1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Nhu cầu dịch vụ hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi

13 340 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 74,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm Thắng & Đỗ Khánh Hỷ,2009 Trong đề tài nghiên cứu về Nhu cầu dịch vụ hỗ trợ của người cao tuổi ở Thái Bình, đã đưa ra những khó khăn cần được hỗ trợ của người cao tuổi.. Những khó kh

Trang 1

Họ và tên: Vũ Quỳnh Anh

Lớp: K55 Xã hội học

MSSV: 10030031

BÀI CUỐI KÌ MÔN XÃ HỘI HỌC GIA ĐÌNH

Đề bài: Chọn một lĩnh vực nghiên cứu của xã hội học gia đình để phân tích.

1. Đặt vấn đề

Già hóa là một thành tựu của quá trình phát triển Nâng cao tuổi thọ là một trong những thành tựu vĩ đại của loài người Con người sống lâu hơn nhờ điều kiện tốt hơn về chế

độ dinh dưỡng, vệ sinh, tiến bộ y học, chăm sóc y tế, giáo dục và đời sống kinh tế Hiện nay

có tới 33 quốc gia đạt được tuổi thọ trung bình trên 80 tuổi; trong khi đó, năm năm trước đây, chỉ có 19 quốc gia đạt con số này Hiện nay, Nhật Bản là nước quốc gia duy nhất có trên 30% dân số già; nhưng đến năm 2050, dự tính sẽ có 64 nước có trên 30% dân số già như Nhật Bản Quá trình biến đổi nhân khẩu học này không ngừng đem lại những cơ hội cũg như dân số già hóa với sức khỏe, an sinh và năng động cả về kinh tế và xã hội có thể có những đóng góp không ngừng cho xã hội.(Liên hợp quốc, 2010)

Tuy nhiên già hóa dân số cũng tạo ra những thách thức về mặt xã hội, kinh tế và văn hóa cho các cá nhân, gia đình, xã hội và cộng đồng trên toàn cầu Như Tổng Bí thư Liên hợp quốc Ban Ki – moon đã chỉ ra: “Ảnh hưởng về kinh tế và xã hội của hiện tượng già hóa dân

số có ý nghĩa vô cùng quan trọng, không chỉ với tác động với cá nhân người cao tuổi và gia đình dòng họ, mà còn tác động rộng hơn tới toàn xã hội và cộng đồng toàn cầu theo những cách thức chưa từng có” Đây chính là cách thức mà chúng ta lựa chọn để giải quyết các thách thức cũng như tận dụng tối đa các cơ hội mà dân số già hóa nhanh chóng mang lại nhằm xác định liệu xã hội có được hưởng lợi hay không từ cơ cấu dân số già Với số lượng người cũng như tỷ trọng người cao tuổi trong dân số ngày càng gia tăng nhanh chóng ở ngày càng nhiều quốc gia, điều quan trọng là cần nâng cao năng lực của xã hội nhằm giải quyết các thách thức đặt ra từ chuyển đổi cơ cấu nhân khẩu học (Liên hợp quốc, 2010)

Ở Việt Nam, công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình ở nước ta sau gần 50 năm thực hiện đã đạt được những kết quả quan trọng Tốc độ gia tăng dân số quá nhanh đã được khống chế Tổng tỷ suất sinh giảm từ 6.39 con năm 1960 xuống còn 3.8 con trong năm 1990; 2.08 con năm 2008 và 2.03 con năm 2009 Trong khi đó, theo báo cáo thống kê bảo vệ sức khỏe thế giới năm 2010 của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tuổi thọ trung bình của thế giới là 71 tuổi Việt Nam hiện là một trong số những quốc gia có tuổi thọ bình quân cao của thế giới Tuổi thọ trung bình của Việt Nam tăng đáng kể trong các thập kỉ qua là tín hiệu đáng mừng Tuy nhiên, tuổi thọ tăng làm cho tỷ lệ người cao tuổi tăng nhanh hơn Năm 1979, tỷ lệ người cao tuổi ở nước ta là 6.7%, đến năm 2007 tăng lên 9.2 %, năm 2008 là 9.9%; tuổi thọ khỏe

Trang 2

mạnh của Việt Nam là 66 xếp thứ 166/172 nước trên thế giới Việt Nam đã bước vào tình trạng già hóa dân số và xu hướng này vẫn tiếp tục diễn ra trong các thập kỷ tới Dự báo đến năm 2020, tỷ lệ người cao tuổi của nước ta sẽ tăng lên mức xấp xỉ 15% và đến năm 2030 sẽ ở mức 18% (khoảng 17 triệu người) Theo quy ước của Liên hiệp quốc, quốc gia có 10% dân số

từ 60 tuổi trở lên được xác định là quốc gia có cơ cấu dân số già Như vậy nước ta thuộc nhóm nước có cơ cấu dân số già, trong tương lai chúng ta phải đối mặt với vấn đề già hóa dân

số Nhiều quốc gia trên thế giới bước vào tình trạng già hóa dân số khi họ đã giàu, thu nhập bình quân đầu người rất cao Việt Nam bước già hóa dân số khi thu nhập bình quân đầu người mới ở mức thấp, khoảng 1000 USD/năm Vì vậy việc chăm sóc và phát huy vai trò của người cao tuổi càng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức lớn (Phạm Thắng & Đỗ Khánh Hỷ,2009)

Việc sống khỏe, sống thọ không chỉ là mong muốn cơ bản của con người mà còn là một trong những trụ cột chính của phát triển Sức khỏe yếu làm suy yếu quốc gia ở tất cả các cấp độ, thúc đẩy và góp phần làm quốc gia tụt hậu Trong bối cảnh già hóa dân số, số người cao tuổi sẽ ngày càng nhièu hơn Việc tiếp tục duy trì một dân số khỏe mạnh sẽ trở thành thách thức đối với các nhà lập kế hoạch và hoạch định chính sách Mỗi nhóm tuổi của dân số

có những hành vi khác nhau, với những hệ quả kinh tế rõ ràng: Nhóm dân số trẻ đòi hỏi đầu

tư chiều sâu cho giáo dục và y tế, nhóm dân số mới bước vào tuổi lao động cung ứng nguồn lao động và tăng tích lũy và nhóm người cao tuổi đòi hỏi chăm sóc sức khỏe và thu nhập từ lương hưu Khi quy mô của mỗi nhóm dân số thay đổi tương quan với những biến động dân

số thì những đòi hỏi của những hành vi kinh tế của những nhóm này cũng thay đổi theo (Phạm Thắng & Đỗ Khánh Hỷ,2009)

Lương hưu là một thách thức đặc biệt vì hiện nay nhiều nước trả lương hưu từ nguồn thuế thu được Theo tính toán để có thể trang trải các dịch vụ chăm sóc suốt những năm tuổi già với mức như hiện tại, người lao động Nhật Bản sẽ phải dành ít nhất 35% thu nhập để tiết kiệm, tích lũy Do quy mô dân số hưởng lương hưu tăng lên, ngân sách dành cho quỹ lương hưu tăng lên và có khả năng chiếm đến 20% GDP của Nhật Bản vào năm 2030 trong bối cảnh

tỷ lệ dân số từ 60 tuổi trở lên gần bằng tỷ lệ dân số lao động, khoảng 45% tổng dân số Ở Việt Nam, vào năm 2005 hơn 73% người cao tuổi sống ở nông thôn, là nông dân và làm nông nghiệp Trong tổng số người cao tuổi thì chỉ có khoảng 16 – 17% người cao tuổi được hưởng chế độ lương hưu hoặc mất sức, hơn 10% các cụ hưởng trợ cấp xã hội dành cho những đối tượng có công với nước Như vậy còn trên 70% người cao tuổi sống bằng lao động của mình, bằng nguồn hỗ trợ của con cháu và gia đình Trong khi đó, năng suất và hiệu suất lao động ở nông thôn, nông nghiệp còn rất thấp, ít có tiết kiệm để chi tiêu khi tuổi già (Phạm Thắng &

Đỗ Khánh Hỷ,2009)

Vấn đề cung cấp tài chính cho dịch vụ chăm sóc sức khỏe sẽ ngày càng trở nên quan trọng nhất là với những quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu bệnh tật sang các bệnh mãn tính (như tiểu đường, các bệnh về tim mạch, ung thư) Trong năm 2004, chi phí y tế trung bình đầu người là 91 đô la Mỹ tạo các quốc gia đang phát triển và 15 đô la Mỹ ở các quốc gia chậm phát triển (Ngân hàng thế giới 2007) Hiện nay, tổng chi cho y tế ở Việt Nam khoảng 5 – 6% GDP và tính theo đầu người khoảng 45 USD/người/năm Tuy nhiên, chi công

Trang 3

chỉ chiếm khoảng 30% tổng chi y tế, là một tỷ lệ thấp so với các nước có thu nhập thấp và trung bình trên thế giới Ở nhiều quốc gia đang phát triển, tình hình diễn biến xấu đi do thiếu khả năng đóng góp từ các nguồn lực khác và ngày càng thiếu cán bộ y tế hơn do lương thấp không đủ sống, điều kiện làm việc thiếu thốn,…Việt Nam đang trong tiến trình hoàn thiện nền kinh tế thị trường đồng thời đẩy mạnh việc chủ trương xã hội hóa công tác y tế, thu hút các thành phần kinh tế tham gia cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi là một trong những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong xã hội Người cao tuổi sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề tiềm ẩn, bao gồm cả nghèo đói do phải dành toàn bộ nguồn thu hạn chế của mình cho các dịch vụ chăm sóc nói chung và chăm sóc sức khỏe nói riêng Đói nghèo làm tăng độ nhạy của bệnh tật, ngược lại bệnh tật là nguyên nhân chính của đói nghèo Sức khỏe kém có thể dẫn đến nghèo khổ và kìm hãm con người trong nghèo đói kể cả ở cấp độ gia đình

và quốc gia Hiện tại tỷ lệ đói nghèo ở người cao tuổi Nhật Bản là trên 18% Ở Việt Nam, do phần lớn người cao tuổi sống cùng gia đình con cháu nên chưa có số liệu đánh giá tỷ lệ đói nghèo ở người cao tuổi Song nhìn chung, đời sống vật chất của người cao tuổi ở Việt Nam còn rất khó khăn Kết quả của một đề tài nghiên cứu năm 2000 của Vụ các vấn đề xã hội của Quốc hội cho thấy, 60% số cụ được hỏi cho là khó khăn trong đời sống vật chất, 37% cho là trung bình,1% dư dật Tỷ lệ người cao tuổi sống ở Hà Nội cảm thấy không thoải mái cao gấp

5 lần so với tỷ lệ người cao tuổi ở Thanh Hóa mặc dù mức sống ở Hà Nội cao hơn Thanh Hóa Đa phần người cao tuổi là phụ nữ, những người này thường chịu tác động gấp đôi vì những bất bình đẳng giới trong lao động, thu nhập và thụ hưởng các dịch vụ xã hội (Phạm Thắng & Đỗ Khánh Hỷ,2009)

Trong đề tài nghiên cứu về Nhu cầu dịch vụ hỗ trợ của người cao tuổi ở Thái Bình,

đã đưa ra những khó khăn cần được hỗ trợ của người cao tuổi

Biểu 1 Những khó khăn của người cao tuổi (đơn vị: %)

(Nguồn: Nhu cầu dịch vụ hỗ trợ người cao tuổi ở Thái Bình hiện nay)

Dựa vào kết quả của nghiên cứu trên có thể thấy, những khó khăn của người cao tuổi gặp phải nhiều nhất đó là về sức khỏe (chiếm 57.8%), khó khăn trong sinh hoạt hàng ngày là 55.9% Bên cạnh đó còn có những khó khăn trong sinh hoạt tâm linh (33.3%), trong vui chơi giải trí (32.4%)

Nghiên cứu cũng đã xét về những khó khăn của người cao tuổi với độ tuổi, cho thấy

sự khác biệt về khó khăn của người cao tuổi ở các độ tuổi khác nhau Từ số liệu của cuộc nghiên cứu cho ta thấy, những người từ 60 tuổi trở lên đều gặp những khó khăn về sức khỏe,

và không có sự khác biệt khi so sánh 3 độ tuổi Tuy vậy, trong sinh hoạt hàng ngày có sự khác biệt giữa những người cao tuổi ở những độ tuổi khác nhau Trong số người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên, 77.3% người cao tuổi thường gặp nhiều khó khăn trong sinh hoạt, người cao tuổi trong độ từ 70 – 79 tuổi là 47.1% Qua số liệu có thể thấy người cao tuổi từ 80 tuổi trở lên cũng gặp nhiều khó khăn hơn trong việc vui chơi giải trí và sinh hoạt tâm linh

Trang 4

TỰ THỂ HIỆN HIỆN

TÔN TRỌNG

XÃ HỘI

AN TOÀN

VẬT CHẤT

Bảng 1 Tương quan tuổi – những khó khăn của người cao tuổi (%)

Những khó khăn 60 – 69 tuổi 70 – 79 tuổi Từ 80 tuổi trở lên

(Nguồn: Nhu cầu dịch vụ hỗ trợ người cao tuổi ở Thái Bình hiện nay )

Nhìn chung, người cao tuổi có nhiều khó khăn trong cuộc sống Những khó khăn chung của người cao tuổi là khó khăn về sức khỏe, sinh hoạt hàng ngày, vui chơi giải trí và sinh hoạt tâm linh Trong đó, họ thường gặp nhiều khó khăn về sức khỏe hơn cả Thêm vào

đó, có tồn tại mối tương quan giữa những khó khăn về sức khỏe hơn cả Thêm vào đó, có tồn tại mối tương quan giữa những khó khăn của người cao tuổi về giới và độ tuổi

Từ những vấn đề trên, tôi lựa chọn hướng nghiên cứu về nhu cầu dịch vụ hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi

2. Cơ sở lý thuyết

2.1. Lý thuyết nhu cầu của Maslow.

Abraham Maslow (1908 – 1970), một nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về thứ bậc nhu cầu con người và phát triển thuyết này vào những năm 50 của thế kỷ

XX Theo Maslow, nhu cầu của con người là một chuỗi liên tiếp các nhu cầu từ bậc thấp đến các bậc cao hơn

Nhu cầu về vật chất – nhu cầu cơ bản của sự tồn tại: Bậc đầu tiên trong hệ thống thứ bậc nhu cầu này rất cơ bản, rõ ràng và đặc biệt quan trọng, bao gồm: thức ăn đầy đủ, nước

Trang 5

uống, sưởi ấm, nhà ở và y tế cơ bản Thiếu nhu cầu này, con người khó có thể tồn tại chứ chưa nói đến việc có nhu cầu cao hơn

Nhu cầu an toàn: An toàn là môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển và lành mạnh, thể hiện bằng sự an toàn nghề nghiệp, việc tiếp nhận các dịch vụ y tế và bảo vệ thân thể

Nhu cầu xã hội – nhu cầu được công nhận (yêu thương và chấp nhận): Con người chúng ta theo bản chất, luôn luôn tìm kiếm tình bạn, sự chấp nhận và tình yêu thương Nếu không có cảm giác được giao tiếp và quan hệ với mọi người thì chúng ta khó có thể tồn tại được

Nhu cầu tôn trọng: Đây là thứ bậc thức tư trong thang bậc nhu cầu của Maslow Tôn trọng là sự nhìn nhận đúng đắn về nhân phẩm hay chuẩn mực đạo đức” Cũng nên có một sự cân bằng giữa mức độ chúng ta cho phép bản thân tự đánh giá dựa trên những công nhận hay phê bình từ bên ngoài và những giá trị phát sinh từ bên trọng mỗi chúng ta

Nhu cầu tự thể hiện: Bậc cuối cùng và cao nhất trong hệ thống thứ bậc nhu cầu của Maslow có tác động lớn nhất đến sự phát triển tâm lý và là bậc phức tạp nhất Đó là nhu cầu cho sự trưởng thành cá nhân, cơ hội của sự phát triển và học hỏi cá nhân – quá trình tự hoàn thiện mình, có thể nói, là tất cả những gì có thể mang lại cơ hội cho con người nhằm nâng cao năng lực cá nhân năng lực trí tuệ và phát triển toàn diện tiềm năng (Lê Ngọc Hùng, 2011)

Trong phạm vi bài viết, tôi dùng luận điểm nhu cầu về vật chất để biện luận cho vấn

đề nhu cầu dịch vụ hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi

2.2. Khái niệm Nhu cầu.

Nhu cầu là một trong những nguồn gốc nội tại sinh ra tính tích cực của con người Nhu cầu là một trạng thái tâm lý xuất hiện khi cá nhân cảm thấy cần phải có những điều kiện nhất định để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của mình Trạng thái tâm lý đó kích thích con người hoạt động nhằm đạt được điều mình mong muốn

Nhu cầu con người nảy sinh từ những thiếu hụt, những đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần thỏa mãn để tồn tại và phát triển Đó là những mong muốn xuất phát từ bên trong cơ thẻ trước sự hiện diện của những yếu tố khách quan môi trường Nhu cầu trước hết là sự đòi hỏi khách quan của con người như bản chất hoạt động của con người là có ý thức Vì vậy mà trước khi nhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy tính tích cực hoạt động của con người, đã có sự phản ánh con người Nó định hướng cho suy nghĩ, ý chí, tình cảm cá nhân, nó xác định xu hướng và kích thích con người hành động để thỏa mãn đòi hỏi của nhu cầu

Nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu của con người là động cơ thúc đẩy hoạt động, điều chỉnh hành vi của từng cá nhân và tập thể trong xã hội nói chung Nhu cầu là sự đòi hỏi của các cá nhân, các nhóm xã hội muốn có nhữn điều kiện nhất định để sống và phát triển… Nhu cầu quy định xu hướng lựa chọn các ý nghĩ, rung cảm và ý chí quần chúng Nó quy định hoạt động xã hội của cá nhân, của giai cấp, của tập thể

3. Giải quyết vấn đề.

3.1 Nhu cầu dịch vụ hỗ trợ chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ vật chất của người cao tuổi

Trang 6

Như đã trình bày trong phần cơ sở lý luận, nhu cầu vật chất là nhu cầu cơ bản của sự tồn tại, là bậc đầu tiên trong hệ thống thứ bậc nhu cầu

Khi các quốc gia tiến hành công nghiệp hóa, việc thay đổi lối sống và việc làm chắc chắn sẽ dẫn những thay đổi về mô hình bệnh tật Những thay đổi này thấy rõ nhất ở những nước đang phát triển Ở những quốc gia phát triển, mối quan tâm hàng đầu về sức khỏe là phòng ngừa và điều trị các bệnh mãn tính như tim mạch, ung thư, tiểu đường, rối loạn chuyển hóa, Alzheimer); là những lối sống thiếu lành mạnh (nghiện hút, lạm dụng rượu bia, ); là tăng hiệu quả chăm sóc nội trú, cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu có hiệu quả chi phí cao, dịch vụ chăm sóc dài hạn cho người cao tuổi Trong khi đó, ở các quốc gia đang phát triển thì một mặt phải tiếp tục giải quyết các bệnh lây nhiễm, suy dinh dưỡng và tai biến sinh

kỳ, mặt khác phải đương đầu với sự gia tăng nhanh chóng của các bệnh không lây truyền trong điều kiện hệ thống chăm sóc sức khỏe còn thiếu thốn

Tại Việt Nam, có 4 nhóm bệnh không lây nhiễm chủ yếu, đó là: Bệnh tim mạch, ung thư, đái tháo đường (type 2), động kinh và trầm cảm Các bệnh này nói riêng và bệnh không lây nhiễm nói chung đang ngày càng tăng trong khi tỷ lệ tử vong do bệnh lây nhiễm giảm Cụ thể là nếu như năm 1996 bệnh lây nhiễm chiếm tỷ lệ mắc là 37%, trong đó chết là 33%; bệnh không lây nhiễm theo thứ tự là 50% 43% thì đến năm 2005, bệnh lây nhiễm giảm còn 25% -16%; còn các bệnh không lây nhiễm tăng tỷ lệ người mắc lên 62%, trong đó chết là 61% Theo Bộ Y tế (Vụ Điều trị) trong những năm gần đây, tỷ lệ người mắc các bệnh không lây nhiễm phải nhập viện có xu hướng tăng cao Số nhập viện điều trị các bệnh không lây nhiễm (huyết áp, tim mạch, các bệnh về nội tiết,…) chiếm tới 61% (năm 2001 tỷ lệ này là 54%) Trong khi tỷ lệ các bệnh do nguyên nhân lây nhiễm đang giảm mạnh thì ngược lại tỷ lệ mắc bệnh không lây nhiễm lại gia tăng đến mức báo động Điều đáng nói là những bệnh này có liên quan mật thiết tới lối sống như hút thuốc lá, lạm dụng rượu bia, dinh dưỡng bất hợp lý và

ít vận động Báo cáo tổng kết 5 năm hoạt động chương trình phòng chống một số bệnh không lây nhiễm giai đoạn 2002 – 2006 đã cho thấy điều đó (Phạm Thắng & Đỗ Khánh Hỷ,2009)

Theo kết quả điều tra toàn quốc, trong khoảng 82 triệu người Việt Nam thì có tới 6.7 triệu người bị tăng huyết áp Tỷ lệ người mặc bệnh đái tháo đường là 2.7%, tại các thành phố lớn là 4.4% Trong đó, 64% người mắc bệnh đái tháo đường không được phát hiện Với bệnh ung thư, mỗi năm có khoảng 100.000 – 150.000 bệnh nhân ung thư mới mắc và 75.000 người chết vì ung thư và con số này có xu hướng ngày càng gia tăng Về bệnh tâm thần, tỷ lệ mắc bệnh động kinh trong cộng đồng chiếm khoảng 0.33% dân số và tỷ lệ trầm cảm là 2.8% dân

số Bệnh không lây nhiễm có chung các yếu tố nguy cơ và các yếu tố nguy cơ này được chia thành 3 nhóm: nhóm thứ nhất là các yếu tố nguy cơ về hành vi lối sống bao gồm hút thuốc lá, lạm dụng rượu, chế độ dinh dưỡng không hợp lý (như ăn ít rau, nhiều thịt) và thói quen ít vận động Nhóm thứ hai là các yếu tố môi trường bao gồm môi trường tự nhiên, môi trường chính trị, môi trường xã hội và môi trường kinh tế Nhóm thứ ba là các yếu tố nguy cơ không thay đổi được như tuổi, giới tính, chủng tộc….Điều đáng nói là các nguy cơ bệnh không lây nhiễm tăng dần theo tuổi do sự phơi nhiễm trong một thời gian dài của các cơ quan bộ phận chức năng của cơ thể và giảm khả năg hệ thống miễn dịch Các bệnh kông lây nhiễm thường có

Trang 7

thời gian tiềm tàng kéo dài với các tình trạng tiền bệnh như thừa cân, béo phì, tăng huyết áp, rối loại glucose máu và một số rối loạn chuyển hóa khác (Phạm Thắng & Đỗ Khánh Hỷ,2009)

Bảng 2 Tỷ lệ một số bệnh tim mạch thường gặp, theo nhóm tuổi (%)

(Nguồn: Báo cáo tổng quan về chính sách chăm sóc người già thích ứng với thay đổi cơ cấu

tuổi tại Việt Nam )

Bệnh không lây nhiễm nói chung đang gây ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của xã hội Bệnh không chỉ có tỷ lệ tử vong cao mà tỷ lệ tàn tật cũng rất lớn Mặc dù tỷ lệ tử vong cao do bệnh tăng dần theo tuổi nhưng tỷ lệ tử vong ở nhóm người trẻ tuổi cũng không phải là ít

Bảng 3 Tỷ lệ một số bệnh nội tiết – chuyển hóa thường gặp theo tuổi (%)

(Nguồn: Báo cáo tổng quan về chính sách chăm sóc người già thích ứng với thay đổi cơ cấu

tuổi tại Việt Nam)

Ở Việt Nam, bệnh không lây nhiễm còn nghiêm trọng hơn do bệnh nhân thường đến bệnh viện để khám và điều trị ở giai đoạn muộn Trong khi đó, các biện pháp phòng chống bệnh tật còn hạn chế do nhận thức chưa cao Bên cạnh đó, người bệnh cũng không được theo dõi và điều trị có hệ thống do dịch vụ khám chữa bệnh chưa đáp ứng được nhu cầu

Theo kết quả nghiên cứu của đề tài Nhu cầu dịch vụ hỗ trợ của người cao tuổi ở Thái Bình cho thấy sự đánh giá của người cao tuổi về sức khỏe của họ Trong tổng số 102

người trả lời, chỉ có 9,8 % cho rằng mình khỏe, số người đánh giá sức khỏe mình bình thường chiến 49% Đáng chú ý là tỷ lệ người cao tuổi thấy sức khỏe của họ yếu chiếm tỉ lệ khá cao (41,2%)

Bảng 4 Đánh giá về tình trạng sức khỏe (%)

Tình trạng sức khỏe Số lượng Tỷ lệ %

(Nguồn: Nhu cầu dịch vụ hỗ trợ người cao tuổi ở Thái Bình hiện nay )

Cũng trong đề tài nghiên cứu Nhu cầu dịch vụ hỗ trợ của người cao tuổi ở Thái Bình kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra xét về tương quan giới, chúng ta có thể thấy rằng, có sự

khác biệt tương đối trong sự đánh giá về tình trạng sức khỏe giữa nam và nữ Nữ thường đánh

Trang 8

giá tình trạng sức khỏe thấp hơn nam 52.5% số người cao tuổi nữ cho rằng sức khỏe mình là bình thường và chỉ có 5% cho rằng họ có sức khỏe tốt Trong khi đó, có đến 12,9% trong tổng

số nam giới đánh giá sức khỏe mình là tốt Dưới đây là bảng số liệu thu được từ kết quả nghiên cứu của đề tài

Bảng 5 Tương quan giới và sự đánh giá về tình trạng sức khỏe của người cao tuổi (%)

(Nguồn: Nhu cầu dịch vụ hỗ trợ người cao tuổi ở Thái Bình hiện nay)

Đề tài cũng cho thấy tỷ lệ người cao tuổi mắc các bệnh là tương đối cao Theo số liệu

từ kết quả nghiên cứu thu được có 75.2 % người mắc bệnh về xương khớp Các bệnh về mắt chiếm vị trí thứ hai trong thang bậc các bệnh thường gặp (40.2%) Tiếp đến là tim mạch và huyết áp chiếm (38.1%) Bệnh cao huyết áp là mối lo ngại của người cao tuổi và gia đình có ngừời cao tuổi do những biến chứng bất ngờ và khó lường trước Ngoài ra, các bệnh về tiêu hóa, các bệnh về suy giảm trí nhớ chiếm tỷ lệ trên 20%

Ở các nước phát triển cũng như đang phát triển, bệnh mãn tính là nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tàn phế và giảm chất lượng sống Khả năng sống độc lập của người cao tuổi bị đe dọa khi tình trạng tàn phế về thể lực và tâm thần của họ gây trở ngại trong sinh hoạt hàng ngày Nhiều người trở nên tàn phế ở tuổi già do cơ chế “hao mòn” của quá trình lão hóa (ví dụ như thoái hóa khớp) hoặc do khởi phát một bệnh mãn tính vốn đã có thể phòng ngừa được (ví

dụ như ung thư phổi, đái tháo đường và bệnh mạch ngoại vi) hoặc do bệnh mang đặc tính thoái hóa (ví dụ như sa sút trí tuệ) Dường như tàn phế nặng nề về thể lực và nhận thức tăng mạnh ở nhóm tuổi già Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi xu hướng chung của thế giới cho thấy nhóm tuổi từ 80 trở lên là nhóm dân số tăng nhanh nhất Những tàn phế khác thường gặp ở tuổi già là mất thị lực và thính lực Trên toàn thế giới hiện có khoảng 180 triệu người bị tàn phế về thị giác, 45 triệu người trong số đó bị mù hoàn toàn Phần lớn những người này là người cao tuổi bởi vì suy giảm thị lực và mù tăng rõ theo tuổi Nhìn chung trên toàn thế giới

có khoảng 4% người từ 60 tuổi trở lên bị mù, 60% trong số họ sống ở vùn cận Sahara châu Phi, Trung Quốc và Ấn Độ Nguyên nhân chính gây mù và giảm thị lực ở người cao tuổi là đục thủy tinh thể (gần 50% các trường hợp mù), tăng nhãn áp, thoái hóa điểm vàng và bệnh võng mạc do đái tháo đường (Phạm Thắng & Đỗ Khánh Hỷ,2009)

Theo thống kê của Bệnh viện Mắt Trung ương, tại Việt Nam có tới 70% số người mù

là do đục thủy tinh thể Đáng nói là có tới 35% người mù do đục thủy tinh thể không biết bản thân bị bệnh hoặc đây là bệnh có thể chữa được Theo nghiên cứu của Viện Lão khoa Quốc gia, ở người cao tuổi: 76.7% có giảm thị lực; 60.1% bị mắc bệnh giác mạc; 57.9% đục thủy tinh thể, 50.5% có bệnh mi – giác mạc; 9% có tật khúc xạ.Giảm thính lực là một trong những loại tàn phế thường gặp nhất, đặc biệt là ở người cao tuổi Theo ước tính trên thế giới khoảng 50% những người ở độ tuổi từ 65 trở lên là bị giảm thính lực ở những mức độ khác nhau

Trang 9

Giảm thính lực cản trở cho giao tiếp Tình trạng này có thể gây bối rối, tự ti, ngại tiếp xúc và cách ly xã hội Theo nghiên cứu của Viện Lão khoa Quốc gia, 40.11% người cao tuổi có giảm thính lực Các biến chứng do huyết áp tăng thường rất nặng nề như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, suy tim, suy thân, mù lòa… ảnh hưởng lớn đến người bệnh, gây tàn phế và trở thành gánh nặng với gia đình và xã hội (Phạm Thắng & Đỗ Khánh Hỷ,2009)

Khi dân số già đi, một trong những thách thức lớn của chính sách chăm sóc sức khỏe người cao tuổi là cân đối giữa tự chăm sóc (người cao tuổi tự chăm sóc mình), chăm sóc không chính thức (người thân và bạn bè) và chăm sóc chính thức (dịch vụ y tế xã hội) Chăm sóc chính thức bao gồm cả chăm sóc sức khỏe ban đầu, chủ yếu tại cộng đồng và chăm sóc tại các cơ sở y tế hoặc nhà dưỡng lão Trên toàn thế giới, việc chăm sóc người cao tuổi chủ yếu là

do cá nhân người cao tuổi hoặc những người chăm sóc không chính thức gồm người thân, bạn

bè, hàng xóm (chủ yếu là phụ nữ) cung cấp phần lớn sự hỗ trợ và chăm sóc cho người cao tuổi Kể cả khi đã có các dịch vụ chăm sóc chính thức thích hợp, chăm sóc không chính thức vẫn đóng vai trò chủ yếu Song hầu hết các quốc gia lại đầu tư cho nguồn lực tài chính theo hướng ngược lại, nghĩa là phần lớn kinh phí dành cho chăm sóc người cao tuổi tại các cơ sở y

tế và Việt Nam không phải là ngoại lệ Cần đảm bảo sự tiếp cận bình đẳng đối với hệ thống chăm sóc chính thức qua các dịch vụ y tế xã hội Ở nhiều nước, người cao tuổi nghèo và người cáo tuổi sống ở nông thôn hiếm khi hoặc không thể tiếp cận được với các dịch vụ y tế cần thiết Tại nhiều vùng, giảm hỗ trợ của chính phủ đối với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu dẫn tới thực trạng là trút sự căng thẳng về tài chính lên người cao tuổi và gia đình họ,

có thể gây xung đột giữa các thế hệ (Phạm Thắng & Đỗ Khánh Hỷ,2009)

Nhu cầu chăm sóc y tế và xã hội của người cao tuổi ở Việt Nam là rất lớn, trong khi những điều kiện tự thân của người cao tuổi ở Việt Nam có những đặc trưng rất hạn chế Ví dụ như: Tỷ lệ người cao tuổi sống độc thân tương đối cao ở cả 3 miền Bắc – Trung – Nam (14.2%), dẫn đến hạn chế cả về hỗ trợ kinh tế, tinh thần từ phía gia đình, người thân và không

có người trợ giúp trong sinh hoạt hàng ngày Về tình trạng kinh tế, thu nhập của người cao tuổi còn rất thấp, hầu như không có nguồn tiết kiệm tích lũy từ lúc còn trẻ Tình hình đặc biệt khó khăn ở các vùng nông thôn và miền núi Theo con số điều tra của Viện Lão khoa Quốc gia tại ba địa bàn Hà Nội, Thừa Thiên Huế và Bà Rịa – Vũng Tàu trong nhiều lý do khiến người cao tuổi không được khám chữa bệnh, lý do chính là không đủ khả năng kinh tế (45.3%), điều kiện đi lại khó khăn (17.3%), điều kiện y tế địa phương không đáp ứng được 16.5%, còn lại các lý do khác là 20.9% Bệnh tật ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày chiếm tỷ

lệ rất cao, từ 53.5 % đến 73.5% Tỷ lệ này khác nhau giữa các lứa tuổi, giữa nam và nữ, giữa các vùng nghiên cứu Số ngày ốm trung bình của một cụ già trong tháng là 2.04 ngày Cao nhất là ở Phương Mai là 2.83 ngày, rồi đến Phú Xuân là 1.64 ngày, cuối cùng là Hòa Long 1.48 ngày Tương tự, số ngày nằm viện trung bình trong tháng là 0.77 ngày, cao nhất là ở Phương Mai (1.32 ngày), Hòa Long (0.53 ngày), Phú Xuân (0.43 ngày) Do tình hình sức khỏe và bệnh tật, có 24.9 % các cụ phải mời bác sỹ đến khám tại nhà (chủ yếu là ở Phương Mai 49%, Phú Xuân 16.4%, Hòa Long 21.7%) Đa số người cao tuổi dùng thuốc theo đơn, tỷ

lệ này cao nhất ở Phương Mai 54.1%, Phú Xuân 27%, Hòa Long 24.3% Nhìn chung khi cần

Trang 10

thiết thì hầu hết các cụ đề có thể tự uống (97.8%) chỉ có 1.8% là cần giúp đỡ ít nhiều, 0.4% là không thể tự uống được thuốc (Phạm Thắng & Đỗ Khánh Hỷ,2009)

Theo số liệu điều tra được của đề tài Nhu cầu dịch vụ hỗ trợ của người cao tuổi ở Thái Bình, có 29.4% người đi khám định kì và khám để chữa bệnh chiếm 70.6% Khi có vấn

đề về sức khỏe, tỷ lệ người cao tuổi đến khám tại các bệnh viện lớn chiếm tỷ lệ khá cao (70.6%) trong đó, chỉ có 2% người cao tuổi chọn khá tại phòng khám tư nhân

Biểu 2 Nơi khám bệnh (%)

(Nguồn: Nhu cầu dịch vụ hỗ trợ người cao tuổi ở Thái Bình hiện nay)

Cũng theo kết quả nghiên cứu của đề tài cho thấy, khi mắc bệnh thì phần lớn người cao tuổi năm điều trị tại nhà là 60.8%, tại các cơ sở y tế là 39.2% Tỷ lệ người cao tuổi được con cái và bà con họ hành chăm sóc chiếm tỷ lệ rất cao (98%) Ở những gia đình có người giúp việc thì 63.7 % người cao tuổi được những người này chăm sóc

Biểu 3 Người chăm sóc khi ốm đau (%)

(Nguồn: Nhu cầu dịch vụ hỗ trợ người cao tuổi ở Thái Bình hiện nay)

Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ lao động nữ tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh tế tương đối cao, song chủ yếu ở thị trường lao động phổ thông, không chính thức nên tỷ lệ thực hiện bảo hiểm xã hội thấp, kể cả bảo hiểm y tế Lao động cực nhọc hơn, nhiều giờ hơn, thu nhập thấp hơn, chi tiểu cho nhu cầu cá nhân ít hơn, kể cả nhu cầu chăm sóc sức khỏe Phụ nữ có lợi thế hơn về tuổi thọ nhưng dường như họ phải hứng chịu nhiều hơn về bạo lực trong gia đình và phân biệt đối xử trong giáo dục, thu nhập, ăn uống, việc làm, chăm sóc sức khỏe, thừa kế, bảo hiểm xã hội và quyền lực chính trị Ngay cả khi thực hiện chức năng duy trì giống nòi, không phải phụ nữ nào cũng được chăm sóc chu đáo và có chế độ ăn

đủ dinh dưỡng Những bất lợi tích lũy này ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của phụ nữ, là nguy cơ gây tàn phế và là những nguyên nhâ khiến cho phụ nữ dễ lâm vào cảnh nghèo, nhất

là khi về già Phụ nữ còn có nhiều cơ may hơn so với nam giới sống đến độ tuổi rất già, độ tuổi mà tàn phế, bệnh tật rất phổ biến mà hầu như không còn khả năng tự chăm sóc mình Hầu hết người cao tuổi đều có nguyện vọng được chăm sóc tại nhà Nhưng những người chăm sóc (thường là phụ nữ cao tuổi) cũng cần được hỗ trợ mới có thể đảm đương được công việc này (Phạm Thắng & Đỗ Khánh Hỷ,2009)

Hiện nay, mạng lưới y tế của Việt Nam từ trung ương đến địa phương đã được củng

cố Nhiều dịch vụ y tế mới được nghiên cứu và đưa ra áp dụng trong thực tế Những vấn đề như bảo hiểm y tế, nâng cao hoạt động hỗ trợ cho việc chi trả của người dân đối với các dịch

vụ y tế nhất là những người nghèo, dân tộc thiểu số dành được sự quan tâm lớn của nhà nước Các quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo cũng đã được thành lập đặc biệt dành cho vùng nông thôn và dân tộc thiểu số, có tác động tích cực tới việc chăm sóc sức khỏe cho người nghèo, nâng cao khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế cũng như giảm gánh nặng tài chính cho người nghèo Tuy nhiên việc triển khai Quỹ khám chữa bệnh còn gặp nhiều khó khăn do chất lượng dịch vụ y tế tuyến xã còn hạn chếm kiến thức về vấn đề sức khỏe và chăm sóc sức

Ngày đăng: 14/08/2017, 19:19

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Tương quan tuổi – những khó khăn của người cao tuổi. (%) - Nhu cầu dịch vụ hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
Bảng 1. Tương quan tuổi – những khó khăn của người cao tuổi. (%) (Trang 4)
Bảng 2. Tỷ lệ một số bệnh tim mạch thường gặp, theo nhóm tuổi . (%) - Nhu cầu dịch vụ hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
Bảng 2. Tỷ lệ một số bệnh tim mạch thường gặp, theo nhóm tuổi . (%) (Trang 7)
Bảng 5. Tương quan giới và sự đánh giá về tình trạng sức khỏe của người cao tuổi. (%) - Nhu cầu dịch vụ hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi
Bảng 5. Tương quan giới và sự đánh giá về tình trạng sức khỏe của người cao tuổi. (%) (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w