1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng chính đến môi trường nước mặt hồ núi cốc giai đoạn 2015 – 2016

78 577 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, khoa Sau đại học và thầy giáo hướng dẫn khoa học PGS.TS Lương Văn Hinh, tôi tiến hành thực hiện luận văn

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

-*** -

LÊ PHƯƠNG CƯỜNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CHÍNH ĐẾN MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT

HỒ NÚI CỐC GIAI ĐOẠN 2015 - 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

Thái Nguyên, năm 2016

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

-*** -

LÊ PHƯƠNG CƯỜNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CHÍNH ĐẾN MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT

HỒ NÚI CỐC GIAI ĐOẠN 2015 - 2016

Chuyên ngành : Khoa học Môi trường

Mã số : 60 44 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS LƯƠNG VĂN HINH

Thái Nguyên - năm 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Bản Luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết, nghiên cứu khảo sát và phân tích từ thực tiễn dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Lương Văn Hinh

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào, phần trích dẫn tài liều đều được ghi rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, ngày 05 tháng 9 năm 2016

Tác giả

Lê Phương Cường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, khoa Sau đại học và thầy giáo hướng dẫn khoa học PGS.TS Lương Văn Hinh, tôi tiến hành thực hiện luận văn “Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng chính đến môi trường nước mặt Hồ Núi Cốc giai đoạn 2015 -2016” Sau gần một năm nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp của mình

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy PGS.TS Lương Văn Hinh - Đại học Nông Lân Thái Nguyên, thầy giáo hướng dẫn khoa học đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ Trung tâm phân tích thí nghiệm Địa kỹ thuật và Môi trường – Viện Địa kỹ thuật, Phòng Tài nguyên nước – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Nguyên, Ban Quản lý khu du lịch Hồ Núi Cốc đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Cuối cùng tôi xin gửi đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp

đỡ tôi trong quá trình thực tập, nghiên cứu thực hiện luận văn lời cảm ơn chân thành nhất

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Lê Phương Cường

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các ký hiệu các chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 1

2.1 Mục tiêu chung 1

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Yêu cầu của đề tài 2

4 Ý nghĩa của đề tài 3

4.1 Ý nghĩa khoa học 3

4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 4

1.1.2 Cơ sở pháp lý 5

1.2 Các thông số đánh giá chất lượng nước 6

1.3 Tìm hiểu về vấn đề ô nhiễm nước mặt của các hồ trên thế giới và Việt Nam 7 1.3.1 Tìm hiểu về các hồ trên thế giới 7

1.3.2 Chất lượng nước mặt các Hồ Việt Nam 11

1.3.3 Nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước 13

1.4 Tài nguyên nước mặt tỉnh Thái Nguyên 14

1.4.1 Nguồn nước mưa 15

1.4.2 Nguồn nước sông 15

1.5 Hiện trạng và xu thế gia tăng khai thác và sử dụng tài nguyên nước mặt và nguồn thải 17

1.5.1 Hiện trạng khai thác và sử dụng tài nguyên nước mặt 17

Trang 6

1.5.2 Xu thế gia tăng khai thác, sử dụng nước mặt 17

1.5.3 Xu thế gia tăng nước thải 17

1.5.4 Hiện trạng bảo vệ tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 18

Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 19

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu: 19

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 19

2.3 Phương pháp nghiên cứu 20

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu từ các phòng, ban chức năng 20

2.3.2 Phương pháp khảo sát thực địa 20

2.3.3 Phương pháp quan trắc, lẫy mẫu ngoài hiện trường và phân tích trong phòng thí nghiệm 21

2.3.4 Phương pháp phân tích mẫu nước 23

2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu: Xử lí số liệu trên máy tính bằng phần 24

2.3.6 Phương pháp tổng hợp so sánh, đối chiếu với QCVN - BTNMT 24

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25

3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội 25

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 25

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 8 xã vùng ven Hồ Núi Cốc 30

3.2 Hiện trạng chất lượng các nguồn nước lưu vực Hồ Núi Cốc 40

3.2.1 Hiện trạng chất lượng nước mặt các sông, suối tại các cửa xả đổ vào Hồ Núi Cốc 41

3.2.2 Hiện trạng chất lượng nước tại các sông, suối tiếp nhận nguồn thải trước khi đổ vào Hồ Núi Cốc 45

3.2.3 Hiện trạng chất lượng nước mặt Hồ Núi Cốc 50

3.3 Phân tích, đánh giá các nguồn gây ảnh hưởng chính đến chất lượng nước mặt Hồ Núi Cốc 54

3.3.1 Nguyên nhân khách quan 54

3.3.2 Nguyên nhân chủ quan 55

Trang 7

3.4 Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần giảm thiểu ô nhiễm và cải thiện môi

trường nước mặt Hồ Núi Cốc trong thời gian tới 58

3.4.1 Giải pháp quản lý 58

3.4.2 Giải pháp kỹ thuật 60

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64

1 Kết luận 64

2 Kiến nghị 64

TÀI LIỆU THAM KHẢO 66

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

6 CNH – HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Chế độ mưa tại các trạm thuộc tỉnh Thái Nguyên năm 2015 15

Bảng 2.1 Vị trí quan trắc 22

Bảng 3.1 Đặc trưng địa hình lưu vực Hồ Núi Cốc 26

Bảng 3.2 Các đặc trưng địa lý thuỷ văn các nhánh cấp 1 của lưu vực Sông Công phía thượng lưu đập Hồ Núi Cốc 28

Bảng 3.3 Dòng chảy năm ứng với tần suất P của Hồ Núi Cốc 29

Bảng 3.4 Hiện trạng dân số và tăng trưởng dân số vùng Hồ Núi Cốc 31

Bảng 3.5: Tình hình chăn nuôi 8 xã Vùng ven 33

Bảng 3.6 Tóm tắt diện tích rừng của 8 xã ven hồ Núi Cốc năm 2015 33

Bảng 3.7 Các trạm bơm tưới tiêu liên quan tới vùng Hồ Núi Cốc 35

Bảng 3.8 Tổng hợp hiện trạng sử dụng đất vùng 37

Bảng 3.9: Kết quả phân tích chất lượng nước tại các sông suối tại các cửa xả đổ vào Hồ Núi Cốc đợt 1 (vào mùa khô) 41

Bảng 3.10: Kết quả phân tích chất lượng nước tại các sông suối tại các cửa xả đổ vào Hồ Núi Cốc đợt 2 (vào mùa mưa) 42

Bảng 3.11: Kết quả phân tích chất lượng nước tại các sông suối tiếp nhận nước thải trước khi đổ vào Hồ Núi Cốc đợt 1 (vào mùa khô) 46

Bảng 3.12: Kết quả phân tích chất lượng nước tại các sông suối tiếp nhận nước thải trước khi đổ vào Hồ Núi Cốc đợt 2 (vào mùa mưa) 46

Bảng 3.13: Kết quả phân tích chất lượng nước Hồ Núi Cốc đợt 1 (vào mùa khô) 50

Bảng 3.14 Kết quả phân tích chất lượng nước Hồ Núi Cốc đợt 2 (vào mùa mưa) 50

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Quang cảnh một góc tại Hồ Núi Cốc 26

Hình 3.1 Biểu đồ BOD5 tại các nhánh sông suối chảy vào Hồ Núi Cốc 43

Hình 3.2 Biểu đồ COD tại các nhánh sông suối chảy vào Hồ Núi Cốc 44

Hình 3.3 Biểu đồ TSS tại các nhánh sông suối chảy vào Hồ Núi Cốc 44

Hình 3.4 Biểu đồ BOD5 tại các nhánh suối tiếp nhận nguồn thải khu vực Hồ Núi Cốc 48

Hình 3.5 Biểu đồ COD tại các nhánh suối tiếp nhận nguồn thải khu vực Hồ Núi Cốc 48

Hình 3.6 Biểu đồ TSS tại các nhánh suối tiếp nhận nguồn thải khu vực Hồ Núi Cốc 49

Hình 3.7: Biểu đồ BOD5 trên Hồ Núi Cốc 52

Hình 3.8: Biểu đồ COD trên Hồ Núi Cốc 52

Hình 3.9: Biểu đồ TSS trên Hồ Núi Cốc 53

Hình 3.10 Khai thác cát sỏi trên Hồ Núi Cốc 56

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nước là một loại tài nguyên quý giá và được coi là vĩnh cửu Không có nước thì không có sự sống trên hành tinh của chúng ta Nước là động lực chủ yếu chi phối mọi hoạt động dân sinh, kinh tế của con người Nước được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thủy điện, giao thông vận tải, chăn nuôi thủy sản,

Ngày nay, việc bảo vệ nguồn nước, đa dạng sinh học và sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên này đã và đang trở thành vấn đề cấp thiết, đặc biệt sự

ô nhiễm các nguồn nước (nhất là nguồn nước ngọt) đang trở nên ngày càng trầm trọng, đe dọa cuộc sống của loài người và gây ra nhiều khó khăn cho sản xuất, đời sống của con người

Hồ Núi Cốc "Hồ Trên Núi" là một kiệt tác do bàn tay của con người đắp đập ngăn dòng nước sông Công để phục vụ cho đời sống của con người Hồ được chọn

ở trên lưng chừng núi, thuộc địa phận của 02 huyện (Đại Từ, Phổ Yên) và Thành phố Thái Nguyên Hồ Núi Cốc được khởi công xây dựng năm 1972 và đưa vào khai thác năm 1978 với mục đích cung cấp nước cho hệ thống thuỷ nông và nước cho sinh hoạt của người dân thành phố Thái Nguyên và các tỉnh lân cận Hồ có một đập chính dài 480 m và 6 đập phụ Diện tích mặt nước hồ rộng trên 2 500 ha, dung tích chứa nước khoảng 175 triệu m3 rất thuận tiện cho việc phát triển các ngành kinh tế đặc biệt là ngành du lịch

Hồ Núi Cốc có vai trò ý nghĩa lớn trong phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Thái Nguyên: Cung cấp nước cho hoạt động phát triển công nghiệp và sinh hoạt của thành phố Thái Nguyên với lưu lượng 7,2 m3/s; Phục vụ cấp nước cho 12.000

ha đất nông nghiệp thuộc thành phố Thái Nguyên, huyện Phổ Yên, huyện Phú Bình; Cắt lũ cho hạ lưu Sông Công; Tạo khu du lịch sinh thái Hồ Núi Cốc; Kết hợp nuôi trồng thuỷ sản, vận tải thuỷ [3], [17]

Trang 12

Tuy nhiên, môi trường nước Hồ Núi Cốc đang có biểu hiện bị ô nhiễm nước mặt do nguồn thải từ các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực và phía thượng lưu của Hồ gây nên Với vài trò ý nghĩa lớn trong việc phát triển kinh tế -

xã hội của tỉnh Thái Nguyên, việc bảo vệ tổng thể môi trường vùng Hồ Núi Cốc nói chung và bảo vệ môi trường nước vùng Hồ Núi Cốc nói riêng là hết sức cần thiết Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự nhất trí của nhà trường, dưới sự hướng

dẫn của PGS.TS Lương Văn Hinh, Tôi tiến hành thực hiện luận văn: “Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng chính đến môi trường nước mặt Hồ Núi Cốc giai đoạn

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá hiện trạng và diễn biến chất lượng môi trường nước giai đoạn

2015 đến 2016

- Xác định các nguyên nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường, sự tác động

do phát triển kinh tế - xã hội tới môi trường nước Hồ Núi Cốc

- Đề xuất các biện pháp và giải pháp bảo vệ môi trường Hồ Núi Cốc

3 Yêu cầu của đề tài

- Đánh giá đúng thực trạng chất lượng nước mặt Hồ Núi Cốc

- Đánh giá hiện trạng chất lượng nước của các sông chính chảy vào Hồ Núi Cốc

- Số liệu thu được phản ánh trung thực, khách quan

- Kết quả phân tích thông số hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt, so sánh với QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột A2

- Những kiến nghị đưa ra phải có tính khả thi và phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương

Trang 13

4 Ý nghĩa của đề tài

4.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài là một bước tiếp theo cho việc nghiên cứu, điều tra các nguồn gây tác động ảnh hưởng đến nước Hồ Núi Cốc nói riêng và trên toàn bộ lưu vực các con sông chảy vào Hồ Núi Cốc nói chung

4.2 Ý nghĩa thực tiễn

- Đề tài góp phần đánh giá được thực trạng chất lượng nước mặt sông Hồ Núi Cốc Xác định được những tác động, mức độ tác động, các nguồn gây ô nhiễm môi trường nước mặt Hồ Núi Cốc

- Giúp cho cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực tài nguyên nước và môi trường đưa ra các biện pháp quản lý cũng như các dự án phù hợp nhằm kiểm soát cũng như hạn chế được tác động xấu đến chất lượng nước mặt Hồ Núi Cốc, qua

đó đảm bảo chất lượng nước mặt hồ Núi Cốc đạt tiêu chuẩn để sử dụng vào các mục đích khác nhau

- Góp phần chuyển thể các chính sách, chủ trương của quốc gia thành các chương trình hành động của từng địa phương, từng cộng đồng, doanh nghiệp trong khu vực Hồ Núi Cốc

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

- Khái niệm môi trường:

Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam năm 2005, môi trường được định nghĩa như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [11]

- Khái niệm tài nguyên nước:

Theo khoản 1, Điều 2 Luật Tài nguyên nước 2012: “Tài nguyên nước bao

gồm nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[12]

- Khái niệm nước mặt:

Theo Khoản 3, Điều 2 Luật Tài nguyên nước 2012: “Nước mặt là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo” [12]

“Ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học và

thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” [12]

Suy thoái nguồn nước là sự suy giảm về số lượng, chất lượng nguồn nước so

với trạng thái tự nhiên hoặc so với trạng thái của nguồn nước đã được quan trắc trong các thời kỳ trước đó [12]

Cạn kiệt nguồn nước: là sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng của nguồn

nước, làm cho nguồn nước không còn khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng và duy trì hệ sinh thái thủy sinh [12]

- Khái niệm ô nhiễm môi trường: Theo khoản 6 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi

trương Việt Nam 2005: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của thành phần môi

Trang 15

trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con

người, sinh vật” [11]

- Khái niệm tiêu chuẩn môi trường:

Theo khoản 5 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam 2005: “Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước

có thẩm quyền qui định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường” [11]

- Khái niệm chỉ thị môi trường:

Chỉ thị (indicator) là một tham số (parameter) hay số đo (metric) hay một giá trị kết xuất từ tham số, dùng cung cấp thông tin, chỉ về sự mô tả tình trạng của một hiện tượng môi trường khu vực, nó là thông tin khoa học về tình trạng và chiều hướng của các thông số liên quan môi trường Các chỉ thị truyền đạt các thông tin phức tạp trong một dạng ngắn gọn, dễ hiểu và có ý nghĩa vượt ra ngoài các giá trị

đo liên kết với chúng Các chỉ thị là các biến số hệ thống đòi hỏi thu thập dữ liệu bằng số, tốt nhất là trong các chuỗi thứ tự thời gian nhằm đưa ra chiều hướng, Các chỉ thị này kết xuất từ các biến số, dữ liệu [11]

1.1.2 Cơ sở pháp lý

- Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 đã được Quốc hội thông qua ngày 21/6/2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2013

- Luật Bảo vệ Môi trường số 52/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày

29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006

- Nghị định số 27/2009/NĐ-CP ngày 12/6/2009 của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách trong công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường

- Quyết định số 81/2006/QĐ-Ttg ngày 14/4/2006 của Thủ tướng Chính phủ

về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020

- Quyết định số 20/2012/QĐ-UBND ngày 09/8/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên ban hành quy định quản lý tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Trang 16

- Chỉ thị số 20/CT-UBND ngày 12/11/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên về việc tăng cường công tác quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

- Nghị định số 88/2007/NĐ-CP ngày 28/5/2007 của Chính phủ về thoát nước

đô thị và khu công nghiệp

- Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31 tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường;

- Thông tư số 43/2011/TT-BTNMT ngày 12/12/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường;

- Thông tư số 47/2011/TT-BTNMT ngày 28/12/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường;

1.2 Các thông số đánh giá chất lượng nước

Theo Escap (1994) [42], chất lượng nước được đánh giá bởi các thông số, các chỉ tiêu đó là:

- Các thông số lý học, ví dụ như:

+ Nhiệt độ: Nhiệt độ tác động tới các quá trình sinh hoá diễn ra trong nguồn nước tự nhiên sự thay đổi về nhiệt độ sẽ kéo theo các thay đổi về chất lượng nước, tốc độ, dạng phân huỷ các hợp chất hữu cơ, nồng độ oxy hoà tan

+ pH: Là chỉ số thể hiện độ axit hay bazơ của nước, là yếu tố môi trường ảnh hưởng tới tốc độ phát triển và sự giới hạn phát triển của vi sinh vật trong nước Trong lĩnh vực cấp nước, pH là yếu tố phải xem xét trong quá trình đông tụ hoá học, sát trùng, làm mềm nước, kiểm soát sự ăn mòn Trong hệ thống sử lý nước thải bằng quá trình sinh học thì pH phải được khống chế trong phạm vi thích hợp đối với các loài vi sinh vật có liên quan, pH là yếu tố môi trường ảnh hưởng tới tốc độ phát triển và giới hạn sự phát triển của vi sinh vật trong nước

- Các thông số hoá học, ví dụ như:

+ BOD: Là lượng ôxy cần thiết cung cấp để vi sinh vật phân huỷ các chất hữu cơ trong điều kiện tiêu chuẩn về nhiệt độ và thời gian

Trang 17

+ COD: Là lượng ôxy cần thiết để oxy hoá các hợp chất hoá học trong nước + NO3: Là sản phẩm cuối cùng của sự phân huỷ các chất có chứa nitơ trong nước thải

+ Các yếu tố KLN: Các kim loại nặng là những yếu tố mà tỷ trọng của chung bằng hoặc lớn hơn 5 như Asen, cacdimi, Fe, Mn …ở hàm lượng nhỏ nhất định chúng cần cho sự phát triển và sinh trưởng của động, thực vật như khi hàm lượng tăng thì chúng sẽ trở thành độc hại đối với sinh vật và con người thông qua chuỗi mắt xích thức ăn

- Các thông số sinh học, ví dụ như:

+ Colifom: Là nhóm vi sinh vật quan trọng trong chỉ thị môi trường, xác định mức độ ô nhiễm bẩn về mặt sinh học của nguồn nước

1.3 Tìm hiểu về vấn đề ô nhiễm nước mặt của các hồ trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Tìm hiểu về các hồ trên thế giới

Hồ là một vùng nước được bao quanh bởi đất liền thường là nước ngọt Đa số

hồ trên Trái Đất đều nằm ở bán Cầu Bắc Ở vĩ độ cao có những hồ cạn nước gần như quanh năm và chỉ chứa nước trong vài tháng có mưa (Hồ Eyre) ngoài ra có một số

hồ do con người tạo ra nhằm phục vụ tưới tiêu cung cấp nước sinh hoạt [34]

Hồ có nhiều nguồn gốc hình thành khác nhau Dựa vào tính chất, hồ được phân ra làm nhiều loại khác nhau:

- Hồ móng ngựa là loại hồ hình thành do uốn khúc một con sông, qua thời gian, đoạn trên sông cũ trên dòng chảy mất đi tạo ra đường đi cho dòng sông mới, vết tích dòng sông cũ để lại [34]

- Hồ băng hà được hình thành do băng hà di chuyển qua, bào mòn mặt đất, đào sâu chỗ đất đá mềm để lại vũng nước lớn Ví dụ: Phần Lan, Canada…[34]

- Hồ miệng núi lửa là hồ hình thành trên miệng trũng của núi lửa, nước tụ lại khi chảy ra sông [34]

- Hồ kiến tạo là loại hồ hình thành ở vùng đất bị sụt lún do động đất gây ra

và di chuyển các mảng kiến tạo Ví dụ: hồ ở Đông Châu Phi [34]

Trang 18

- Ở hoang mạc, gió tạo thành các cồn cát cao, chân cồn cát tạo thành nơi trũng, nước tụ lại thành hồ, các hồ này rất nông [34]

Ngoài ra còn dựa vào tính chất của nước nên hồ chia làm 2 loại tiếp [34]

Hồ nước ngọt chiếm nhiều nhất trong lục địa Hồ có thể có dòng sông nước ngọt chảy qua hay do mưa như hồ Baikal tại Siberia, ở độ cao 1485m là sâu nhất

và lâu đời nhất thế giới

Hồ nước mặn chiếm rất ít Hồ có thể do di tích của biển, đại dương bị cô lập giữa lục địa hay trước kia hồ là hồ nước ngọt nhưng vì khí hậu khô hạn nên nước

hồ cạn dần và tỉ lệ muối khoáng trong hồ tăng Hồ Eyre (Australia) có diện tích 7.700km2

Nhờ có hồ nối với sông mà sông được điều hòa chế độ nước sông Khi nước sông dâng lên (mùa lũ), nước chảy vào các hồ, đầm Khi nước sông xuống (mùa khô) để cho sông đỡ cạn sông Mê Kông luôn được điều hòa là nhờ có Biển Hồ ở Campuchia

Trong thập niên 60, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với nhịp độ đáng lo ngại Tiến độ ô nhiễm nước phản ánh trung thực tiến bộ phát triển kỹ nghệ Ta có thể kể ra đây vài thí dụ tiêu biểu [6]

Anh Quốc chẳng hạn: Ðầu thế kỷ 19, sông Tamise rất sạch Nó trở thành ống cống lộ thiên vào giữa thế kỷ này Các sông khác cũng có tình trạng tương tự trước khi người ta đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt

Nước Pháp rộng hơn, kỹ nghệ phân tán và nhiều sông lớn, nhưng vấn đề cũng không khác bao nhiêu Dân Paris còn uống nước sông Seine đến cuối thế kỷ

18 Từ đó vấn đề đổi khác: các sông lớn và nước ngầm nhiều nơi không còn dùng làm nước sinh hoạt được nữa, 5.000 km sông của Pháp bị ô nhiễm mãn tính Sông Rhin chảy qua vùng kỹ nghệ hóa mạnh, khu vực có hơn 40 triệu người, là nạn nhân của nhiều tai nạn (như nạn cháy nhà máy thuốc Sandoz ở Bâle năm 1986 chẳng hạn) thêm vào các nguồn ô nhiễm thường xuyên [6]

Ở Hoa Kỳ tình trạng thảm thương ở bờ phía đông cũng như nhiều vùng khác Vùng Ðại hồ bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie, Ontario đặc biệt nghiêm trọng

Trang 19

Ở Châu Phi, tính mạng người dân đang bị đe dọa khi sống gần những hồ nước chứa khí độc Lượng khí độc khổng lồ trong hồ khiến chúng có khả năng giết chết hàng nghìn người chỉ trong chớp mắt

Hồ Nyos – nằm ở vùng tây bắc của Cameroon và cách Nigeria 50 km về

phía bắc – là một trong ba nguồn nước được gọi là tử thần trên thế giới bởi khả năng giết người Hàng tỷ tấn khí carbon dioxide (CO2) đang tích tụ dưới đáy hồ Nếu thoát ra, khí CO2 có thể lấy mạng người trong chốc lát

Hồ Nyos hình thành do nước mưa tích tụ trong quá trình nguội của núi lửa Nham thạch tạo nên một con đập tự nhiên có tác dụng giữ nước Với chiều dài 1,2 km, diện tích mặt nước của hồ Nyos là hơn 1,5 triệu mét vuông Một túi dung nham của núi lửa nằm bên dướihồ Khí carbon dioxide (CO2) từ đó xâm nhập vào nước trong hồ, tạo nên axit carbonic (H2CO3)

Với những hồ trên miệng núi lửa, các lớp nước lưu chuyển từ bề mặt xuống đáy hồ rồi di chuyển ngược lại theo chu kỳ khiến cho khí tích tụ dướiđáy được giải phóng vào khí quyển Song Nyos lại không như vậy Do đáy sâu và rất dốc nên nước của nó không lưu chuyển từ trên xuống dưới khiến khí CO2 bị “nhốt” dưới đáy Khi lượng khí CO2 bị tích tụ trở nên quá lớn, hoặc khi một tác nhân kích thích (như lở đất, địa chấn) xảy ra, nước ở bề mặt chìm xuống đáy và đẩy nước ở đáy lên phía trên Khí độc từ trạng thái hòa tan sẽ thoát ra ngoài, giống như bọt khí bung ra khi chúng ta mở nắp chai nước khoáng

Ngày nay, hồ Nyos vẫn là một hiểm họa bởi bức tường chắn tự nhiên bằng dung nham đang suy yếu Một trận động đất có thể khiến bức tường này sụp đổ, khiến nước tràn xuống các làng bên dướivà khí CO2 thoát ra [6]

Hồ Monoun nằm trong vùng núi lửa Oku tại Cameroon Giống như hồ

Nyos, hàng tỷ tấn khí CO2 đang tích tụ dướiđáy hồ Monoun Ngày 15/8/1984, một lượng lớn khí CO2 bất ngờ phun lên mặt nước khiến 37 người chết ngạt Ban đầu người ta cho rằng nguyên nhân gây nên cái chết của họ là một bí ẩn Thậm chí nhiều người còn cho rằng đó là hành động của bọn khủng bố Hai năm sau, một thảm họa tương tự tại hồ Nyos khiến người ta tin rằng khí độc từ đáy hồ giết chết người [6]

Trang 20

Hồ Kivu – Nằm giữa Rwanda và Cộng hòa dân chủ Congo

Thỉnh thoảng khí độc phun lên mặt nước ở hồ Kivu khiến một số người dân sống gần đó ngạt thở Mặc dù vậy, hồ Kivu là một điểm đến hấp dẫn đối với khách du lịch

Nằm giữa Rwanda và Cộng hòa dân chủ Congo, hồ Kivu có diện tích 2.700 km2 và độ sâu cao nhất là 495 m Nó là hồ cao nhất tại châu Phi (nằm ở độ cao gần 1.500 m) và cũng là một trong những hồ lớn nhất của lục địa đen

Kivu nằm trong một thung lũng khổng lồ trải dài từ châu Á tới châu Phi Với chiều dài tới 6.400 km và chiều rộng tối đa 64 km, thung lũng này đang bị kéo về hai phía bởi hoạt động địa chất Vì thế mà hoạt động của núi lửa trong khu vực này [6]

1.3.2 Chất lượng nước mặt các Hồ Việt Nam

Nước ta về mưa , trong năm chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa kéo dài 5 đến

6 tháng với tổng lư ợng mưa chiếm từ 80 đến 85% tổng lượng mưa cả năm, trong

6 đến 7 tháng còn lại của mùa khô lượng mưa chỉ chiếm 15 đến 20%, với dòng chảy trong sông sẽ có mùa lũ và cạn Điều đó bắt buộc nước ta phải xây dựng hồ chứa để điều tiết lư ợng nước phân bố bất hợp lý đó Mặt khác về địa hình địa mạo, ba phần tư diện tích đất liền là vùng đồi núi, điều kiện tự nhiên rất thuận lợi cho việc xây dựng và khai thác các hồ chứa nước , đáp ứng nhu cầu cho các ngành kinh tế quốc dân Chính vì vậy, từ ngày hoà bình lập lại tới nay, theo số liệu của Cục Thủy lợi - Bộ NN&PTNT cả nước đã xây dựng và đưa vào sử dụng khoảng trên 3.500 hồ chứa nước lớn nhỏ, nếu tính hồ có dung tích chứa trên 0.2 triệu m3 có 1.967 hồ với tổng dung tích 24.820 triệu m3

Trong số hồ chứa trên có

10 hồ ngành điện quản lý với tổng dung tích 19.000 triệu m3, còn 1.957 hồ do ngành nông nghiệp quản lý Nếu phân theo lư u vực có 945 hồ có diện tích lưu vực từ 10 km2 đến 50 km2

, có 67 hồ diện tích lưu vực từ 50 km2 đến 100 km2

, số

hồ có diện tích lưu vực trên 100 km2 là 192 [6]

Hệ thống hồ chứa nước ở Việt Nam phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, gắn liền với sự phát triển kinh tế của đất nước khác nhau Trước giải phóng

Trang 21

việc xây dựng hồ chứa còn ít và mang tính chất địa phương nhỏ lẻ, hồ sơ thiết kế thiếu, thất lạc nhiều Số hồ chứa xây dựng cho đến năm 1975 chiếm 33.0% Giai đoạn sau giải phóng đến năm 1985 việc xây dựng hồ chứa khá phát triển do nhu cầu mở rộng sản xuất nông nghiệp Số hồ xây dựng trong 10 năm này chiếm 36.9

% Giai đoạn từ năm 1985 đến nay chiếm 30.1% Như vậy số hồ chứa đưa vào sử dụng trên 10 năm chiếm trên 2/3 tổng số hồ chứa cả nước [6]

Hệ thống hồ chứa trên trong những năm qua đã phát huy được hiệu quả to lớn trong sản xuất nông nghiệp và phần nào đã giảm nhỏ ảnh hưởng của thiên tai

lũ lụt, hạn hán cho vùng hạ Tuy nhiên do những khiếm khuyết về nhiều mặt cho nên hệ thống hồ chứa cũng đã gây ra nhiều tác động tiêu cực ảnh hư ởng đến đời sống kinh tế, xã hội của nhân dân Một trong những vấn đề cần quan tâm hiện nay

đó là công tác bảo đảm an toàn, bảo vệ môi trường và chất lượng nước của các hồ chứa Hệ thống hồ, ao, kênh và sông nhỏ tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Huế tiếp nhận và chuyển nước thải từ các khu công nghiệp và khu dân cư Gần đây, chúng bị ô nhiễm nghiêm trọng, vượt quá từ 5 đến 10 lần mức quy chuẩn quốc gia về nguồn nước mặt loại B

Hầu hết các hồ trong các thành phố đều bị phù dưỡng Nhiều hồ bị phù dưỡng đột biến và tái nhiễm hữu cơ

Các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hạ Long… mới đang trong giai đoạn thiết kế và xây dựng cơ sở xử lý nước thải Một số các thành phố và thị trấn nhỏ cũng bắt đầu xây dựng các dự án xử lý nước thải chủ yếu dựa vào nguồn tài trợ quốc tế [6]

Hiện nay các hồ chứa nước và hồ điều hoà của Hà Nội nói riêng và các hồ của Việt Nam nói chung đều bị ô nhiễm, các chỉ tiêu ô nhiễm chủ yếu là: hàm lượng oxi hòa tan (DO), hàm lượng nhu cầu oxi hóa sinh học (BOD5), hàm lượng nhu cầu oxi hóa học (COD), cyanua (CN-), dầu mỡ, kim loại nặng, vi sinh đều vượt tiªu chuẩn cho phép nhiều lần Các hồ đều có hiện tượng bị phú dưỡng, trong

hồ có rất nhiều tảo xanh (đặc biệt là hồ Ba Mẫu), các hồ gần khu vực dân cư

Trang 22

trong nội và ngoại thành các khu đô thị, thành phố lớn như Hà Nội có lượng coliform rất lớn vượt tiêu chuẩn cho phép (QCVN 08/2009/QCVN – BTNMT cột B) từ 100 đến trên 200 lần, vào mùa khô có thể vượt tới hơn 700 lần [6]

Chất lượng nước các hồ vào mùa khô ô nhiễm hơn mùa mưa do mùa khô ít mưa, lượng nước trong hồ cạn, nhìn chung chất lượng nước được cải thiện hơn đối với một số hồ đã được kè và tách riêng nước thải Hiện tượng đổ đất lấn chiếm và vứt rác xuống hồ khá phổ biến đã làm thu hẹp không ít diện tích mặt nước của các hồ, đặc biệt là đối với các hồ chưa được kè bờ và chưa có đường hành lang xung quanh hồ Tại nhiều hồ, hoạt động nuôi cá vẫn diễn ra ngay cả trong tình trạng nước bị ô nhiễm

Phát triển kinh tế không đi đôi với bảo vệ môi trường, kết quả tất yếu là tình trạng môi trường ngày càng xuống cấp và cường độ ô nhiễm ngày càng tăng lên Tình trạng cho đến nay có thể nói là đã đến giai đoạn gần như bế tắc Nếu như chúng ta không có những biện pháp thích đáng thì tương lai là những hồ chứa nước, các sông Việt Nam trở nên những hồ, dòng sông chết cũng như việc phát triển sẽ bị ảnh hưởng vì môi trường không thể tiếp nhận thêm nguồn nước thải được nữa Những việc cần làm để có thể cứu vãn tình hình cần được triển khai nhanh chóng, một trong những nhiệm vụ đó là việc đánh giá chính xác mức độ ô nhiễm môi trường nước sông, hồ là rất cần thiết để phục vụ cho công tác quản lý

và bảo vệ môi trường [6]

1.3.3 Nguyên nhân chính gây ô nhiễm nguồn nước

Sự gia tăng dân số cùng với tăng trưởng nhanh về công nghiệp hóa và đô thị hóa đã làm tăng nhu cầu về nước trong khi nguồn nước sẵn có không tăng lên Điều này làm suy thoái nghiêm trọng nguồn nước cả về chất lượng và số lượng Đến giai đoạn năm 2010 - 2015, dự báo lượng nước thải sinh hoạt, công nghiệp và các ngành nghề khác sẽ tiếp tục tăng mạnh Do đó, môi trường nước mặt ở lưu vực các con sông trên sẽ ngày càng bị ô nhiễm, đặc biệt là các vùng trọng điểm, các khu vực tập trung nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp và

Trang 23

làng nghề Mặt khác, Quyết định số 328/2005/QĐ-TTg và 256/2003/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch quốc gia kiểm soát môi trường đến năm 2010 và phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm

2010 và định hướng đến năn 2020 đã đưa ra các mục tiêu cụ thể để làm giảm mức

độ gia tăng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp, cụm công nhiệp, khu dân cư, làng nghề [6]

Các hoạt động đô thị và công nghiệp:

Phần lớn nước thải đô thị (chủ yếu là nước thải từ các hộ gia đình và các cơ

sở kinh doanh dịch vụ) được thải trực tiếp vào môi trường mà không qua tiền xử

lý Theo các số liệu ban đầu, chỉ 4,3% tổng lượng nước thải công nghiệp ở Việt Nam được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường

Nước rò rỉ từ các bãi rác cũng là nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng đến nguồn nước mặt và nước ngầm vì nó có mức ô nhiễm cao Hiện nay, vẫn có nhiều bãi rác không có hệ thống xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường Nước thải đô thị, nước thải công nghiệp và nước rò rỉ từ bãi rác xâm nhập vào đất gây ô nhiễm nguồn nước ngầm Đây là nguyên nhân chính gây ra ô nhiễm kim loại nặng, ô nhiễm các hợp chất chứa Nitơ… cho nguồn nước ngầm

Có khoảng 1000 bệnh viện thải hàng nghìn mét khối nước thải mỗi ngày vào môi trường mà không qua xử lý hoặc không qua xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường Đây

là nguồn chứa nhiều chất ô nhiễm nguy hiểm sẽ gây ra ô nhiễm môi trường Nhiều bệnh truyền nhiễm từ các bệnh viện và các cơ sở y tế là mối nguy hiểm tiềm ẩn cho các cộng đồng địa phương nếu không có các biện pháp xử lý rác thải [6]

Các hoạt động nông nghiệp và các vùng nông thôn

Một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng trong nông nghiệp, khoảng từ 0,5 đến 3,5kg/ha/mùa Dư lượng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón khoáng chất sẽ gây ra phù dưỡng hoặc ô nhiễm nước Thêm vào đó, hoạt động của hơn 1.450 làng nghề trên cả nước cũng xả một lượng lớn chất thải (nước thải

và chất thải rắn) vào môi trường và theo nhiều cách khác nhau đã làm ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước ở nhiều nơi, đặc biệt là các làng nghề sản xuất giấy, giết mổ gia súc/ gia cầm, nhuộm và dệt vải

Trang 24

Nuôi tôm trên cát ở các vùng ven biển (đặc biệt là các tỉnh ven biển miền Trung) cũng gây ra ô nhiễm và làm cho nước biển xâm hại đến tầng nước ngầm

1.4 Tài nguyên nước mặt tỉnh Thái Nguyên

Tài nguyên nước mặt tỉnh Thái Nguyên được hình thành bởi 2 nguồn: nước mưa và lượng dòng chảy từ các sông suối

1.4.1 Nguồn nước mưa

So với trung bình cả nước Thái Nguyên có lượng mưa khá lớn dao động từ

1600 – 2400 mm/năm, lượng mưa phân bố không đều theo không gian và thời gian Khu vực tập trung mưa nằm ở hữu ngạn sông Cầu, phía Tây Nam tỉnh với lượng mưa từ 2000-2400 mm/năm, trong khi vùng phía Bắc tỉnh chỉ lượng mưa vào khoảng 1600 mm/năm, lượng mưa chênh lệch giữa 2 vùng khoảng 400-800 mm/năm

Bảng 1.1: Chế độ mưa tại các trạm thuộc tỉnh Thái Nguyên năm 2015

(Nguồn: Trung tâm mạng lưới khí tượng thuỷ văn và môi trường)[28]

Chế độ mưa chia 2 mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng V kết thúc vào tháng IX, mùa khô bắt đầu từ tháng X kết thúc vào tháng IV năm sau Chênh lệch lượng mưa giữa mùa mưa và mùa khô rõ rệt, mùa mưa chiếm 80% lượng mưa năm trong khi mùa khô kéo dài 7 tháng chỉ có 20% lượng mưa năm Tháng tập trung mưa lớn là tháng VII, tháng có lượng mưa nhỏ nhất là tháng XII

Trang 25

Lượng nước mưa trung bình rơi trên tỉnh Thái Nguyên vào khoảng 1850,9mm như vậy lượng nước sinh ra trên địa bàn tỉnh đạt 6,5 tỷ m3/năm [28]

1.4.2 Nguồn nước sông

Nguồn nước sông của Thái Nguyên chủ yếu do hai sông chính cung cấp là sông Công và sông Cầu

- Sông Công:

Sông Công có lưu vực 951 km2 bắt nguồn từ vung núi Ba Lá huyện Định Hóa chạy dọc theo chân núi Tam Đảo, nằm trong vùng mưa lớn nhất của tỉnh Thái Nguyên Dòng sông đã được ngăn lại ở Đại Từ tạo thành Hồ Núi Cốc có mặt nước rộng khoảng 25 km2 với sức chứa lên tới 175 triệu m3 nước Hồ này có thể chủ động điều hòa dòng chảy, chủ động tưới tiêu cho 12 nghìn ha lúa hai vụ màu, cây công nghiệp và cung cấp nước sinh hoạt cho thành phố Thái Nguyên và thị xã Sông Công [32]

- Sông Cầu:

Sông Cầu nằm trong hệ thống sông Thái Bình có lưu vực 3.480 km 2 bắt nguồn từ Chợ Đồn chảy theo hường Bắc – Đông Nam Tổng lượng nước Sông Cầu khoảng 4,5 tỷ m3 Hệ thống thủy nông của con sông này có khả năng tưới cho 24 nghìn ha lúa hai vụ của huyện Phú Bình và các huyện Hiệp Hòa, Tân Yên của tỉnh Bắc Giang [32]

Ngoài ra, tỉnh Thái Nguyên còn nhiều sông nhỏ khác thuộc hệ thống sông

Kỳ Cùng và hệ thống sông Lô Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn thì trên các con sông nhánh chảy trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên có tiềm năng thủy điện kết hợp với thủy lợi quy mô nhỏ

Trang 26

diện tích mặt nước rộng khoảng 30 km2, có sức chứa đủ để tưới tiêu cho hàng nghìn ha đất nông nghiệp và chia sẻ một phần nước cho sông Cầu [32]

1.5 Hiện trạng và xu thế gia tăng khai thác và sử dụng tài nguyên nước mặt và nguồn thải

1.5.1 Hiện trạng khai thác và sử dụng tài nguyên nước mặt

Theo báo cáo tham luận của tỉnh Thái Nguyên về công tác thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp và một số vấn đề trong lưu vực sông Cầu, nguồn nước mặt tỉnh Thái Nguyên được khai thác qua 3 hình thức chủ yếu: trạm bơm, đập dâng và

hồ chứa

Toàn tỉnh có 1.214 công trình thuỷ lợi nhỏ, trong đó có 218 trạm bơm điện,

35 trạm bơm dầu, 97 đập dâng và 270 hồ chứa Công trình lớn nhất là Hồ Núi Cốc với dung tích chứa 175,5 triệu m3 cung cấp tới tiêu cho hơn 12.000 ha đất nông nghiệp và cấp nước cho công nghiệp và dân sinh 40-70 triệu m3/năm

Hiện nay các công trình thuỷ lợi đảm bảo tưới cho 26.305 ha lúa vụ đông xuân, 33.526 ha lúa vụ mùa và tưới ẩm cho 12.891 ha cây màu và cây lâu năm Ngoài ra các công trình này cũng tham gia cấp nước sinh hoạt cho và công nghiệp tỉnh Thái Nguyên [32]

1.5.2 Xu thế gia tăng khai thác, sử dụng nước mặt

Theo đánh giá của Dự án Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020, để đảm bảo nhu cầu tăng trưởng nhanh về sản xuất công nghiệp (trung bình 12-17%/năm), dịch vụ (trung bình 13,1%/năm) và dân số (1,268 triệu người vào năm 2020) thì nhu cầu sử dụng nước sẽ tăng lên nhanh chóng Nếu nhu cầu sử dụng nước cho công nghiệp tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng thì đến năm

2020 lượng nước cấp cho công nghiệp sẽ tăng trên 6,7 lần, cho dịch vụ sẽ tăng 4 lần, cho sinh hoạt sẽ tăng 1,96 lần so với năm 2010 [32]

1.5.3 Xu thế gia tăng nước thải

Theo tính toán của Viện Môi trường và Phát triển bền vững (VESDI) trong

Dụ án Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020, lượng

Trang 27

nước thải từ các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh đạt 136.256

m3/ngày, nước thải sinh hoạt tăng lên 343.076 m3/ngày, tăng rất nhiều lần so với hiện tại, nếu không có biện pháp bảo vệ thì chất lượng nguồn nước sẽ suy giảm nghiêm trọng ảnh hưởng đến hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh [26]

1.5.4 Hiện trạng bảo vệ tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên

Hiện nay, công tác bảo vệ tài nguyên nước mặt trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên được lồng ghép trong các hoạt động, phong trào chương trình bảo vệ môi trường tỉnh như:

- Dự án Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Thái Nguyên đến năm 2020

- Đề án tổng thể bảo vệ và phát triển bền vững môi trường sinh thái cảnh quan lưu vực sông Cầu

Lực lượng cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về TNN của tỉnh còn mỏng, lĩnh vực quản lý là lĩnh vực mới của ngành Hiện nay Sở TNMT chỉ có

04 cán bộ quản lý, về tới cấp huyện, thành phố, mỗi Phòng TNMT phân công cho 01 cán bộ phụ trách kiêm nhiệm cả 3 lĩnh vực quản lý TNN, khoáng sản và môi trường Cấp xã cũng chỉ có 01 cán bộ kiêm nhiệm tất cả các lĩnh vực TNMT và hầu hết các cán bộ này đều chưa được qua lớp đào tạo, bồi dưỡng nào về chuyên môn nghiệp vụ quản lý TNN Đây sẽ là một khó khăn cho tỉnh khi các đối tượng khai thác, sử dụng, xả thải vào TNN ngày càng phát triển theo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh

Thông qua các hoạt động này, nhận thức của người dân cũng như doanh nghiệp về bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ tài nguyên nước nói riêng cũng được nâng lên nhưng tồn tại một số hạn chế sau:

- Quản lý tài nguyên nước còn thiếu thống nhất và chưa được quan tâm đúng mức

- Công tác quy hoạch phân bổ và bảo vệ tài nguyên nước mặt gắn với quy hoạch phát triển đô thị, công nghiệp, nông – lâm nghiệp chưa được thực hiện

Trang 28

- Nhận thức và hành động bảo vệ tài nguyên nước trong phát triển sản xuất kinh doanh chưa có chuyển biến rõ rệt [32]

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu là môi trường nước mặt vùng Hồ Núi Cốc và một số nhân tố cơ bản tác động đến môi trường nước vùng Hồ Núi Cốc

- Nước mặt các sông, suối tại các cửa xả đổ vào Hồ Núi Cốc, bao gồm: + Sông Công (nguồn cung cấp chính)

+ Suối Mỹ Yên (xã Bình Thuận) thuộc huyện Đại Từ

+ Suối Chấm (xã Lục Ba)

+ Suối Kẻn (xã Vạn Thọ)

- Nước mặt các sông, suối tiếp nhận nguồn thải từ hoạt động nông nghiệp, dân

cư phía Bắc Hồ Núi Cốc và xã Tân Thái, khu du lịch chảy vào Hồ Núi Cốc gồm: + Suối Lạc, suối Cảy, suối Rùa (xã Tân Thái)

+ Suối Đồng Khuôn (xã Hùng Sơn)

+ Nước thải của khu du lịch Hồ Núi Cốc trước khi chảy vào Hồ Núi Cốc

2.1.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn bao gồm nước mặt Hồ Núi Cốc và các sông, suối chảy vào Hồ Núi Cốc thuộc địa giới hành chính huyện Đại Từ

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 06/2015 đến tháng 06/2016

2.2 Nội dung nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu 4 nội dung sau:

Trang 29

Nội dung 1: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu và đánh giá tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đến chất lượng nước mặt

Hồ Núi Cốc, bao gồm:

- Điều kiện tự nhiên

- Điều kiện kinh tế xã hội

Nội dung 2: Nghiên cứu, đánh giá một số chỉ tiêu chính của nước mặt Hồ Núi Cốc và các sông, suối chảy vào Hồ Núi Cốc (pH, BOD, COD, TSS, NH4

+

, NO2 -

,

PO43-, Fe, Zn, Coliform), bao gồm:

- Phân tích, đánh giá diễn biến chất lượng nước mặt tại các sông, suối đổ vào

Hồ Núi Cốc

- Phân tích, đánh giá diễn biến chất lượng nước mặt tại các sông, suối tiếp nhận nước thải từ hoạt động nông nghiệp, sinh hoạt và du lịch

- Phân tích, đánh giá diễn biến chất lượng nước mặt tại Hồ Núi Cốc

Nội dung 3: Phân tích, đánh giá các nguồn gây ảnh hưởng chính đến chất lượng nước mặt Hồ Núi Cốc

Nội dung 4: Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần giảm thiểu ô nhiễm và cải thiện môi trường nước mặt Hồ Núi Cốc trong thời gian tới

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu từ các phòng, ban chức năng

- Số liệu về điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội thu thập tại Cục thống kê tỉnh Thái Nguyên

- Số liệu về các lưu vực sông thuộc Hồ Núi Cốc thu thập tại Sở Tài nguyên

và Môi trường Thái Nguyên

- Số liệu về quan trắc môi trường định kỳ của Hồ Núi Cốc và các lưu vực sông thu thập tại Chi cục Bảo vệ môi trường Thái Nguyên và Trung tâm Quan trắc và Công nghệ môi trường Thái Nguyên

- Số liệu về khí tượng thủ văn thu thập tại Trung tâm dự báo khí tượng thuỷ văn Thái Nguyên

Trang 30

2.3.2 Phương pháp khảo sát thực địa

Áp dụng phương pháp khảo sát thực địa, đo đạc, phỏng vấn thực tiễn nhằm xác định rõ hiện trạng và các tác động môi trường nước Hồ Núi Cốc, cụ thể như:

- Khảo sát các nguồn thải vào Hồ Núi Cốc

- Xác định vị trí lẫy mẫu

- Khảo sát, đo đạc, phân tích đánh giá hiện trạng môi trường nước vùng Hồ Núi Cốc và đặc thù ô nhiễm của cá nguồn thải vào Hồ Núi Cốc

- Hiện trạng công tác quản lý và bảo vệ môi trường nước vùng Hồ Núi Cốc

2.3.3 Phương pháp quan trắc, lẫy mẫu ngoài hiện trường và phân tích trong phòng thí nghiệm

2.3.3.1 Vị trí lấy mẫu, số lượng mẫu:

Để đánh giá hiện trạng và các nguồn ngây ô nhiễm nước mặt Hồ Núi Cốc, cần có các số liệu chi tiết về chất lượng môi trường nước theo thời gian tại khu vực nghiên cứu: bao gồm chất lượng môi trường nước tại vùng Hồ Núi Cốc, các lưu vực và các nguồn thải đổ vào Hồ Núi Cốc

Trên cơ sở khảo sát đặc điểm địa hình của hồ, lưu vực các sông suối khu vực

hồ, các nguồn tiếp nhận nước của hồ, vị trí lấy mẫu được lựa chọn, xác định mang tính đại diện và đặc trưng cho chất lượng nước hồ và các vùng trong hồ Thời gian thực hiện quan trắc trong các năm 2015 và 2016, tần suất quan trắc 02 lần/năm (vào mùa mưa và mùa khô), có những vị trí quan trắc được kế thừa từ thực hiện mạng lưới quan trắc của tỉnh Thái Nguyên năm 2015 và 2016

Trên cơ sở khảo sát đặc điểm địa hình của hồ, các nguồn tiếp nhận nước của

hồ, các vị trí quan trắc được lựa chọn, xác định mang tính đại diện và đặc trưng cho chất lượng nước hồ và các lưu vực sông suối khu vực hồ Các thành phần thủy, lý, hóa đo đạc và phân tích được lựa chọn phù hợp với tính chất môi trường nước mặt hồ, bao gồm các nhóm chính:

- Nhóm các chất gây ô nhiễm hữu cơ, đặc trưng bởi các thông số như nhu cầu ô xy hoá học (COD), nhu cầu ô xy sinh hoá (BOD), TSS

- Nhóm các chất có nguồn gốc Nitơ, Phốtpho, đặc trưng bởi các thông số như NO2

-

, NH4

+

, PO4 3-

Trang 31

- Nhóm các kim loại và kim loại nặng trong nước như Sắt (Fe), Kẽm (Zn)

- Nhóm chỉ thị ô nhiễm do vi khuẩn, với thông số đặc trư ng Coliform (Total Coliform)

- Thời gian lấy mẫu đợt 1: Ngày 15 tháng 01 năm 2016

- Thời gian lẫy mẫu đợt 2: Ngày 10 tháng 7 năm 2016

- Vị trí lấy mẫu: Vị trí lấy mẫu được thể hiện trong bảng sau:

Trên sông Công, trước cửa xả vào

Hồ Núi Cốc, xóm Đông Khuôn, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh 21o37'447N; 105o39'361E

Suối Mỹ Yên NM-2

Trên suối Mỹ Yên, trước cửa xả vào Hồ Núi Cốc, tọa độ 21o32'476 N; 105o32'087E

Trên suối Lạc, xóm Thái Hòa, xã Tân Thái, huyện Đại Từ, Tọa độ: 21o36'283N; 105o40'801E

Suối Cảy NT-2

Trên suối Cảy, xóm Đồng Đảng, xã Tân Thái, huyện Đại Từ, Tọa độ: 21o36'521N; 105o40'548E

Suối Rùa NT-3

Trên suối Rùa, xóm Yên Thái, xã Tân Thái, huyện Đại Từ, Tọa độ: 21o36'779N; 105o40'218E

Suối Đồng Khuôn NT-4

Trên suối Đồng Khuôn, xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ Tọa độ: 21o37'458N; 105o39'379E

Nước thải tại điểm

Trang 32

Cốc các khu vực khác

nhau trên Hồ Núi Cốc

Công vào Hồ Núi Cốc 400m Tọa

2.3.3.2 Phương pháp lẫy mẫu và bảo quản mẫu

Tại các điểm khảo sát, việc lấy mẫu nước được tiến hành bằng dụng cụ lấy mẫu nước chuyên dùng dung tích 2 lít ,do Wildco (Hoa kỳ) sản xuất Mẫu được đựng trong bình nhựa trung tính và cố định bằng H2SO4 đặc đối với các chất có nguồn gốc hữu cơ và bằng HNO3 đặc đối với các chỉ tiêu kim loại nặng Mẫu phân tích vi sinh vật được đựng trong lọ thuỷ tinh 250 ml đã được khử trùng, đặt

trong bình nước đá Các mẫu thuỷ hoá và vi sinh vật được bảo quản ở 4oC và được tiến hành phân tích ngay sau khi thu mẫu

2.3.4 Phương pháp phân tích mẫu nước

Phương pháp phân tích xác định các thông số chất lượng nước mặt thực hiện theo hướng dẫn của các tiêu chuẩn quốc gia hoặc tiêu chuẩn phân tích tương ứng của các tổ chức quốc tế:

- TCVN 6492-1999 (ISO 10523-1994) - Chất lượng nước - Xác định pH

- TCVN 6625-2000 (ISO 11923-1997) - Chất lượng nước - Xác định chất rắn lơ lửng bằng cách lọc qua cái lọc sợi thủy tinh

- TCVN 6001-1995 (ISO 5815-1989) - Chất lượng nước - Xác định nhu cầu oxi sinh hóa sau 5 ngày (BOD5) - Phương pháp cấy và pha loãng

- TCVN 6491-1999 (ISO 6060-1989) - Chất lượng nước - Xác định nhu cầu oxy hóa học

- TCVN 6494-1999 - Chất lượng nước - Xác định các ion Florua, Clorua, Nitrit, Orthophotphat, Bromua, Nitrat và Sunfat hòa tan bằng sắc ký lỏng ion

- TCVN 6178-1996 (ISO 6777-1984) - Chất lượng nước - Xác định nitrit Phương pháp trắc phổ hấp thụ phân tử

Trang 33

- TCVN 5988-1995 (ISO 5664-1984) - Chất lượng nước - Xác định amoni - Phương pháp chưng cất và chuẩn độ

- TCVN 6177-1996 (ISO 6332-1988) - Chất lượng nước - Xác định sắt bằng phương pháp trắc phổ dùng thuốc thử 1,10 - phenantrolin

- TCVN 6193-1996 (ISO 8288-1986) - Chất lượng nước - Xác định coban, niken, đồng, kẽm, cadimi và chì Phương pháp trắc phổ hấp thụ nguyên tử ngọn lửa

- TCVN 6187-1-1996 (ISO 9308-1-1990) Chất lượng nước - Phát hiện và đếm vi khuẩn coliform, vi khuẩn coliform chịu nhiệt và Escherichia coli giả định

Phương pháp màng lọc

Mẫu nước được phân tích tại Trung tâm phân tích thí nghiệm Địa kỹ thuật

và Môi trường – Viện Địa kỹ thuật – Địa chỉ 169 Nguyễn Ngọc Vũ, Cầu Giấy, TP

Hà Nội

2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu: Xử lí số liệu trên máy tính bằng phần

mềm word, phần mềm excel

2.3.6 Phương pháp tổng hợp so sánh, đối chiếu với QCVN - BTN&MT

Từ các số liệu thứ cấp cộng với số liệu đo đạc, khảo sát thực tế, kết quả phân tích trong phòng thí nghiệm, tính toán được tải lượng ô nhiễm và so sánh cới QCVN để đưa ra được mức độ ô nhiễm môi trường nước, từ đó dự báo được những ảnh hưởng xấu tới môi trường nước, đưa ra các giải pháp quản lý và bảo

vệ môi trường khu vực, nhằm thúc đẩy nền kinh tế của tỉnh phát triển một cách bền vững

Trang 34

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội

Khu vực Vùng Hồ Núi Cốc có diện tích 18.940,77ha (189,4km2), bao gồm

03 xã thuộc Thành phố Thái Nguyên (Phúc Xuân, Phúc Trìu, Tân Cương), 05 xã

và 01 thị trấn thuộc huyện Đại Từ (Tân Thái, Bình Thuận, Lục Ba, Vạn Thọ, Quân Chu và Thị trấn Quân Chu), và 01 xã thuộc huyện Phổ Yên (xã Phúc Tân) Giới hạn Vùng Hồ Núi Cốc như sau:

- Phía Đông: giáp các xã Thịnh Đức, Quyết Thắng, Phúc Hà (Thành phố Thái Nguyên) và xã Bình Sơn (thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên);

- Phía Tây: giáp dãy núi Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc) và các xã Cát Né, Kỳ Phú, Văn Yên (huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên);

- Phía Nam: giáp dãy núi Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc) và xã Phúc Thuận (huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên);

- Phía Bắc: giáp các xã An Khánh, Cù Vân, Hà Thượng, Hùng Sơn (huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên)

Lưu vực Hồ Núi Cốc có độ dốc lớn, chiều dài sông chính (tính đến đập chính của hồ) chiếm hơn một nửa chiều dài của Sông Công, mang đặc tính của một hồ lòng sông Trong lưu vực có nhiều thung lũng, các thung lũng lớn tập

Trang 35

trung ở vùng thượng lư u như thung lũng Phú Nghĩa, Đại Từ, Vạn Yên Về phía

hạ lưu, các núi thấp, thung lũng hẹp và ít Lưu vực Hồ Núi Cốc là phần thượng lưu của lưu vực Sông Công

Hồ Núi Cốc có diện tích khoảng 2.500ha (25km2) , với chiều dài lòng hồ khoảng 8km, chiều rộng bình quân từ 3km đến 4 km [3]

Hồ có dung tích trung bình khoảng 160.000.000m3, dung tích lũ khoảng 200.000.000m3 Đập điều tiết chính có cao độ đỉnh đập là +50,0m và đáy đập là +24,0m [17]

Hình 1.1: Quang cảnh một góc tại Hồ Núi Cốc

Các đặc trưng địa hình lưu vực Hồ Núi Cốc được thể hiện tại bảng 1.1

Bảng 3.1 Đặc trưng địa hình lưu vực Hồ Núi Cốc [3]

Trang 36

- Khu vực núi cao và trung bình: tại phía Đông Bắc xã Phúc Xuân và Tân Thái, phía Tây Nam xã Tân Cương, phía Tây xã Bình Thuận và Lục Ba, phía Tây

và Nam xã Quân Chu, hầu hết xã Phúc Tân Cao độ ≥+80,0m, cao độ ngọn núi

cao nhất là +1.264,0m (tại xã Quân Chu)

- Khu vực gò đồi thấp và trung bình: tại phía Đông và Bắc xã Tân Cương,

phía Đông xã Phúc Xuân và Phúc Trìu, phía Bắc xã Bình Thuận và Quân Chu

Cao độ từ +50,0m đến +80,0m

- Khu vực Hồ Núi Cốc: tại phía Tây xã Phúc Trìu, phía Nam xã Phúc Xuân

và Tân Thái, phía Đông Nam xã Bình Thuận, phía Tây xã Lục Ba và Vạn Thọ; phía Bắc và Đông Bắc xã Phúc Tân Cao độ mực nước điều tiết là +46,2m đến +48,25m Cao độ đỉnh đập là +50,0m

- Khu vực nghiên cứu bố trí quy hoạch xây dựng công trình ven Hồ Núi Cốc

có cao độ từ +50,0m đến +60,0m, hầu hết nằm ven các sườn đồi và các ruộng xen

kẽ với độ dốc nền từ 5% đến 15%

3.1.1.3 Khí hậu – thủy văn

Khí hậu của khu vực nghiên cứu mang đặc điểm chung của khí hậu miền Bắc

bộ, có 2 mùa mưa và khô rõ rệt Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau (số mưa bình quân 137 ngày), lượng mưa trung bình 1.710mm/năm, tuy nhiên lượng mưa phân bố không đều, mưa tập trung vào từ tháng 6 đến tháng 9 chiếm 90 % lượng mưa cả năm

Về nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình cả năm là 22,90C, các tháng nóng là các tháng mùa mưa, nóng nhất là tháng 7 với nhiệt độ trung bình là 36,40C, nhiệt độ thấp nhất là vào tháng 1 với nhiệt độ trung bình là 7,20C Biên độ nhiệt ngày đêm trung bình khá lớn (>70C) Tổng số giờ nắng trong năm là khoảng 1400 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm

3.1.1.4 Thủy văn

Vùng nghiên cứu chịu ảnh hưởng chế độ thuỷ văn của sông Công Sông Công bắt nguồn từ núi Ba Lá thuộc huyện Định Hoá, dài khoảng 96km với diện tích lưu vực khoảng 951km2 và độ dốc bình quân khoảng 1,03% Lưu lượng bình

Trang 37

quân mùa lũ khoảng 3,32m3/s và mùa cạn là khoảng 1,03m3/s Đoạn qua vùng Hồ Núi Cốc dài 8,86km [31]

Sông Công chảy qua Hồ Núi Cốc tại địa phận thành phố Thái Nguyên, huyện Đại Từ và huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên Sông Công là một chi lưu của sông Cầu chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, chảy qua thị xã Sông Công rồi hội lưu với sông Cầu tại ranh giới của 3 xã Thuận Thành (huyện Phổ Yên), Trung Giã (huyện Sóc Sơn, Hà Nội) và Hợp Thịnh (huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang) Lưu vực sông Công có độ cao trung bình 224m, độ dốc 27,3% rất cao so với các sông khác

Tổng lượng nước sông Công trung bình năm vào khoảng 0,794.106m3, lưu lượng trung bình năm 14,9m3/s và modul dòng chảy năm vào khoảng 27,85l/s.km2 Trên Sông Công có 14 nhánh cấp 1 có chiều dài lưu vực lớn hơn 10

km Trong 14 nhánh cấp 1 của Sông Công có 8 nhánh ở thượng lưu đập Hồ Núi Cốc (trong đó có 02 nhánh chảy trực tiếp vào hồ) với tổng diện tích lưu vực Hồ Núi Cốc là 535 km2, gồm toàn bộ huyện Đại Từ Ngoài ra, vùng nghiên cứu còn

có rất nhiều ao, hồ nhỏ được sử dụng để tướicho các nương chè, ruộng lúa và vườn cây ăn trái Một số được sử dụng để nuôi trồng thủy sản [31]

Một số đặc trưng địa lý thuỷ văn các nhánh cấp 1 của lưu vực Sông Công

phía thượng lưu đập Hồ Núi Cốc được thể hiện tại bảng 1.2

Bảng 3.2 Các đặc trưng địa lý thuỷ văn các nhánh cấp 1 của lưu vực Sông Công

phía thượng lưu đập Hồ Núi Cốc[3]

Trang 38

Trong đó: Ls: chiều dài sông, chính, km

Llv: Chiều dài lưu vực, km

Flv: Diện tích lưu vực Km2

Ilv: Độ dốc bình quân lưu vực, %

B: Độ rộng bình quân lưu vực, km Đặc trưng thống kê dòng chảy năm của Hồ Núi Cốc:

+ Lưu lượng trung bình nhiều năm: Qo= 14,9 m3/s

+ Môđul dòng chảy trung bình nhiều năm: Mo= 27,85 l/s.km2

+ Độ sâu dòng chảy trung bình nhiều năm: Yo= 878,3 mm

+ Các tháng mùa kiệt: 11, 12, 1, 2, 3, 4;

+ Các tháng mùa lũ: 5, 6, 7, 8, 9, 10;

+ Các tháng mùa giới hạn kiệt: 1, 2, 3

3.1.1.5 Các nguồn tài nguyên thiên nhiên

Trang 39

- Đất Pheralit vàng nâu phân bố rải rác toàn vùng

- Đất dốc tập trung nhiều ở phía Bắc, Đông Bắc vùng quy hoạch

- Khu vực nghiên cứu quy hoạch được dự báo nằm trong vùng có động đất cấp 6

* Tài nguyên khoáng sản

Hiện nay, trong vùng quy hoạch Hồ Núi Cốc có nhóm tụ khoáng chì-kẽm phân bố tại khu vực Nam huyện Đại Từ, phía Đông Tam Đảo Quặng hóa nằm trong đá lục nguyên - carbonat tuổi Đevon Mỗi tụ khoáng có một thân quặng dài 180- 600m, dày 0,2m-3,2m và một số mạch quặng nhỏ Thành phần của quặng gồm galenit, sphalerit, chalcopyrit, pyrit, burnonit và các khoáng vật thứ sinh của

Pb, Zn, Fe… Tổng hàm lượng chì - kẽm trong quặng thường đạt 10% Các tụ khoáng đều có quy mô nhỏ, trữ lượng trên dưới 10 ngàn tấn kim loại mỗi tụ khoáng [18]

Ngoài ra, khu vực Đại Từ còn có graphit mạch nhỏ, xâm tán hay ổ nhỏ trong

đá trầm tích hay đá xâm nhập, tạo thành đới rộng 10-15m Grphit dạng vảy có kích thước 0,1-2mm Hàm lư ợng từ 15-40%

3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 8 xã vùng ven Hồ Núi Cốc

3.1.2.1 Dân số và đặc điểm dân số

Theo điều tra năm 2015, 8 xã vùng ven tổng số dân là 38,19 nghìn người Xã Hùng Sơn tập trung đông dân cư nhất trên 8,45 nghìn người, mật độ trung bình cao nhất 597 người/km2 Xã Phúc Tân có mật độ dân số thấp nhất 91 người/km2

Xã này nằm ở phía Nam của hồ, chủ yếu là đất lâm nghiệp có địa hình dốc Bao gồm 6 dân tộc chính là: Kinh, Tày, Nùng, Sán Dìu, Ngái Các xã liên quan đến vùng bán ngập lòng hồ Núi Cốc nói riêng cũng như toàn tỉnh Thái Nguyên nói chung, dân cư của các thành phần dân tộc được phân bố dướihình thức cư trú theo thôn xóm và có sự đan xen giữa các thành phần dân tộc Các cụm dân cư phân bố theo các hình thức: nằm dọc theo các đường trục chính tỉnh lộ 270 và 261 (xã Lục

Ba, Hùng Sơn, Bình Thuận, Phúc Trìu, Phúc Xuân), men theo mép nước của Hồ Núi Cốc (xã Tân Thái, Vạn Thọ, Lục Ba) và trên các sư ờn đồi, trong các thung lũng (Phúc Trìu, Phúc Xuân, Phúc Tân) [14],[15],[16]

Ngày đăng: 15/08/2017, 10:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm