1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Xây dựng nội dung chương trình và thực hiện kế hoạch giảng dạy một số chuyên đề lịch sử địa phương thanh hóa ở trường THPT như thanh

37 477 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁTRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NHƯ THANH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 12 MỘT SỐ DẠNG ĐỀ THƯỜNG GẶP TRONG ÔN THI ĐẠI HỌC, HỌC SINH GIỎI MÔN LỊC

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NHƯ THANH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 12 MỘT SỐ DẠNG ĐỀ THƯỜNG GẶP TRONG ÔN THI ĐẠI HỌC, HỌC SINH

GIỎI MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT

Người thực hiện: Nguyễn Xuân Tịnh Chức vụ: Giáo viên

Đơn vị công tác: Trường THPT Như Thanh SKKN thuộc môn: Lịch sử

NHƯ THANH, NĂM HỌC 2014 - 2

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT NHƯ THANH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

XÂY DỰNG NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH VÀ THỰC HIỆN

KẾ HOẠCH GIẢNG DẠY MỘT SỐ CHUYÊN ĐỀ LỊCH SỬ ĐỊA PHƯƠNG THANH HÓA Ở TRƯỜNG THPT NHƯ

Trang 2

MỤC LỤC

3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vần đề 3

3.1 Xây dựng chuyên đề số 1: Thanh Hóa trong tiến trình lịch sử dân tộc 3 3.2 Xây dựng chuyên đề số 2: Một số di tích khảo cổ học - di tích lịch sử -

3.3 Xây dựng chuyên đề số 3: Một số thắng cảnh lịch sử tiêu biểu của

3.4 Xây dựng chuyên đề số 4: Văn hóa xứ Thanh 24

3.5 Xây dựng chuyên đề số 5: Tìm hiểu một số làng nghề thủ công truyền

Trang 3

I MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Lịch sử địa phương là một bộ phận hữu cơ cấu thành lịch sử dân tộc, làđối tượng nghiên cứu của khoa học lịch sử Lịch sử địa phương có mối quan hệmang tính chất đặc trưng giữa cái chung và cái riêng, giữa tính đặc thù và cáiphổ biến Việc dạy - học lịch sử địa phương ở trường THPT có ý nghĩa to lớnđối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách của người học Từ nhữnghiểu biết về kiến thức lịch sử địa phương giúp học sinh hiểu biết sâu sắc hơn vềquê hương, xứ sở, nơi chôn nhau cắt rốn của mình, tự hào về truyền thống vănhóa, lịch sử địa phương

Mặc dù bộ môn Lịch sử nói chung, lịch sử địa phương nói riêng có vai tròquan trọng trong việc giáo dục học sinh lòng yêu quê hương, đất nước, ý thức tựhào dân tộc Nhưng trong thực tiễn nhiều năm qua việc dạy và học lịch sử địaphương Thanh Hóa ở các trường THPT trên địa bàn toàn tỉnh chưa thực sự đượcquan tâm Chính bởi vậy mà sau khi học hết cấp THPT, hầu như học sinh chưahiểu biết nhiều về lịch sử địa phương, nơi mình đã sinh ra, lớn lên và trưởngthành Điều đó đã phản ánh một thực tế việc dạy - học lịch sử địa phương ởtrường THPT hiện nay chưa thực sự được các cấp, các ngành và ngay cả giáoviên bộ môn Lịch sử quan tâm, đầu tư đúng mức

Trong quá trình thực hiện chương trình dạy học lịch sử địa phương ởtrường THPT hiện nay, một khó khăn và trở ngại lớn đối với giáo viên là nguồntài liệu dạy học theo chuẩn kiến thức còn thiếu (đúng hơn là chưa có) Mặc dù

Sở Giáo dục và Đào tạo đã phân bố tiết dạy học lịch sử địa phương cho từngkhối lớp ở trường THPT nhưng lại chưa xây dựng được khung chương trình vànội dung giảng dạy cụ thể khiến cho việc triển khai và thực hiện của giáo viêncòn lúng túng, bị động Không ít giáo viên khi hỏi về kiến thức lịch sử địaphương thì lắc đầu trả lời “không rõ lắm, mình đâu có biết, hầu như khôngdạy ”

Là một giáo viên đã nhiều năm giảng dạy bộ môn Lịch sử ở trườngTHPT, tôi thiết nghĩ cần phải khắc phục những bất cập nói trên để nâng cao chấtlượng dạy - học chương trình lịch sử địa phương ở trường THPT sao cho có hiệuqủa Bên cạnh việc thực hiện nghiêm túc, có chất lượng các tiết dạy học lịch sửđịa phương theo đúng qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, yêu cầugiáo viên phải thay đổi mạnh mẽ hơn nữa một số vấn đề cơ bản trong quá trìnhthực hiện như: đổi mới hình thức và phương pháp giảng dạy, xây dựng nội dungchương trình sao cho phù hợp với đối tượng học sinh nhằm truyền tải đầy đủnhững nét cơ bản về điều kiện tự nhiên, lịch sử, truyền thống văn hóa, con người

xứ Thanh

Xuất phát từ thực trạng trên, những năm qua trong quá trình giảng dạylịch sử địa phương ở trường THPT Như Thanh, tôi luôn trăn trở, suy nghĩ làm

Trang 4

thế nào để xây dựng được một số chuyên đề dạy học lịch sử địa phương sao chophù hợp với đối tượng học sinh của nhà trường, nhằm nâng cao hiệu quả bàihọc, giúp cho giáo viên và học sinh có sự nhìn nhận, hiểu biết, đánh giá mộtcách toàn diện, sâu sắc, khách quan về lịch sử Thanh Hóa - mảnh đất “Địa linhnhân kiệt”.

3 Đối tượng nghiên cứu

Với phạm vi SKKN“Xây dựng nội dung chương trình và thực hiện kế

hoạch giảng dạy một số chuyên đề lịch sử địa phương Thanh Hóa ở trường THPT Như Thanh” Đối tượng mà tôi nghiên cứu là tìm hiểu về lịch sử địa phương

Thanh Hóa

Đối tượng tôi áp dụng cho đề tài SKKN là học sinh trường THPT Như Thanh

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện và hoàn thành SKKN này, tôi đã thực hiện các phương phápnghiên cứu như sau:

+ Thu thập các nguồn tư liệu lịch sử địa phương Thanh Hóa để biên soạn,xây dựng một số chuyên đề dạy học lịch sử địa phương ở trường THPT hiệnnay

+ Trao đổi, học hỏi kinh nghiệm của đồng nghiệp trong quá trình soạngiảng các tiết dạy học lịch sử địa phương

+ Nghiên cứu các tài liệu lí luận dạy học lịch sử địa phương ở trường THPT để rútkinh nghiệm trong quá trình soạn giảng và thực hiện bài học lịch sử

II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

1 Cơ sở lí luận

Để xác định được mục đích, yêu cầu của việc dạy và học lịch sử địaphương trước hết chúng ta cần tìm hiểu khái niệm “lịch sử địa phương” Muốnhiểu đúng khái niệm “Lịch sử địa phương” trước hết chúng ta cần hiểu thuật ngữ

“địa phương” Địa phương là những vùng đất nhất định nằm trong một quốc gia,

có sắc thái và đặc thù riêng về lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán, Đây chính

là những nét cơ bản để phân biệt giữa địa phương này với địa phương khác Địaphương hiểu theo nghĩa cụ thể là những đơn vị hành chính của một quốc gia, đó

là các tỉnh, thành phố, huyện, xã, thôn, bản, làng,

Vì vậy, tri thức lịch sử địa phương là sự biểu hiện cụ thể, sinh động, đadạng của lịch sử dân tộc Lịch sử địa phương là một bộ phận cấu thành của lịch

sử dân tộc Chúng ta đều biết bất cứ một sự kiện, hiện tượng lịch sử nào đã diễn

ra trong quá khứ đều mang tính chất địa phương Chính bởi vậy, cùng với việc

Trang 5

truyền tải kiến thức lịch sử dân tộc, thế giới; bộ môn Lịch sử ở trường THPTcòn có tránh nhiệm trang bị cho học sinh hiểu biết những tri thức lịch sử của quêhương, xứ sở nơi mình đã sinh ra, lớn lên và trưởng thành Qua đó giúp học sinhhiểu được mối quan hệ hữu cơ giữa lịch sử địa phương với lịch sử dân tộc Từthực tiễn đó, giáo viên và học sinh sẽ thấy rõ sự phát triển đa dạng, sinh động,thú vị của lịch sử địa phương, thấy được những nét độc đáo, riêng biệt mang tínhchất đặc thù của lịch sử Thanh Hóa.

2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu

Lịch sử địa phương là một phần kiến thức không thể thiếu trong chươngtrình dạy - học lịch sử ở trường THPT hiện nay Những hiểu biết về kiến thứclịch sử địa phương sẽ có vai trò rất quan trọng đối với việc hình thành tri thứclịch sử truyền thống của mỗi vùng, miền, địa phương cụ thể Tuy nhiên, mộtthực tế hiện nay việc dạy - học lịch sử địa phương ở trường THPT còn mangtính hình thức đối phó, chưa thực sự được giáo viên và học sinh quan tâm đúngmức Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là vì:

Lịch sử địa phương mặc dù có dạy và học ở trường THPT nhưng lạikhông có trong nội dung thi cử Chính bởi vậy nên giáo viên còn xem nhẹ, họcsinh chưa thực sự chú ý đến việc học Mặt khác, công tác soạn giảng các tiết dạyhọc lịch sử địa phương của giáo viên chỉ mang tính hình thức, chưa được chútrọng đầu tư về mặt nội dung Nguồn tài liệu phục vụ cho việc giảng dạy cònthiếu (hầu như chưa có) Trong quá trình soạn giảng những tiết học lịch sử địaphương, về mặt nội dung hầu như chỉ do giáo viên tự thiết kế, chưa có tài liệuchuẩn và mang tính thống nhất trong toàn tỉnh

Xuất phát từ thực tế đó, trong thời gian qua, bản thân tôi với vai trò củamột giáo viên, bằng kinh nghiệm thực tiễn; tôi đã tự tìm tòi, nghiên cứu tài liệu,trao đổi, học hỏi đồng nghiệp để xây dựng một số chuyên đề lịch sử địa phươngThanh Hóa để giảng dạy ở trường THPT nhằm nâng cao hiệu quả bài học, gâyhứng thú cho học sinh, giúp các em hiểu biết đầy đủ, sâu sắc, toàn diện hơn vềquê hương xứ Thanh

3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vần đề

3.1 Xây dựng chuyên đề số 1: Thanh Hóa trong tiến trình lịch sử dân tộc

Xứ Thanh là một cách gọi dân gian chỉ tỉnh Thanh Hóa, là một thực thểđịa lý tự nhiên và văn hóa, khiến Pierre Pasquier - viên Toàn quyền ĐôngDương người Pháp trước kia coi Thanh Hóa không chỉ là một tỉnh mà là một xứ(Pays) Cái nhìn địa - văn hóa này đã được ông cha ta từ xa xưa thấu tỏ Dù trảiqua bao triều đại, bao cuộc sát nhập và phân chia thì xứ Thanh vẫn là xứ Thanh,Thanh Hóa vẫn là Thanh Hóa

3.1.1 Thanh Hóa thời Tiển sử

Thanh Hóa là vùng đất cổ trên lãnh thổ Việt Nam có từ lâu đời Ngay từthời tiền sử, vùng đất này đã có con người sinh sống Theo tài liệu nghiên cứucủa các nhà khảo cổ học trong và ngoài nước, đã phát hiện được dấu tích củaNgười tối cổ xuất hiện và sinh sống ở nơi đây như: Núi Đọ (Thiệu Khánh -ThiệuHóa); núi Nuông, núi Quang Yên (Yên Định); hang núi Một (Cẩm Thủy); mái

Trang 6

đá Điều, mái đá Nước, hang Anh Rồ (Bá Thước); hang Con Moong (ThạchThành); di chỉ Đa Bút (Vĩnh Lộc), Tại các di chỉ khảo cổ học này, người ta đãphát hiện được các công cụ lao động của Người tối cổ được làm bằng đá, xương,sừng, đồ gốm, vết tích của chài lưới,

Với những phát hiện khảo cổ học nói trên đã chứng tỏ một điều rằng: trảiqua hàng chục vạn năm, Người tối cổ đã xuất hiện và sinh sống trên địa bànThanh Hóa Sự hình thành và phát triển của người nguyên thủy và tổ chức xãhội sơ khai ở đây gắn liền với các nền văn hóa cổ xưa trên lãnh thổ Việt Nam là:văn hóa Sơn Vi, Hòa Bình, Bắc Sơn, Hoa Lộc Đến thời kỳ văn hóa Đông Sơn,

cư dân ở đây đã bước vào thời đại kim khí

3.1.2 Thanh Hóa thời Sơ sử

Thời kỳ sơ sử ở nước ta gắn liền với sự ra đời và phát triển của nhà nướcVăn Lang - Âu Lạc (từ thế kỉ VII đến thế kỷ II TCN) Cơ sở hình thành nhànước Văn Lang - Âu Lạc của người Việt cổ gắn liền với nền văn hóa Đông Sơn

Văn hóa Đông Sơn tập trung đậm đặc nhất ở khu vực Đồng bằng Bắc Bộ,Bắc Trung Bộ Di chỉ khảo cổ học tại làng cổ Đông Sơn thuộc phường HàmRồng (T.P Thanh Hóa) đã cho thấy, vào giai đoạn này, nghề đúc đồng ở nước tanói chung, ở Thanh Hóa nói riêng đã đạt đến đỉnh cao Ngoài công cụ đồ đồng,

cư dân người Việt cổ đã bước đầu phát triển nghề luyện sắt, nghề nông nghiệptrồng lúa nước Tại các di chỉ khảo cổ học ở Thanh Hóa thời kì này đã cho thấy,địa bàn phân bố của cư dân ở đây khá rộng từ vùng núi, trung du đến các huyệnđồng bằng ven biển Như vậy, văn hóa Đông Sơn đã góp phần xứng đáng là một

bộ phận hữu cơ không thể tách rời của nhà nước Văn Lang-Âu Lạc Thời đạiHùng Vương, Thanh Hóa thuộc bộ Cửu Chân

3.1.3.Thanh Hóa thời Bắc thuộc

Sau khi chiếm được Âu Lạc, năm 179 TCN, Triệu Đà chia nước ta thànhhai quận Giao Chỉ và Cửu Chân Thanh Hóa thuộc quận Cửu Chân Dưới ách ápbức bóc lột của nhà Triệu, âm mưu của phong kiến phương Bắc muốn biến nước

ta thành quận, huyện để sát nhập vào Trung Quốc Năm 111TCN, nhà Hán đánhbại Triệu Đà, đô hộ nước ta Trước thời Hán, Thanh Hóa thuộc quận Cửu Chân.Thời Hán, quận Cửu Chân thuộc bộ Giao Chỉ Thời nhà Lương đổi Cửu Chânthành Ái Châu

Suốt thời kỳ Bắc thuộc, cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Thanh Hóachịu sự bóc lột, vơ vét tàn bạo và chính sách đồng hóa, đàn áp của các triều đạiphong kiến phương Bắc Âm mưu của chính quyền đô hộ phong kiến phươngBắc muốn biến nước ta thành quận, huyện của chúng, biến dân tộc Việt thànhdân tộc Hán, biến người Việt thành người Hán Tiêu biểu cho cuộc kháng chiếnchống lại chính sánh đô hộ của phong kiến phương Bắc của nhân dân ThanhHóa thời Bắc thuộc là cuộc khởi nghĩa Bà Triệu, năm 248

Dưới ách áp bức bóc lột và đồng hóa của các chính quyền phong kiếnphương Bắc Nhân dân ta nói chung, nhân dân Thanh Hóa nói riêng đã vùng dậyđấu tranh để bảo vệ nền độc lập

Trang 7

Vào giữa thế kỉ thứ III sau CN, dưới ách thống trị và đô hộ của nhà Ngô,

ở Thanh Hóa đã nổ ra cuộc khởi nghĩa Bà Triệu Quê bà ở vùng núi Quân Yên,

xã Định Công (Yên Định) Bà là người phụ nữ có chí khí hơn người, có hoài bãođánh giặc ngoại xâm giành lại độc lập cho đất nước Đêm đêm bà thường cùnganh trai là Triệu Quốc Đạt vào rừng tập luyện quân sĩ, chuẩn bị khởi nghĩa Mến

mộ Bà, nghĩa quân ngày đêm mài gươm luyện võ, chờ ngày nổi dậy Trong dângian hiện nay vẫn còn những lời ca ngợi về bà:

“Ru con con ngủ cho lành

Để mẹ gánh nước rửa bành cho voiMuốn coi lên núi mà coiCoi Bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng”

Khi vừa tròn 19 tuổi, Triệu Thị Trinh cùng anh trai hô hào nhân dân trongvùng nổi dậy, lập căn cứ Phú Điền (Hậu Lộc - Thanh Hóa) Đây là một thunglũng ở giữa hai núi đá vôi, vừa gần biển, vừa là địa điểm quan trọng từ Giao Chỉvào Cửu Chân Năm Mậu Thìn (248), một cuộc khởi nghĩa lớn của nhân dânCửu Chân đã bùng nổ chống lại ách áp bức bóc lột của nhà nhà Ngô Lãnh đạocuộc khởi nghĩa là Bà Triệu (tức Triệu Thị Trinh) cùng anh trai là Triệu QuốcĐạt Cuộc khởi nghĩa được dân chúng “Cửu Chân” hưởng ứng nhiệt liệt vànhanh chóng lan tỏa ra quận Giao Chỉ Nghĩa quân chiến đấu liên tiếp nhiềutrận, thế lực ngày càng mạnh, số quân tham gia có tới hàng vạn người Cácthành ốc của nhà Ngô ở đây mau chóng bị tan vỡ, quan lại đô hộ bỏ chốn hoặc

bị bắt, Thứ sử Giao Châu hoảng sợ phải bỏ chạy mất tích Sử sách của nhà Ngôphải thú nhận rằng: “Toàn thể Giao Châu chấn động”

Vua Ngô hốt hoảng phải đưa Lục Dận, một tướng đã từng kinh qua trậnmạc, lại rất quỷ quyệt sang làm Thứ sử Giao Châu Lục Dận đem thêm 8.000quân tinh nhuệ sang đàn áp Lục Dận vừa đánh, vừa đem của cải, chức tước ra

dụ dỗ, mua chuộc các thủ lĩnh người Việt Triệu Thị Trinh vẫn kiên cường chiếnđấu với giặc Ngô Cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt với khoảng 30 trận đánh ởkhu vực Thanh Hóa Anh trai bà là Triệu Quốc Đạt đã anh dũng hy sinh TriệuThị Trinh thay anh chỉ huy nghĩa quân chiến đấu Song, do tương quan lựclượng quá chênh lệch, lực lượng nghĩa quân bị tiêu diệt dần, liệu thế khôngchiến đấu nổi, bà đã hy sinh trên núi Tùng - Hậu Lộc

Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhưng đã khẳng định tinh thần yêu nước, bấtkhuất sáng ngời của nhân dân Thanh Hóa trong cuộc đấu tranh chống lại chínhsách đô hộ và đồng hóa nước ta của phong kiến phương Bắc

“Tùng Sơn nắng quyện mây trời

Dấu chân Bà Triệu rạng ngời sử xanh”

Sử sách đã ghi lại rằng: Mỗi lần chỉ huy quân ra trận, Bà Triệu thườngmặc áo giáp vàng, cài trâm vàng, đi guốc ngà, cưỡi voi dẫn quân xông trận, oaiphong lẫm liệt Quân Ngô kinh hoàng, bạt vía đã phải thốt lên rằng:

“Vung giáo chống hổ dễGiáp mặt vua Bà khó”

Trang 8

Bà còn nói lời khí phách nổi tiếng: “Ta chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp

bằng sóng dữ, chém cá kình biển đông, đánh đuổi giặc Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chớ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp ”.

3.1.4.Thanh Hóa trong thời kỳ Độc lập tự chủ (từ năm 905 đến 1858)

Bắt đầu từ thời kỳ độc lập tự chủ (từ năm 905 đến 1858), Thanh Hóa vẫnthuộc Ái Châu Đến thời nhà Lý đổi thành phủ Thanh Hóa, danh xưng ThanhHóa bắt đầu có từ đó (Thanh: trong sáng; Hóa: biến hóa) Sau này, trải qua cáctriều đại, có lúc Thanh Hóa được gọi là phủ, trấn, lộ, trại, thừa tuyên Thậm chícái tên Thanh Hóa có từ thời nhà Lý cũng có lúc đổi thành Thanh Đô, Tây Đô,Thanh Hóa Năm 1802 gọi là trấn Thanh Hóa Năm 1831 trấn Thanh Hóa đượcđổi thành Tỉnh, bắt đầu gọi là Tỉnh Thanh Hóa Năm 1841 lại đổi thành TỉnhThanh Hóa

3.1.4.1 Dương Đình Nghệ thay họ Khúc khôi phục quyền tự chủ vào thế kỉ thứ X

Tháng 10 năm 930, nhà Nam Hán phát quân xâm lược nước ta Quân độicủa Khúc Thừa Mỹ nhanh chóng tan vỡ Khúc Thừa Mỹ bị bắt đem về QuảngChâu Quân Nam Hán sau khi tiến vào nước ta đã nhanh chóng chiếm Đại La(Hà Nội) nhưng chưa lập được bộ máy chính quyền cai trị Các địa phương ởnước ta lúc bấy giờ chính quyền vẫn do các hào trưởng và tướng lĩnh của họKhúc cai quản

Không đầy nửa năm sau cuộc xâm lược của Nam Hán Tháng 3, năm 931.Dương Đình Nghệ, một tướng cũ của Khúc Thừa Dụ đem quân từ Ái Châu(Thanh Hóa) tiến quân ra Giao Châu bao vây và tiến công thành Đại La, sàohuyệt của quân giặc Vua Nam Hán sai Trình Bảo đem quân cứu viện Nhưngquân cứu viện chưa kịp đến, thì thành đã bị hạ Tướng giặc giữ thành là Lý Tiếnchạy thoát thân về nước Ông lại đem quân đánh tan viện quân, giết Trình Bảongay tại trận Đất nước được giải phóng Vua Nam Hán vô cùng tức giận, nênkhi Lý Tiến vừa về đến Quảng Châu đã bị giết ngay

Cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán kết thúc thắng lợi, mọi người suytôn Dương Đình Nghệ lên làm Tiết độ sứ Ông tiếp tục thi hành chính sách cảicách của họ Khúc, thực hiện chính sự với khoan dung, giản dị để nhân dân vui

vẻ làm ăn Chính sách cai trị của Dương Đình Nghệ đã góp phần quan trọng xâydựng đất nước phát triển vững mạnh Làm Tiết độ sứ được 6 năm, ông bị ngườinha tướng là Kiều Công Tiễn giết hại để đoạt chức Tiết độ sứ Cả nước phẫn nộ

Từ Ái Châu, Ngô Quyền, một tướng cũ của Dương Đình Nghệ đã đem quân raĐại La giết tên phản bội Kiều Công Tiễn

Ở Làng Giàng, xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa (nay thuộc T.P ThanhHóa) quê hương của Dương Đình Nghệ hiện nay vẫn còn đền thờ ông Đền thờông được xây dựng ngay bên bờ đê Sông Mã, phong cảnh rất đẹp và hữu tình.Ngày mồng 5, tháng Chạp hàng năm ở đây có lễ tế tổ Người làng Giàng tônDương Đình Nghệ là ông tổ của làng

3.1.4.2 Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ở Thanh Hóa ( thế kỉ XV)

Trang 9

Đầu thế kỉ XV, nhà Minh xâm lược nước ta Quân dân Đại Việt dưới sựchỉ huy và lãnh đạo của Hồ Quý Ly đã tiến hành cuộc kháng chiến chống quânMinh, nhưng thất bại Năm 1407, Đại Việt rơi vào ách đô hộ nghiệt ngã, tàn bạocủa giặc Minh Hàng loạt cuộc khởi nghĩa chống quân Minh của nhân dân cảnước diễn ra sôi nổi Tiểu biểu nhất trong cuộc kháng chiến chống quân Minhđầu thế kỉ XV ở nước ta là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.

Lam Sơn (Thọ Xuân - Thanh Hóa) lúc bấy giờ theo tên Nôm là "làngCham" thuộc huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa Lam Sơn là quê hương củangười anh hùng Lê Lợi và là căn cứ buổi đầu của cuộc kháng chiến chống quânMinh đầy gian khổ

Năm 1416, Lê Lợi và 18 người đã tổ chức Hội thề Lũng Nhai ở làng Mé,cách Lam Sơn 10 km Những người tham gia Hội thề đã nêu cao quyết tâm đoànkết đánh giặc Minh Đầu năm 1418, Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, tự xưng là

“Bình Định Vương”, truyền “Hịch” kêu gọi nhân dân đứng lên cứu nước

Lê Lợi cùng nghĩa quân đã chiến đấu ở Thanh Hóa 6 năm Trong 6 nămđầy gian khó ấy đã diễn ra ở đây các trận đánh lớn giữa ta và quân Minh như:Lam Sơn, Mường Một (Thường Xuân); Mường Chính, Bến Bổng (vùng thượng

du sông Âm); Ba Lẫm, Kình Động, Úng Ải, Sách Khôi (Bá Thước); Đa Càng(Thọ Xuân) Mùa Đông năm 1424, Lê Lợi tiến quân vào Nghệ An theo kế sáchcủa Nguyễn Chích

Như vậy, Thanh Hóa là địa bàn hoạt động đầu tiên của nghĩa quân LamSơn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược Địa bàn này đã diễn ranhiều trận chiến đấu quyết liệt giữa quân ta với giặc Minh Tuy nhiên, với tàinăng, uy tín của người đứng đầu là Lê Lợi và lòng yêu nước của nhân dânThanh Hóa đã đưa cuộc khởi nghĩa vượt qua thời kỳ đầu đầy gian khó, củng cốcăn cứ địa, không cho giặc đàn áp, dập tắt cuộc khởi nghĩa của quân ta

Vượt qua thời kỳ đầu chiến đấu gian khổ, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bướcsang giai đoạn 2 (từ 10/1424 đến 8/1425) Thực hiện kế hoạch của NguyễnChích phá vỡ thế bao vây của quân địch, tấn công mở rộng địa bàn hoạt độngxuống Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa và giành được nhiều thắng lợi ở các trận

Bồ Đằng, Trà Lân

Giai đoạn 3 (từ 1426 đến 1427), nghĩa quân Lam Sơn đã chủ động tấncông ra Bắc, tiêu diệt quân giặc và giành được nhiều thắng lợi vang dội ở cáctrận như: Tốt Động, Trúc Động, Chi Lăng - Xương Giang… Cuộc kháng chiếnchống giặc Minh của quân và dân ta sau mười năm trường kì gian khổ đến đây

đã giành được thắng lợi

Thanh Hóa là nơi diễn ra giai đoạn đầu tiên của cuộc khởi nghĩa LamSơn, thời gian kéo dài và gian khổ nhất Nhưng dưới sự chỉ huy và lãnh đạo tài

ba của Lê Lợi và nhiều tướng giỏi như: Lê Lai, Nguyễn Chích,… được sự ủng

hộ nhiệt tình của quân dân Thanh Hóa đã tạo tiền đề quan trọng cho cuộc khángchiến chống quân Minh giành thắng lợi ở những giai đoạn sau

3.1.5 Thanh Hóa trong phong trào Cần vương

Trang 10

Giữa thế kỉ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam dưới Vương triều nhàNguyễn đã lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng Nhân cơ hội đó, tưbản Pháp đã thực hiện kế hoạch xâm lược nước ta, nhằm biến Việt Nam trởthành thuộc địa của Pháp Ngày 1/9/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã đổ

bộ lên bán đảo Sơn Trà - Đà Nẵng, mở đầu cho cuộc xâm lược nước ta Với ưuthế mạnh hơn ta về mọi mặt của một nước tư bản đang trên đà phát triển, saugần 30 năm xâm lược, tư bản Pháp đã biến nước ta từ một nước phong kiến độclập trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến vào cuối thế kỉ XIX

Trước thái độ nhu nhược, đầu hàng thực dân Pháp của nhà Nguyễn.Phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ trongkhắp cả nước kéo dài suốt nửa sau thế kỉ XIX, tiêu biểu là phong trào Cầnvương Sau cuộc nổi dậy không thành của phái chủ chiến do Tôn Thất Thuyếtchỉ huy Ngày 13/7/1885, vua Hàm Nghi xuống chiếu Cần vương, kêu gọi vănthân, sĩ phu và nhân dân cả nước đứng lên vì vua mà kháng chiến

Hưởng ứng chiếu Cần vương, quân và dân Thanh Hóa đã vùng dậy đấutranh chống thực dân Pháp ngay từ những ngày đầu Nhiều cuộc khởi nghĩa vũtrang chống Pháp diễn ra ở đây vào cuối thế kỉ XIX gây cho quân Pháp nhiềukhó khăn và bị tổn thất nặng nề

3.1.5.1 Cuộc khởi nghĩa Ba Đình (1886-1887)

Cuộc khởi nghĩa Ba Đình đặt dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tráng,Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt và một số tướng lĩnh khác Căn cứ Ba Đình cáchhuyện lỵ Nga Sơn 4 km Phía Tây Bắc giáp huyện Hà Trung, được xây dựngtrên địa bàn 3 làng: Thượng Thọ, Mậu Thịnh và Mỹ Khê (Nga Sơn) Chungquanh căn cứ 3 làng là một lũy tre dày đặc Vào mùa mưa, căn cứ này trôngnhư một hòn đảo nổi giữa cánh đồng nước mênh mông, tách biệt với các làngkhác trong khu vực

Căn cứ này được gọi là Ba Đình vì ở mỗi làng có một cái đình Từ làngnày có thể nhìn thấy đình của hai làng kia Để chuẩn bị chiến đấu lâu dài, ĐinhCông Tráng đã cho xây dựng một hệ thống hào rộng, cắm đầy chông tre baobọc Ở trong là một lớp thành đất cao 3m, chân rộng từ 8 đến 10m Trên mặtthành, nghĩa quân đặt các rọ tre chứa đất nhão, rơm xếp vững chắc có những khe

hở làm lỗ châu mai sẵn sàng chiến đấu Thành rộng 400m, dài 1.200m Phíatrong thành có hệ thống giao thông hào dùng để vận chuyển lương thực và vậnđộng khi chiến đấu Tại các nơi xung yếu đều có công sự vững chắc Các hầmchiến đấu được xây dựng theo hình chữ “Chi” nhằm hạn chế thương vong Ởmỗi làng, tại vị trí ngôi đình được xây dựng một đồn đóng quân Thượng Thọ cóđồn Thượng, Mậu Thịnh có đồn Trung, Mỹ Khê có đồn Hạ Ba đồn này có thể

hỗ trợ tác chiến cho nhau khi bị tấn công, đồng thời cũng có thể chiến đấu độclập

Có thể nói rằng, căn cứ Ba Đình có vị trí tiêu biểu nhất, là một chiếntuyến phòng ngự quy mô nhất trong phong trào Cần vương cuối thế kỷ XIX.Ngoài Ba Đình còn có các căn cứ hỗ trợ như: căn cứ Phi Lai của Cao Điển, căn

cứ Quảng Hóa của Trần Xuân Soạn, căn cứ Mã Cao của Hà Văn Mao

Trang 11

Lực lượng nghĩa quân Ba Đình gồm khoảng 300 người, tuyển từ ba làng

và các vùng khác ở Thanh Hóa bao gồm cả người Kinh, Thái, Mường Nghĩaquân có 10 toán Về vũ khí, nghĩa quân tự trang bị bằng súng hỏa mai, giáo,mác, cung, nỏ, Nghĩa quân của Đinh Công Tráng đã đánh nhiều trận giànhthắng lợi Năm 1886, nghĩa quân liên tiếp tấn công các phủ, thành, huyện lỵ,chặn đánh các đoàn xe, các toán quân lẻ, gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại.Ngày 12/3/1886, lợi dụng phiên chợ, nghĩa quân đã tấn công Tòa Công sứThanh Hóa

Từ ngày 18/12/1886 đến ngày 20/1/1887, quân Pháp đã điều 76 sĩ quan và3.500 quân vây hãm rồi tiến đánh Ba Đình Quân Pháp đã nã tới 16.000 quả đạibác trong vòng một ngày trời, biến căn cứ Ba Đình thành biển lửa Nghĩa quân

Ba Đình đã chiến đấu trong suốt 32 ngày đêm chống lại kẻ thù đông gấp 12 lần,được trang bị vũ khí tối tân, hiện đại Trong những trận chiến đấu vô cùng ác liệtnày, nghĩa quân đã mưu trí, dũng cảm, bám trụ từng tấc đất, đập tan nhiều cuộctấn công, gây tổn thất nặng nề cho quân đội Pháp, làm chấn động tinh thần binhlính Pháp ở Việt Nam, là nổi lo sợ cho bọn Pháp ở chính quốc

Tuy nhiên, vì lực lượng quá nhỏ, không thể đương đầu với quân đội Phápvừa đông, vừa mạnh nên lực lượng của nghĩa quân Ba Đình bị thương vong rấtnhiều Để tránh khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn, nghĩa quân Ba Đình đã mở conđường máu vượt qua vòng vây dày đặc của quân Pháp, rút lên căn cứ Mã Caonhằm củng cố lực lượng và chuẩn bị cho cuộc chiến đấu mới

Đến sáng ngày 21/1/1887, quân Pháp mới chiếm được Ba Đình Sau đó,quân Pháp đã triệt hạ hoàn toàn căn cứ này, chúng tiếp tục cho quân truy kíchnghĩa quân ở Mã Cao, Thung Voi, Thung Khoai và cuối cùng là tận miền TâyThanh Hóa nơi đóng quân của Cầm Bá Thước Các thủ lĩnh như: Nguyễn Khế,Hoàng Bật Đạt đã hi sinh; Phạm Bành, Hà Văn Mao, Lê Toại tự sát; Đinh CôngTráng chạy về Nghệ An, quân Pháp treo giải “cái đầu ông” với trị giá tiềnthưởng rất cao Mùa hè năm 1887, vì tham tiền nên viên Lý trưởng làng Chính

An đã mật báo cho quân Pháp đến bắt và sát hại Đinh Công Tráng Cuộc khởinghĩa Ba Đình và lãnh tụ Đinh Công Tráng được lịch sử đánh giá rất cao, nó thểhiện lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu bất khuất của nhân dân Thanh Hóatrong Phong trào Cần vương chống Pháp cuối thế kỉ XIX

Chính người Pháp đã phải thừa nhận rằng: “1886 - 1887, cuộc công hãm

Ba Đình là quan trọng nhất, cuộc chiến đấu này thu hút nhiều quân lực nhất vàlàm cho các cấp chỉ huy lo ngại nhiều nhất”

3.1.5.2 Cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1885-1892)

Hùng Lĩnh nay thuộc xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Lộc Trung tâm căn cứ làcác ngọn núi Cù Mông, Đa Bút của dãy Hùng Lĩnh Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa làTống Duy Tân, quê ở Đông Biện (nay là Bồng Trung, xã Vĩnh Tân, Vĩnh Lộc).Ông vốn là người họ Nguyễn ở Tống Sơn (Hà Trung) nhưng sau đổi thành họTống Khi triều đình Huế ký hiệp ước đầu hàng thực dân Pháp, để giữ chọn khítiết và thanh danh, ông từ quan về quê dạy học và bí mật chuẩn bị kháng chiến,

tổ chức phục kích tiêu diệt giặc

Trang 12

Trong hai ngày 8/11/1885 và ngày 22/12/1885, nghĩa quân đã đánh trả haicuộc tấn công của Pháp, tiêu diệt và làm bị thương nhiều quân địch, đáng chú ý

là trận Vân Đồn (Xuân Châu - Thọ Xuân) Quân Pháp đã tổ chức nhiều cuộc tấncông lớn bằng cả đại bác vào căn cứ của nghĩa quân Nghĩa quân phải vượt quaVĩnh Lộc, Thạch Thành, rồi về Yên Định, đến Vạn Lại lập căn cứ phục kíchđánh giặc ở nhiều nơi như: Cầu Quan, Yên Thái (Nông Cống) khi chúng lênđường rút về tỉnh lị

Nhưng về sau, do bị quân Pháp tổ chức tấn công và bao vây, biết lựclượng chưa đủ mạnh, Tống Duy Tân và Cao Điển cho nghĩa quân giải tán chờ

cơ hội Tháng 9/1892, Tống Duy Tân trở về hang Nhâm Kỷ (Bá Thước) để xâydựng căn cứ Ngày 5/10/1892, Tống Duy Tân bị bắt ở hang Dong (Thiết Ống -

Bá Thước) Đến đây, cuộc khởi nghĩa kết thúc Mặc dù bị thất bại nhưng cuộckhởi nghĩa Hùng Lĩnh là một cuộc khởi nghĩa tiêu biểu trong phong trào Cầnvương ở Thanh Hóa cuối thế kỉ XIX Cuộc khởi nghĩa đã thể hiện tinh thầnchiến đấu dũng cảm của quân và dân Thanh Hóa, cổ vũ lòng yêu nước của nhândân ta, để lại nhiều bài học kinh nghiệm qúi về chiến lược, chiến thuật trongchiến tranh du kích chống Pháp ở khu vực trung du miền núi Thanh Hóa thời kìnày

3.1.5.3 Cuộc khởi nghĩa của Hà Văn Mao

Hà Văn Mao là người dân tộc Mường, quê ở Điền Lư, châu Quan Hóa(nay là Điền Lư - Bá Thước) - Người trực tiếp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa mangtên mình Trung tâm của cuộc khởi nghĩa là Mường Khê, sau này mở rộng địabàn tới Thọ Xuân, Cẩm Thủy Nghĩa quân đã chặn đánh nhiều cuộc hành quâncủa quân Pháp và giành thắng lợi

Tháng 11/1887, quân Pháp do thiếu tá Hen-Bơ-Boa và đại úy Pátxcan mởcuộc tấn công vào nghĩa quân Do lực lượng quá chênh lệch, ông đã cho nghĩaquân giải tán Còn với mình, để giữ chọn khí tiết, ông đã vào rừng tuẩn tiết

3.1.5.4 Cuộc khởi nghĩa của Cầm Bá Thước

Cầm Bá Thước là người dân tộc Thái, quê ở Mường Chiềng Bán, thuộctổng Trịnh Vạn (nay thuộc xã Vạn Xuân - Thường Xuân) Ông là người trực tiếpchỉ huy và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Để tiến hành cuộc khởi nghĩa, Cầm BáThước đã cho xây dựng căn cứ ở Trịnh Vạn, đây là vùng núi non hiểm trở ởThường Xuân Tại đây, ông đã cho xây dựng một hệ thống đồn trại kiên cố, bốtrí giàn đá, lao gỗ, bãi chông dọc theo núi cao, sông sâu Sau này, mở rộng địabàn sang Ngọc Lặc, Như Xuân, Quan Hóa, Quỳ Châu (Nghệ An)

Tháng 2/1894, Pháp đưa quân lên đóng rải rác ở đồn Cửa Đặt, Thổ Sơn,Nhiên Trạm,… nhằm đè bẹp nghĩa quân Để giành thế chủ động, sáng 6/2/1894,Cầm Bá Thước cho quân tấn công quân Pháp, gây cho chúng nhiều tổn thất lớn

Ngày 10/5/1895, do có tay sai dẫn đường, quân Pháp tổ chức tấn công vớiquy mô lớn vào Hòn Bòng Ngày 13/5/1895, Cầm Bá Thước đã bị sa vào taygiặc, cuộc khởi nghĩa kết thúc

3.1.6 Thanh Hóa trong thời kì 1930-1945

3.1.6.1 Sự thành lập Đảng bộ Đảng Cộng sản ở Thanh

Trang 13

Mùa Xuân 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời Sau khi ra đời, Xứ ủyBắc Kỳ rất quan tâm đến việc thành lập tổ chức cộng sản ở Thanh Hóa Được sựchỉ đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ, đồng chí Nguyễn Doãn Chấp đã về Thanh Hóa bắtmối liên lạc với các hội viên Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên ở các huyệnĐông Sơn, Thiệu Hóa, Thọ Xuân và xúc tiến việc thành lập các chi bộ cộng sản.

Cuối tháng 6/1930, chi bộ cộng sản đầu tiên được thành lập ở làng Hàm

Hạ (Đông Tiến - Đông Sơn) Đầu tháng 7/1930, chi bộ cộng sản thứ hai ra đời ởPhúc Lộc (Thiệu Tiến - Thiệu Hóa)

Giữa tháng 7/1930, tại làng Yên Trường (Thọ Lập,Thọ Xuân), chi bộcộng sản thứ 3 ra đời Như vậy, chỉ trong vòng một thời gian ngắn, ở Thanh Hóa

đã có 3 chi bộ cộng sản ra đời

Ngày 29/7/1930, dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Bắc Kỳ, Hội nghị thành lậpĐảng bộ Đảng Cộng sản tỉnh Thanh Hóa được tiến hành tại nhà đồng chí LêVăn Sĩ, làng Yên Trường (Thọ Lập - Thọ Xuân) dưới sự chủ trì của đồng chí LêDoãn Chấp

Sự ra đời của Đảng bộ Đảng Cộng sản Thanh Hóa đã chứng tỏ sự trưởngthành về ý thức chính trị của quần chúng công nông Từ đây, nhân dân ThanhHóa đã có một tổ chức cách mạng chân chính lãnh đạo Sự kiện này đã mở ramột thời kỳ phát triển mới của phong trào cách mạng trong tỉnh Đảng bộ ĐảngCộng sản ra đời ở Thanh Hóa đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sựphát triển của cách mạng tỉnh nhà

3.1.6.2 Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Thanh Hóa năm 1945

Giữa tháng 8/1945, phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh khôngđiều kiện đã tạo ra điều kiện khách quan cho cuộc Tổng khởi nghĩa giành chínhquyền ở Thanh Hóa mau chóng đi đến chín muồi Trong lúc này, phong tràocách mạng ở Thanh Hóa đang phát triển mạnh mẽ Cuộc khởi nghĩa giành chínhquyền sớm tại Hoằng Hóa đã cổ vũ mạnh mẽ nhân dân trong tỉnh nổi dậy giànhchính quyền

Trước tình hình trên, Tỉnh ủy đã triệu tập Hội nghị mở rộng vào ngày14/8/1945, tại làng Mao Xá (Thiệu Toán) Hội nghị nhận định tình hình cáchmạng trong tỉnh, quyết định chủ trương biện pháp sẵn sàng phát động nhân dânnổi dậy giành chính quyền Hội nghị đã quyết định thành lập Ủy ban khởi nghĩa

và Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh, phủ, huyện Đồng chí Lê Tất Đắcđược cử làm Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa và Ủy ban nhân dân cách mạng lâmthời

Dưới sự lãnh đạo của các cấp bộ Đảng và Mặt trận Việt Minh tỉnh, quầnchúng nhân dân các huyện đã rầm rộ xuống đường khởi nghĩa giành chínhquyền Ngày 18/8/1945, khởi nghĩa giành chính quyền đã thắng lợi tại cáchuyện: Hậu lộc, Hà Trung, Nga Sơn, Quảng Xương, Thạch Thành, Vĩnh Lộc,Thiệu Hóa, Yên Định, Thọ Xuân Chiều ngày 19/8, cuộc khởi nghĩa giành chínhquyền thắng lợi ở Đông Sơn Ngày 20/8, cuộc khởi nghĩa giành chính quyềnthắng lợi ở Tĩnh Gia Chiều 20/8, khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi tại thị

xã Thanh Hóa Ngày 21/8, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Cẩm

Trang 14

Thủy Đến hết ngày 21/8, về cơ bản, cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ởThanh Hóa đã giành thắng lợi Đối với 6 châu miền núi, Tỉnh ủy chỉ đạo giànhchính quyền bằng phương pháp hòa bình

Ngày 23/8/1945, trong không khí tưng bừng phấn khởi của hàng vạn nhândân thị xã Thanh Hóa và các huyện phụ cận, Ủy ban nhân dân cách mạng lâmthời tỉnh đã ra mắt đồng bào, đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn của cuộc Tổngkhởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh nhà Cuộc Tổng khởi nghĩa giành chínhquyền ở Thanh Hóa tháng Tám năm 1945 đã góp phần cùng với nhân dân cảnước làm nên thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng tháng Tám, dẫn tới sự ra đờicủa nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa Thắng lợi này đã đánh dấu bước pháttriển nhảy vọt của cách mạng Việt Nam

3.1.7 Thanh Hóa trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ cứu nước (1945-1975)

3.1.7.1 Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1945-1954)

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, quân Đồng minh đã lũ lượtkéo vào nước ta để giải giáp quân Nhật Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ ThanhHóa, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã bắt tay vào xây dựng Thanh Hóa thànhhậu phương vững mạnh về mọi mặt, kịp thời cung cấp sức người, sức của chochiến trường, đồng thời tổ chức chiến đấu tốt để bảo vệ hậu phương trong mọitình huống

Ngày 20/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thăm Thanh Hóa, Người đã

căn dặn: “Thanh Hóa phải trở thành một tỉnh kiểu mẫu…Phải làm sao cho mọi

mặt chính trị, kinh tế, quân sự phải kiểu mẫu, làm hậu phương vững chắc cho cuộc kháng chiến” Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng bộ và

nhân dân Thanh Hóa đã quyết tâm xây dựng Thanh Hóa thành hậu phương vữngmạnh về mọi mặt

Về chính trị: Đảng bộ Thanh Hóa coi trọng công tác xây dựng Đảng và

hệ thống chính trị, đặc biệt là khu vực miền núi, khu vực trọng yếu Trong khángchiến chống Pháp, Đảng bộ Thanh Hóa đã tiến hành 4 kỳ Đại hội (Đại hội I-

1948, ĐH II-1949, ĐH III-1950, ĐH IV-1952) Qua các kỳ đại hội đã xác địnhchủ trương, phương hướng, giải pháp để lãnh đạo toàn dân xây dựng và bảo vệhậu phương, chi viện cho cuộc kháng chiến

Về kinh tế: Đảng bộ Thanh Hóa phát động toàn dân đẩy mạnh khai

hoang, chống thiên tai, xây dựng tổ đổi công, thực hiện giảm tô, thuế, cải cáchruộng đất,…Các ngành thủ công nghiệp được mở rộng, xây dựng nhiều cơ sởcông nghiệp nhà nước

Về văn hóa: Hoạt động văn hóa - nghệ thuật hướng vào xóa bỏ tàn dư văn

hóa phản động, lạc hậu Phong trào xây dựng nếp sống văn hóa mới đã làm thayđổi bộ mặt nông thôn Thanh Hóa

Về giáo dục: Tỉnh ủy phát động phong trào bình dân học vụ, mở rộng hệ

thống giáo dục phổ thông các cấp Năm 1953, toàn tỉnh đã có 453 trường phổthông cấp I, 85 trường phổ thông cấp II, 3 trường phổ thông cấp III với hàng vạnhọc sinh theo học ở các cấp

Trang 15

Về y tế: Toàn tỉnh đã xây dựng 1 bệnh viện đa khoa, 4 bệnh viện khu vực

và hàng chục trạm xá cấp huyện

Về quân sự: Tích cực xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, thực hiện

tiêu thổ kháng chiến, rào làng kháng chiến, đào đắp chiến hào, xây dựng lựclượng vũ trang, xây dựng các xưởng quân giới Quân và dân Thanh Hóa cũng đãđập tan mọi âm mưu phản động và phá hoại của kẻ thù khi quân Pháp mở nhữngcuộc đổ bộ tấn công ra hậu phương Thanh Hóa ở một số điểm như: Nga Sơn,Hậu Lộc, Hòn Mê,… Điển hình là trận đánh chìm chiến hạm Ô-đanh vin, diệt

200 viên sĩ quan và binh lính Pháp trên Biển Sầm Sơn

Thanh Hóa làm nghĩa vụ hậu phương: Trong 9 năm kháng chiến chống

Pháp, Thanh Hóa đã giúp đỡ hàng vạn đồng bào tản cư, các đơn vị bộ đội, các

cơ quan Trung ương, các cơ quan khu 3, 4; bộ đội Lào; chi viện cho miền Nam

2 đại đội bộ đội; bổ sung bộ đội, thanh niên, dân công, thanh niên xung phongcho các chiến trường trong cả nước Thanh Hóa cung cấp cho các chiến trườnghàng vạn tấn thóc, muối Lò cao kháng chiến (Hải Vân - Như Xuân) đã sản xuất

500 tấn gang phục vụ kháng chiến Đặc biệt trong chiến dịch Điện Biên phủ

1954, Thanh Hóa là tỉnh cung cấp nhiều nhất sức người, sức của cho chiến dịchđược toàn thắng

Khi vào thăm Thanh Hóa lần thứ 2 (1957), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khen

ngợi đồng bào và nhân dân Thanh Hóa: “Bây giờ tiếng Việt Nam đến đâu, tiếng

Điện Biên Phủ đến đó; tiếng Điện Biên Phủ đến đâu, đồng bào Thanh Hóa cũng

có một phần vinh dự đến đó”.

3.1.7 2 Thanh Hóa trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước (1954-1975)

*Thanh Hóa xây dựng hậu phương

Trong nông nghiệp: Cùng với khắc phục hậu quả chiến tranh, Tỉnh ủy

lãnh đạo Đảng bộ, nhân dân toàn tỉnh hoàn thành cải cách ruộng đất, khôi phụcphát triển kinh tế, tiến hành cải tạo và xây dựng CNXH Năm 1960, toàn tỉnh đãxây dựng 4.930 hợp tác xã nông nghiệp, đưa 91% nông dân vào làm ăn tập thể.Trong sản xuất nông nghiệp đã xuất hiện phong trào thi đua “5 tấn thóc, 2 conlợn trên 1 ha gieo trồng” Các hợp tác xã Thắng Lợi, Xuân Thành, Đông PhươngHồng, Yên Trường, Khoan Hồng là những đơn vị điển hình tiên tiến về năngsuất lúa và cây trồng

Trong lĩnh vực công nghiệp - thủ công nghiệp: Toàn tỉnh đã xây dựng

được 106 xí nghiệp quốc doanh, 1.241 cơ sở sản xuất thủ công nghiệp Xuấthiện nhiều điển hình tiên tiến như: Hợp tác xã Yên Trường, Kim Ngọc, LiênHải, xí nghiệp Cơ khí Thành Công, Nông trường Sao Vàng, Nông trường PhúcDo…

Trong lĩnh vực giao thông vận tải: Tỉnh đã xây dựng đường 217B,

đường 15C, xây dựng cầu Hàm Rồng, nâng cấp đường 15A, đường 1A, nạo vétkênh mương

Trong lĩnh vực giáo dục, toàn tỉnh xây dựng được 598 trường cấp I, 293trường cấp II, 13 trường phổ thông cấp III với 256.688 học sinh, 74% đồng bào

Trang 16

các dân tộc, 95% đồng bào miền xuôi biết đọc, biết viết Toàn tỉnh có hàng vạnngười tốt nghiệp đại học, trung học chuyên nghiệp và sơ cấp.

*Thanh Hóa trong chiến đấu

Trong khi Đảng bộ và nhân dân toàn tỉnh đang nỗ lực thi đua hoàn thành

kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965) Ngày 5/8/1964, máy bay giặc Mĩxâm phạm vùng trời Thanh Hóa Quân dân các huyện Hậu Lộc, Hoằng Hóa,Đồn Công an 74, bộ đội Hải quân đã chiến đấu dũng cảm bắn rơi 2 máy bay củagiặc Mĩ, làm nên chiến thắng Lạch Trường (Hoằng Hóa) oanh liệt, mở đầu chocuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại ra miền Bắc lần thứ nhất của đế quốc

Mĩ Mặc dù bị thất bại nặng nề trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miềnNam, nhưng đế quốc Mĩ vẫn ngoan cố tiếp tục kéo dài cuộc chiến tranh ViệtNam Mĩ tiếp tục thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”, đưa nửa triệu quânvào miền Nam và tiến hành mở rộng chiến tranh phá hoại ra miền Bắc bằngkhông quân, hải quân Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, Thanh Hóa là địa bànchiến lược trọng yếu, kho dự trữ chiến lược về người và của cung cấp cho chiếntrường miền Nam, chiến trường hai nước bạn Lào, Campuchia nên đế quốc Mĩgia tăng đánh phá

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Thanh Hóa, quân dân trong tỉnh tích cựcxây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, quyết tâm đánh thắng mọi cuộc tiếncông phá hoại của giặc Mĩ, bảo vệ quê hương, bảo vệ các tuyến đường giaothông huyết mạch nối liền hậu phương với tiền tuyến Trong hai ngày 3, 4 tháng4/1965, giặc Mĩ cho hàng trăm lượt máy bay đánh phá Thanh Hóa mà trọngđiểm là cầu Lèn, cầu Hàm Rồng Với tinh thần quyết chiến, quyết thắng, tronghai ngày, quân và dân Hàm Rồng - Thanh Hóa đã bắn rơi 47 máy bay, bắt sốngnhiều giặc lái Cầu Hàm Rồng vẫn sừng sững hiên ngang soi bóng bên bờ sông

Mã anh hùng

Thi đua với quân dân Hàm Rồng, các địa phương trong tỉnh đã sáng tạonhiều phương pháp đánh địch, lập công xuất sắc, tiêu biểu là quân dân xã MinhKhôi, xã Phú Lệ, xã Quảng Tường, Trung đội dân quân nữ Hoa Lộc, Tiểu độidân quân nữ xã Thanh Thủy, Trung đội Lão dân quân Hoằng Trường,… Tínhđến ngày 1-11-1968, quân và dân Thanh Hóa đã bắn rơi 276 máy bay, bắn cháy

và bắn chìm 31 tàu chiến giặc Mĩ

Cuối năm 1971, đế quốc Mĩ tiến hành chiến tranh phá hoại lần thứ 2 ramiền Bắc Quân và dân Thanh Hóa mà tiêu biểu là quân dân khu vực HàmRồng, Sao Vàng, đảo Mê, đảo Nẹ, Tĩnh Gia, Hoằng Hóa, Quảng Xương, NhưXuân, Ngọc Lặc, Bá Thước, Quan Hóa, dũng cảm bắn rơi 92 máy bay phảnlực (trong đó có 2 chiếc B52), bắn chìm và bắn cháy 25 tàu chiến Mĩ Với thắnglợi của quân dân Thanh Hóa nói riêng, quân và dân cả nước nói chung, buộc đếquốc Mĩ phải ký kết Hiệp định Pa-ri (1/1973) rút quân về nước, tạo ra yếu tốthời cơ thuận lợi để quân và dân cả nước tiến lên giải phóng hoàn toàn miềnNam

*Thanh Hóa chi viện cho tiền tuyến miền Nam

Trang 17

Cùng với công cuộc xây dựng, bảo vệ hậu phương, quân và dân ThanhHóa còn làm vai trò nghĩa vụ hậu phương chi viện sức người, sức của cho tiềntuyến miền Nam đánh thắng giặc Mĩ xâm lược Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ

Thanh Hóa, các phong trào thi đua “Thóc không thiếu một cân, quân không

thiếu một người”, “Thanh niên ba sẵn sàng”, “Phụ nữ ba đảm đang”, “Sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi, giao thông - vận tải giỏi”, Quân và dân toàn tỉnh đã

tích cực chi viện cao nhất cho các chiến trường A, B, C, K góp phần to lớncùng quân dân cả nước giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà

Đặc biệt trong chiến dịch thần tốc giải phóng miền Nam mùa Xuân 1975,Thanh Hóa đã huy động gần 21 ngàn thanh niên, 21 tiểu đoàn bộ đội địa phươnghành quân thần tốc tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miềnNam Đối với tỉnh Quảng Nam kết nghĩa, Thanh Hóa đã chi viện Tiểu đoàn đặccông Lam Sơn và hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ vào chiến đấu và giải phóng QuảngNam - Đà Nẵng

Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, Thanh Hóa tự hào đã hoàn thành xuấtsắc hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là (xây dựng CNXH vàđấu tranh chống xâm lược của đế quốc Mĩ) đã tạo nên những chiến công hàohùng, oanh liệt, góp phần to lớn cùng nhân dân cả nước làm nên đại thắng mùaXuân (1975) giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc

3.1.8.Thanh Hóa thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế 2015)

(1986-3.1.8.1.Thanh Hóa thực hiện công cuộc đổi mới và những thành tựu đạt được (1986-1996)

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam( 12/1986) đã chủ trương thực hiện đường lối đổi mới đất nước một cách đồng

bộ và toàn diện Thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng Dưới sựlãnh đạo của Đảng bộ Thanh Hóa, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã hăng háithi đua lập những thành tích mới trong sản xuất Sau 10 năm thực hiện đường lốiđổi mới, Thanh Hóa đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trên các lĩnh vực kinh tế-

xã hội, giáo dục, y tế, quốc phòng - an ninh…

Trong nông nghiệp: thực hiện chính sách “khoán hộ” nhằm tạo điều kiện

thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Sau 10 năm đổi mới, Thanh Hóa đã đạtđược nhiều thành tựu rực rỡ về sản xuất lương thực Sản lượng lương thực quythóc năm (1986-1990) trong tỉnh đạt 794 tấn/năm, 1994 là 924 tấn/năm Năm

1995, Thanh Hóa đạt 1 triệu tấn lương thực Thanh Hóa đã chấm dứt được cănbệnh thiếu lương thực, trở thành 1 trong 5 tỉnh của cả nước đạt 1 triệu tấn lươngthực Ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm củng tăng trưởng nhanh chóng, đáp ứngđược nhu cầu thực phẩm cho nhân dân trong tỉnh

Công nghiệp chế biến: được chú ý đầu tư xây dựng, nhiều nhà máy sản

xuất công nghiệp chế biến được xây dựng vào thời kỳ này như: Nhà máy giấyMục Sơn, nhà máy đường Lam Sơn, nhà máy thuốc lá Lotaba…

Trang 18

Ngành giao thông vận tải, bưu điện và một số ngành kinh tế dịch vụ, tàichính, ngân hàng cũng phát triển mạnh mẽ, đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầucho đời sống nhân dân.

Giáo dục và Đào tạo: cũng đạt được những thành tựu rực rỡ Số lượng

giáo viên giỏi, học sinh giỏi các cấp ngày một tăng Đặc biệt hằng năm, trongcác kỳ thi học sinh giỏi Quốc gia, Quốc tế, Thanh Hóa luôn được xếp vào tốpđứng đầu cả nước Năm học 1995-1996, thành tích đội tuyển thi HSG Quốc giacác môn văn hóa, Thanh Hóa xếp thứ Nhất toàn quốc Tỉ lệ học sinh thi đỗ vàocác trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp hằng năm đều tăng rõrệt Cơ sở vật chất phục vụ dạy-học được chú trọng Mạng lưới trường lớpkhông ngừng được mở rộng và từng bước kiên cố hóa Giáo dục khu vực miềnnúi được quan tâm và chú trọng đầu tư cơ sở vật chất cũng như nâng cao chấtlượng

Lĩnh vực Y tế: với nhiều hoạt động chăm lo sức khỏe cho nhân dân được

quan tâm Bệnh viện tuyến tỉnh, huyện, trạm y tế tuyến xã được mở rộng vànâng cấp Số giường bệnh tăng lên, tỉnh cũng đầu tư nguồn vốn lớn để từngbước hiện đại hóa ngành y tế Đội ngũ y tá, bác sỹ ngày một tăng phục vụ tốthơn cho nhu cầu khám và chữa bệnh cho nhân dân Y tế Thanh Hóa đã góp phầntích cực trong công tác phòng chống dịch bệnh, vận động kế hoạch hóa gia đình

Lĩnh vực văn hóa - thể dục thể thao: cũng đạt được nhiều kết quả đáng

khích lệ Hoạt động văn hóa - văn nghệ luôn chú trọng tuyên truyền chủ trươngđường lối của Đảng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Các hoạt độngđền ơn đáp nghĩa, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, các tượng đài, nghĩa trangliệt sĩ được quan tâm để giáo dục truyền thống đạo lí của dân tộc

3.1.8.2.Thanh Hóa thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế 2015)

Thực hiện Nghị quyết đề ra của Đảng bộ tỉnh thông qua các kì Đại hội.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Thanh Hóa, nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã

nỗ lực phấn đấu vượt qua nhiều khó khăn thách thức, thực hiện sự nghiệp côngnghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà Thanh Hóa đã đạt được nhiều thành tựu quantrọng, toàn diện trên các lĩnh vực sau:

Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước Nhiều chỉ

tiêu quan trọng đề ra của Đảng bộ tỉnh đã hoàn thành và vượt chỉ tiêu kế hoạch

đề ra Quy mô nền kinh tế và năng lực sản xuất không ngừng phát triển GDPthời kì 1996 -2000 tăng bình quân 7,3%, thời kì 2001 - 2005 tăng 9,1%, thời kì

2006 - 2010 tăng 11,3%, thời kì 2010 - 2015, GDP tăng gấp 1,7 lần Năm 2010,thu nhập GDP của Thanh Hóa đứng thứ 8 cả nước, đứng đầu các tỉnh Bắc Trung

Bộ Cơ cấu kinh tế phát triển theo chiều hướng tích cực Tỷ trọng nông lâm ngư trong GDP liên tục giảm, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng - dịch vụ, du lịchliên tục tăng So với năm 2010, đến 2015 tỷ trọng nông - lâm - thủy sản giảm từ24,2% xuống còn 17,6%, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 41,4%lên 42%, tỷ trọng ngành dịch vụ tăng từ 34,4% lên 40,4%

Ngày đăng: 14/08/2017, 15:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w