trúc thị trường đến quyền lợi của người sản xuất lúa gạo nhỏ Đồng thời, đưa ra các khuyến nghị cải cách cấu trúc thị trường trong tương lai, hướng tới việc nâng cao hiệu quả chung của toàn bộ chuỗi giá trị và đem lại vị thế công bằng hơn cho người sản xuất nhỏ trong chuỗi giá trị lúa gạo ở Việt Nam
Nhóm tác giả đã dựa trên lý thuyết về cấu trúc - hành vi - kết quả (SCP) trong
lý thuyết ngành, cụ thể theo 2 phân đoạn: mua bán lúa để xay xát và mua bán gạo để tiêu thụ trong nước hoặc xuất khẩu Từ đó, phân tích vai trò, vị thế, chức năng và ảnh hưởng của mỗi chủ thể, khả năng lựa chọn chiến lược tham gia của mỗi chủ thể, lợi ích và chi phí gắn với mỗi lựa chọn chiến lược Đặc biệt, nhóm tác giả đã tiến hành một số nghiên cứu thực nghiệm, phỏng vấn sâu ở 2 địa phương: tỉnh An Giang và thành phố Cần Thơ Kết quả nghiên cứu đã đưa ra những khuyến nghị chính sách và
xu hướng điều chỉnh cấu trúc thị trường lúa gạo tại ĐBSCL trong tương lai; làm rõ:
vị thế của nông dân, thương lái, các cơ sở xay xát, thương nhân phân phối và bán lẻ
Trang 391.2.6 Một số nghiên cứu khác về ngành hàng lúa gạo
Nghiên cứu “Chuỗi giá trị ngành hàng lúa gạo” của Viện Nghiên cứu Phát triển ĐBSCL (MDI) cho thấy, về lý thuyết, quy mô sản xuất lúa từ 3 ha/hộ trở lên mang lại lợi nhuận tối ưu Nhưng với đặc thù sản xuất manh mún, bình quân chỉ khoảng 0,4ha/hộ, tức khoảng 0,1ha/người, thì nông dân ĐBSL khó làm giàu Tác giả Trần Hữu Hiệp (2014) [37] cũng cho rằng: chuỗi giá trị lúa gạo nói riêng và các nông sản hàng hoá ở ĐBSCL hiện còn quá nhiều tầng nấc mà lại quá ít giá trị gia tăng Người nông dân không được hưởng lợi bao nhiêu từ sự gia tăng đó Theo tính toán, kết quả “30% lợi nhuận” của người độc canh cây lúa còn thấp hơn mức thu nhập 1 USD/người/ngày
TS Đặng Kim Sơn (2012), Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn thuộc Bộ Nông nghiệp & PTNT (IPSARD) với nghiên cứu “Thị trường gạo, cá tra, tôm và rau quả Việt Nam” [68] Tác giả đã phân tích thực trạng sản xuất lúa gạo tại Việt Nam, tình hình tiêu thụ, xuất khẩu và đưa ra 9 thách thức mà ngành sản xuất, xuất khẩu lúa gạo Việt Nam đang đối mặt Đó là: (1) Thu nhập người trồng lúa rất thấp (2) Biến động giá ngày càng tăng (3) Dự trữ gạo toàn cầu giảm (4)
Xu hướng tự chủ lương thực của các quốc gia tăng (5) Có nhiều chính sách bóp méo
Trang 4031
thị trường lúa gạo (6) Ảnh hưởng của BĐKH tác động tiêu cực đến ngành gạo (7) Quá trình đô thị hóa, CNH tạo áp lực với sản xuất lúa (8) Thách thức từ sự cạnh tranh của các lĩnh vực sản xuất nông nghiệp khác (9) Ở trong nước, ngành hàng lúa gạo Việt Nam vẫn thiếu sự liên kết bền vững
Qua đó, tác giả này đã và đưa ra một số gợi ý chính sách như: (1) Xây dựng một chiến lược phát triển ngành hàng gạo Việt nam, căn cứ điều kiện vùng miền; (2) Xây dựng thương hiệu gạo; (3) Tổ chức mô hình canh tác bền vững, sinh thái có chứng chỉ quốc tế; (4) Xây dựng các chuỗi cung ứng đa dạng; (5) Nghiên cứu mô hình Cánh đồng mẫu lớn, làm rõ vai trò qui hoạch, qui trình kĩ thuật có kiểm soát, liên kết nông dân, liên kết công tư, xây dựng chuỗi cung ứng, chính sách; (6) Tổ chức đánh giá tính hiệu quả của các chính sách hạn chế đất lúa, chính sách ổn định giá, thu nhập cho người nông dân và DN; (7) Cải tiến hệ thống nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ cho nông dân trên quan điểm xã hội hóa, tham gia hơn nữa của DN của nông dân; (8) Tổ chức sản xuất, chứng nhận giống lúa và tổ chức; (9) Qui hoạch
hệ thống sau thu hoạch vùng ĐBSCL gắn với tổ chức các chuỗi cung ứng, hệ thống bảo quản, chế biến, đóng gói, dự trữ
Nhìn chung, những phân tích, đánh giá và khuyến nghị này có giá trị tham khảo hữu ích Tuy nhiên, trong khuôn khổ một tham luận hội thảo, dung lượng 40 trang, lại đề cập đến 4 mặt hàng: lúa gạo, cá tra, tôm và rau quả, nên tác giả không đi sâu phân tích riêng về phát triển sản xuất, tiêu thụ lúa gạo, đặc biệt là nhìn nhận vấn
đề dưới góc độ chính sách cho vùng ĐBSCL Mặc dù có đề cập đến tình trạng sản xuất lúa manh mún, yếu kém trong tổ chức sản xuất, hệ thống phân phối và xuất khẩu gạo, nhưng không đi sâu và đề cập đến mối quan hệ giữa phát triển sản xuất lúa, đảm bảo ANLT quốc gia gắn với tăng cường LKV ĐBSCL như thế nào
Ngoài ra, có thể kể một số nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước liên quan đến ANLT Việt Nam như TS Võ Thị Thanh Lộc và TS Lê Nguyễn Đoan Khôi (2011), “Phân tích tác động các chính sách và chiến lược nâng cấp chuỗi ngành hàng