Hôn nhân chứa đựng trong nó những giá trị văn hoá mà từ ngàn đời nay đã được các thế hệ lưu giữ truyền lại.Và lễ cưới chính là cột mốc đánh dấu quan trọng đầu tiên trong hôn nhân của mỗi
Trang 1Họ và tên: Vũ Diệu Linh
MSSV :10032138
BÀI CUỐI KÌ MÔN XÃ HỘI HỌC GIA ĐÌNH
Đề tài: Những biến đổi trong hình thức tổ chức đám cưới ở miền Bắc nước ta hiện nay.
1. Lý do chọn đề tài
Hôn nhân được xem là một sự kiện trọng đại trong cuộc đời một con người.Nó đánh dấu sự gắn kết giữa hai con người khác giới cả về vật chất, tinh thần lẫn thể xác.Khái niệm hôn nhân được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Với những người theo phái tự nhiên và phái phân tâm học định nghĩa hôn nhân như sau: Hôn nhân là một hiện tượng tự nhiên Đó là sự liên kết giữa hai con người khác giới với nhau thành một gia đình để giữ chức năng duy trì nòi giống Còn những người theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lại cho rằng: Hôn nhân trước hết là một quy chế xã hội và sau đó mới là một hiện tượng sinh học, hiện tượng tự nhiên Theo quan điểm của xã hội học thì hôn nhân lại là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, nhằm chung sống và cùng nhau có trách nhiệm xây dựng gia đình Sự thừa nhận về mặt pháp lý biểu hiện ở giấy chứng nhận kết hôn
do chính quyền địa phương cấp Tính chất pháp lý còn thể hiện ở chỗ, từ nay cuộc hôn nhân, cuộc sống gia đình, quyền lợi của vợ chồng, cha mẹ, con cái sẽ được chính quyền bảo vệ
Từ sự định định nghĩa trên ta thấy rằng, sự liên kết giữa nam và nữ để thành
vợ thành chồng, thành gia đình là một nhu cầu xã hội, tiếp đến mới là nhu cầu sinh học Hay nói một cách khác, hôn nhân không phải do trời cho mà nó xuất hiện và hình thành trong quá trình phát triển của loài người, và nó cũng biến đổi theo sự văn minh của con người Và ở dù bất cứ xã hội nào thì hôn nhân cũng là một mối quan hệ được
xã hội thừa nhận giữa hai người khác giới
Hôn nhân không phải việc riêng của hai người mà là việc chung của gia đình,
mở rộng ra là giữa hai dòng họ khi chính thức đặt quan hệ thông gia với nhau Hôn nhân chứa đựng trong nó những giá trị văn hoá mà từ ngàn đời nay đã được các thế hệ lưu giữ truyền lại.Và lễ cưới chính là cột mốc đánh dấu quan trọng đầu tiên trong hôn nhân của mỗi con người, là ngày lễ chính thức để người nam và người nữ trở thành vợ chồng.Cưới hỏi là một nghi lễ phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, đánh dấu sự gắn kết của hai con người và bắt đầu một cuộc sống gia đình mới Mỗi quốc gia, dân tộc đều có những phong tục tập quán cưới hỏi riêng như là một phần quan trọng trong bản sắc văn hoá của dân tộc đó Trong đời sống tinh thần của người Việt Nam, đám cưới là một sự kiện hệ trọng nhất trong cuộc đời mỗi người, là ngày lễ thiêng liêng và vui mừng nhất Có thể khẳng định rằng, từ lâu, việc tổ chức lễ cưới đã trở thành một phong tục không thể thiếu trong cuộc sống cộng đồng người Việt, mà ý nghĩa xã hội của nó thể hiện ở nhiều khía cạnh: kinh tế, xã hội, đạo đức, văn hoá Lễ cưới là ghi nhận quá trình trưởng thành của đôi thanh niên nam nữ sau quá trính yêu đương tìm hiểu nhau.Nó chứng tỏ sự thừa nhận của xã hội đối với tình yêu lứa đôi, đánh dấu sự
Trang 2thống nhất giữa tình yêu và trách nhiệm của hai người.Lễ cưới còn là sự công bố trước dư luận xã hội sau quá trình hoàn thành thủ tục đăng kí kết hôn, bởi sự ra đời của một gia đình mới có một ý nghĩa rất quan trọng đối với xã hội.Lễ cưới, bên cạnh
đó, còn là sự họp mặt của hai họ và bạn bè thân thích để chúc mừng cho hạnh phúc của cặp vợ chồng trẻ Đến với đám cưới, con người có cơ hội gặp gỡ, tiếp xúc, làm quen với nhau, tăng cường giao tiếp, mở rộng các mối quan hệ xã hội Đối với người Việt Nam, đến với đám cưới là tham gia một sinh hoạt văn hoá lành mạnh của cộng đồng
Ở Việt Nam, nghi lễ cưới hỏi truyền thống được đánh giá là tương đối cầu kỳ
và phức tạp.Trải qua gần một thế kỷ với nhiều biến đổi sâu sắc trong xã hội, mô hình cưới hỏi của người Việt Nam cho tới nay đã có nhiều đổi thay khác biệt.Đặc biệt, sự giao lưu văn hoá và hoà nhập với thế giới đã mang lại cho nền văn hoá Việt nhiều điều mới lạ, pha trộn và tổng hoà của những bản sắc truyền thống và hiện đại, trong
đó có cả văn hoá cưới hỏi – hình thức tổ chức đám cưới ở nước ta Đáng chú ý hơn nữa là trong giai đoạn kinh tế thị trường hiện nay, sự phát triển của dịch vụ cưới hỏi, không chỉ là hệ quả của các biến đổi kinh tế - xã hội, mà bản thân nó đã có tác động không nhỏ tới những thay đổi trong hình thức tổ chức lễ cưới của người dân Việt Nam
Thực tế trên đã đem lại không ít những câu hỏi, thắc mắc về sự biến đổi trong hình thức tổ chức cưới hỏi cũng như nhận thức của người dân về các loại hình đám cưới ngày nay Mong muốn giải đáp những vấn đề trên là lý do tôi lựa chọn đề tài: Những biến đổi trong hình thức tổ chức đám cưới của người dân miền Bắc nước ta hiện nay
2. Cơ sở lý thuyết
2.1. Lý thuyết về biến đổi xã hội
Nghiên cứu này sử dụng lý thuyết về biến đổi xã hội nhằm tìm hiểu và lý giải các hiện tượng nghiên cứu.Mọi xã hội, cũng giống như giới tự nhiên, luôn không ngừng vận động và biến đổi.Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định bề ngoài, thực tế
nó không ngừng thay đổi bên trong bản thân nó Bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hoá nào, cho dù có bảo thủ và cổ truyền đến đâu chăng nữa, cũng phải tuân theo quy luật biến đổi này
Biến đổi xã hội, trong chiều cạnh xã hội học, được hiểu là một quá trình qua
đó những khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội
và các hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi qua thời gian (Hoàng Bá Thịnh, 1997:275) Biến đổi xã hội có một số đặc điểm sau:
- Đây là hiện tượng phổ biến nhưng nó diễn ra không giống nhau giữa các xã hội Điều này có nghĩa, trong những điều kiện khác nhau, các xã hội biến đổi theo những chiều hướng khác nhau, với nhịp độ nhanh, chậm khác nhau (Hoàng Bá Thịnh, 1997:277)
- Biến đổi xã hội khác biệt về thời gian và hậu quả Có những biến đổi chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn và không có ảnh hưởng lâu dài Nhưng cũng có những biến đổi kéo dài hàng nghìn năm và để lại tác động sâu sắc Ảnh hưởng của biến đổi xã hội khác nhau tuỳ thuộc vào tính chất, mức độ và phạm vi của sự biến đổi đó Những ảnh hưởng này có thể tích cực cũng có thể tiêu cực (Hoàng Bá Thịnh, 1997)
Trang 3- Biến đổi xã hội vừa có tính kế hoạch vừa có tính phi kế hoạch Đây là tính hai mặt của
sự biến đổi Nói cách khác, những biến đổi xã hội do con người tạo nên đều xuất phát
từ tính tự giác, chủ động của con người, do đó, có thể kiểm soát được Song, đồng thời, con người cũng khó lòng kiểm soát ngay chính những biến đổi do bản thân mình tạo ra Hơn nữa, những biến đổi xã hội do tự nhiên gây nên lại càng khó kiểm soát hơn bởi tính phi kế hoạch của thiên nhiên
- Biến đổi xã hội có thể được tiếp cận từ quan điểm tiến hóa, xung đột hoặc theo chu
kỳ Tuy nhiên, những quan điểm hiện đại gần đây tỏ ra muốn tiến tới một cách tiếp cận tổng hợp, trong đó biến đổi xã hội được coi là kết quả của sự tương tác phức tạp giữa nhiều yếu tố - cả yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài Những yếu tố này có thể
là môi trường vật chất, công nghệ, sức ép dân số, giao lưu văn hóa, xung đột xã hội,… Trong những hoàn cảnh xã hội và lịch sử nhất định, một số yếu tố này đôi lúc có thể ảnh hưởng nhiều hơn một số yếu tố khác
- Biến đổi xã hội có thể được tiếp cận từ quan điểm tiến hóa, xung đột hoặc theo chu
kỳ Tuy nhiên, những quan điểm hiện đại gần đây tỏ ra muốn tiến tới một cách tiếp cận tổng hợp, trong đó biến đổi xã hội được coi là kết quả của sự tương tác phức tạp giữa nhiều yếu tố - cả yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài Những yếu tố này có thể
là môi trường vật chất, công nghệ, sức ép dân số, giao lưu văn hóa, xung đột xã hội,… Trong những hoàn cảnh xã hội và lịch sử nhất định, một số yếu tố này đôi lúc có thể ảnh hưởng nhiều hơn một số yếu tố khác
2.2. Lý thuyết xung đột giá trị
Giá trị được xác định là cái có ích, có hiệu quả trong cuộc sống vật chất và tinh thần (Nguyễn Như Ý, Đại từ điển Tiếng Việt, NXB VH-TT, 1999) Theo đó, giá trị là một phạm trù thuộc về văn hoá được xã hội chấp nhận và cho là phù hợp; ứng
xử theo giá trị là ứng xử theo cái chung, cái chuẩn mực, ngược lại là không chuẩn mực và không phù hợp với quan niệm chung của cộng đồng Giá trị thay đổi theo thời gian, trong quá trình đó nảy sinh các mâu thuẫn, xung đột giá trị mới và giá trị cũ Đây chính là các xung đột giá trị
Vận dụng vào đề tài này, ta tạm coi những nghi lễ cổ truyền trong đám cưới như lễ ăn hỏi, thách cưới,… và quan niệm “các thủ tục cưới hỏi tuy có phức tạp tốn kém nhưng không được bỏ qua” là các quan niệm, giá trị văn hoá truyền thống và việc quy định tổ chức cưới hỏi theo nếp sống mới theo khuynh hướng tiết kiệm, đơn giản
là các giá trị của xã hội hiện đại Mâu thuẫn giữa các giá trị trên đang đóng vai trò là một nhân tố tạo ra những khó khăn trong việc triển khai thực hiện nếp sống mới hay
cụ thể là việc tổ chức đám cưới trong xã hội nước ta ngày nay
2.3. Lý thuyết trao đổi của Homans
Theo quan điểm của Homans thông qua các định đề thắng lợi (mọi cá nhân đều có xu hướng lựa chọn những hành vi mang lại phần thưởng cho mình), định đề giá trị (kết quả của một hành động càng có giá trị cao thì cá nhân càng có xu hướng lặp lại hành động đó), mọi cá nhân khi hành động đều lựa chọn các hành động mang lại phần thưởng cho mình dựa trên các giá trị, các lợi ích, sở thích… của bản thân Hành động nào càng được ban thưởng nhiều cá nhân đó càng có xu hướng thực hiện hành động đó.Tương tự, trong điều kiện kết quả của một hành động càng có giá trị cao, cá nhân càng có xu hướng lập lại các giá trị đó Đồng thời trong quá trình lựa
Trang 4TỰ THỂ HIỆN HIỆN
TÔN TRỌNG
XÃ HỘI
AN TOÀN
VẬT CHẤT
chọn hành động, thông thường cá nhân hành động mà anh ta cho là hợp lí để đạt tới kết quả mình mong đợi
Vận dụng lý thuyết này vào đề tài, việc lựa chọn thực hiện tổ chức đám cưới theo kiểu truyền thống hoặc hiện đại của người dân là hành động mà theo họ là hợp lí trong quá trình trao đổi
2.4. Lý thuyết nhu cầu
Abraham Maslow (1908 – 1970), một nhà khoa học xã hội nổi tiếng đã xây dựng học thuyết về thứ bậc nhu cầu con người và phát triển thuyết này vào những năm 50 của thế kỷ XX Theo Maslow, nhu cầu của con người là một chuỗi liên tiếp các nhu cầu từ bậc thấp đến các bậc cao hơn
Nhu cầu về vật chất – nhu cầu cơ bản của sự tồn tại: Bậc đầu tiên trong hệ thống thứ bậc nhu cầu này rất cơ bản, rõ ràng và đặc biệt quan trọng, bao gồm: thức
ăn đầy đủ, nước uống, sưởi ấm, nhà ở và y tế cơ bản Thiếu nhu cầu này, con người khó có thể tồn tại chứ chưa nói đến việc có nhu cầu cao hơn
Nhu cầu an toàn: An toàn là môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển và lành mạnh, thể hiện bằng sự an toàn nghề nghiệp, việc tiếp nhận các dịch vụ y
tế và bảo vệ thân thể
Nhu cầu xã hội – nhu cầu được công nhận (yêu thương và chấp nhận): Con người chúng ta theo bản chất, luôn luôn tìm kiếm tình bạn, sự chấp nhận và tình yêu thương Nếu không có cảm giác được giao tiếp và quan hệ với mọi người thì chúng ta khó có thể tồn tại được
Nhu cầu tôn trọng: Đây là thứ bậc thức tư trong thang bậc nhu cầu của
Maslow Tôn trọng là sự nhìn nhận đúng đắn về nhân phẩm hay chuẩn mực đạo đức” Cũng nên có một sự cân bằng giữa mức độ chúng ta cho phép bản thân tự đánh giá dựa trên những công nhận hay phê bình từ bên ngoài và những giá trị phát sinh từ bên trọng mỗi chúng ta
Nhu cầu tự thể hiện: Bậc cuối cùng và cao nhất trong hệ thống thứ bậc nhu cầu của Maslow có tác động lớn nhất đến sự phát triển tâm lý và là bậc phức tạp nhất Đó
là nhu cầu cho sự trưởng thành cá nhân, cơ hội của sự phát triển và học hỏi cá nhân – quá trình tự hoàn thiện mình, có thể nói, là tất cả những gì có thể mang lại cơ hội cho con người nhằm nâng cao năng lực cá nhân năng lực trí tuệ và phát triển toàn diện tiềm năng
Trang 53. Các khái niệm công cụ
3.1. Hôn nhân
Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, 1992), hôn nhân chỉ việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng.Theo Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, 1998), hôn nhân là việc kết hôn giữa nam và nữ
Trong xã hội học, hôn nhân có hai nghĩa Nghĩa thứ nhất, nó chỉ quá trình chung sống trong hôn thú của cặp vợ chồng, với nghĩa này, hôn nhân là một thiết chế gắn liền với thiết chế gia đình Nghĩa thứ hai tương đối trùng với từ điển tiếng Việt, chỉ việc kết hôn hay quá trình dẫn đến hôn nhân và hôn lễ như một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng của gia đình và cá nhân
3.2. Cưới hỏi – Đám cưới/ Lễ cưới
Theo đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, 1998), cưới hỏi là làm làm các thủ tục và mọi việc có tính nghi lễ để tổ chức đám cưới nói chung Từ điển
mờ Wikipedia định nghĩa lễ cưới hay đám cưới là một phong tục văn hóa trong hôn
nhân nhằm thông báo rộng rãi về sự chấp nhận của xã hội và các bên thành hôn về cuộc hôn nhân.Với ý nghĩa này, lễ cưới còn được gọi là lễ thành hôn
Trong phong tục của người Việt Nam, lễ cưới hay đám cưới là đỉnh điểm của
cả quy trình tiến tới hôn nhân Trước lễ cưới, hai bên gia đình thường tiến hành một
số lễ thức cần thiết nhằm đánh dấu quan hệ của đôi nam nữ và thể hiện trách nhiệm của hai bên gia đình đối với hôn nhân của con cái, tạo điều kiện để đôi nam nữ chóng
đi tới hôn nhân như lễ chạm ngõ, thách cưới, ăn hỏi, v.v… Quan hệ của đôi nam nữ lúc này về căn bản là quan hệ tình cảm tự nguyện giữa các cá nhân hoặc giữa hai bên gia đình.Mối quan hệ dó hoàn toàn có thể thay đổi mà không có bất cứ sự ràng buộc nào về pháp lý.Khi đôi nam nữ yêu nhau hoặc ưng thuận nhau, họ có thể hứa hẹn sẽ
cưới nhau và trao nhau những vật kỷ niệm.Như vậy là họ đã hứa hôn hay đính hôn.Sự
hứa hôn hay đính hôn của họ có thể không cần bất cần cứ một người thứ ba nào chứng
kiến.Trong lễ cưới, đôi nam nữ được gọi là chú rể và cô dâu.Sau lễ cưới, cô dâu trở
thành vợ và chú rể trở thành chồng.Vợ và chồng tạo thành một quan hệ xã hội mới Khác với việc hứa hôn và các nghi lễ trước hôn nhân chỉ là sự thỏa thuận giữa hai cá nhân hoặc giữa hai gia đình, lễ cưới hay đám cưới là hình thức “công khai hóa” và
“hợp thức hóa” rộng rãi nhất cho sự chung sống chính thức của đôi nam nữ Ngày nay, ở nước ta, lễ cưới chỉ được tổ chức sau khi đã được chính quyền chính quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn
• Hình thức tổ chức
Theo Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, 1998), hình thức có hai
nghĩa: thứ nhất là cái bên ngoài, cái chứa đựng nội dung, và nghĩa thứ hai là cách thức
tiến hành Tổ chức được định nghĩa là việc sắp xếp bố trí để là cho có trật tự, nền nếp,
hoặc tiến hành một công việc theo cách thức, trình tự nào đó
Trong trường hợp này, hình thức tổ chức đám cưới được xác định là cách thức
tiến hành các công việc mang tính chất chiêu đãi đối với những người tham dự đám cưới và lưu giữ hình ảnh đám cưới của cặp vợ chồng
• Dịch vụ - dịch vụ cưới hỏi
Dịch vụ,theo Đại từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, 1998), được
định nghĩa là công việc phục vụ cho đông đảo dân chúng Trên góc độ kinh tế, dịch vụ
Trang 6là các chức năng hoặc các nhiệm vụ được thưc hiện mà người ta có cầu và do đó tạo
ra giá cả từ đó hình thành nên một thị trường thích hợp
Dịch vụ cưới hỏi, được hiểu gần với định nghĩa “dịch vụ” mang tính kinh tế,
nghĩa là những loại hình dịch vụ tổ chức cưới hỏi xuất hiện do người dân có nhu cầu
và tạo ra giá cả, từ dó hình thành nên một thị trường riêng
4. Giải quyết vấn đề
4.1. Quan niệm và cách tổ chức đám cưới trong xã hội Việt Nam (ở miền Bắc) truyền thống
Việc cưới xin truyền thống tuân theo những phong tục cổ truyền từ xa xưa để lại, bao gồm hệ thống sáu nghi thức (lục lễ) Đó là:
- Lễ nạp thái: nhà trai, nhà gái đính ước với nhau
- Lễ vấn danh: nhà trai hỏi tên, tuổi cô gái để so tuổi xem có hợp nhau không, đồng thời cũng là buổi để cô dâu chú rể tương lai biết mặt nhau, vì trước đó việc cưới xin chỉ là chuyện của hai bên gia đình còn đôi trẻ chưa hề gặp gỡ
- Lễ nạp cát: sau khi so tuổi, nếu hợp, nhà trai báo cho nhà gái biết điềm lành để tiếp tục công việc
- Lễ nạp tệ (hay còn gọi là lễ nạp tài): nhà trai mang sính lễ đến nhà gái ăn hỏi, trong buổi lễ có bàn đến việc thách cưới và số tiền chi phí cho việc cỗ bàn sau đó
- Lễ thỉnh kỳ: nhà trai báo cho nhà gái đã chọn được ngày lành tháng tốt để chuẩn bị lễ cưới
- Lễ thân nghênh (lễ nghênh hôn): tức lễ cưới
Một đám cưới truyền thống của Việt Nam được diễn ra vô cùng cầu kỳ, phức tạp và được chuẩn bị kỹ càng, cẩn thận ngay từ những bước đầu Đám cưới chính thức thường được diễn ra vào buổi chiều theo trình tự các lễ tục từ nhà trai đến nhà gái như sau:
+ Lễ xin dâu
+ Lễ đón rước dâu
+ Tục chăng dây, đóng cổng làng, cổng ngõ
+ Lễ rước và đón dâu
+ Lễ cưới bên nhà trai
+ Lễ gia tiên
+ Tiệc mừng (ăn uống)
+ Lễ nhập phòng
Sau lễ cưới, vẫn còn có một nghi lễ không thể thiếu và rất quan trọng đối với quan niệm của người Việt Nam, đó chính là lễ lại mặt: Hai ngày sau lễ cưới, vợ chồng đưa nhau về thăm cha mẹ vợ, lễ vật gồm 1 mâm xôi, 1 thủ lợn, 1 chai rượu và cau trầu Đi cùng có bố mẹ chồng, 1 vài người con cháu trong gia đình đi để mang lễ vật
Bố mẹ nhận lễ thắp hương cúng tổ tiên.Nhà gái làm cỗ sẵn mời nhà trai
Nhìn chung, toàn bộ các nghi lễ này là bắt buộc trong việc dựng vợ gả chồng
và nó cần phải được ghi nhớ trong mọi cuộc hôn nhân.Một số nghi thức, xét trên khía cạnh nào đó cũng thể hiện được những ý nghĩa tâm linh nhất định.Nó thể hiện được bản sắc dân tộc của con người Việt Nam.Đối với người Việt Nam truyền thống, đám cưới là một dịp thể hiện nề nếp, gia phong hoặc sự danh giá và phú quý của gia đình, ngoài ra đó còn là dịp để xum họp gia đình, gặp mặt họ hàng Đây là nhu cầu tất yếu
Trang 7của mỗi cá nhân, sau các nhu cầu cơ bản ăn no mặc ấm, cá nhân có nhu cầu được thể hiện bản thân, ở đây là nhu cầu được đánh dấu một sự kiện trọng đại nhất trong cuộc đời – kết hôn và thành lập gia đình mới Sở dĩ có nhiều thủ tục rườm rà là do mỗi gia đình đều mong muốn sẽ có được con dâu – con rể hợp tuổi, môn đăng hộ đối, sinh được nhiều con cháu sau này để nối dõi tông đường, vẹn toàn về mọi mặt Người xưa
có niềm tin tuyệt đối vào tâm linh, bói toán, nên việc lựa chọn, suy tính mọi thứ cho việc kết hôn của con cái là hết sức kỹ càng, cẩn thận, âu cũng là nhu cầu chính đáng, với niềm mong ước gia đình hạnh phúc, con cháu sum vầy Theo lý thuyết trao đổi, cá nhân chấp nhận bỏ ra một khoản chi phí lớn, có thể nói là dành tối đa kinh tế của bản thân để chi trả cho lễ cưới, mong muốn sẽ nhận được sự kính nể của mọi người, lời chúc phúc cũng như quà mừng của người thân Đây là một quá trình dài cẩn thận tính toán chi tiết và tốn khá nhiều công sức, song mỗi cá nhân cũng đều lường trước được
“phần thưởng hoặc hình phạt” mà mình sẽ có thể nhận được Bên cạnh đó, đám cưới
đã trở thành một hình thức văn hoá cộng đồng, có ý nghĩa xã hội to lớn trong việc củng cố tinh thần cộng đồng, chính vì thế mà cỗ cưới là một phần có thể nói là quan trọng nhất và không thế thiếu được trong mỗi đám cưới của người Việt, dù cho hoàn cảnh gia đình như thế nào thì mỗi một lễ cưới đều phải có đầy đủ mâm cao cỗ đầy Những năm đầu thế kỷ, cỗ cưới thường được tiến hành quy mô với số lượng mâm tương đối lớn, người xưa quan niệm “việc ăn chung không chỉ có ý nghĩa thoả mãn nhu cầu sinh học mà còn như một cơ hội để tăng cường sự cố kết cộng đồng” (Lê Ngọc Văn, 2000:20) Qua đây, ta có thể thấy việc cưới xin xưa không chỉ liên quan đến cô dâu, chú rể mà còn là công việc của cả gia đình và họ tộc Hôn nhân truyền thống ở Việt Nam là hôn nhân trước hết vì quyền lợi của gia tộc (1 Xác lập quan hệ giữa hai gia tộc; 2 Là công cụ duy nhất và thiêng liêng để duy trì dòng dõi và phát triển nguồn nhân lực), sau đó phải đáp ứng quyền lợi của làng xã (cỗ cưới là một hình thức củng cố tinh thần cộng động làng xã), và cuối cùng, khi các quyền lợi của cộng đồng đã được đáp ứng, lúc ấy hôn nhân mới mang nghĩa đáp ứng nhu cầu riêng tư (Trần Ngọc Thêm, 1999:143-146) Hơn nữa, tính chất quyết định của gia đình đối với hôn nhân trong thời kì này là một đặc điểm quan trọng có ảnh hưởng tới hình thức tổ chức đám cưới.Khi hôn nhân được quyết định hoàn toàn bởi gia đình hay bởi cá nhân với sự trợ giúp của gia đình thì các nghi thức truyền thống có xu hướng được thực hiện một cách đầy đủ, nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của mỗi cá nhân trong gia đình (Lê Thái Thị Băng Tâm, 2012:170)
Qua các tục lệ hôn nhân cổ truyền của người Việt cho thấy vị trí quan trọng của hôn nhân trong cuộc đời mỗi người nói riêng và đời sống văn hoá của làng xã người Việt hàng ngàn năm qua.Lễ thành hôn của người Việt xưa mang đậm tính chất phong kiến, chịu ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo và các lễ giáo phong kiến của Trung Quốc Tuy nhiên, nó chủ yếu ảnh hưởng tới vùng thị thành và tầng lớp trên, còn vùng nông thôn và tầng lớp bình dân vẫn giữ được nét truyền thống và chính điều đó
đã làm lên phong tục tập quán, nếp sống, là biểu trưng của bản sắc dân tộc, giá trị truyền thống văn hoá của người Việt
4.2. Những biến đổi trong hình thức và quan niệm cưới hỏi trong xã hội Việt Nam (miền Bắc) hiện đại
Trang 8Xã hội biến đổi và ngày một phát triển đã kéo theo những thay đổi không nhỏ trong hình thức tổ chức đám cưới ở Việt Nam Nhìn chung sự thay đổi lớn nhất so với trước là nhiều “hủ tục” cổ truyền đã được bãi bỏ, nhiều tục lệ được cải tạo, với xu hướng phục hồi trở lại hình thức cưới xin truyền thống trong môi trường văn hoá mới,
xã hội mới và dân trí cao Các tập tục hôn nhân mới tiếp tục hình thành trên nền tảng,
sự kết hợp giữa tinh thần dân tộc và tính thời đại Cách tổ chức hôn lễ ngày nay có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, theo chiều hướng “nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”
Nghi thức, nghi lễ cưới ở miền Bắc trước kia có quy định rất nghiêm ngặt hơn
cả những vùng miền khác, song trải qua một thời gian nay nghi thức đó cũng đã thay đổi và đơn giản hoá dần theo sự tiến bộ của xã hội, nhờ đó việc tổ chức một đám cưới cũng trở nên nhẹ nhàng hơn, khác biệt hơn so với trước đây
Thay đổi về nghi lễ
Nếu như một đám cưới truyền thống ngày xưa phải đẩm bảo đầy đủ sáu nghi
lễ cầu kỳ, công phu, thì nay đã được rút bớt chỉ còn lại ba lễ tục cơ bản – là những nghi lễ không thể thiếu đã trở thành một phần của văn hoá cưới hỏi Việt Nam Đó là:
- Lễ nạp thái lễ chạm ngõ
- Lễ nạp tệ lễ ăn hỏi
- Lễ thân nghinh lễ cưới
Mặc dù lễ nạp thái vẫn được giữ nguyên nhưng ý nghĩa của nó đã thay
đổi.Không cần phải có sự mai mối của bất cứ ai, trai gái được tự do tìm hiểu và lựa chọn thời gian để hai gia đình gặp nhau Tuy nhiên, trải qua bao năm tháng, gia đình vẫn giữ một vị trí trung tâm quan trọng trong việc hệ trọng này Bởi mỗi cá nhân đều hiểu rằng được gia đình lo liệu cho đám cưới của mình vẫn là hạnh phúc mà mọi người không phải ai cũng có được, đó vẫn là một giá trị được trân trọng một cách đặc biệt
Trong đề tài nghiên cứu vềNhững biến đổi phong tục và nghi lễ liên quan đến việc cưới hỏi ở Hà Nội…đã đưa ra số liệu minh chứng cho mức độ thực hiện các
nghi lễ cưới hỏi như sau:
Bảng 3: Mức độ thực hiện các lễ cưới xin
(Nguồn: Những biến đổi phong tục và nghi lễ liên quan đến việc cưới hỏi ở Hà Nội)
Dựa vào kết quả nghiên cứu trên có thể thấy các nghi lễ cưới xin truyền thống vẫn tiếp tục được duy trì ở những mức độ khác nhau, trong đó cao nhất là lễ cưới (chiếm 99,3%), tiếp sau là lễ ăn hỏi (86,9%), mức độ thực hiện lễ xin dâu cao hơn lễ
Trang 9chạm ngõ với mức độ tương ứng 77,7% và 69,8% Cuối cùng thấp nhất là lễ xem mặt
với 15,5%
Theo đó, cũng cùng đề tài nghiên cứu, tác giả đã phân chia mức độ thực hiện
cac nghi lễ cưới xin theo nhóm khu vực cư trú, giới tính, độ tuổi, và năm kết hôn để
chỉ rõ xu hướng tổ chức đám cưới hiện nay
Bảng 4: Nghi lễ cưới xin theo nhóm xã hội (%)
Các nhóm xã hội Lễ xem mặt Dạm ngõ Ăn hỏi Xin dâu Cưới Lại mặt
Khu vực
cư trú
Nội thành 18,8 69,3 89,3 74,3 98,5 60,3 Giáp nội
Xa nội
Độ tuổi
Dưới 40
41 – 50 tuổi 16,3 74,4 91,2 82,7 99,2 57,3
51 – 60 tuổi 10,5 63,3 83,1 73,4 99,2 42,3
61 tuổi trở
Năm kết
hôn
1945 – 1975 12,6 57,1 74,2 60,4 98,8 34,2
1976 – 1986 13,1 65,9 85,2 76,8 99,7 48,3
1987 – 1994 16,2 75,8 90,8 83,3 99,2 63,2
2005 – 2010 31,1 80,4 94,1 91,6 100 52,3
(Nguồn: Những biến đổi phong tục và nghi lễ liên quan đến việc cưới hỏi ở Hà Nội)
Theo bảng số liệu trên, dễ dàng nhận thấy mức độ thực hiện các nghi lễ cưới
xin có sự khác biệt nhất là giữa các nhóm tuổi và năm kết hôn.Nhóm tuổi càng trẻ và
năm kết hôn sau thời kỳ đổi mới thì mức độ thực hiện càng cao Sở dĩ có sự khác biệt
này là bởi nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, mọi người đều được trang bị học
vấn đàng hoàng, nên có nhận thức cao và có điều kiện để tổ chức một đám cưới tốt
nhất có thể, và từ đây các đám cưới cũng ngày càng được chú trọng hơn về hình thức,
chất lượng của các nghi lễ
Tuy nhiên, dù có thay đổi hay giản hoá đến đâu, đám cưới của người Việt vẫn
phải giữ được ba nghi lễ quan trọng này Đây là điều dễ hiểubởi, áp dụng lý thuyết
xung đột, đây là các quan niệm, giá trị văn hoá truyền thống đã được bảo tồn và phát
huy qua bao đời nay, sự du nhập của văn hoá phương Tây tuy đã làm cho các phong
tục ấy trở nên đơn giản và ngắn gọn hơn, phù hợp với sự thay đổi của xã hội, song
vẫn không thể xoá bỏ được hoàn toàn quan niệm, suy nghĩ của người Việt Nam ngàn
đời nay vốn có đời sống tâm linh phong phú về tầm quan trọng của một lễ cưới, do đó
mà nó vẫn phải được tiến hành theo cách mà nó vốn có
Thay đổi về sính lễ
Không chỉ cắt bỏ một số thủ tục tổ chức cưới hỏi, ngay cả đồ sính lễ trong đám
cưới cũng được đơn giản hoá đi rất nhiều Sự thay đổi này theo ý kiến của đại đa số
Trang 10người dân là “tiến bộ hơn” và “hiện đại hơn” Một trong những nguyên nhân dẫn đến
sự thay đổi này là do nhà gái hiểu rõ đây là một gánh nặng cho con gái mình sau này,
nếu đòi hỏi quá khả năng đáp ứng của nhà trai thì không ai khác con gái họ sẽ phải là
người chịu trả nợ (báo ứng) Đây là một minh chứng tiêu biểu cho lý thuyết trao đổi
của Homans, con người, ở đây là gia đình nhà gái, đã biết tính toán, lường trước được
thưởng/ phạt sẽ nhận được khi quyết định đưa ra hành động cụ thể
Thay đổi về hình thức tổ chức đám cưới
Hình thức tổ chức đám cưới trong xã hội Việt Nam hiện đại có sự thay đổi
đáng kể so với thời kỳ trước Nơi diễn ra đám cưới nếu như trước đây chỉ được phép
trong phạm vi nhà riêng, thì nay địa điểm đã mở rộng ra ở các khách sạn hoặc hội
trường lớn Khi đến dự đám cưới, khách mời thường mang theo quà cưới mừng cô
dâu, chú rể, có thể là phong bì tiền hoặc những vật dụng trong gia đình Lễ cưới ngày
nay đã gói gọn lại chỉ trong một ngày, vào buổi trưa hoặc chiều tối.Buổi sáng hay
buổi trưa, nhà trai và nhà gái mới khách đến dự một bữa cơm thân mật tại nhà.Buổi
chiều, nhà trai đến nhà gái xin dâu vào một giờ tốt đã được lựa chọn cẩn thận từ trước,
rồi cô dâu chú rể lễ tổ tiên.Tiếp đó, tất cả mọi người đến hội trường – nơi tổ chức bữa
tiệc ngọt, hoặc đến một nhà hàng hay khách sạn lớn để ăn tiệc mặn Ngày nay, tiệc
mặn là hình thức tổ chức chủ yếu trong đám cưới, ở thành thị, đặc biệt, tiệc mặn được
nấu nướng và bày biện theo phong cách rất tây, vẫn đủ mười món nhưng lại gọn nhẹ,
đơn giản Người thành thị giờ đây đi ăn cưới chủ yếu là mừng cho cô dâu chú rể, chứ
không còn quan trọng chuyện ăn uống như ngày xưa, vì vậy mà bàn tiệc cưới đã phần
nào giản tiện đi khá nhiều Theo thống kê được lấy từ đề tài nghiên cứu Những biến
đổi phong tục và nghi lễ liên quan đến việc cưới hỏi ở Hà Nội, tiệc mặn là hình
thức chiếm tỷ lệ lớn nhất, trên 80% trong các nhóm được hỏi Tiệc ngọt chiếm tỷ lệ
rất nhỏ, cao nhất là 22,9% ở những người tái hôn ở độ tuổi 60 trở lên.Ngoài ra, các
hình thức khác như trà thuốc, báo hỷ hầu như không diễn ra Sự khác biệt rõ rệt nhất
trong việc tổ chức đám cưới theo các hình thức này vẫn là ở các nhóm tuổi, những
người 40 tuổi trở xuống có tỷ lệ tổ chức tiệc mặn cao nhất (96,8%), giảm dần ở các
nhóm tuổi khác
Bảng 5: Hình thức tổ chức đám cưới
Các nhóm xã hội Tiệc mặn Tiệc ngọt Trà thuốc Báo hỷ Chỉ đăng kí kết hôn
Khu vực
cư trú
Giáp nội
Xa nội thành 89,1 5,0 5,5 0,2 0
Độ tuổi
41 – 50 tuổi 96,2 6,0 3,0 0,3 0,5
61 tuổi trở
Năm kết
hôn