Kết quả nghiên cứu cho thấy, người dân đã ý thức được sự cần thiết cũng như vai trò chủ thể trong tham gia thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, hầu hết họ đều sẵn lòng tha
Trang 1thực trạng về sự tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh; (2) Xác định các yếu tố đã tác động lên
sự tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới; (3) Các quyết sách nhằm thu hút nhiều hộ gia đình tham gia đóng góp vào chương trình xây dựng
nông thôn mới tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh
Cùng với thu thập số liệu thứ cấp, việc thu thập số liệu sơ cấp phục vụ cho Đề tài qua phát phiếu khảo sát trực tiếp 200 hộ gia đình trên địa bàn 05 xã thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh; qua các phương pháp phân tích: Phân tích tổng hợp, thống kê mô
tả và phân tích định lượng bằng mô hình hồi quy logistic để phân tích những nhân tố tác động đến khả năng đóng góp của hộ gia đình vào chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
Kết quả nghiên cứu cho thấy, người dân đã ý thức được sự cần thiết cũng như vai trò chủ thể trong tham gia thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, hầu hết họ đều sẵn lòng tham gia ở mức độ tương đối khá - nhiều; 75% hộ gia đình đã tham gia đóng góp vào xây dựng NTM và 25% không tham gia đóng góp (chủ yếu họ không biết); 77% đối tượng nhận thức tầm quan trọng của xây dựng NTM, chủ động tham gia
và chia sẻ quyền quyết định thực hiện cùng với Chính quyền địa phương; 20,5% đối tượng không rõ và 2,5% hộ gia đình cho là không quan trọng, chưa có ý thức tham gia và chia sẻ trách nhiệm thực hiện Đối với việc thực hiện các tiêu chí NTM, hầu hết người dân đều đồng thuận và hưởng ứng tích cực, tham gia thực hiện với mức độ và hình thức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện sẵn có Kết quả, có 7 biến tác động có ý nghĩa đến sự đóng góp của người dân vào xây dựng nông thôn mới với mức ý nghĩa 10% là: Giới tính,
Sự ủng hộ của người thân, Minh bạch, Thông báo, Đặc điểm hộ, Học vấn và Quyết định; Qua thảo luận các kết quả phân tích, cho thấy các biến trên có tác động lớn đến sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu định hướng và đề xuất các giải pháp, tăng cường hiệu quả công tác huy động tổng hợp các nguồn lực của hộ gia đình vào xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh Kết quả của nghiên cứu còn giúp cho việc thực hiện chương trình MTQG về xây dựng NTM giai đoạn 2016- 2020 trên địa bàn tỉnh Trà Vinh có thêm tư liệu tham khảo nhằm hoàn thiện các chính sách có liên quan đến NTM
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực, chưa được công bố trong bất
kỳ công trình khoa học nào
Trà Vinh, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Bùi Thị Thu Hòa
Trang 3MỤC LỤC
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
Chương I GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1
1.1 Tính cấp thiết của Đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 5
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 5
1.4 Phương pháp nghiên cứu 5
1.5 Dữ liệu phục vụ nghiên cứu 6
1.6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
1.6.1 Đối tượng nghiên cứu 6
1.6.2 Phạm vi nghiên cứu 6
1.7 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu 6
1.8 Các nội dung chính của nghiên cứu 7
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN, KHẢO LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 8
2.1 Khung khái niệm 8
2.1.1 Nông thôn 8
2.1.2 Nông thôn mới 9
2.1.3 Xây dựng nông thôn mới 10
2.1.4 Hộ gia đình 10
2.1.5 Vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới 11
2.1.6 Các hình thức tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng NTM 12 2.2 Các lý thuyết có liên quan đến chủ đề nghiên cứu 13
2.2.1 Lý thuyết hành vi hợp lý 13
2.2.2 Lý thuyết hành vi dự định 13
2.2.3 Tháp nhu cầu của Maslow 14
2.3 Tổng hợp các nghiên cứu có liên quan 15
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 17
3.1 Các phương pháp nghiên cứu 17
3.2 Mô hình đề xuất 17
Trang 43.2.1 Biến phụ thuộc 18
3.2.2 Biến độc lập 18
3.3 Các giả thiết nghiên cứu 18
3.4 Mô tả biến và dấu kỳ vọng 20
3.5 Dữ liệu nghiên cứu 21
3.5.1 Dữ liệu thứ cấp 21
3.5.2 Dữ liệu sơ cấp 21
3.6 Quy trình nghiên cứu 22
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
4.1 Tóm tắt thực trạng về xây dựng NTM trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh 24
4.1.1 Công tác tuyên truyền, vận động 24
4.1.2 Công tác lập quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới 25
4.1.3 Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân 26
4.1.4 Xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu 26
4.1.5 Về phát triển giáo dục, y tế, văn hoá và bảo vệ môi trường 28
4.1.6 Về xây dựng hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và gìn giữ an ninh, trật tự xã hội 28
4.1.7 Kết quả đóng góp các nguồn lực xây dựng NTM 29
4.2 Phân tích kết quả thống kê mô tả mẫu điều tra 30
4.2.1 Thông tin chung của đối tượng phỏng vấn 30
4.2.2 Nhận thức, thái độ đối với Chương trình MTQG xây dựng NTM 36
4.2.3 Hình thức và mức độ tham gia đóng góp xây dựng NTM 41
4.3 Phân tích định lượng mô hình 45
4.4 Thảo luận các kết quả phân tích 50
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 53
5.1 Kết luận 53
5.2 Hàm ý chính sách 54
5.2.1 Đối với chính quyền địa phương 54
5.2.2 Đối với các hộ gia đình trên địa bàn huyện Châu Thành 56
5.3 Các hạn chế của nghiên cứu 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Phụ lục 1
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6DANH MỤC BẢNG
4.8 Thống kê về người đóng vai trò chính trong xây dựng NTM 39
4.10 Hình thức quyết định về chủ trương, mức đóng góp của người dân trong
xây dựng NTM
40
4.11 Nhận thức của người dân về lợi ích trong xây dựng NTM 41
4.12 Kinh phí sửa chữa nhà cửa, làm nhà vệ sinh, hệ thống nước, cải tạo
đồng ruộng theo yêu cầu NTM
4.18 Mô phỏng xác suất đóng góp vào hoạt động nông thôn mới theo tác
Trang 7DANH MỤC HÌNH
4.5 Hình thức đóng góp xây dựng NTM của người thân trong hộ gia đình 35
4.7 Mức độ tự nguyện đóng góp của người dân trong xây dựng NTM 42
4.8 Tầm quan trọng khi tham gia đóng góp của người dân trong xây dựng NTM 42
Trang 8Chương I GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU
1.1 Tính cấp thiết của Đề tài
Thực tiễn xây dựng, bảo vệ Tổ quốc cũng như quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa đều khẳng định tầm vóc chiến lược của vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn Chính vì vậy, Đảng ta luôn đặt nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở vị trí chiến lược quan trọng, coi đó là
cơ sở và lực lượng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái Chỉ thị số 36/CT-TTg ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh thực hiện hiệu quả, bền vững chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2016 - 2020 nêu rõ: “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn là vấn đề chiến lược trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Phát triển sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và của cả hệ thống chính trị, là sự nghiệp của toàn thể nhân dân”
Tính đến nay, cả hệ thống chính trị và nhân dân cả nước đã chung sức, đồng lòng tích cực thực hiện chương trình MTQG NTM và đạt nhiều kết quả quan trọng, thu nhập và đời sống của người dân nông thôn ngày càng được nâng cao, bộ mặt nông thôn được đổi mới, cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội được cải thiện và nâng cấp rõ rệt, hệ thống chính trị cơ sở tiếp tục được củng cố; đã có 2.045 xã (23% so tổng số xã), 26 huyện được công nhận đạt chuẩn NTM, bình quân cả nước đạt 13,1 tiêu chí/xã (Báo cáo tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai Chương trình MTQG xây dựng NTM và phát động phong trào thi đua cả nước chung sức xây dựng NTM giai đoạn 2016- 2020, tổ chức ngày 30 tháng 9 năm 2016 do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì) Nông nghiệp không chỉ góp phần quan trọng vào việc ổn định chính trị - xã hội nông thôn và nâng cao đời sống nông dân trên phạm vi cả nước, mà ngày càng tạo ra nhiều hơn những tiền đề vật chất cần thiết, góp phần tích cực vào sự đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Theo Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Đảng ta đã đưa ra những quan điểm chủ yếu trong phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn: (1) Khẳng định vị trí chiến lược của nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong tiến trình phát triển đất nước; (2) Nhìn nhận mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông thôn và nông dân, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông
Trang 9thôn mới; (3) Đề cao tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường của nông dân trong phát triển nông nghiệp, nông thôn; Trong đó chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng để triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 26-NQ/TW
Thực hiện chủ trương của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 ban hành Bộ Tiêu chí Quốc gia
về nông thôn mới và Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20 tháng 02 năm 2013 về sửa đổi một số tiêu chí của Bộ Tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, Quyết định số 800/QĐ-TTg về Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 Để có cơ sở thực tiễn cho chỉ đạo xây dựng nông thôn mới, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã chỉ đạo 11 xã đại diện cho các vùng kinh
tế - văn hoá trên cả nước xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới Khẳng định hiệu quả và tầm quan trọng của Chương trình MTQG về xây dựng NTM giai đoạn 2011- 2015 mang lại; giai đoạn 2016- 2020 Chương trình MTQG về xây dựng NTM tiếp tục được quan tâm và cụ thể hóa trong Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày
17 tháng 10 năm 2016 về việc ban hành Bộ Tiêu chí Quốc gia về xã NTM giai đoạn 2016- 2020 (thay thế cho Quyết định 491/QĐ-TTg và Quyết định 342/QĐ-TTg), Quyết định 1600/QĐ-TTg ngày 16 tháng 8 năm 2016 phê duyệt Chương trình MTQG về xây dựng NTM giai đoạn 2016- 2020 và Chỉ thị số 36/CT-TTg ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh thực hiện hiệu quả, bền vững chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2016- 2020
Tỉnh ủy Trà Vinh ban hành Nghị quyết 04-NQ/TU ngày 04/10/2011 về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020 trên địa bàn tỉnh; đề ra mục tiêu: “Xây dựng nông thôn mới của tỉnh có kết cấu hạ tầng kinh tế-
xã hội đồng bộ và từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn xây dựng nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh Xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh nhằm phấn đấu đến năm 2015 đưa Trà Vinh phát triển khá toàn diện; tạo tiền đề đến năm 2020 trở thành tỉnh có nền kinh tế - xã hội phát triển bền vững, góp phần cùng cả nước thực hiện mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại” Và mục tiêu cụ thể: “Đến năm 2020 có 50% số xã trên địa bàn tỉnh cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới và 50% số xã còn lại đạt từ 14/19 tiêu chí quốc gia về nông thôn mới trở lên; riêng huyện Trà Cú có từ 70% trở lên số xã đạt tiêu chí quốc gia
về nông thôn mới” Thực hiện Kế hoạch số 16-KH/TU ngày 04 tháng 5 năm 2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện chương trình MTQG NTM tỉnh Trà Vinh
Trang 10giai đoạn 2016- 2020; ngày 19 tháng 12 năm 2016, Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh
đã ban hành Quyết định số 2662/QĐ-UBND ban hành Kế hoạch tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Trà Vinh cùng cả nước chung sức xây dựng NTM” giai đoạn 2016- 2020
Trong số 105 xã, phường, thị trấn hiện có trên địa bàn tỉnh, có 85 xã (đạt 100% xã) đã tiến hành xây dựng nông thôn mới, khu vực nông thôn của tỉnh có gần 85% dân số và 72% lao động nông nghiệp đang sinh sống và sản xuất, chủ yếu
là sản xuất nông nghiệp Những năm qua, việc xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh được tập trung lãnh đạo nên có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống vật chất, tinh thần của người dân nông thôn không ngừng được nâng lên; kết cấu hạ tầng từng bước được cải thiện và kiên cố hóa; các công trình văn hóa, y tế, giáo dục, thông tin liên lạc, điện, nước sinh hoạt được đầu tư xây dựng và phục vụ người dân ngày càng tốt hơn Hệ thống chính trị được củng
cố, tăng cường; dân chủ cơ sở được phát huy; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nông thôn được giữ vững, tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Kết quả chỉ đạo thực hiện thí điểm mô hình xây dựng nông thôn mới xã Mỹ Long Nam, huyện Cầu Ngang và 17 xã điểm khác trên địa bàn các huyện, thành phố, đến nay bước đầu đã rút ra một số kinh nghiệm, đánh giá thực chất năng lực của bộ máy chính trị ở các xã, khả năng quản lý, điều hành, làm chủ các dự án, phương pháp điều hành công việc theo kế hoạch và đánh giá sự nhận thức của người dân, làm cơ sở, tạo tiền đề nhân rộng mô hình xây dựng nông thôn mới của tỉnh theo chủ trương của Chính phủ
Trong 5 năm, 2011- 2015, kết quả thực hiện các tiêu chí NTM trên địa bàn tỉnh có 20/85 xã đạt 19/19 tiêu chí (trong đó 17 xã đã được công nhận); 07/85 xã đạt từ 15 đến 18 tiêu chí, 57/85 xã đạt từ 10- 14 tiêu chí và 01/85 xã đạt 8 tiêu chí; đến nay (12/2016), toàn tỉnh có 23/85 xã đạt 19/19 tiêu chí (có 19 xã đã được công nhận); 13/85 xã đạt từ 15 đến 18 tiêu chí, 49/85 xã đạt từ 10- 14 tiêu chí, không có
xã đạt dưới 10 tiêu chí Trong 5 năm (2011- 2015), toàn tỉnh đã huy động được 5.805,324 tỷ đồng; Trong đó: Ngân sách phân bổ trực tiếp cho chương trình: 341,268 tỷ đồng (vốn Trung ương: 202,268 tỷ đồng và vốn địa phương: 139 tỷ đồng); vốn lồng ghép: 1.839,769 tỷ đồng, vốn tín dụng: 2.287,383 tỷ đồng, vốn huy động từ doanh nghiệp: 177,316 tỷ đồng, vốn dân đóng góp: 1.083,76 tỷ đồng, vốn huy động từ nguồn khác (con em xa quê, từ thiện): 75,828 tỷ đồng
Trên địa bàn huyện Châu Thành, kết quả thực hiện đạt các tiêu chí NTM (từ 2011 - 2015): có 01/13 xã đạt 19 tiêu chí (Hưng Mỹ), 01 xã đạt 17 tiêu chí (Hòa Minh), có 11 xã đạt từ 10- 14 tiêu chí (Lương Hòa A, Mỹ Chánh, Thanh Mỹ, Lương Hòa, Nguyệt Hóa, Hòa Thuận, Long Hòa, Hòa Lợi, Đa Lộc, Phước Hảo và
Trang 11Song Lộc); đến tháng 12/2016 trong nhóm 11 xã đạt từ 10- 14 tiêu chí đã có 02 xã thuộc nhóm đạt từ 15- 18 tiêu chí: xã Lương Hòa A: đạt từ 14 lên 15 tiêu chí, xã Hòa Thuận: đạt từ 11 lên 16 tiêu chí, có 04 xã đạt thêm từ 01 đến 02 tiêu chí; Huyện đã huy động nhiều nguồn vốn được 891,656 tỷ đồng; Cụ thể: Vốn ngân sách cấp phát: 456,807 (chiếm 51,23%), trong đó: Vốn ngân sách Trung ương: 217,275 tỷ đồng, Vốn ngân sách tỉnh: 180,034 tỷ đồng, Vốn ngân sách huyện: 59,498 tỷ đồng; Vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án: 107,764 tỷ đồng (chiếm 12,09%); Vốn tín dụng: 193,074 tỷ đồng (chiếm 21,65%) và nguồn vốn quan trọng từ đóng góp của người dân là 134,011 tỷ đồng (chiếm 15,03%); với các hình thức: hiến đất, cây ăn trái, hoa màu, ngày công lao động xây dựng các công trình thủy lợi, chỉnh trang nhà cửa theo yêu cầu xây dựng NTM
Để đạt được mục tiêu xây dựng nông thôn mới, tỉnh đã phát huy mọi nguồn lực, với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị; nhằm xây dựng xã hội nông thôn văn minh, môi trường sống trong lành, nâng cao đời sống người dân trong tỉnh cả
về vật chất lẫn tinh thần.; trong đó có sự góp phần không nhỏ của người dân tham gia đóng góp vào xây dựng nông thôn mới với các hình thức: hiến đất, cây cối hoa màu, ngày công lao động, chỉnh trang nhà cửa, tham gia ý kiến đóng góp xây dựng nông thôn mới qua các cuộc họp, giám sát công trình… tạo tiền đề sớm hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh
Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế như: (1) Nhu cầu kinh phí để đầu tư hoàn thiện các tiêu chí liên quan đến lĩnh vực cơ sở hạ tầng là rất lớn, nhất
là tiêu chí: giao thông, trường học, cơ sở vật chất văn hóa; trong khi đó nguồn lực của tỉnh có giới hạn, khả năng đối ứng của người dân thấp, do đó còn nhiều khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện (2) Công tác triển khai quán triệt trong nội bộ, tuyên truyền ra dân về những nội dung cơ bản của Chương trình ở một số địa phương chưa đi vào chiều sâu, vẫn còn chú trọng đến xây dựng cơ sở hạ tầng, chưa đi vào từng nội dung cụ thể mà địa phương và nhân dân phải làm cụ thể như: tiêu chí về văn hóa xã hội, môi trường, an ninh trật tự (3) Các địa phương chưa đánh giá sát tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn, để từ đó đề ra các giải pháp ưu tiên đầu tư, nhất là việc đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất nâng cao thu nhập cho người dân, chậm nhân rộng các mô hình hiệu quả, phát triển kinh tế - xã hội chưa thật sự đồng bộ (4) Một số tiêu chí đạt nhưng chất lượng thấp, chưa bền vững như: Tiêu chí thu nhập, hộ nghèo, an ninh trật tự xã hội, môi trường, Tỷ lệ lao động qua đào tạo không đồng đều; ấp, hộ đạt chuẩn nông thôn mới còn thấp rất thấp (5) Công tác kêu gọi doanh nghiệp đầu tư, tham gia xây dựng nông thôn mới còn hạn chế, doanh nghiệp tham gia chưa nhiều
Chính vì thế, để phân tích, đánh giá sự đóng góp của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại tỉnh Trà Vinh, xác định các yếu tố lên quyết định vào sự
Trang 12tham gia đóng góp của các hộ dân trong xây dựng nông thôn mới; Thông qua việc khảo sát và đánh giá thực tiễn, giúp các ngành, các cấp tháo gỡ các vướng mắc,
đề ra các quyết sách nhằm thu hút thêm số hộ tham gia đóng góp vào xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020, phát huy vai trò chủ thể của người dân là một trong những yếu tố quan trọng, là “chìa khóa” quyết định thành công trong
xây dựng NTM; việc chọn đề tài “Phân tích tác động của các yếu tố lên quyết định đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh” là rất cần thiết
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Phân tích thực trạng về sự tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh
Xác định các yếu tố đã tác động lên sự tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới
Các quyết sách nhằm thu hút nhiều hộ gia đình tham gia đóng góp vào
chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
(1) Các hộ gia đình tham gia đóng góp vào chương trình xây dựng nông thôn mới dưới hình thức nào?
(2) Yếu tố nào đã tác động lên sự tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới?
(3) Cần có giải pháp gì nhằm thu hút nhiều hộ gia đình tham gia đóng góp vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh?
1 4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Nhằm hệ thống hóa các lý thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu, các cách tiếp cận từ các nghiên cứu trước có liên quan
- Phương pháp thống kê phân tích: phân tích các số liệu thứ cấp qua việc thu thập từ các báo cáo tổng kết của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các Sở, ngành có liên quan, Ban Chỉ đạo huyện,…trong quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh, huyện
- Phương pháp thống kê mô tả: Dùng để diễn giải số liệu sơ cấp (thu thập từ các dữ liệu khảo sát)
- Phương pháp phân tích định lượng: Nhằm ước lượng mức độ tác động lên quyết định của hộ gia đình về việc tham gia đóng góp cho chương trình xây dựng nông thôn mới; Mô hình ước lượng là mô hình logit
Với biến phụ thuộc là biến nhị phân: có (1) hay không (0) tham gia đóng góp của hộ gia đình tại địa phương vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện
Trang 13Các biến độc lập là: Tuổi của chủ hộ, giới tính, trình độ học vấn của chủ hộ; Thu nhập của hộ, diện tích đất canh tác, lợi ích khi tham gia chương trình xây dựng nông thôn mới; Có hay không tham gia vào hội, đoàn thể tại địa phương; Có hay không người thân trong gia đình ủng hộ tham gia đóng góp; Cảm thấy có lợi ích trong việc tham gia đóng góp vào chương trình xây dựng nông thôn mới…
1.5 Dữ liệu phục vụ nghiên cứu
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo có liên quan từ năm 2011 - 2016
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập từ các hộ gia đình trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh (5 xã, 40 hộ gia đình/xã)
1.6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.6.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu xu hướng và mức độ tác động lên quyết định tham gia đóng góp của hộ gia đình vào xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh
1.7 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu
Nghiên cứu “Phân tích tác động của các yếu tố lên quyết định đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh” giúp phản ánh thực chất vai trò tham gia và xác định các
yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của người dân tham gia vào tiến trình XD NTM, làm cơ sở đề xuất, khuyến nghị các giải pháp hiệu quả giúp địa bàn nghiên cứu cũng như các địa phương có điều kiện tương đồng định hướng, lập kế hoạch phù hợp nhằm phát huy hơn nữa vai trò chủ thể của người dân, thực hiện thành công chương trình MTQG về xây dựng NTM; Từ đó, người dân chủ động hơn trong các hoạt động, xóa bỏ tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, tích cực tham gia chung tay, góp sức bằng nhiều việc làm thiết thực Kết quả của nghiên cứu còn giúp cho việc thực hiện chương trình MTQG về xây dựng NTM giai đoạn 2016- 2020 trên địa bàn tỉnh Trà Vinh có thêm tư liệu tham khảo nhằm hoàn thiện các chính sách có liên quan đến NTM
Trang 141.8 Các nội dung chính của nghiên cứu
Chương 1 GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU: Với các nội dung về sự cần
thiết để thực hiện đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, dữ liệu phục vụ nghiên cứu
Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN, KHẢO LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN: Chương này cung cấp các nội dung có liên quan đến nghiên cứu
cũng như lược khảo các nghiên cứu có liên quan trước đây và phương pháp phân tích
Chương 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU: Trình bày
phương pháp nghiên cứu, đề xuất mô hình, thu thập dữ liệu nghiên cứu; các bước
của quy trình nghiên cứu
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN: Mô tả thống
kê, phân tích, giải thích số liệu; Kết quả phân tích định lượng mô hình
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH: Trình bày ngắn gọn
kết quả được rút ra từ mục tiêu nghiên cứu
Phần cuối Luận văn liệt kê Tài liệu tham khảo và Phụ lục
Trang 15Chương 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN, KHẢO LƯỢC CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2.1 Khung khái niệm
2.1.1 Nông thôn
Theo Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005, các quốc gia trên thế giới trong quá trình phát triển đều phân các vùng lãnh thổ của mình thành hai khu vực là đô thị
và nông thôn, với sự khác nhau căn bản được phản ánh rõ nét qua những nguyên
lý của xã hội học nông thôn- đô thị; trong đó những tiêu chí quan trọng giúp cho việc phân biệt khu vực nông thôn và đô thị bao gồm: sự khác nhau về nghề nghiệp, môi trường, về quy mô cộng đồng, mật độ dân số, tính hỗn tạp và thuần nhất của dân số, hướng di cư, sự khác biệt xã hội và phân tầng xã hội, hệ thống tương tác trong vùng…
Hội nghị nhóm chuyên viên của Liên hiệp quốc đã đề cập đến một khái niệm CONTIUM nông thôn - đô thị Có thể hiểu nông thôn - đô thị là một khu vực kinh
tế hỗn hợp gồm nông thôn, nông thị và đô thị kế tiếp, xen kẻ nhau Trong đó, nông thôn được coi là các làng xã nông nghiệp cổ truyền, nông thị là các đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ, chợ có chức năng như cầu nối giữa nông thôn và thành thị, còn thành thị là các thành phố lớn, vừa, hoặc các khu công nghiệp tập trung (Mai Thanh Cúc
và cộng sự, 2005)
Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tính chất tương đối, thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý, có thể hiểu nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác (Mai Thanh Cúc và cộng sự, 2005)
Theo Hoàng Văn Định và Vũ Đình Thắng (2002), nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có cộng đồng chủ yếu là nông dân sinh sống và làm việc,
có mật độ dân cư thấp, có cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn, có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp hơn
Người nông dân Việt Nam có trình độ dân trí chưa cao, trình độ tiếp cận với công nghệ còn thấp gắn với nền kinh tế tiểu nông, sản xuất nhỏ, năng suất lao động thấp, sản xuất tự cấp tự túc và kỹ thuật canh tác còn nhiều lạc hậu
Về phương diện kinh tế, nông thôn bao gồm cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa, tài nguyên thiên nhiên, tổ chức và thể chế, công nghệ và hạ tầng cơ sở (Đỗ Kim Chung, 2009)
Trang 16Nông thôn chủ yếu gắn với kinh tế nông nghiệp và đây là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: Trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản, lâm nghiệp, thủy sản
Theo Đặng Kim Sơn (2008), nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở
là Uỷ ban nhân dân xã
Như vậy, nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân với sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn Nông thôn là phần lãnh thổ được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã
2.1.2 Nông thôn mới
Mô hình nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã có) ở tính tiên tiến về mọi mặt
Nông thôn mới là nông thôn văn minh hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đẹp của truyền thống Việt Nam (Vũ Trọng Khải và cộng sự, 2003)
Theo Thông tư số 54/2009/TT-BNN ngày 21 tháng 8 năm 2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện Bộ Tiêu chí Quốc gia
về NTM quy định: “Vùng/khu vực nông thôn mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn; được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã" Như vậy, nông thôn mới trước hết phải là nông thôn, chứ không phải là thị tứ, thị trấn Nông thôn mới vừa bao hàm chức năng lịch sử vốn có của nông thôn là vùng nông dân quần tụ trong đơn vị làng xã và chủ yếu làm nông nghiệp, vừa có những thuộc tính khác với nông thôn truyền thống, đó là: Làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng cao; giá trị văn hoá truyền thống được bảo tồn, phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ (Hồ Xuân Hùng, 2010)
Nông thôn mới là những kiểu mẫu cộng đồng theo tiêu chí mới, tiếp thu những thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện đại, song vẫn giữ được những nét đặc trưng, tính cách Việt Nam trong cuộc sống văn hoá tinh thần Theo đó, một số tiêu chí của mô hình nông thôn mới là: (1) đơn vị cơ bản của mô hình nông thôn mới là làng - xã, (2) đáp ứng yêu cầu thị trường hoá, đô thị hoá, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, (3) có khả năng khai thác hợp lý và nuôi dưỡng các nguồn lực, đạt tăng
Trang 17trưởng kinh tế cao và bền vững; môi trường sinh thái được giữ gìn; tiềm năng du lịch được khai thác, (4) dân chủ nông thôn mở rộng và đi vào thực chất, (5) nông dân, nông thôn có văn hoá phát triển, dân trí được nâng lên (Hồ Văn Thông, 2005)
Như vậy, nông thôn mới là nông thôn có hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, làng xã văn minh, sạch đẹp; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; đời sống về vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát triển; xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ
2.1.3 Xây dựng nông thôn mới
Chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể, dài hạn và phạm vi được áp dụng trên địa bàn nông thôn của toàn quốc, mục tiêu mà các địa phương đang phấn đấu trong việc thực hiện chương trình này là được công nhận đạt chuẩn NTM
Tại Điều 1 Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới nêu rõ: Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới là căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới; chỉ đạo thí điểm xây dựng mô hình NTM trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; kiểm tra, đánh giá công nhận xã, huyện, tỉnh đạt NTM Bộ tiêu chí sẽ được điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước và từng thời kỳ Tùy điều kiện mà chỉ tiêu áp dụng cho từng vùng được quy định cao hoặc thấp hơn quy định chung
Trong phạm vi nội dung nghiên cứu, có thể hiểu, xây dựng nông thôn mới
là việc các địa phương thực hiện tổng hợp các nhiệm vụ nhằm đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới, xây dựng nông thôn cơ bản đạt được các đặc trưng mà mục tiêu chung của Chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới đã đề ra
2.1.4 Hộ gia đình
Theo Điều 106 Bộ luật Dân sự quy định: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định
là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này”.
Theo Từ điển luật học, thì hộ gia đình là “tập hợp nhóm người có quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng” Trên khía cạnh pháp lý, hộ gia đình có các điều kiện sau sẽ có thể là chủ thể quan hệ pháp luật dân sự (vay vốn, mua, bán, thuê, mượn,…) với đặc điểm: các thành viên có tài sản chung; cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định
Trang 18Theo Luật Đất đai 2013, tại khoản 29 Điều 3 quy định: “Hộ gia đình sử dụng đất là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử
dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất” Vì vậy, căn cứ quy định trên, khái niệm hộ gia đình là những thành viên trong hộ khẩu
2.1.5 Vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới
Xét trên góc độ pháp lý, có nhiều văn bản đề cập đến vai trò người dân trong xây dựng NTM nhưng chủ yếu tập trung thể hiện trong nội dung các văn bản: (1) Pháp lệnh thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn quy định về những vấn đề người dân được biết, bàn bạc, ý kiến, thực hiện, kiểm tra là cơ sở để xác định những hoạt động người dân được tham gia trong xây dựng NTM, (2) Nghị quyết 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban Chấp hành Trung
ương Đảng về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đưa ra những quan điểm chủ yếu
trong phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó khẳng định vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng, phát triển NTM, (3) Quyết định số 800/QĐ-TTg,
ngày 06 tháng 4 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 với những
quy định về việc lấy ý kiến cộng đồng trong quy hoạch, đổi mới các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả, xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông, cấp nước sạch, vệ sinh môi trường và mức đóng góp xây dựng NTM, đã cho thấy vai trò của người dân theo quyết định này ở mức độ là người được tham vấn (ý kiến), (4) Sổ tay hướng dẫn xây dựng NTM cấp xã năm 2010 là văn bản thể hiện đầy đủ và chi tiết nhất về vai trò của người dân trong xây dựng NTM Ở mức độ thấp, người dân tham gia với vai trò là người đóng góp công sức, tiền của xây dựng các công trình công cộng, chỉnh trang nơi ở,… Ở các mức độ cao hơn, vai trò của người dân thay đổi thông qua hoạt động mà họ tham gia, cụ thể:
Khi tham gia ý kiến vào đề án xây dựng NTM và bản đồ quy hoạch NTM cấp xã, người dân đóng vai trò là người được tham vấn;
Khi tham gia lựa chọn những công việc gì cần làm trước và việc gì làm sau
để thiết thực với yêu cầu của người dân trong xã và phù hợp với kế hoạch khả năng, điều kiện của địa phương; quyết định mức độ đóng góp trong xây dựng các công trình công cộng của thôn, xã, người dân đóng vai trò là người được quyết định;
Khi cử đại diện (Ban giám sát) để tham gia quản lý và giám sát các công trình xây dựng của xã, người dân đóng vai trò là người giám sát;
Khi tham gia tổ chức quản lý, vận hành và bảo dưỡng các công trình sau khi hoàn thành, người dân đóng vai trò là người quản lý
Trang 19Thông qua phân tích ở trên, ta nhận thấy vai trò của người dân được thể hiện trong các văn bản rất đa dạng, từ vai trò người tham gia thụ động trong tiếp nhận thông tin, đóng góp công sức, tiền của cho đến vai trò là người quản lý các công trình NTM Khi người dân tham gia xây dựng NTM với tất cả những vai trò trên, họ thật sự là người giữ vai trò chính trong hoạt động này
2.1.6 Các hình thức tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng NTM
Đóng góp: Là hộ gia đình tham gia góp tiền, góp công xây dựng các công
trình công cộng của làng xã như giao thông, kiên cố hóa kênh mương, vệ sinh công cộng…
Đóng góp xây dựng công trình công cộng của làng, xã bằng công lao động, tiền mặt, vật liệu, máy móc thiết bị, hiến đất…(Nếu đóng góp bằng tiền thì cần được cộng đồng bàn bạc quyết định, HĐND xã thông qua)
Nguồn đóng góp của cộng đồng bao gồm: Hiến đất, ngày công lao động, tiền của đầu tư cải tạo nhà ở, xây mới và nâng cấp các công trình vệ sinh phù hợp với chuẩn mới; Cải tạo ao, vườn để tăng thêm thu nhập và có cảnh quan đẹp; Cải tạo cổng ngõ, tường rào phong quang, đẹp đẽ…
Đầu tư cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của hộ gia đình để tăng thu nhập
Tự nguyện: Là tự nguyện hiến đất để xây dựng các công trình hạ tầng kinh tế- xã hội theo quy hoạch của chương trình xây dựng NTM
Vai trò và sự tham gia đóng góp của người dân:
Michael Dower (2004) trích dẫn lời của Chính phủ trong “Chương trình
Phát triển Nông thôn” xuất bản năm 1996:
“Phát triển nông thôn là một công tác phức tạp Nó đòi hỏi sự đóng góp của toàn dân, của tất cả các tổ chức cũng như sự hỗ trợ của Nhà nước”;
Đó là “sự cộng tác giữa Chính phủ và nhân dân”;
“Phát triển nông thôn là công việc chính của người dân nông thôn với sự giúp đỡ tích cực của Chính phủ”;
“Chương trình Phát triển Nông thôn” nêu rằng vai trò của Chính phủ trong phát triển nông thôn là tổ chức, chỉ đạo và phối hợp các hoạt động, đồng thời công nhận vai trò chủ chốt của bản thân người dân nông thôn Người dân sống ở các vùng nông thôn vừa phải là những người thụ hưởng chính, đồng thời cũng là những người hoạt động chủ yếu trong phát triển nông thôn Cũng theo Michael Dower (2004), việc phát
triển nông thôn là vì dân, nó cần được thực hiện cùng với sự tham gia của người dân
và do dân Nói cách khác, phát triển nông thôn cần dựa vào các lợi ích và sự tham gia
của cộng đồng sống trong khu vực Sự hợp tác giữa Chính phủ và người dân phụ thuộc vào sự tín nhiệm và tin tưởng ở cả hai phía; Sự tín nhiệm và tin tưởng này có thể cần có thời gian để phát triển, vì vậy, mối quan hệ giữa Chính phủ và người dân trong phát
Trang 20triển nông thôn có thể khác nhau từ nước này sang nước khác và từ khu vực này sang khu vực khác
2.2 Các lý thuyết có liên quan đến chủ đề nghiên cứu
2.2.1 Lý thuyết hành vi hợp lý
Thuyết hành vi hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được Ajzen và Fishbein xây dựng từ năm 1975 và được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội (Eagly & Chaiken, 1993; Olson & Zanna, 1993; Sheppard, Hartwick, & Warshaw, 1988, trích trong Mark, C & Christopher J.A., 1998, tr 1430) Mô hình TRA cho thấy hành vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi
đó Mối quan hệ giữa ý định và hành vi đã được đưa ra và kiểm chứng thực nghiệm trong rất nhiều nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực (Ajzen, 1988; Ajzen & Fishben, 1980; Canary & Seibold, 1984; Sheppard, Hartwick, & Warshaw, 1988, trích trong Ajzen,
1991, tr 186) Hai yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định là thái độ cá nhân và chuẩn chủ quan Trong đó, thái độ của một cá nhân được đo lường bằng niềm tin và sự đánh giá đối với kết quả của hành vi đó Ajzen (1991, tr 188) định nghĩa chuẩn chủ quan (Subjective Norms) là nhận thức của những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng cá nhân đó nên thực hiện hay không thực hiện hành vi
Hành vi đóng góp của hộ gia đình là sự tham gia có chủ động, bằng thái độ và niềm tin vào chính quyền địa phương trong xây dựng NTM, người dân phát huy vai trò ngày càng cao trong tham gia đóng góp và mọi việc tại địa phương phải được phát huy dân chủ: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và thụ hưởng
Niềm tin đối với những thuộc
tính của chương trình XDNTM
Nhận thức về niềm tin đối với
chương trình XDNTM
Áp lực xã hội thúc đẩy làm theo ý
muốn những người ảnh hưởng
Niềm tin về những ảnh hưởng và
nghĩ rằng mình nên thực hiện hay
không thực hiện hành vi
Thái độ
Chuẩn chủ quan
Xu hướng hành vi
Hành vi thực sự
Trang 21yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavioral Control) Nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay hạn chế hay không (Ajzen, 1991, tr 183)
Dự định tham gia đóng góp của người dân rất quan trọng trong xây dựng NTM; qua việc nhận thức và kiểm soát hành vi của mình dựa vào mức độ tin tưởng với các cấp chính quyền địa phương, người dân quyết định hành vi có đóng góp hay không đóng góp vào chương trình xây dựng NTM
Hình 2.2 Thuyết hành vi dự định- TPB
(Nguồn: Ajzen, I., The theory of planned behaviour, 1991, tr 182)
2.2.3 Tháp nhu cầu của Maslow
Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm 2 nhóm: Nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs)
Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn
có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ, nghỉ Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày
Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần, như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, an toàn, vui vẽ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân
Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống họ sẽ không quan tâm đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng Tuy nhiên, tùy theo nhận thức, kiến thức, hoàn cảnh, thứ bậc, các nhu cầu cơ bản có thể đảo lộn Ví dụ như: người ta có thể hạn chế
ăn, uống, ngủ nghỉ để phục vụ cho các sự nghiệp cao cả hơn Ngược lại, theo chủ thuyết cách mạng vô sản, của cải, sở hữu tài sản là nhu cầu số một, bỏ qua các nhu cầu bậc cao khác (Phú Võ),
Quyết định hành vi
Trang 22Hình 2.3 Tháp nhu cầu Maslow
(Nguồn: http://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1p_nhu_c%E1%BA% A7u_c%E1%BB%A7a_
Maslow truy cập ngày 27/11/2016)
Từ các lý thuyết trên, hành vi đóng góp của hộ gia đình tham gia vào xây dựng NTM phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Nhận thức, niềm tin của người dân vào các cấp chính quyền địa phương trong chương trình xây dựng NTM; nhận thức kiểm soát hành vi của người dân từ đó quyết định đến hành vi cụ thể; nhu cầu được thỏa mãn cả
về vật chất lẫn tinh thần; sự đòi hỏi công bằng, an tâm, an toàn, vui vẽ, được phục vụ lợi ích cho cá nhân, cộng đồng…; thỏa mãn các tiêu chí trên, người dân sẽ đóng góp trên tinh thần hoàn toàn tự nguyện, tin tưởng vào thành công của chương trình xây
dựng NTM
2.3 Tổng hợp các nghiên cứu có liên quan
Hiện chưa tìm thấy nghiên cứu trùng tên với Đề tài đã chọn; Đề tài đã tham khảo một số Đề tài thuộc lĩnh vực khác có nội dung yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia ủng hộ đóng góp của người dân:
- Nguyễn Quốc Nghi và cộng sự (2012) nghiên cứu: “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia tổ chức du lịch cộng đồng của người dân tỉnh An Giang” đã sử dụng phương pháp thu thập số liệu từ 135 hộ gia đình tại hai xã Mỹ Hòa Hưng (huyện Chợ Mới) và xã Châu Giang (thị xã Tân Châu); Kết quả chạy
mô hình hồi quy cho thấy 5 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia tổ chức du lịch cộng đồng của người dân là trình độ học vấn của chủ hộ, quy mô gia đình, thu nhập, vốn xã hội và nghề truyền thống Trong đó nhân tố quy mô gia đình tác động mạnh nhất đến quyết định tham gia phát triển du lịch của người dân
Trang 23- Về đánh giá thực trạng sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM,
Vũ Đức Lập (2008), Nguyễn Văn Hiệu (2011) và Quách Kim Phượng (2014) đều
sử dụng phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của cộng đồng (Participatory Rural Appraisal- PRA) để thu thập số liệu sơ cấp, khơi dậy vai trò tham gia của người dân sống ở địa phương, làm cho mọi người hiểu thêm về môi trường sống và giúp cho họ thực sự tham gia theo phương châm: Dân biết, dân bàn, dân đóng góp, dân làm, dân kiểm tra, dân quản lý và dân hưởng lợi thành quả
Bằng các mẫu phiếu điều tra được chuẩn bị sẵn, các công cụ như phỏng vấn
cá nhân, phỏng vấn người cung cấp thông tin chủ yếu, thảo luận nhóm,…được linh hoạt sử dụng để thu thập thêm thông tin thực tế ngoài các số liệu đã được công bố Sau đó, bằng các phương pháp thống kê (thống kê mô tả, thống kê so sánh,…) được ứng dụng để phản ánh một cách tổng quát về đặc điểm, tầm hiểu biết, hình thức,…liên quan đến sự tham gia đóng góp Trên cơ sở các kết quả phân tích, thực trạng sự tham gia của người dân trong xây dựng NTM được làm rõ và đánh giá khách quan
Trên cơ sở các nghiên cứu có liên quan, tác giả đã củng cố thêm phương pháp thu thập số liệu bằng cách lập phiếu khảo sát, phỏng vấn hộ gia đình, sử dụng các biến có liên quan đến việc tham gia đóng góp của hộ gia đình vào xây dựng nông thôn mới để chạy mô hình hồi quy
Tóm lại, dựa trên các nghiên cứu có liên quan, tác giả lựa chọn phương pháp khảo sát, phỏng vấn hộ gia đình, sử dụng mô hình hồi quy logistic phân tích những tác động đến khả năng đóng góp của hộ gia đình vào xây dựng NTM trên địa bàn huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh, thông qua các biến: dân tộc, giới tính, người thân ủng hộ, tham gia hội, đoàn thể, hoạt động xã hội, thông tin minh bạch, đặc điểm hộ gia đình, diện tích đất, thu nhập của hộ gia đình,… Trên cơ sở đó có những đánh gia khách quan về quyết định tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình MTQG xây dựng NTM
Tóm tắt chương 2
Trong chương hệ thống các khái niệm có liên quan đến chủ đề nghiên cứu, trình bày các lý thuyết phục vụ phân tích và khảo lược những nghiên cứu có liên quan nhằm có cơ sở trong việc đề xuất phương pháp phân tích
Trang 24Chương 3 PHƯƠNG PHÁP VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 3.1 Các phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tổng hợp: Qua cơ sở lý thuyết về nông thôn, nông thôn mới, các chính sách quy định về xây dựng NTM , hộ gia đình và kinh nghiệm phát triển nông thôn mới ở các tài liệu đã nghiên cứu trước, các mô hình thực tiễn về cộng đồng là luôn song hành với sự tham gia của người dân để chỉ ra
sự cần thiết đối với việc người dân tham gia đóng góp trong chương trình xây dựng NTM; Qua đó hệ thống hóa các lý thuyết có liên quan đến chủ đề nghiên cứu, các cách tiếp cận như mô hình, xử lý số liệu…từ các nghiên cứu trước có liên quan
Phương pháp thống kê phân tích: Nhằm phân tích các số liệu thứ cấp từ các báo cáo tổng kết của cơ quan Thường trực Ban chỉ đạo chương trình xây dựng NTM của tỉnh, chính quyền địa phương trong quá trình thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới về các số liệu, thực trạng hoạt động để so sánh phân tích
Phương pháp thống kê mô tả: Nhằm diễn giải tính chất của bộ dữ liệu khảo sát thực tế thu thập ý kiến của hộ dân của 5 xã, thông qua bảng câu hỏi khảo sát để thu thập các thông tin về sự tham gia đóng góp hay không tham gia đóng góp của các hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới để có số liệu cho phân tích định lượng
Phương pháp phân tích định lượng bằng mô hình hồi qui logit nhị phân nhằm ước lượng xu hướng và mức độ tác động lên quyết định của hộ gia đình có hoặc không tham gia ủng hộ đóng góp cho chương trình xây dựng nông thôn mới
Với biến phụ thuộc là biến nhị phân có hay không có tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Châu Thành Các
biến độc lập là: Thu nhập của hộ, Diện tích đất canh tác, Trình độ học vấn của chủ
hộ, đặc điểm hộ gia đình, Lợi ích khi tham gia chương trình xây dựng nông thôn mới, Có hay không tham gia vào đoàn thể, hội, tổ chức tại địa phương, Có hay không người thân tham gia đóng góp, thông tin minh bạch, có hay không lòng tin của người dân đối với chính quyền địa phương …
3.2 Mô hình đề xuất
Để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định tham gia đóng góp vào xây dựng nông thôn mới của hộ Tác giả sử dụng Mô hình hồi quy logistic
để định lượng ảnh hưởng một số biến kinh tế, xã hội lên xác suất đóng góp của hộ,
mà biến phụ thuộc có giá trị bằng 1 nếu hộ có đóng góp và bằng 0 nếu hộ không đóng góp; có dạng tổng quát như:
Trang 25Trong đó: Yi * chưa biết Nó thường được gọi là biến ẩn Chúng ta xem xét biến nhị phân yi được khai báo như sau:
Xij là các biến độc lập, đây là các yếu tố ảnh hưởng đến việc hộ gia đình có tham gia đóng góp vào chương trình xây dựng NTM hay không
3.2.1 Biến phụ thuộc
Là biến nhị phân có hay không có tham gia đóng góp của hộ gia đình tại địa
phương vào chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện
3.2.2 Biến độc lập
Dân tộc
Giới tính chủ hộ
Diện tích đất canh tác
Thời gian sống tại địa phương
Tham gia Hội, đoàn thể
Quyết định (ai là người quyết định trong xây dựng công trình NTM)
Thông tin (có biết đến chương trình NTM)
Tỷ lệ phụ thuộc
3.3 Các giả thiết nghiên cứu
Qua khảo sát nghiên cứu, các nhân tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định tham gia đóng góp hay không tham gia đóng góp của chủ hộ vào chương trình xây dựng NTM đưa vào mô hình bao gồm 14 nhân tố, đây chính là các biến độc lập
Trang 26Nhận giá trị 1 nếu hộ gia đình thuộc dân tộc Kinh, nhận giá trị 0 nếu thuộc cộng đồng người Khmer
3 Giới tính chủ hộ Gioitinh Nhận giá trị 1 nếu chủ hộ là nam, nhận
+
8 Thông tin minh bạch
trong xây dựng NTM Minhbach
Nhận giá trị 1 nếu có tính minh bạch, nhận giá trị 0 nếu không minh bạch +
9 Thông tin Thongtin Hộ gia đình có biết về chương trình
10 Người thân ủng hộ
Nhận giá trị 1 nếu ủng hộ tham gia đóng góp, nhận giá trị 0 nếu không ủng hộ đóng góp
+
11 Tham gia hoạt động
xã hội
Hoatdongxa hoi
Nhận giá trị 1 nếu có tham gia các hoạt động xã hội, nhận giá trị 0 nếu không tham gia
+
12
Địa phương có thông
báo cho người dân
của hộ gia đình Phuthuoc
Tỷ lệ người sống phụ thuộc của hộ gia đình, được tính bằng thương số giữa những người không làm việc với tổng
số thành viên trong hộ
14 Đặc điểm hộ gia đình Dacdiemho
Hộ thuộc diện nghèo - cận nghèo:
nhận giá trị 1; Hộ chính sách - hộ khác: nhận giá trị 0
Trang 273.4 Mô tả biến và dấu kỳ vọng
- Yi Quyết định đóng góp vào chương trình xây dựng NTM; Nhận giá trị 1 nếu đóng góp, giá trị 0 nếu không đóng góp
- Trình độ học vấn: là phân loại, cho tính trình độ học vấn của chủ hộ Biến này nhận các giá trị 1, 2, 3, 4; Cụ thể là: 1: Không đi học, 2: Tiểu học, 3: Trung học cơ sở, 4: Trung học phổ thông trở lên; Biến này được kỳ vọng là có mối tương quan dương với quyết định tham gia đóng góp của hộ gia đình vào chương trình xây dựng NTM Trên thực tế, trình độ học vấn của chủ hộ càng cao thì việc nắm bắt các chủ trương, chính sách của Nhà nước đối với chương trình xây dựng NTM càng cao, còn về mức độ đóng góp xây dựng NTM phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố: thu nhập, đặc điểm của hộ gia đình, lòng tin của người dân đối với chính quyền địa phương, thông tin minh bạch trong xây dựng NTM
- Biến dân tộc là biến giả (chỉ nhận hai giá trị 0 hay 1), cho biết hộ thuộc nhóm dân tộc Kinh hay Khmer, nhận giá trị 1 nếu hộ gia đình thuộc dân tộc Kinh, nhận giá trị 0 nếu hộ gia đình thuộc cộng đồng người Khmer
- Diện tích đất: Tính trên đơn vị diện tích đất sản xuất; Biến này kỳ vọng có mối tương quan dương với quyết định tham gia đóng góp vì thực tế những hộ có nhiều diện tích đất thường có kinh tế khá hơn, dễ dàng hiến đất làm đường, công trình xây dựng NTM,
- Biến thời gian sống tại địa phương: Thời gian sống tại địa phương của chủ
hộ càng cao sẽ có sự gắn bó với địa phương, mong muốn đời sống vật chất và tinh thần ngày càng tốt hơn, thông tin nắm bắt được các lợi ích từ chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về chương trình xây dựng NTM Biến này kỳ vọng sẽ có tác động cùng chiều với quyết định đóng góp xây dựng NTM
- Tham gia Hội, đoàn thể: Nhận giá trị 1 nếu là thành viên của Hội đoàn, thể
và giá trị 0 nếu không là thành viên Thành viên các tổ chức Hội, đoàn thể dễ tiếp cận các thông tin liên quan đến chương trình xây dựng NTM và được tổ chức vận động tham gia; Biến này kỳ vọng có mối tương quan thuận với quyết định tham
gia đóng góp
- Biến quyết định là biến phân loại cho biết theo người dân công trình NTM khi xây dựng sẽ được quyết định như thế nào Biến này nhận các giá trị 1, 2, 3; Cụ thể: 1: Dân bàn và dân quyết định, 2: dân bàn và dân không quyết định, chính quyền quyết định; 3: Không rõ
- Giới tính của chủ hộ : Khi chủ hộ giới tính là nam (hay nữ), mức độ kỳ vọng chủ gia đình là nam sẽ đóng góp vào xây dựng NTM sẽ cao hơn
- Thông tin minh bạch trong xây dựng NTM: là biến giả cho biết tính minh bạch trong xây dựng NTM, nhận giá trị 0 nếu không minh bạch và nhận giá trị 1 nếu minh bạch Khi người dân nhận thấy một công trình NTM chính quyền địa
Trang 28phương minh bạch các thông tin thì khả năng người dân tham gia đóng góp sẽ tăng
- Biến thông tin: Là biến giả cho biết hộ gia đình có biết về chương trình NTM hay không, nhận giá trị 0 nếu không biết, nhận giá trị 1 nếu biết Khả năng đóng góp vào xây dựng NTM đối với những hộ biết về chương trình NTM sẽ cao hơn những hộ không biết
- Biến thông báo: Là biến giả cho biết địa phương có thông báo hộ nắm rõ chủ trương và mức đóng góp (tiền và công lao động) của nhân dân để xây dựng NTM ở ấp/xã hay không, nhận giá trị 0 nếu không thông báo, nhận giá trị 1 nếu thông báo Biến này kỳ vọng nếu người dân được thông báo sẽ dễ dàng tham gia đóng góp xây dựng NTM hơn
- Người thân ủng hộ tham gia đóng góp: Trong một hộ gia đình, nếu có sự ủng hộ của các thành viên thì khả năng tham gia đóng góp cho chương trình xây dựng NTM sẽ càng cao
- Biến tham gia hoạt động xã hội: là biến giả, cho biết chủ hộ có tham gia các hoạt động xã hội hay không, nhận giá trị 0 nếu không tham gia, nhận giá trị 1 nếu tham gia Biến này kỳ vọng khi chủ hộ tham gia các hoạt động xã hội sẽ có khả năng đóng góp xây dựng NTM cao hơn những hộ không tham gia các hoạt động xã hội
- Biến tỷ lệ phụ thuộc: là biến định lượng thể hiện tỷ lệ người phụ thuộc của
hộ (được tính bằng thương số giữa những người không làm việc với tổng số thành viên trong hộ); Khi hộ có tỷ lệ phụ thuộc thấp thì khả năng đóng góp xây dựng NTM càng cao
- Biến đặc điểm hộ là biến giả, hộ thuộc diện nghèo - cận nghèo (nhận giá trị là 1) và hộ chính sách - hộ khác (nhận giá trị là 0) Theo chủ trương của Đảng
và Nhà nước thì những hộ nghèo - cận nghèo, hộ có hoàn cảnh neo đơn, khó khăn
sẽ không huy động xây dựng NTM; vì vậy biến này kỳ vọng những hộ có đời sống kinh tế cao khả năng đóng góp xây dựng NTM sẽ cao hơn
3.5 Dữ liệu nghiên cứu
Trang 29- Khung mẫu: Trên địa bàn 5 xã: Hưng Mỹ (đạt 19/19 tiêu chí), Lương Hòa
A (đạt 14 tiêu chí), Mỹ Chánh (đạt 11 tiêu chí); Song Lộc và Đa Lộc (đạt 10 tiêu chí) (Xem Phụ lục 3)
- Phương pháp chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện kết hợp với điều kiện thực tế tại nơi điều tra; Số mẫu điều tra cần mang tính đại diện cao và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu
- Xác định cỡ mẫu: Đề tài chọn 45 hộ gia đình/xã để điều tra nhằm đáp ứng yêu cầu thống kê với lượng thông tin thu thập, đảm bảo khả năng suy rộng trên địa bàn toàn huyện
Số mẫu phát ra: 225 mẫu, sau khi sàn lọc, loại bỏ một số phiếu không đầy
đủ thông tin, số phiếu được dùng cho phân tích là 200 phiếu (đạt tỷ lệ 88,9%)
- Hình thức thu thập dữ liệu: đến trực tiếp hộ gia đình và phỏng vấn chủ hộ bằng bảng câu hỏi
3.6 Quy trình nghiên cứu
(Nguồn: Tác giả tổng hợp và đề xuất)
Quy trình nghiên cứu gồm 5 bước:
Bước 1: Tác giả xác định vấn đề nghiên cứu: vì sao việc đóng góp của hộ gia đình vào xây dựng NTM trên địa bàn huyện Châu Thành là quan trọng, nghiên cứu này có ý nghĩa như thế nào trong phương pháp luận, trong thực tế? Cấu trúc của Nghiên cứu ra sao?
Bước 2: Tổng hợp các lý thuyết có liên quan đến chủ đề nghiên cứu để làm
rõ các khái niệm; Tổng hợp các nghiên cứu trước có liên quan, qua đó đề xuất mô hình và phương pháp nghiên cứu cho phù hợp
Bước 3: Tác giả dựa vào ý kiến chuyên gia qua tham khảo cán bộ có kinh nghiệm, am hiểu về NTM trên địa bàn huyện, xã, qua Văn phòng điều phối NTM của tỉnh, huyện Châu Thành để đưa ra bảng câu hỏi; xin ý kiến của Giáo viên hướng dẫn để hoàn chỉnh bảng câu hỏi phục vụ cho việc thu thập số liệu khảo sát; Tiến hành điều tra khảo sát, thu thập số liệu
Vấn đề nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trước
Xây dựng bảng hỏi Hoàn chỉnh bảng hỏi, Khảo sát
Phân tích kết quả, kiểm định
Kết luận, gợi ý chính sách
Trang 30Bước 4 và 5: Phân tích, xử lý số liệu; thảo luận kết quả, gợi ý các chính sách; Hoàn chỉnh viết Báo cáo
Tóm tắt Chương 3:
Trong Chương 3 trình bày các phương pháp nghiên cứu, đề xuất mô hình nghiên cứu là mô hình hồi quy logistic để định lượng ảnh hưởng một số biến lên xác suất đóng góp của hộ, với biến phụ thuộc có giá trị bằng 1 nếu hộ có đóng góp
và bằng 0 nếu hộ không đóng góp và 14 biến độc lập
Phần dữ liệu nghiên cứu bao gồm: cách chọn mẫu, dữ liệu sơ cấp và thứ cấp; Mô tả biến và dấu kỳ vọng
Trong Chương cũng trình bày 5 bước của quy trình Nghiên cứu
Trang 31Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Tóm tắt thực trạng về xây dựng NTM trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh
Châu Thành là một trong 9 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Trà Vinh, là huyện nằm gần trung tâm hành chính - kinh tế của tỉnh; huyện có 01 thị trấn là đô thị loại 5 và 13 xã vùng nông thôn, trong đó cư dân tham gia vào sản xuất nông nghiệp chiếm khoảng 70%; Huyện có 05 xã đặc biệt khó khăn (Đa Lộc, Song Lộc, Lương Hòa, Hòa Lợi và Mỹ Chánh) và 03 xã bãi ngang (Long Hòa, Hòa Minh và Hòa Thuận) Huyện Châu Thành có lợi thế là tiếp giáp thành phố Trà Vinh, có các tuyến đường giao thông bộ và thủy quan trọng đi qua giúp cho việc giao lưu, phát triển kinh tế được thuận lợi; tuy nhiên huyện cũng còn nhiều khó khăn thách thức
do kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội khu vực nông thôn chưa đáp ứng nhu cầu phát triển, dân trí thấp, đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nông dân còn thấp so với một số vùng trong khu vực; Một số chính sách xã hội được triển khai ở nông thôn còn chậm và chưa đồng bộ; tỷ lệ hộ nghèo hàng năm có giảm nhưng chưa bền vững
Kết quả thực hiện Bộ tiêu chí Quốc gia NTM (giai đoạn 2011 - 2015): Nhóm 1 (xã đạt 19/19 tiêu chí): có 01/13 xã đạt (Hưng Mỹ);
Nhóm 2 (xã đạt từ 15 - 18 tiêu chí): có 01 xã (Hòa Minh, đạt 17 tiêu chí); Nhóm 3 (xã đạt từ 10 - 14 tiêu chí): có 11 xã (Lương Hòa A, Mỹ Chánh, Thanh Mỹ, Lương Hòa, Nguyệt Hóa, Hòa Thuận, Long Hòa, Hòa Lợi, Đa Lộc, Phước Hảo và Song Lộc)
Nhóm 4 và nhóm 5: Trên địa bàn huyện không còn xã đạt dưới 10 tiêu chí Tác giả đã chọn nghiên cứu trên địa bàn 5 xã: Hưng Mỹ (đạt 19/19 tiêu chí), Lương Hòa A (đạt 14 tiêu chí), Mỹ Chánh (đạt 11 tiêu chí), Song Lộc và Đa Lộc (đạt 10 tiêu chí)
4.1.1 Công tác tuyên truyền, vận động
Ban Chỉ đạo Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới huyện đã tổ chức triển khai các văn bản hướng dẫn về xây dựng nông thôn mới đến các xã như: Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Quyết định số 342/QĐ-TTg ngày 20 tháng 02 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc sửa đổi một số tiêu chí của bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới; Thông tư số 54/2009/TT-BNN ngày 21 tháng
8 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày 13 tháng 4 năm 2011 của Bộ
Trang 32trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung thực hiện Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04
tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ Tổ chức lễ phát động phong trào thi đua ‘‘Châu Thành chung sức xây dựng nông thôn mới”, các xã ký giao ước thi đua
xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2015
Thường xuyên phối hợp tuyên truyền thực hiện phong trào ‘‘Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với xây dựng nông thôn mới; đến nay có
95,9% số hộ được công nhận gia đình văn hóa
Các tổ chức Hội, đoàn thể của huyện đã phối hợp tuyên truyền về NTM: Hội Liên hiệp Phụ nữ phát động phong trào xây dựng gia đình ‘‘5 không, 3 sạch”
tổ chức tuyên truyền được 2.407 cuộc cho 41.497 lượt người dự; Đoàn Thành niên tuyên truyền, vận động trong lực lượng đoàn viên, thanh niên được 499 cuộc, có 25.051 lượt người dự; Ban nhân dân xã, ấp vận động nhân dân làm vệ sinh trước sân nhà, làm cột cờ đúng quy cách, hố xí hợp vệ sinh, kết quả có 10.161 hộ đăng
ký thực hiện; Hội Nông dân tuyên truyền 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới được 1.505 cuộc cho 64.655 lượt hội viên nông dân Đã cấp phát 6.500 tờ bướm cho các xã tuyên truyền 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới; 2.300 cuốn tài liệu hỏi, đáp và 450 áp phích tuyên truyền theo tài liệu do Ban Chỉ đạo tỉnh cấp phát
Các xã đã tổ chức tuyên truyền 06 nội dung về xây dựng ấp nông thôn mới,
08 tiêu chuẩn hộ gia đình nông thôn mới và các văn bản có liên quan vào các nội dung sinh hoạt chi bộ, các cuộc họp của hội, đoàn thể và tổ dân cư tổng cộng 1.367 cuộc với 58.313 lượt người dự Qua phát động đã có 100% ấp và 35.797 hộ đăng ký xây dựng ấp, hộ nông thôn mới Qua kết quả điều tra, đánh giá và công nhận, đến nay có 10/103 ấp chiếm 9,71% và 13.937/35.797 hộ chiếm 38,93% đạt
chuẩn nông thôn mới (có 8 ấp đạt 5 nội dung, 14 ấp đạt 4 nội dung, 29 ấp đạt 3 nội dung; có 7.405 hộ đạt 7 tiêu chuẩn, 6.263 hộ đạt 6 tiêu chuẩn, 3.654 hộ đạt 5 tiêu chuẩn); Toàn huyện có 01/13 xã đạt 19/19 tiêu chí (Hưng Mỹ), 01 xã đạt
17/19 tiêu chí (Hòa Minh)
Bằng nhiều hình thức tuyên truyền, vận động (kết hợp với đăng lên Trang tin Điện tử của huyện, Đài truyền thanh, loa phát thanh) đã giúp cho cán bộ, công chức và người dân nhận thức được mục đích, ý nghĩa của Chương trình; từ đó, tạo được sự đồng thuận cao trong nội bộ và quần chúng nhân dân về xây dựng nông thôn mới
4.1.2 Công tác lập quy hoạch, đề án xây dựng nông thôn mới
Huyện đã hoàn thành và triển khai thực hiện Đề án xây dựng nông thôn mới cấp huyện giai đoạn 2014 - 2015 và định hướng đến năm 2020; Trên địa bàn các
xã đã hoàn thành và công bố quy hoạch bằng cách họp dân tuyên truyền và xây dựng các pano, áp phích ở trụ sở Ủy ban nhân dân xã, Ban nhân dân các ấp
Trang 334.1.3 Phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập cho người dân
Với nhiều nguồn vốn: Vốn sự nghiệp nông nghiệp, vốn hỗ trợ để bảo vệ và phát triển đất trồng lúa, vốn thực hiện dự án xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, vốn chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, vốn dự án được tài trợ: với tổng số tiền 16.245 triệu đồng (trong đó nhân dân đối ứng 3.999 triệu đồng); huyện đã triển khai thực hiện nhiều mô hình hỗ trợ phát triển sản xuất
ở các xã như: Mô hình chăn nuôi bò, nuôi heo, nuôi gà trên đệm lót sinh học, mô hình nuôi tôm sú, tôm càng xanh, mô hình trồng màu, trồng lúa chất lượng cao và
hỗ trợ lúa giống chất lượng cao cho nông dân ; Đã tổ chức 450 cuộc tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thuỷ sản, có 12.479 lượt người tham dự; Phối hợp với Trung tâm Giáo dục thường xuyên và Dạy nghề huyện mở 33 lớp dạy nghề ngắn hạn về kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng, nuôi và phòng trị bệnh heo, bò, tạo dáng cây cảnh, trồng rau an toàn và
kỹ thuật xây dựng cho 846 học viên tham dự; đã góp phần tạo điều kiện cho dân sản xuất có hiệu quả, tăng thu nhập, cải thiện cuộc sống
4.1.4 Xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu
Về Giao thông: đã đầu tư nâng cấp, mở rộng và phát triển mới 154,2 km
đường giao thông; đến nay có 136,8 km đường nhựa, 196 km đường đan, 12,8 km đường cấp phối đá, 263,2 km đường đất cát với tổng mức đầu tư 189.935 triệu đồng; Xây dựng mới 26 cầu giao thông nông thôn với kinh phí 6.490 triệu đồng
Tiêu chí này có 02/13 xã đạt
Về Thủy lợi: Tiến hành nạo vét và đào mới được 113 kênh cấp II, 563 tuyến
kênh cấp 3 với khối lượng 621.731m3, chiều dài 370.571m, tổng nguồn vốn thực hiện 7.753 triệu đồng (Vốn Nhà nước hỗ trợ 6.396 triệu đồng và nhân dân đối ứng 1.357 triệu đồng); Lắp đặt 134 bọng trên các tuyến kênh tổng kinh phí 8.040 triệu
đồng, cơ bản đáp ứng nhu cầu tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp Tiêu chí này có 13/13 xã đạt
Về Điện: Tính đến nay, trên địa bàn huyện có 304,6 m đường dây trung thế,
487,4 km đường dây hạ thế, 622 trạm biến áp với tổng dung lượng 18.720 KVA và
có 37.348 hộ sử dụng điện, đạt 99% Thực hiện tốt việc hỗ trợ hoàn thành chỉ tiêu
về điện cho 2 xã điểm nông thôn mới: Hưng Mỹ, Hòa Minh Tiêu chí này có 11/13
xã đạt
Về Trường học: toàn huyện có 56 trường học, phòng học kiên cố và bán
kiên cố đạt 100%; xây dựng 15 trường đạt chuẩn quốc gia Tiêu chí này có 03/13
xã đạt
Về Cơ sở vật chất văn hóa: Trên địa bàn các xã có 77/103 trụ sở Ban nhân
dân ấp được đầu tư xây dựng cơ bản; 11/13 hội trường xã được sử dụng kết hợp
Trang 34với nhà văn hóa xã và đang xây dựng mới 02 hội trường với tổng kinh phí 14.062
triệu đồng Tiêu chí này có 03/13 xã đạt
Về Chợ nông thôn: Đầu tư xây dựng mới chợ Hòa Minh; bố trí, sắp xếp mặt
bằng kinh doanh chợ Bãi Vàng xã Hưng Mỹ, chợ Cầu Xây xã Lương Hòa A đạt chuẩn nông thôn mới với tổng kinh phí 2.418 triệu đồng Toàn huyện có 19 chợ, trong đó có 03 chợ đạt chuẩn nông thôn mới: chợ Cầu Xây xã Lương Hòa A, chợ
Bãi Vàng xã Hưng Mỹ và chợ thủy sản Hòa Minh Tiêu chí này có 09/13 xã đạt
Về Bưu điện: Huyện có 01 Bưu điện trung tâm phục vụ bưu chính, 12 điểm
Bưu điện văn hóa xã và 01 trung tâm viễn thông với 5.050 máy thuê bao cố định
Có đường truyền Internet đến ấp, tạo bước phát triển mới trong cộng đồng, đáp
ứng được nhu cầu phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa Tiêu chí này có 13/13 xã đạt
Về Nhà ở dân cư: Vận động phát huy nguồn lực tự có của nhân dân để xây
dựng nhà theo tiêu chuẩn quy định Xây dựng và bàn giao 495 căn nhà tình nghĩa;
vận động Quỹ đền ơn đáp nghĩa 2.566 triệu đồng và 113 căn nhà tình nghĩa; vận
động các tổ chức, cá nhân xây dựng 369 căn nhà đại đoàn kết, nhà tình thương, mái
ấm công đoàn, nhà nhân ái, với tổng kinh phí 58.214 triệu đồng (trong đó nhân
dân đối ứng 20.717 triệu đồng) Tiêu chí này có 03/13 xã đạt
Về Thu nhập: Với các nguồn vốn vay từ Ngân hàng Chính sách xã hội:
212,7 tỷ đồng/24.983 lượt hộ, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho vay 380 tỷ đồng; giúp hộ dân phát triển sản xuất có hiệu quả, trong 5 năm qua thu nhập bình quân đầu người đạt 31,726 triệu đồng/người/năm, tăng 3,27 lần so với
năm 2010 Tiêu chí này có 09/13 xã đạt
Về Hộ nghèo: Toàn huyện còn 4.994 hộ nghèo, chiếm 13,12%; Từ các
chương trình và dự án đã hỗ trợ cho 769 hộ nghèo thực hiện các mô hình và nguồn vốn Ngân hàng Chính sách xã hội huyện cho vay phát triển sản xuất đã góp phần
nâng cao thu nhập cho hộ nghèo, số hộ nghèo đã giảm 13,78% so với năm 2011 Tiêu chí này có 03/13 xã đạt
Về Tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên: Trong 5 năm 2011- 2015, Ban Chỉ đạo huyện đã đẩy mạnh công tác đào tạo nghề và giới thiệu việc làm cho lao
động nông thôn; đã tổ chức 230 lớp dạy nghề cho 8.436 lao động, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 50,62%; tư vấn giới thiệu việc làm cho 46.569 lao động đi làm việc trong, ngoài tỉnh; tạo việc làm mới cho 22.909 lao động; đưa 150 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài Tổng số lao động có việc làm thường
xuyên 80.071 lao động Tiêu chí này có 11/13 xã đạt
Về Hình thức tổ chức sản xuất: Giai đoạn 2011 - 2015, thành lập mới 03
hợp tác xã, nâng tổng số đến nay trên địa bàn huyện có 12 hợp tác xã (08 hợp tác
xã hoạt động khá, 02 hợp tác xã hoạt động trung bình, 01 hợp tác xã hoạt động
Trang 35kém, 01 hợp tác xã đang củng cố); Tiếp tục phát huy vai trò của kinh tế tập thể trong phát triển sản xuất, toàn huyện có 280 tổ hợp tác với 5.259 thành viên, diện tích hợp tác 5.351ha Hầu hết các tổ hợp tác đều hoạt động có hiệu quả, nhất là các
tổ sản xuất lúa giống và các tổ vùng sản xuất lúa chất lượng cao Tiêu chí này có 13/13 xã đạt
4.1.5 Về phát triển giáo dục, y tế, văn hoá và bảo vệ môi trường
Về Giáo dục: Có 100% số xã trên địa bàn huyện giữ vững phổ cập giáo dục
trung học cơ sở; Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS tiếp tục học THTP, bổ túc,
trường nghề đạt tỷ lệ 88,25% Tổng số lao động qua đào tạo đạt 52.68% (Tiêu chí này có 13/13 xã đạt
Về Y tế: Toàn huyện có 16 cơ sở y tế phục vụ khám, chữa bệnh cho nhân
dân; trong đó, có 01 Bệnh viện Đa khoa, 02 Phòng khám khu vực và 13 Trạm Y tế xã; thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng Tỷ lệ người dân tham
gia bảo hiểm y tế đạt 87,10% Tiêu chí này có 11/13 xã đạt
Về Văn hóa: Tiếp tục thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng
đời sống văn hóa”, tập trung xây dựng gia đình văn hóa, phấn đấu tăng tỷ lệ hộ gia
đình văn hóa và nâng cao chất lượng các ấp văn hóa trên địa bàn xã Đến nay có
100 ấp, khóm văn hóa, 55 trường học, 86 cơ quan, 35 cơ sở tôn giáo, 05 chợ văn
minh, 03 xã, thị trấn văn hóa và 01 bến phà văn minh Tiêu chí này có 13/13 xã đạt
Về Môi trường: Toàn huyện có 1.086/2.261 cơ sở sản xuất kinh doanh có
thủ tục bảo vệ môi trường, đạt 48,03% Có 92,5% số hộ trên địa bàn huyện sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó có 29,7% số hộ sử dụng nước của trạm cấp nước
tập trung Tỷ lệ gia đình sử dụng hố xí hợp vệ sinh đạt 22,74% Tiêu chí này có 02/13 xã đạt
4.1.6 Về xây dựng hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh và gìn giữ
an ninh, trật tự xã hội
Hệ thống tổ chức chính trị xã hội: Hệ thống chính trị của huyện Châu Thành luôn được tăng cường củng cố, kiện toàn, cơ bản đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ mới; Luôn nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ ở cơ sở, xây dựng và ban hành Nghị quyết, Kế hoạch, Chương trình công tác để lãnh đạo thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh - quốc phòng gắn với xây
dựng nông thôn mới Tiêu chí này có 05/13 xã đạt
Về An ninh, trật tự xã hội: Tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội được
đảm bảo giữ vững và ổn định; chủ động làm tốt công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hoá âm mưu phá hoại của các tổ chức bên ngoài vào địa bàn và đối tượng tại chỗ; kịp thời phát hiện các diễn biến về an ninh trong dân tộc, tôn
giáo, an ninh nông thôn và an ninh nội bộ Tiêu chí này có 11/13 xã đạt
Trang 364.1.7 Kết quả đóng góp các nguồn lực xây dựng NTM
Qua 05 năm triển khai chương trình MTQG về xây dựng NTM, huyện đã huy động nhiều nguồn vốn được 891,656 tỷ đồng; Cụ thể: Vốn ngân sách cấp phát: 456,807 (chiếm 51,23%), trong đó: Vốn ngân sách Trung ương: 217,275 tỷ đồng, Vốn ngân sách tỉnh: 180,034 tỷ đồng, Vốn ngân sách huyện: 59,498 tỷ đồng; Vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án: 107,764 tỷ đồng (chiếm 12,09%); Vốn tín dụng: 193,074 tỷ đồng (chiếm 21,65%) và nguồn vốn quan trọng từ đóng góp của người dân là 134,011 tỷ đồng (chiếm 15,03%) với hình thức: hiến đất, ngày công lao động, cây ăn trái, hoa màu, xây dựng các công trình thủy lợi, chỉnh trang nhà cửa theo yêu cầu xây dựng NTM ; Cụ thể:
Đầu tư nâng cấp, mở rộng và phát triển mới 154,2 km đường giao thông; đến nay có 136,8 km đường nhựa, 196 km đường đal, 12,8 km đường cấp phối đá, 263,2 km đường đất cát với tổng mức đầu tư 189.935 triệu đồng;
Nhân dân đối ứng 20.717 triệu đồng xây dựng 495 căn nhà tình nghĩa; xây dựng 369 căn nhà đại đoàn kết, nhà tình thương, mái ấm công đoàn, nhà nhân ái, (tổng kinh phí 58.214 triệu đồng);
Nhân dân đóng góp 1.357 triệu đồng nạo vét và đào mới được 113 kênh cấp
II, 563 tuyến kênh cấp III với khối lượng 621.731m3, chiều dài 370.571m, tổng nguồn vốn thực hiện 7.753 triệu đồng (Trong tổng kinh phí 6.396 triệu đồng)…
Hình 4.1 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư xây dựng NTM từ năm 2011- 2015
(Nguồn: Kết quả tổng hợp từ số liệu thứ cấp tại huyện Châu Thành, 2016)
Vốn ngân sách, 51,23%
Vốn lồng ghép, 12,09%
Vốn tín dụng, 21,65%
Vốn dân đóng góp, 15,03%
Trang 374.2 Phân tích kết quả thống kê mô tả mẫu điều tra
4.2.1 Thông tin chung của đối tượng phỏng vấn
- 5 xã được chọn khảo sát là: Đa Lộc, Hưng Mỹ, Lương Hòa A, Mỹ Chánh, Song Lộc; mỗi xã điều tra 40 hộ theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện; tuy nhiên mẫu được chọn phân bố đều trên địa bàn xã, không tập trung tại một điểm
- Tuổi của chủ hộ: Kết quả khảo sát cho thấy, độ tuổi trung bình của chủ hộ trong số mẫu khảo sát khoảng 48 tuổi, nhiều chủ hộ có độ tuổi khoảng 40, chủ hộ cao tuổi nhất là 74 tuổi và chủ hộ nhỏ tuổi nhất là 20 tuổi
Bảng 4.1 Thống kê tuổi của chủ hộ
(Nguồn: Kết quả tổng hợp số liệu sơ cấp tại huyện Châu Thành, 2016)
- Thời gian cư trú tại xã
Kết quả khảo sát 200 hộ trên địa bàn 5 xã cho thấy, thời gian sinh sống tại địa phương của các chủ hộ khá cao, bình quân gần 44 năm; người có thời gian sống ít nhất tại địa phương là 3 năm và người có thời gian sống lâu nhất là khoảng
74 năm; số người sống tại địa phương khoảng 41 năm chiếm tỷ lệ cao nhất - như vậy cho thấy người dân sinh sống trên địa bàn các xã của huyện phần lớn là người bản địa
Trang 38Dựa vào kết quả bảng 4.2, ta thấy số chủ hộ có giới tính nữ chiếm 19,5%, và chủ hộ là nam chiếm 80,5% Có 60,5% chủ hộ là người dân tộc Kinh và 39,5% chủ hộ là người Khmer Ngoài ra, đối với nhóm chủ hộ là người Kinh ta thấy có 66,5% nam là chủ hộ và 35,9% nữ là chủ hộ; trong khi đó đối với nhóm chủ hộ là người Khmer ta thấy chủ hộ là nữ chiếm 64,1% và chủ hộ là nam chiếm 33,5% Như vậy cho thấy, người Kinh chủ hộ là nam chiếm đa số trong các mẫu khảo sát trong khi đó người Khmer chủ hộ là nữ chiếm đa số
- Trình độ học vấn
Trình độ học vấn là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tham gia của người dân, không chỉ trong phong trào xây dựng NTM mà còn trong nhiều phong trào khác; Thông thường, những đối tượng có trình độ học vấn cao sẽ
có ý thức trách nhiệm, vị thế xã hội cao hơn (và ngược lại)
Từ hình 4.2 cho ta thấy, các đối tượng tham gia vào đóng góp xây dựng NTM tại địa bàn nghiên cứu có mặt bằng dân trí tương đối thấp và không đồng đều; Cụ thể: 6,5% chủ hộ gia đình mù chữ, 33% chủ hộ gia đình có trình độ cấp I, 38,5% chủ hộ gia đình có trình độ cấp II, 15,5% chủ hộ gia đình có trình độ cấp III
và 6,5% là tốt nghiệp Trung cấp, Cao đẳng và Đại học Nguyên nhân hạn chế đến trình độ học vấn có thể do ảnh hưởng của chiến tranh trước đây, điều kiện kinh tế gia đình, hộ gia đình còn gặp khó khăn, khả năng tiếp cận kiến thức còn hạn chế…
Hình 4.2 Trình độ học vấn của chủ hộ
(Nguồn: Kết quả tổng hợp số liệu sơ cấp tại huyện Châu Thành, 2016)
- Nghề nghiệp của chủ hộ
Về nghề nghiệp chính của 200 chủ hộ gia đình trả lời phỏng vấn được mô tả
ở hình 4.3 Lĩnh vực sản xuất các hộ gia đình tham gia chủ yếu là sản xuất nông
Không đi học 6,5%
CĐ/ĐH/sau ĐH 3%
Trang 39nghiệp với 74,5% (trồng lúa, trồng màu, chăn nuôi: heo, bò, gà…), tiếp đến là 13% hộ làm các nghề khác (sửa chữa điện - điện tử, buôn bán tạp hóa nhỏ, làm thuê, làm cửa sắt…), 7% hộ sản xuất kinh doanh (phân bón, lúa giống…), 3,5% hộ gia đình là công nhân và 2% hộ gia đình là cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn Nhìn chung, các đối tượng tham gia phù hợp với lĩnh vực kinh tế của địa phương (trên địa bàn huyện Châu Thành có khoảng 70% cư dân sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp), vì thế mỗi hộ gia đình có điều kiện và năng lực, khả năng tham gia đóng góp có thể khác nhau
Hình 4.3 Thống kê nghề nghiệp của chủ hộ
(Nguồn: Kết quả tổng hợp số liệu sơ cấp tại huyện Châu Thành, 2016)
Kinh doanh, 7%
SX nông nghiệp, 74,5%
Cán bộ, CC, 2%
Công nhân, 3,5% Khác, 13%
Trang 40Hình 4.4 Thống kê đặc điểm của chủ hộ
(Nguồn: Kết quả tổng hợp số liệu sơ cấp tại huyện Châu Thành, 2016)
- Về thu nhập của hộ gia đình
Qua bảng 4.3, ta thấy kết quả khảo sát 200 hộ gia đình, mức thu nhập trung bình 2,29 triệu đồng/người/tháng; số người có thu nhập 1,5 triệu đồng là nhiều nhất; người có thu nhập ít nhất là 0,5 triệu/tháng, người có mức thu nhập cao nhất trên tháng là 8 triệu đồng/tháng Theo kết quả điều tra 200 hộ thì mức thu nhập bình quân 27,5 triệu đồng/người/năm (theo số liệu xây dựng Đề án NTM của huyện Châu Thành, thì thu nhập bình quân đầu người/năm 2013 là 25,1 triệu)
Bảng 4.3 Thu nhập của hộ gia đình
Hộ nghèo, 13%
Hộ cận nghèo, 10%
Hộ chính sách, 9%
Hộ khác, 68%