Hêghen còn đưa ra các quan điểm về ý niệm tuyệt đối; về sự phát triển; về nhà nước, con người, xã hội dân sự; thẩm mỹ..... - Khái niệm lượng: là phạm trù triết học dung để chỉ tính quy đ
Trang 1I Tư tưởng của Hêghen
1 Vài nét về Hêghen.
Tượng bán thân của triết gia Hêghen tại sân đại học Jena/Đức
Georg Wilhelm Friedrich Hêgen (1770 - 1831), nhà triết học duy tâm khách quan, đại biểu xuất sắc của triết học cổ điển Đức, người xây dựng nên phép biện chứng duy tâm Thành quả lớn nhất của triết học Hêghen là phép biện chứng Ở Hêghen, phép biện chứng bị thần bí hoá Mặc dù vậy, Hêghen vẫn là "người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng" (Mac) Hêghen có những đóng góp to lớn trong địa hạt lí luận về nhận thức, trong cuộc đấu tranh chống
"thuyết không thể biết" (bất khả tri luận) Hêghen còn đưa ra các quan điểm
về ý niệm tuyệt đối; về sự phát triển; về nhà nước, con người, xã hội dân sự; thẩm mỹ
Các tác phẩm chủ yếu: "Hiện tượng học tinh thần" (1807), "Khoa học lôgic" (1812 - 1816), "Bách khoa thư về khoa học triết học" (1817, 1830),
Trang 2"Những nguyên lí triết học của pháp luật" (1821), những bài giảng về triết học lịch sử, về mĩ học, về triết học tôn giáo, về lịch sử triết học được xuất bản sau khi Hêghen mất.1
2 Hệ tư tưởng của Hêghen.
2.1.Hệ thống khái niệm của Hêghen
Trong tư tưởng triết học của mình Hêghen không chỉ trình bày các phạm trù như lượng, chất, phủ định , mâu thuẫn… mà ông còn nói đến các quy luật như “ lượng đổi dẫn đến chất đổi và ngược lại”, “phủ định của phủ định” và quy luật mâu thuẫn Tất cả những cái đó chính là quy luật vận động
và phát triển của ý niệm tuyệt đối
- Khái niệm chất: là phạm trù triết học dung để chỉ tính khách quan vốn có của sự vật, là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính làm cho sự vật là nó chứ không phải là cái khác
- Khái niệm lượng: là phạm trù triết học dung để chỉ tính quy định vốn
có của sự vật về mặt số lượng, quy mô, trình độ nhịp điệu của sự vận động
và phát triển cũng như các thuộc tính của sự vật
- Khái niệm mâu thuẫn: đó là sự tồn tại của các mặt đối lập nằm trong một sự liên hệ, tác động qua lại với nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng
- Quy luật phủ định của phủ định
- Quy luật lượng biến đổi dẫn đến chất biến đổi và ngược lại: quy luật này phát biểu rằng khi có một một sự thay đổi về lượng vượt qua một ngưỡng nhất định nào đó của sự vật thì sẽ kéo theo sự thay đổi tất yếu về chất của sự vật đó và ngược lại
1 http://dictionary.bachkhoatoanthu.gov.vn
Trang 32.2 Quan điểm của Hêghen về phép biện chứng
Tư tưởng biện chứng đã hình thành ngay từ khi triết học ra đời Trong quá trình phát triển, phép biện chứng có ba hình thức cơ bản là phép biện chứng chất phác, phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật
2.2.1 Phép biện chứng chất phác
Thời cổ đại, do trình độ tư duy phát triển chưa cao, khoa học chưa phát triển, nên các nhà triết học chỉ dựa trên những quan sát trực tiếp, mang tính trực quan, cảm tính để khái quát bức tranh chung của thế giới Phép biện chứng chất phác thể hiện rõ rệt trong “thuyết Âm - Dương”, “thuyết Ngũ - hành” của triết học Trung hoa cổ đại, trong các hệ thống triết học của các nhà triết học Hy lạp cổ đại và triết học Ấn độ cổ đại Giá trị của phép biện chứng chất phác thể hiện ở ý nghĩa vô thần, chống lại những quan điểm tôn giáo Song phép biện chứng này thiếu những căn cứ khoa học nên đã bị phép siêu hình xuất hiện từ nửa cuối thế kỉ XV thay thế
2.2.2 Phép biện chứng duy tâm khách quan
Phép biện chứng duy tâm xuất hiện trong triết học cổ điển Đức cuối thế
kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX Thời kì này, khoa học đã đạt được những thành tựu xuất sắc trên nhiều lĩnh vực khác nhau Những thành tựu khoa học
đó là cơ sở để đi tới những khái quát mới về nội dung phép biện chứng Đại diện tiêu biểu cho phép biện chứng duy tâm là Hêghen Ông là người đầu tiên xây dựng hoàn chỉnh phép biện chứng duy tâm với một hệ thống khái niệm, phạm trù và quy luật cơ bản Tính chất duy tâm trong phép biện chứng của Hêghen thể hiện ở chỗ : Ông coi “ý niệm tuyệt đối” là cái có trước, và trong quá trình vận động phát triển, “ý niệm tuyệt đối” tha hóa thành giới tự nhiên và xã hội; cuối cùng lại trở về với chính mình trong tinh thần tuyệt đối Sai lầm của phép biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen là ở chỗ ông cho rằng biện chứng của ý niệm sản sinh ra biện chứng
Trang 4của sự vật Đó là phép biện chứng duy tâm khách quan, thiếu triệt để, thiếu khoa học
Thành quả lớn nhất của triết học Hêghen là phép biện chứng Ở Hêghen, phép biện chứng bị thần bí hoá Mặc dù vậy, Hêghen vẫn là "người đầu tiên trình bày một cách bao quát và có ý thức những hình thái vận động chung của phép biện chứng" (Mac)
2.3.Quan điểm của Heghen về ý niệm tuyệt đối.
Hêghen là một trong những người có vai trò quan trọng bậc nhất trong nền triết học Đức thế kỷ 18-19 Hêghen đưa vào triết học khái niệm “ Ý niệm tuyệt đối” Với tư cách là một khái niệm bao quát miêu tả bản chất của nền tảng thế giới “Ý niệm tuyệt đối” như là bản thể luận của hoạt động Tuy nhiên bản thân sự hoạt động của ý niệm tuyệt đối chỉ được thể hiện trong tư duy nhận thức của con người Quá trình nhận thức được chia thành ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: giai đoạn lôgic Trong giai đoạn này ý niệm tuyệt đối
vận hành dưới dạng tư duy thuần khiết thông qua hệ thống khái niệm, phạm trù lôgic Trong giai đoạn này, tư duy mang tính độc lập tương đối vì nó mới
ở dạng nguyên thủy chưa bị pha tạp
Giai đoạn 2: là giai đoạn ý niệm tuyệt đối chuyển hóa thành tự nhiên.
Hêghen coi tự nhiên là hiện thân của ý niệm tuyệt đối Giới tự nhiên có sau giai đoạn tư duy loogic, tự nhiên chỉ phát triển theo chiều không gian chứ không phát triển theo chiều hướng thời gian Vì thời gian trong ý niệm tuyệt đối là vĩnh hằng tuyệt đối
Giai đoạn 3: tinh thần tuyệt đối: là giai đoạn mà ý niệm tuyệt đối phủ
định giai đoạn 2 là phủ định cái tự nhiên để trở về với chính nó Do đó tư duy được lặp lại ở chu kỳ tiếp theo Nhưng từ chu kỳ tiếp theo, ý niệm tuyệt
Trang 5đối được thể hiện trong tư duy của con người ở dạng cao hơn chu kỳ đầu, trong đó nó đã bao gồm: tư duy ý thức cá nhân luận xã hội và nó sẽ phát triển tạo thành giai đoạn tột đỉnh là các khái niêm, quan niệm về tôn giáo, nghệ thuật hay triết học
2.4 Quan điểm của Hêghen về sự phát triển.
Quan điểm tư tưởng của Hêghen về sự phát triển “ Vòng xoáy trôn ốc”
Nếu như Senlinh khẳng định cái tuyệt đối là sự đồng nhất hoàn toàn tinh thần và vật chất nhưng hiểu sự đồng nhất trên một cách xơ cứng thì Hêghen lại hiểu sự đồng nhất trên là sự phát triển của một tinh thần tuyệt đối Hêghen coi sự phát triển không chỉ đơn thuần là sự tăng giảm về lượng hay sự dịch chuyển vị trí của các vật thể trong không gian Theo ông, sự phát triển là một quá trình phủ định biện chứng trong đó liên tiếp diễn ra cái mới thay thế cái cũ Nhưng đồng thời kế thừa những yếu tố cái cũ mà vẫn có khả năng thúc đẩy phát triển
Xuất phát từ quan niệm coi sự phát triển như là sự vận động liên tục Theo quy luật phủ định của phủ định Hêghen coi một trong những nguyên tắc để xây dựng hệ thống triết học của mình nhằm thể hiện quá trình phát triển của tinh thần tuyệt đối đó là tam đoạn thức: Chính đề- phản đề- hợp đề Trong đó giữa các yếu tố đều có mối liên hệ hữu cơ, chuyển hóa lẫn nhau Hiện tượng học tinh thần thể hiện khái quát lịch sử nhân loại mà Hêghen coi
là hiện thân của tinh thần tuyệt đối Tinh thần tuyệt đối theo đùng nghĩa với
tư cách là sự thống nhất của cả tinh thần chủ quan và tinh thần khách quan Đây là giai đoạn phát triển cao nhất của tinh thần tuyệt đối
Trang 6Khoa học logic là một bộ phận quan trọng nhất của Hêghen vì nó nghiên cứu tinh thần tuyệt đối ở giai đoạn sơ khai nhất nhưng là điểm xuất phát và nền tảng của toàn bộ
hệ thống, vì “ Vận động lên phía trước là sự quay trở về nền tảng về điểm đầu và chân lý”2
Trong triết học pháp quyền và triết học lịch sử Hêghen thể hiện những quan niệm của mình về các vấn đề phát triển Hêghen còn cho rằng, khi các dạng tồn tại được “tinh thần tuyệt đối” tạo ra thì không ngừng biến đổi theo các nguyên lý:
- Một là: mỗi dạng tồn tại không những khác nhau mà còn làm “trung
giới cho nhau” tức có liên hệ với nhau
.- Hai là: mỗi dạng tồn tại đều trải qua quá trình vận động, phát triển;
quá trình đó được thực hiện trên cơ sở của ba nguyên tắc:
Nguyên tắc thứ nhất: chất và lượng quy định lẫn nhau Những chuyển
hóa về lượng dẫn đến những biến đổi về chất và người lại
Nguyên tắc thứ hai: sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
với tư cách là nguồn gốc và động lực của sự phát triển tạo ra sự chuyển hóa giữa nội dung với hình thức, bản chất và hiện tượng, nguyên nhân và kết quả, khả năng và hình thức, v.v
Nguyên tắc thứ ba: phủ định của phủ định với tính cách là sự phát
triển diễn theo hình thức xoáy ốc
Những nguyên lý và nguyên tắc trên là nội dung chủ yếu của phép biện chứng mà Hêghen xây dựng Phép biện chứng này tuy có hạn chế ở chỗ trình bày trên cơ sở của quan điểm duy tâm nhưng nó đã phản ánh đầy đủ
2 Trang 443 Lịch sử triết học, GS-PTS Nguyễn Hữu Vui chủ biên, NXB Chính trị quốc gia
Trang 7quá trình vận động và phát triển chúng; trong nó đã chứa đựng hạt nhân hợp lý: không có cái gì nhất thành bất biến, mọi cái luôn biến đổi Đây là một giá trị lý luận chủ yếu của triết học Hêghen
2.4 Quan điểm của Hêghen về nhà nước, con người xã hội công dân
Nhà nước là thể chế tổng hợp Trong nhà nước, sự thống nhất giữa nội dung pháp luật và niềm tin đạo đức đạt tới hình thức cao nhất Nhà nước là hiện thực của tư tưởng đạo lý: “Sự tồn tại của Nhà nước là cuộc du ngoạn của Chúa trong xã hội loài người” Nhà nước có giá trị tuyệt đối tự thân mà không cần sự khẳng định có tính thực dụng nào cả Nhà nước không phụ thuộc vào xã hội công dân Ngược lại xã hội cần tiền đề là sự tồn tại của nhà nước Sự tồn tại của Nhà nước đi trước sự phát triển của xã hội Sự phân biệt
rõ ràng giữa xã hội và Nhà nước như vậy của Hêghen trong lịch sử tư tưởng chính trị đã đảo ngược mối quan hệ hiện thực của chúng từ chân lên đầu3
Quan điểm về con người và chính trị xã hội được Hêghen trình bày trong tác phẩm “Triết học về pháp quyền” và “Triết học lịch sử” Khi bàn đến vấn đề con người, ông không giống như các nhà triết học Anh và Pháp thế kỷ XVI - XVIII chia tách con người thành hai phần mà ông quan niệm con người là chỉnh thể thống nhất Con người là chủ thể đồng thời là kết quả của quá trình hoạt động của chính mình, chính qua quá trình hoạt động mà ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức và ý chí tự do của con người mới phát triển Do đó, con người mới hoàn thiện Như vậy, ở đây Hêghen không bàn đến con người cụ thể mà bàn đến con người trìu tượng, lý tính phi lịch sử Quan niệm con người trong triết học Hêghen thường gắn với quan điểm về nhà nước và pháp quyền Theo ông “luận điểm khẳng định mọi người về bản
3 Tạp chí khoa học pháp lí số/2001
Trang 8tính vốn bình đẳng là không đúng , cần phải nói ngược lại rằng con người
về bản tính vốn bất bình đẳng” Từ đây dẫn tới quan điểm: mọi sự bất công trong xã hội là hiện tượng tất yếu xuất phát từ bản tính con người Vì thế trong xã hội thường xuyên xảy ra những mẫu thuẫn, xung đột giữa các tầng lớp, đẳng cấp xã hội khác nhau Chính từ đó nhà nước xuất hiện Theo Hêghen, nhà nước ra đời nhằm dung hòa các mẫu thuẫn giữa các đẳng cấp nhằm định hướng sự phát triển của xã hội Nhà nước không chỉ là cơ quan hành pháp mà là tổng thể các quy chế, kỷ cương, chuẩn mực về mọi lĩnh vực đạo đức, pháp quyền, văn hóa Vì thế nhà nước tồn tại trên bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử Nhà nước theo ông là hiện thân của ý niệm tuyệt đối trong đời sống xã hội nó có quá trình phát triển Nhà nước Phổ là đỉnh cao của sự phát triển đó, vì nó là đại biểu cho công lý, đạo đức; nhà nước đó sẽ tồn tại mãi Bởi vì, “Cái gì hợp lý, thì sẽ hiện thực và cái gì hiện thực thì hợp lý”; ở đây, Hêghen đã lập luận để bảo vệ sự tồn tại của nhà nước phong kiến Phổ Khi bàn đến chiến tranh, Hêghen cho rằng, chiến tranh là một hiện tượng vĩnh viễn và tất yếu trong lịch sử, nhờ có chiến tranh mà thể trạng đạo đức của dân tộc được bảo tồn; chiến tranh bảo vệ các dân tộc tránh khỏi sự thối nát Hêghen cho rằng, lịch sử là sự thống nhất giữa tính khách quan và tính chủ quan trong hoạt động của con người Nhưng lịch sử không diễn ra theo ý muốn chủ quan của con người mà phát triển theo xu hướng tất yếu trải qua các thời đại Sự phát triển tự do của con người là chuẩn mực, ưu việt của thời đại này so với thời đại khác
2.5 Quan điểm của Hêghen về thẩm mỹ
Theo ông nghệ thuật là một trong những phương thức “Tự sản xuất” của con người trong thế giới hiện thực Đây cũng là một cách thức để con người tiêu khiển thời gian nhằm thỏa mãn những nhu cầu tinh thần của
Trang 9mình Nó có nhiệm vụ khám phá ra chân lý dưới dạng hình thức cảm tính.
Đề cập tới cái đẹp chủ yếu dưới góc độ tinh thần, ông khẳng định lý tưởng là
sự thống nhất giữa tính tương đối và tuyệt đối, giữa cái hữu hạn- hiện thực
và cái vô hạn- khái niệm Chuẩn mực của lý tưởng chính là chân lý của nó Cái đẹp là bản thân chân lý nhưng dưới góc độ nghệ thuật Heghen khẳng định sự sáng tạo nghệ thuật vừa mang tính chủ quan của con người vừa mang một nội dung khách quan nhất định Con người nhưu một chủ thể sáng tạo nghệ thuật Toàn bộ nghệ thuật phải hướng tới con người theo nguyên tắc của chủ nghĩa nhân đạo “Cái nhân loại là điểm trung tâm và nội dung của cái đẹp chân chính và nghệ thuật”
Tóm lại, dưới hình thức duy tâm coi nghệ thuật là hình thức thể hiện tinh thần tuyệt đối thông qua các hình tượng nghệ thuật, thẩm mỹ học Heghen đóng vai trò to lớn trong sự phát triển tư tưởng thẩm mĩ thế giới Nó khẳng định nghệ thuật như một phương thức nhận thức những lợi ích sâu xa của con người, đồng thời đem lại một cách nhìn biện chứng về tiến trình phát triển của nghệ thuật thế giới
Hêghen là nhà biện chứng lỗi lạc, bậc tiền bối của triết học Macxit Theo nhận xét của Ph Ăngghen, ông “không những chỉ là một thiên tài sáng tạo, mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa, nên những phát biểu của ông tạo thành thời đại”4 Tư tưởng của Heghen có ảnh hưởng to lớn tới tiến trình lịch sử tư tưởng nhân loại nói chung và là nền tảng của những lý thuyết xã hội học nói riêng
II Ảnh hưởng của hệ tư tưởng Hêghen tới các lý thuyết xã hội học
1 Thuyết cấu trúc - chức năng
4 Nguyễn Hữu Vui, lịch sử triết học, NXB Chính trị quốc gia 1998, trang 422
Trang 10Thuyết cấu trúc - chức năng nhấn mạnh tính liên kết chặt chẽ của các
bộ phận cấu thành nên một chỉnh thể mà mỗi bộ phận đều có chức năng nhất định góp phần đảm bảo sự tồn tại của chỉnh thể đó với tư cách là một cấu trúc tương đối ổn định, bền vững Lý thuyết chức năng cho rằng các hiện tượng xẫ hội tồn tại vì chúng có một chức năng tích cực nào đấy để thực hiện trong xã hội và một xã hội muốn tồn tại thì phải thực hiện một số điều kiện cơ bản Luận điểm này ảnh hưởng từ quan điểm về chính trị học được Hêghen trình bày trong tác phẩm “Triết học về pháp quyền” Theo Hêghen, nhà nước ra đời nhằm dung hòa các mẫu thuẫn giữa các đẳng cấp nhằm định hướng sự phát triển của xã hội Nhà nước không chỉ là cơ quan hành pháp
mà là tổng thể các quy chế, kỷ cương, chuẩn mực về mọi lĩnh vực đạo đức, pháp quyền, văn hóa Vì thế nhà nước tồn tại trên bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử Nhà nước theo ông là hiện thân của ý niệm tuyệt đối trong đời sống
xã hội nó có quá trình phát triển
Lý thuyết cấu trúc - chức năng coi sự bất bình đẳng và phân tầng xã hội là hiển nhiên và cần phải có để duy trì một xã hội Do đó, mỗi xã hội dù đơn giản hay phức tạp cũng bắt buộc phải làm cho con người khác biệt nhau
về mặt uy tín, và do đó tất sẽ có một số bất bình đẳng được thiết chế hoá Xã hội với tư cách là một cơ chế vận động phải làm thế nào đó để phân phối các thành viên của mình vào các địa vị xã hội và khiến họ thực hiện những bổn phận ở các địa vị đó Lý thuyết chức năng giải thích sự bất bỉnh đẳng và phân tầng xã hội là thuộc tính vốn có của xã hội và có ý nghĩa tích cực đối với xã hội Luận điểm này chịu ảnh hưởng từ quan điểm của Hêghen về con người Ông không chia tách con người thành hai phần mà quan niệm con người là chỉnh thể thống nhất Con người là chủ thể đồng thời là kết quả của quá trình hoạt động của chính mình, chính qua quá trình hoạt động mà ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức và ý chí tự do của con người mới phát