PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Khi nói đến những thảm họa khốc liệt người ta thường nghĩ ngay đến thiên tai, địch họa. Nhưng có lẽ không có một cuộc chiến tranh tàn khốc, một thảm họa thiên nhiên dữ dội nào lại gây ra cho con người một nỗi đau dai dẳng, một sự tàn phá to lớn như nạn nghèo khổ đang diễn ra một cách thầm lặng trên thế giới. Ngày nay có khoảng 14 dân số thế giới (tương đương 1,5 tỷ người) đang sống trong điều kiện cùng cực của nghèo khổ, không đủ khả năng đáp ứng được những nhu cầu cơ bản. Hàng trăm triệu người đang sống quanh giới tuyến nghèo khổ. Một nửa số dân trên thế giới đang bị phân biệt đối xử, khước từ các cơ hội chỉ vì khác màu da. Thiệt thòi lớn nhất là trẻ em, hàng triệu trẻ em không được đến trường, trong đó có 130 triệu trẻ em ở độ tuổi tiểu học và 175 triệu trẻ em ở độ tuổi trung học cơ sở, hơn 13 số trẻ em trên thế giới bị suy dinh dưỡng. Có thể nói, nghèo đói đã diễn ra trên khắp các châu lục với những mức độ khác nhau. Đặc biệt là ở các nước lạc hậu, chậm phát triển, nghèo đói đang là một vấn đề nhức nhối, một thách thức đối với sự phát triển, hay tụt hậu của một quốc gia. Ở nước ta sau gần 15 năm đổi mới, nền kinh tế đang từng bước khởi sắc và đã đạt được những thành tựu to lớn, đời sống của nhân dân đã được cải thiện và nâng cao một bước (kể cả thành thị, nông thôn và miền núi vùng sâu, vùng xa).Tuy nhiên cùng với xu thế phát triển đi lên của xã hội, đã hình thành một bộ phận dân cư giàu lên và một bộ phận không nhỏ rơi vào cảnh đói nghèo với khoảng cách ngày càng xa.Mục tiêu phát triển của Đảng và Nhà nước ta là xây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa, làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Muốn thực hiện được mục tiêu tổng quát đó, vấn đề xóa đói giảm nghèo không chỉ là nhiệm vụ của một cấp, một ngành mà là nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng và toàn dân, ở đâu còn nghèo đói thì ở đó không thể xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội được. Hiện nay, phương pháp phát triển cộng đồng trong công tác xã hội đã có tác động mạnh mẽ và thu được những thành công nhất định trong việc giúp đỡ các cộng đồng nghèo phát triển để xóa đói giảm nghèo. Chính vì những lý do trên nên em chọn đề tài : “Một số giải pháp nâng cao phương pháp phát triển cộng đồng trong công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay”.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Khi nói đến những thảm họa khốc liệt người ta thường nghĩ ngay đến
"thiên tai, địch họa" Nhưng có lẽ không có một cuộc chiến tranh tàn khốc,một thảm họa thiên nhiên dữ dội nào lại gây ra cho con người một nỗi đau daidẳng, một sự tàn phá to lớn như nạn nghèo khổ đang diễn ra một cách thầmlặng trên thế giới
Ngày nay có khoảng 1/4 dân số thế giới (tương đương 1,5 tỷ người)đang sống trong điều kiện cùng cực của nghèo khổ, không đủ khả năng đápứng được những nhu cầu cơ bản Hàng trăm triệu người đang sống quanh giớituyến nghèo khổ Một nửa số dân trên thế giới đang bị phân biệt đối xử,khước từ các cơ hội chỉ vì khác màu da Thiệt thòi lớn nhất là trẻ em, hàngtriệu trẻ em không được đến trường, trong đó có 130 triệu trẻ em ở độ tuổitiểu học và 175 triệu trẻ em ở độ tuổi trung học cơ sở, hơn 1/3 số trẻ em trênthế giới bị suy dinh dưỡng
Có thể nói, nghèo đói đã diễn ra trên khắp các châu lục với những mức
độ khác nhau Đặc biệt là ở các nước lạc hậu, chậm phát triển, nghèo đói đang
là một vấn đề nhức nhối, một thách thức đối với sự phát triển, hay tụt hậu củamột quốc gia
Ở nước ta sau gần 15 năm đổi mới, nền kinh tế đang từng bước khởisắc và đã đạt được những thành tựu to lớn, đời sống của nhân dân đã được cảithiện và nâng cao một bước (kể cả thành thị, nông thôn và miền núi vùng sâu,vùng xa).Tuy nhiên cùng với xu thế phát triển đi lên của xã hội, đã hình thànhmột bộ phận dân cư giàu lên và một bộ phận không nhỏ rơi vào cảnh đóinghèo với khoảng cách ngày càng xa.Mục tiêu phát triển của Đảng và Nhànước ta là xây dựng một chế độ xã hội chủ nghĩa, làm cho dân giàu nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Muốn thực hiện được mục tiêutổng quát đó, vấn đề xóa đói giảm nghèo không chỉ là nhiệm vụ của một cấp,một ngành mà là nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị, của toàn Đảng và
Trang 2toàn dân, ở đâu còn nghèo đói thì ở đó không thể xây dựng thành công chủnghĩa xã hội được.
Hiện nay, phương pháp phát triển cộng đồng trong công tác xã hội đã
có tác động mạnh mẽ và thu được những thành công nhất định trong việc giúp
đỡ các cộng đồng nghèo phát triển để xóa đói giảm nghèo Chính vì những lý
do trên nên em chọn đề tài : “Một số giải pháp nâng cao phương pháp phát
triển cộng đồng trong công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay”.
2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu dựa trên quản điểm của chủ nghĩa lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng vànhà nước về công tác xóa đói giảm nghèo
Mác Sử dụng các phương pháp xã hội học, thu thập, xử lý thông tin
- Áp dụng phương pháp tổng- phân- hợp
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Tiểu luận nghiên cứu phương pháp phát triển cộng đồng trong côngtác xã hội đối với vấn đề xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay
4 Bố cục của tiểu luận
- Phần mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác xã hội và phát triển cộng đồng
- Chương 2: Thực trạng công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiệnnay
- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao phương pháp phát triển cộngđồng trong công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay
- Phần kết luận
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI VÀ
1.2 Mục tiêu của công tác xã hội
- Giúp đỡ mọi thành viên nâng cao năng lực, khả năng tự ứng phó vớivấn đề và kỹ năng giải quyết khó khăn của họ
- Giúp mọi người tiếp cận nguồn hỗ trợ, các dịch vụ xã hội để cải thiệnchất lượng cuộc sống
- Tăng cường mối liên hệ giữa các thành viên xã hội nhằm tạo sự pháttriển hài hòa giữa các cá nhân và xã hội
- Góp phần ngăn ngừa, giải quyết và phòng chống các vấn đề xã hộixảy ra Từ đó giảm bớt những khác biệt giữa các thành viên tiến tới công bằng
xã hội
- Phát hiện những vấn đề xã hội, đóng góp vào việc tạo ra chính sáchmới để giải quyết vấn đề đó, hoặc tu chỉnh những chính sách xã hội đang cósẵn
Trong đó có các mục đích cụ thể:
- Thúc đẩy phục hồi, duy trì và tăng cường chức năng của cá nhân, giađình, cộng đồng thông qua hoạt động trợ giúp xóa bỏ và phòng ngừa nghèođói, phát huy nguồn lực trong xã hội
Trang 4- Xây dựng, hoạch định và thực thi các chính sách xã hội, chương trìnhhoạt động hệ thống dịch vụ xã hội, nguồn lực xã hội cần thiết để đáp ứng nhucầu của con người và trợ giúp sự phát triển năng lực con người.
- Theo dõi, kiểm soát các chính sách để thông qua hoạt động biện hộ,hoạt động chính trị để tăng năng lực cho những nhóm yếu thế hay có nguy cơyếu thế và thúc đẩy chức năng, bình đẳng về mặt kinh tế cũng như xã hội
- Phát triển những kiến thức, kỹ năng của công tác xã hội để đảm bảomục tiêu nghề nghiệp của mình
1.3 Vai trò của công tác xã hội
Mục đích của an sinh xã hội là tạo lập sự công bằng xã hội và sự antoàn cho mọi người dân trên cơ sở một xã hội ổn định và phát triển
Trong một quốc gia có nhiều ngành nghề tham gia đóng góp vào nền ansinh xã hội Nhưng mỗi ngành chỉ đảm trách một hay cài chức năng nênkhông đáp ứng được một cách toàn diện nhu cầu xã hội của con người, do đó
có một ngành mới xuất hiện vào đầu thế kỷ XX, đó là ngành công tác xã hội.Hoạt động công tác xã hội là phương tiện để thực hiện mục đích của an sinh
xã hội Nếu như an sinh xã hội là hệ thống các chính sách, các chương trình,dịch vụ xã hội nhằm thực hiện mục tiêu của an sinh xã hội Giữa các ngànhnghề đóng góp cho nền an sinh xã hội thì công tác xã hội đóng vai trò tổnghợp và trung tâm mà trong đó, nhân viên xã hội là người kết nối sự tham giacủa các ngành, các chuyên môn khác trong quá trình giải quyết các vấn đề xãhội Công tác xã hội là một nghề non trẻ so với các nghề khác, nhưng nó đã
và đang đóng vai trò quan trọng, phục vụ đắc lực cho mục tiêu tăng trưởngkinh tế và phát triển xã hội của các quốc gia
Trang 52 Phát triển cộng đồng
2.1 Khái niệm
Phát triển cộng đồng là một khái niệm rộng áp dụng trong thực tiễnhoặc trong chương trình đào tạo những người lãnh đạo dân sự, những “ tíchcực viên” làm việc với người dân và các nhà chuyên môn để cải thiện các lĩnhvực cộng đồng địa phương Phát triển cộng đồng là tiến trình trao quyền cho
cá nhân và nhóm người bằng cách cung cấp những kỹ năng cần thiết để họ cóthể thay đổi cộng đồng của chính mình
2.2 Mục đích chung của phát triển cộng đồng
- Dựa vào những chuyển biến xã hội để đạt được sự cải thiện cânbằng về vật chất và tinh thần
- Củng cố các thiết chế để tạo điều kiện thuận lợi cho chuyển biến xãhội và sự tăng trưởng
- Đảm bảo sự tham gia tối đa của người dân vào tiến trình phát triển
- Đẩy mạnh công bằng xã hội bằng cách tạo điều kiện cho các nhómyếu thế nêu lên nguyện vọng của mình và tham gia vào các hoạt động pháttriển
2.3 Ý nghĩa của phát triển cộng đồng ở Việt Nam
Việt Nam là một nước đang phát triển và đang trong giai đoạn pháttriển kinh tế xã hội Là một nước nông nghiệp trình độ phát triển thấp, số dânlàm nông nghiệp cao nên Đảng và Nhà nước chủ trương phát triển nông thôn,phát triển toàn diện – một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chương trìnhphát triển kinh tế xã hội Trong nền kinh tế thị trường bên cạnh những thànhtích về tăng trưởng kinh tế, đời sống của đại đa số người dân được nâng cao,song tồn tại sự phân tầng xã hội, khoảng cách giữa người giàu và người nghèongày càng lớn, số những nhóm người thiệt thòi ngày càng gia tăng về sốlượng và phức tạp về chất lượng Trong đường lối chính sách của Đảng vàNhà nước, đã chủ trương tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và côngbằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt thời kỳ phát triển; công bằng
xã hội phải thể hiện cả khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất xã hội, ở việctạo điều kiện cho mọi người có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của
Trang 6mình Với ý nghĩa đó hiện nay công tác phát triển cộng đồng có tầm quantrọng rất lớn đối với nước ta.
3 Cộng đồng nghèo
3.1 Khái niệm
Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng
với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định Thước đo các tiêu chuẩn này và cácnguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thờigian Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập Theo đó mộtngười là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bìnhquân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia
3.2 Đặc điểm
- Cơ sở hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ xã hội thiếu hoặc yếu kém
- Kinh tế không phát triển
- Nhu cầu cơ bản của người dân chưa được đáp ứng đầy đủ
- Người dân thiếu cơ hội tiếp cận khoa học, kỹ thuật, những tài nguyên,nhữngnguồn dịch vụ chính thống
- Tâm lý thiếu tự tin, ỷ lại
- Người dân không tham gia ra quyết định
3.3. Một số chương trình, dự án, chính sách liên quan đến cộng đồng nghèo ở Việt Nam
- Chương trình phát triển kinh tế 135 của Chính phủ
- Các chương trình cho vay vốn tín dụng ưu đãi
- Các chính sách xóa đói giảm nghèo
- Dự án heifer hỗ trợ cho người nghèo
- Chính sách nhà ở xã hội
- Chính sách trợ cấp cho người nghèo hàng tháng
- Chính sách hỗ trợ y tế tăng cường tri thức
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNGCÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM
NGHÈO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Nạn nghèo ở Việt Nam
Theo số liệu của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc ở Việt Nam,vào năm 2004 chỉ số phát triển con người của Việt Nam xếp hạng 112 trên
177 nước, chỉ số phát triển giới (tiếng Anh: Gender Development Index-GDI)xếp 87 trên 144 nước và chỉ số nghèo tổng hợp (tiếng Anh: Human Poverty
Trang 7Index-HPI) xếp hạng 41 trên 95 nước Cũng theo số liệu của Chương trìnhPhát triển Liên Hiệp Quốc, vào năm 2002 tỷ lệ nghèo theo chuẩn quốc gia củaViệt Nam là 12.9%, theo chuẩn thế giới là 29% và tỷ lệ nghèo lương thực(%số hộ nghèo ước lượng năm 2002) là 10.87% Vào đầu thập niên 1990,chính phủ Việt Nam đã phát động chương trình Xóa đói giảm nghèo cùng vớilời kêu gọi của Ngân hàng thế giới UNDP cho rằng mặc dù Việt Nam đã đạtđược tăng trưởng kinh tế bền vững và kết quả rất ấn tượng giảm tỷ lệ nghèo,song vẫn còn tồn tại tình trạng nghèo cùng cực ở một số vùng Để đạt đượccác Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG), Việt Nam cần phải giải quyếttình trạng nghèo cùng cực.
Cho đến năm 2009, theo chuẩn nghèo trên, cả nước Việt Nam hiện cókhoảng 2 triệu hộ nghèo, đạt tỷ lệ 11% dân số Tuy nhiên, trên diễn đàn Quốchội Việt Nam, rất nhiều đại biểu cho rằng tỷ lệ hộ nghèo giảm không phản ánhthực chất vì số người nghèo trong xã hội không giảm, thậm chí còn tăng dotác động của lạm phát (khoảng 40% kể từ khi ban hành chuẩn nghèo đến nay)
và do là suy giảm kinh tế Chuẩn nghèo quốc gia của Việt Nam hiện nay làgồm những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đến 260.000đồng/người/tháng Mặc dù vậy, nhiều hộ gia đình vừa thoát nghèo vẫn rất dễrớt trở lại vào cảnh nghèo đói Trong thập kỷ tới đây nỗ lực của Việt Namtrong việc hội nhập với nền kinh tế toàn cầu sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho sự tăngtrưởng, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với sự nghiệp giảm nghèo
2 Thành tựu đạt được trong việc xóa đói giảm nghèo ở nước ta trong thời gian qua do hoạt động phát triển cộng đồng trong công tác xã hội mang lại
2.1 Với chủ trương, chính sách xoá đói giảm nghèo đúng đắn của
Đảng và Nhà nước, việc thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo trong phát triển cộng đồng mang lại những kết quả to lớn, mang tính xã hội cao.
Việt Nam đã đạt những thành tựu to lớn trong công tác xoá đói giảmnghèo, điều đó được cả thế giới công nhận.- Trước hết là các chính sách đúng
Trang 8đắn của Đảng và Nhà nước thông qua việc thực hiện chương trình mục tiêuquốc gia xoá đói giảm nghèo
- Thứ hai là huy động vốn, ngân sách trung ương đã phân bổ 1900 tỷVNĐ cho chương trình, và tổng vốn huy động trong nước từ các nguồn từnăm 2001 đến nay đạt khoảng 15.000 tỷ Ngoài ra, hoạt động hợp tác quốc tếhướng vào mục tiêu XĐGN thông qua nhiều dự án với WB, ADB, IFAD,CIDA huy động số vốn đến năm 2004 khoản 250 triệu USD, tương đương vớikhoảng 4000 tỷ đồng Quỹ "ngày vì người nghèo" ở 4 cấp cũng huy độngđược trên 570 tỷ VNĐ
- Thứ ba là sự tham gia hiệu quả của các cấp chính quyền, các tổ chức
xã hội, cộng đồng và của từng người dân
- Thứ tư là xây dựng và thực hiện thành công nhiều mô hình xoá đóigiảm nghèo, như chuyển giao kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất cho ngườinghèo, vay vốn tín dụng ưu đãi gắn với tập huấn kỹ thuật cho hội viên nghèo,hoạt động trợ giúp hộ nghèo về nhà ở, khám chữa bệnh miễn phí và trợ giúpcon em người nghèo trong giáo dục, học nghề, xây dựng công trình hạ tầng cơ
sở ở các xã đặc biệt khó khăn, giải quyết đất sản xuất cho đồng bào dân tộcthiểu số thiếu đất sản xuất, hỗ trợ cho hộ nghèo vay chuộc lại đất sản xuất bịcầm cố, nhượng bán, liên kết giữa các doanh nghiệp và hộ nghèo thông qua
hỗ trợ vốn, giống, kỹ thuật mua và chế biến sản phẩm, liên thông xuất khẩulao động từ đào tạo nghề đến cung cấp lao động, tuyển lao động và cho vayvốn tín dụng để đi làm việc ở nước ngoài và nhiều mô hình và các hoạt độnghiệu quả khác
2.2 Tỷ lệ hộ nghèo ở nước ta đã giảm nhanh, trong đó thành thị
giảm nhanh hơn nông thôn Đây được coi là một trong những thành tựu phát triển kinh tế xã hội ở nước ta trong thời gian qua.
Nghèo được hiểu là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năngthoả mãn nhu cầu cơ bản của con người mà nhu cầu tuỳ thuộc vào trình độphát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và được xã hộithừa nhận Trên thực tế, lượng hóa mức độ nghèo thông qua chuẩn nghèo, và
Trang 9chuẩn nghèo thay đổi cùng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế Bộ Laođộng- Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH) nước ta ban hành; điều chỉnhtiêu chí hộ nghèo, người nghèo qua từng giai đoạn, và chuẩn nghèo áp dụngcho giai đoạn 2001 - 2005 là người có thu nhập bình quân dưới 100.000đồng/tháng ở vùng nông thôn đồng bằng, dưới 150.000 đồng/tháng đối vớivùng thành thị và 80.000 đồng đối với vùng núi, hải đảo Đây là cơ sở để xácđịnh đối tượng mục tiêu tác động (hưởng lợi) từ các chính sách của chươngtrình quốc gia XĐGN Ngoài chuẩn nghèo nêu trên, nhiều tiêu chí khác được
sử dụng trong các nghiên cứu, phân tích nghèo đói ở Việt Nam, như: chuẩnnghèo lương thực thực phẩm, chuẩn nghèo chung Nếu chuẩn nghèo lươngthực thực phẩm dựa vào cơ sở thu nhập của người nghèo chỉ đáp ứng nhu cầu
ăn, uống (thông qua nghiên cứu "rổ hàng hoá thiết yếu") thì chuẩn nghèochung có tính đến các chi phí cho nhu cầu thiết yếu khác như ở, đi lại, giáodục, y tế Hiện nay các cơ quan chức, năng ở nước ta đang nghiên cứu để đưa
ra chuẩn nghèo mới cho giai đoạn 2006- 2010
Theo chuẩn nghèo hiện tại, tỷ lệ hộ nghèo năm 2004 ở nước ta là 8,3%tương đương với khoảng 1,45 triệu hộ nghèo (năm 2001 tỷ lệ nghèo là 17,4%với khoảng 2,8 triệu hộ nghèo) Điều này cho thấy thực trạng nghèo đói đãđược cải thiện nhanh.Xu hướng này được phản ánh cụ thể trong biểu 1
Biểu 1: Tỷ lệ hộ nghèo ở nước ta trong thời gian qua
37,49,245,5152,518,69,51,711,8
28,96,635,610,91,913,66,91,38,7
Nguồn: Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (2003), báo cáo phát triển con người 2002.
Trang 10Các số liệu trong biểu 1 được tính toán dựa trên chuẩn nghèo chung doTổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới sử dụng để điều tra Chúng tôitrích dẫn các số liệu này với mục đích chủ yếu để phân tích xu hướng thay đổi
tỷ lệ nghèo sau thời kỳ 10 năm, từ 1993 đến 2002 Nếu năm 1993 có 58,1%
hộ nghèo, thì năm 1998 còn 37,4% số hộ và đến năm 2002 tỷ lệ này là 28,9%(khoảng 4,73 triệu hộ nghèo) Nghĩa là sau 10 năm hơn một nửa số hộ nghèo
đã được thoát nghèo Tuy nhiên, tốc độ giảm nghèo ở nông thôn và thành thịkhông giống nhau, trong đó thành thị giảm đi tới 4 lần, từ 25,1% năm 1993xuống còn 6,6% năm 2002, trong khi đó nông thôn chỉ giảm được gần 1/2 số
hộ nghèo, từ 66,4%/o xuống 35,6% Nếu tính theo chuẩn lương thực, thựcphẩm, thì ở thành thị số tỷ lệ hộ nghèo còn giảm nhanh hơn, từ 7,9% xuốngcòn 1,9%, nghĩa là giảm đi 4 lần, trong khi đó ở nông thôn chỉ giảm đi hơn 2lần từ 29,1% xuống còn 13,6% Các số liệu theo chỉ số khoảng cách nghèotính theo chuẩn nghèo chung (chỉ số này cho biết mức độ nghèo và được từbằng phân chênh lệch giữa mức chi tiêu thực tế so với chuẩn nghèo và đượcbình quân hoá) cũng cho biết xu hướng tương tự, cụ thể, giảm từ 18,5% năm
1993 còn 9,5% vào năm 1998 và đến năm 2002 còn 6,9%
3 Một số vấn đề còn tồn tại trong công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay
3.1 Số hộ nghèo vẫn còn nhiều, và phần lớn ở vùng nông thôn, số hộ
ở cận kề chuẩn nghèo còn đông, nếu nâng chuẩn nghèo lên gấp đôi thì tỷ lệ
hộ nghèo đã tăng lên gấp hơn 3 lần Mức độ nghèo còn khá nghiêm trọng.
Căn cứ vào chuẩn nghèo hiện nay ở nước ta có thể thấy được mức độnghèo của một bộ phận không nhỏ dân cư Theo các nhà hoạch định chính sách,nếu nâng chuẩn nghèo lên, dự kiến 180.000 VNĐ- 200.000 VNĐ/người/thángđối với vùng nông thôn và khoảng 250.000 VNĐ-260.000 VNĐ/người/tháng đốivới vùng thành thị, thì Việt Nam sẽ có khoảng 4,6 triệu hộ nghèo, chiếm 26%tổng số hộ toàn quốc Trong đó hộ nghèo ở nông thôn miền núi sẽ là 45,9%, ởvùng nông thôn đồng bằng sẽ là 23,2% và ở khu vực thành thị là 12,2% Khi
Trang 11đó, tỷ lệ nghèo ở các vùng kinh tế sẽ có chênh lệch đáng kể: Tây Bắc là72,3%; Đông Bắc 36,1%; Đồng bằng sông Hồng 19,8%; Bắc Trung Bộ39,7%; Duyên hải miền Trung 23,3%; Tây Nguyên 52,2%; Đông Nam Bộ10,2% và Đồng bằng sông Cửu Long 20,8%.
Có thể thấy rõ hơn thực trạng của các hộ nghèo qua một số chỉ tiêuphản ánh cuộc sống hàng ngày của họ Theo số liệu điều tra về mức sống dân
cư Việt Nam, nếu chia dân cư thành 5 nhóm thu nhập (tổng số nhân khẩu điềutra được sắp xếp theo mức thu nhập bình quân đầu người từ thấp đến cao, sau
đó chia thành 5 nhóm với số nhân khẩu bằng nhau - 20%), thì nhóm 1- nhómnghèo nhất có thu nhập trung bình năm 1998 là 62.916 VNĐ/người/tháng.(755 nghìn/năm) và năm 2002 là 107.670 VNĐ/người/tháng Trên 62,71% thunhập của hộ nghèo là từ hoạt động nông lâm nghiệp và thủy sản, 8% tìm hoạtđộng phi nông nghiệp, 19,24% từ tiền công, tiền lương và 10,05% là nguồnthu khác Điều này phản ánh rằng các hộ nghèo chủ yếu sống dựa vào nôngnghiệp và ở nông thôn.Cơ cấu chi tiêu của nhóm nghèo tập trung cho các nhucầu thiết yếu, như trên 70% chi tiêu là cho nhu cầu ăn, uống, hút và chưa đến30% cho các nhu cầu khác như mặc, y tế, giao thông, giáo dục, văn hoá, thểthao Một trong những nhu cầu cơ bản của con người là nơi ở Năm 2002 có39,93% người nghèo sống trong những căn nhà đơn sơ, tạm bợ, không bảođảm an toàn Các đồ dùng lâu bền phục vụ sinh hoạt hàng ngày vẫn còn rấtthiếu so với nhu cầu cuộc sống hiện đại Năm 1998 chỉ có 0,11% hộ nghèo có
tủ lạnh, 1,41% hộ nghèo có xe máy, và chưa đến 0,01% hộ nghèo có điệnthoại
3.2 Sự phân hóa giàu nghèo, giữa các khu vực nông thôn và thành thị, giữa các vùng kinh tế và giữa các đơn vị hành chính đang tồn tại với khoảng cách tương đối lớn, có xu hướng tăng.
Sự phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng được chú ý trong thời kỳchuyển đổi kinh tế ở nước ta Trước hết tỷ lệ nghèo phân biệt theo các vùng(xem biểu 2)
Biểu 2: Tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo chung chia theo vùng (%)
Trang 1222,438,468,043,925,25110,623,4Chú thích: (*) theo sự phân vùng lại năm 2002 Đông Nam Bộ bao gồm
cả các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Lâm Đồng.Vùng Tây Nguyên khôngbao gồm Lâm Đồng
Nguồn: Tổng cục thống kê (2004) Kết quả điều tra mức sống hộ gia đình năm 2002.
Các số liệu biểu 2 cho thấy sự chênh lệch về nghèo đói giữa các vùng.Năm 2002 vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là Tây Bắc (68,0%), sau đó đếnTây Nguyên (51,8%), Bắc Trung Bộ (43,9%), và thấp nhất là Đông Nam Bộ(10,6%) Tỷ lệ hộ nghèo ở vùng Tây Bắc nhiều gấp gần 7 lần vùng Đông Nam
Bộ, còn Tây Nguyên là gần 5 lần và Bắc Trung Bộ là 4 lần Cùng với xuhướng giảm tỷ lệ nghèo chung của cả nước, các vùng cũng có xu hướng giảm,trong đó Đông Bắc và Đông bằng sông Cửu Long có mức giảm nhanh nhất.Các tỉnh có tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm cao nhất tập trung ở vùng miềnnúi phía Bắc là Lai Châu (35,68%), Bắc Kạn (30,74%), Lào Cai (29,56%),Cao Bằng (27,01%), ở Tây Nguyên có tỉnh Gia Lai (18,18%), ở Bắc Trung Bộ