Trong chương trình Hóa học THPT hiện nay, mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo đãthực hiện giảm tải, nhưng ở một số bài kiến thức còn nhiều, trong thời gian ngắncủa 1 tiết học giáo viên gặp khô
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển của đất nước, nền giáo dục Việt Nam đang từng bước đổimới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo Nhằm thực hiện mục tiêu “Nâng caodân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài”, ngành giáo dục cần có sự đổi mới
về công tác quản lí, nội dung chương trình, phương pháp kiểm tra đánh giá, đặc biệt
là sự không ngừng đổi mới về phương pháp dạy học Hiện nay, vấn đề đổi mớiphương pháp dạy học được trao đổi, thảo luận sôi nổi và đó cũng là một trong cáctiêu chí để đánh giá xếp loại giáo viên hằng năm
Qua thực tiễn giảng dạy, tôi nhận thấy rằng môn Hóa học là môn học khoa học
tự nhiên sử dụng tư duy logic trên nền tảng lý thuyết đã học Thế nhưng, một bộphận học sinh còn lười học nên không nắm được kiến thức cơ bản, trọng tâm dẫnđến không vận dụng được kiến thức đã học Một số đối tượng học sinh khác dokhông nắm được bản chất của các quá trình hóa học nên các em cảm thấy môn Hóahọc nặng nề, dẫn đến việc các em chán nản, thụ động Để học sinh tích cực, chủđộng trong học tập nói chung và học môn Hóa học nói riêng thì việc đổi mớiphương pháp giảng dạy là vấn đề cấp thiết Ngoài ra, từ nhiều năm nay việc kiểmtra, đánh giá quá trình học tập Hóa học của học sinh theo phương pháp trắc nghiệmkhách quan Các em học sinh không những phải nắm vững kiến thức trọng tâm màcòn phải biết các vấn đề có liên quan dẫn đến khối lượng kiến thức tăng lên khiếncác em cảm thấy quá tải Vì vậy, giáo viên phải tìm phương pháp thích hợp cho từngchương, từng bài, thậm chí là từng đơn vị kiến thức cụ thể để kích thích sự tìm tòi,sáng tạo và ham học hỏi của học sinh
Trong chương trình Hóa học THPT hiện nay, mặc dù Bộ Giáo dục và Đào tạo đãthực hiện giảm tải, nhưng ở một số bài kiến thức còn nhiều, trong thời gian ngắncủa 1 tiết học giáo viên gặp không ít khó khăn để truyền tải được hết kiến thức.Giáo viên và học sinh đều chịu áp lực về thời gian rất lớn, ảnh hưởng đến chấtlượng việc dạy và học Trong thực tế giảng dạy, tôi nhận thấy rằng để nâng cao chấtlượng của việc dạy của giáo viên và việc học của học sinh thì học sinh phải tích cực,chủ động lĩnh hội kiến thức còn giáo viên là người tổ chức, hướng dẫn học sinh Đểlàm được điều đó, yêu cầu giáo viên phải luôn luôn tìm tòi, học hỏi, tự trau dồi đểtìm phương pháp dạy học thích hợp cho từng bài, từng phần cụ thể Vì thế tôi quyết
định chọn đề tài “Sử dụng hiệu quả phương pháp so sánh trong dạy học hóa học trung học phổ thông” trên cơ sở HS nghiên cứu bài mới ở nhà nhằm tìm ra giải
pháp để giải quyết các vấn đề bất cập nêu trên
1.2 Mục đích nghiên cứu
Phương pháp so sánh không phải là phương pháp mới, không những chỉ ápdụng trong dạy học mà còn áp dụng rất rộng rãi trong khoa học và đời sống Nhưngtrong phạm vi đề tài này, tôi muối nói đến việc áp dụng phương pháp này một cáchhiệu quả trong giảng dạy môn Hóa học THPT giúp dạy nhiều tiết với thời gian ngắn,tăng cường sự nghiên cứu của HS, mang lại hiệu quả cao
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Một số tiết học học, bài học có thể vận dụng phương pháp so sánh
Trang 2- Sử dụng phương pháp so sánh số tiết học học, bài học sẽ giúp HS hiểu sâu bài
hơn, giảm được thời gian trên lớp, giúp HS học tập chủ động hơn
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu, sách giáo khoa, sách giáo viên, sách bài tập
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
2 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Phương pháp so sánh là xác định sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vậthiện tượng của hiện thực Trong hoạt động tư duy của học sinh thì so sánh giữ vaitrò cực kỳ quan trọng Việc nhận thức bản chất của sự vật hiện tượng không thể cónếu không có sự tìm ra sự khác biệt sâu sắc, sự giống nhau của sự vật hiện tượng Việc tìm ra những dấu hiệu giống nhau cũng như khác nhau giữa hai sự vật hiệntượng là nội dung chủ yếu của tư duy so sánh Cũng như tư duy phân tích, tư duytổng hợp thì tư duy so sánh có thể ở mức độ đơn giản (tìm tòi, thống kê, nhận xét…) Trong dạy học nói chung và dạy học hóa học nói riêng thực tế trên sẽ đưa tớinhiều hoạt động tư duy đầy hứng thú Nhờ so sánh ta có thể tìm thấy các dấu hiệubản chất giống nhau và khác nhau của vấn đề
Sử dụng phương pháp só sánh để phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sángtạo của học sinh nhằm:
+ Bồi dưỡng phương pháp tự học;
+ Rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn;
+ Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh Vấn đề phát huy tính tích cực chủ động của học sinh nhằm tạo ra những conngười lao động sáng tạo Trong những năm gần đây có phong trào xây dựng
“Trường học thân thiện, học sinh tích cực” Tích tích cực của con người biểu hiện
trong hoạt động của chủ thể, học tập là hoạt động chủ đạo của người học Tính tíchcực của học sinh có sự tương đồng với tính tích cực nhận thức vì học tập là mộttrường hợp đặc biệt của nhận thức, nên nói đến tích cực học tập là nói đến tích cựcnhận thức
Phương pháp so sánh trong dạy học nói chung và dạy học Hóa học nói riêng yêucầu người học phải tích cực, chủ động để lĩnh hội kiến thức Trong dạy học Hóa họcTHPT, phương pháp so sánh yêu cầu người học phải tự tìm tòi kiến thức dựa vàosách giáo khoa, sách tham khảo và trong thời đại công nghệ thông tin hiện nay thìmạng internet là kho tri thức khổng lồ Qua việc tìm tòi kiến thức rèn luyện cho các
em tính kiên trì, tự giác và chủ động trong công việc Sử dụng phương pháp so sánhcòn yêu cầu học sinh phải làm việc theo nhóm, học sinh từng nhóm phải biết tựphân công công việc trong nhóm, thành công hay thất bại của nhóm phụ thuộc vào
sự nỗ lực của các thành viên trong nhóm Qua đó, các em có trách nhiệm hơn trongcông việc được giao và đó cũng chính là phần kiến thức mà học sinh lĩnh hội được
Sử dụng phương pháp so sánh còn tạo được phong trào thi đua học tập giữa các đội,
Trang 2
Trang 3các nhóm, các tổ trong lớp học Hoạt động nhóm đem lại hứng thú học tập cho họcsinh, các em sẽ đoàn kết hơn, tích cực và chủ động hơn trong việc lĩnh hội kiếnthức
Phương pháp so sánh là một trong những phương pháp dạy học tích cực,người ta coi trọng việc tổ chức cho học sinh hoạt động, chủ động chiếm lĩnh trithức, hình thành kĩ năng, rèn luyện phương pháp tự học, khả năng vận dụng kiến
thức vào thực tiễn “Sử dụng hiệu quả phương pháp so sánh trong dạy học hóa học trung học phổ thông” sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học Hóa học ở
trường phổ thông
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Việc dạy, học môn Hóa học của giáo viên, học sinh trong nhà trường THPThiện nay là phụ thuộc chủ yếu vào nội dung, bố cục của sách giáo khoa đã khiến cho
giáo viên, học sinh chịu nhiều áp lực về thời gian trong quá trình thực hiện Phương pháp so sánh trong dạy học hóa học có thể giúp giáo viên kết nối nhiều đơn vị kiến
thức thậm trí nhiều bài học gắn kết lại với nhau làm cho nội dung kiến thức đượcđơn giản hóa, ngắn gọn lại, tiết kiệm được thời gian nhưng đồng thời lại nghiên cứuđược nhiều kiến thức cùng lúc, tìm ra được điểm giống, khác nhau giữa các vấn đềnghiên cứu giúp cho học sinh dễ dàng trong quá trình học bài và nhớ được kiến thứclâu hơn
Hiện nay, trong chương trình Hóa học THPT sử dụng Sách giáo khoa theo haiban riêng biệt là Ban cơ bản và Ban nâng cao Trong thời gian từ năm 2007 đến nay,tôi đã áp dụng hiệu quả phương pháp so sánh trong một số bài học cụ thể của cả 3 khối 10, 11, 12 được học sinh ủng hộ và đồng nghiệp đánh giá cao
Trong chương trình có thể chia phương pháp so sánh làm 2 phần: so sánh nghiên cứu kiến thức (áp dụng cho việc nghiên cứu bài mới) và so sánh tái hiện kiến thức
(áp dụng vào bài luyện tập, ôn tập chương) Một số bài, tiết cụ thể như sau:
* Phương pháp so sánh nghiên cứu kiến thức:
- Khối 10: + Tiết 15 - Bài 8: Sự biến đổi tuần hoàn cấu hình electron nguyên tử của các nguyên tố hoá học
+ Tiết 31 - Bài 18: Phân loại phản ứng trong hóa học vô cơ
+ Tiết 42 - Bài 25: Brom và iot
+ Tiết 49, 50 - Bài 29: Oxi và ozon
- Khối 11: + Tiết 17 - Bài 10: Photpho
+ Tiết 19 - Bài 12: Phân bón hóa học
- Khối 12: + Tiết 3 - Bài 2: Lipit
+ Tiết 7, 8 - Bài 5: Glucozơ (NC)
+ Tiết 9, 10 - Bài 6: Sacarozơ (NC)
+ Tiết 12 - Bài 8: Xelulozơ (NC)
+ Tiết 16, 17 - Bài 11: Peptit và protein
+ Tiết 20 - Bài 13: Đại cương về polime
Trang 4* Phương pháp so sánh tái hiện kiến thức:
- Khối 10: + Tiết 19 - Bài 14: Luyện tập chương 2
+ Tiết 27 - Bài 16: Luyện tập chương 3
+ Tiết 45 - Bài 26: Luyện tập halogen
+ Tiết 57 - Bài 34: Luyện tập halogen
- Khối 11: + Tiết 20 - Bài 13: Luyện tập tính chất của nitơ, photpho và các hợp
chất của chúng
+ Tiết 27 - Bài 19: Luyện tập tính chất của cacbon, silic và các hợp chất của chúng
-Khối 12: + Tiết 5 - Bài 4: Luyện tập este và chất béo;
+ Tiết 11 - Bài 7: Luyện tập cấu tạo và tính chất của cacbohiđrat;
+ Tiết 20 - Bài 12: Luyện tập cấu tạo và tính chất của amin, aminoaxit
kiến thức đã học Cách tiến hành dạy học theo phương pháp so sánh các bài học trên
là hoàn toàn giống nhau, nội dung cần so sánh của các bài học đó được thể hiện đầy
đủ, rõ ràng trong Sách giáo khoa Cho nên, “phương pháp so sánh tái hiện kiến thức” trong đề tài này chỉ trình bày cách thức dạy học chung cho tất cả các bài học Chúng ta sẽ đi sâu nghiên cứu “phương pháp so sánh nghiên cứu kiến thức”, phân
tích “nội dung so sánh” trong từng bài học, từng phần kiến thức cụ thể của bài học
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Phương pháp so sánh nghiên cứu kiến thức:
Để áp dụng phương pháp so sánh nghiên cứu kiến thức mới vào bài học, giáoviên (GV) cần chuẩn bị phiếu học tập cho tiết học sau để HS về nhà nghiên cứu GVchuẩn bị bảng phụ cho tiết học GV chia nhóm, thống nhất nội dung sau khi từng
HS nghiên ở nhà, đại diện từng nhóm trình bày một nội dung, nhận xét, đánh giá và
GV kết luận Có thể tổ chức thi kiến thức
2.3.1.1 KHỐI 10
Tiết 15 - Bài 8: Sự biến đổi tuần hoàn cấu hình electron của nguyên tử các
nguyên tố hóa học (Phần II.2: Một số nhóm A tiêu biểu)
II Cấu hình electron nguyên tử của các nguyên tố nhóm A
2 Một số nhóm A tiêu biểu
Trang 4
Trang 5GV chia HS thành 4 nhóm hoạt động
ở bài trước và yêu cầu HS nghiên cứu
trước ở nhà
GV sử dụng 4 bảng phụ đã kẻ yêu cầu
chung của cả 3 nhóm IA, VIIA và
VIIIA (tên nhóm, tên các nguyên tố,
cấu hình electron lớp ngoài cùng, xu
hướng nhường – nhận electron của
nguyên tử, phân tử có bao nhiêu
nguyên tử, tính chất hoá học cơ bản)
GV giới hạn thời gian trong 10 phút
GV hướng dẫn HS nhận xét, chỉnh lí
và bổ sung những nội dung chưa
đúng
GV đánh giá mức độ hoạt động từng
nhóm, có tuyên dương và phê bình
HS chia lớp thành 4 nhóm theo yêu cầu của
GV
Các nhóm HS tự nghiên cứu SGK, tích cực hoạt động nhóm và hoàn thành nội dung theo yêu cầu
Sau 10 phút, HS các nhóm treo bảng phụ lênbảng theo hướng dẫn của GV
Đại diện các nhóm lên trình bày, sau đó các nhóm nhận xét chéo mức độ hoàn thành của nhau: Nhóm 1 nhận xét nhóm 2, nhóm 2 nhận xét nhóm 3, nhóm 3 nhận xét nhóm 4, nhóm 4 nhận xét nhóm 1
Nhóm VIIIA (khí hiếm)
Tên các
nguyên tố Li, Na, K, Rb, Cs F, Cl, Br, I He, Ne, Ar, Kr, Xe,
RnCấu hình (e)
Phân tử Dạng tinh thể Phân tử có 2 nguyên tử
(X2)
Phân tử có 1 nguyên tử
Không tham gia phản ứng hóa học
vì khí hiếm có cấuhình electron ngoài cùng bền vững 8electron (trừ He) [1]
Trang 6Tiết 31 - Bài 18: PHÂN LOẠI PHẢN ỨNG TRONG HÓA HỌC VÔ CƠ
Phiếu học tập (GV cho trước HS về nhà chuẩn bị)
Hoàn thành bảng phụ sau:
STT Số oxi hóa của các
nguyên tố
Loại phản ứng (hóa hợp, phân hủy, thế, trao đổi)
Có thay đổi số oxi hóa
Không thay đổi số oxi hóa
1 2Ca + O2→ 2CaO
2 SO3 + H2O→ H2SO4
3 CaCO3→ 2CaO + CO2
Phản ứng phân huỷ
VD: CaCO3→ 2CaO + CO2
Phản ứng phân huỷVD: 2NH3 3H2 + N2
Phản ứng thếVD: Fe + CuSO4 FeSO4+ CuPhản ứng trao đổi
VD: NaOH + HCl→ NaCl + H2O
Tiết 42 - Bài 25: BROM VÀ IOT
Phiếu học tập (GV cho trước HS về nhà chuẩn bị)
Nêu và hoàn thành bảng sau:
Trang 7- Đại diện các nhóm trình bày, nhận xét
- Tồn tại chủ yếu dạng muối bromua,
có trong nước biển
- Iot là chất rắn, màu đen tím, dễ
bị thăng hoa Iot rất ít tan trong nước, tan nhiều trong dung môi hữu cơ
- Tồn tại chủ yếu dạng muối iotua,
có trong nước biển
2 Tính chất hóa học
Tác
dụng với
kim loại
Brom oxi hóa được nhiều kim loại:
2Na + Br2 2NaBr (natri bromua)2Al + 3Br2 2AlBr3 (nhôm bromua)
Iot oxi hóa được nhiều kim loạikhi đun nóng hoặc có xúc tác 2Na + I2 2NaI (Natri iotua)
Fe + I2 FeI2 (sắt (II) iotua)
Tác
dụng với
hiđro
Phản ứng khi đun nóng và tỏa nhiệt
ít hơn so với clo:
Phản ứng xảy ra khó khăn hơn clo
Br2+ 2NaOH NaBr +NaBrO + H2O
dẫn xuất của hidrocacbon trong công
nghiệp dược phẩm; Để sản xuất AgBr
dùng để tráng lên phim; Hợp chất của
brom được dùng nhiều trong công
nghiệp dầu mỏ, hóa chất cho nông
Trang 8Tiết 49, 50 - Bài 29: Oxi và ozon
Phiếu học tập (GV cho trước HS về nhà chuẩn bị)
Nêu và hoàn thành bảng sau:
- Cho 2 dãy, mỗi dãy cử 6 HS lên trình bày
- Cho 2 dãy nhận xét của nhau, chấm điểm và kết luận
CTPT CTCT O O3 O O
Trạng thái tự
nhiên
Oxi chiếm khoảng 20% về thể tích trong không khí và lượng này không đổi nhờ quá trình quang hợp của cây xanh
Là chất khí, màu xanh nhạt, mùi đặc trưng, tan trong nước nhiều hơn oxi 16 lần
Tính oxi hoá mạnh, mạnh hơn oxi
- Oxi tác dụng được với hầu hết với các KL (Trừ Au, Pt)
Điều chế - Trong phòng thí nghiệm
Nhiệt phân hợp chất giàu oxi, kém bền: KMnO4, KClO3, H2O2
Trong cơn giông đã xảy ra phảnứng tạo thành ozon từ oxi:
Trang 8
Trang 9- Trong công nghiệp
ứng dụng - Có vai trò quyết định đối với
sự sống của con người và động vật
- Luyện thép, công nghiệp hóa chất, y khoa, hàn…
- Lá chắn bảo vệ cho sự sống trên
bề mặt trái đất
- Lượng nhỏ làm không khí trong lành
- Tẩy trắng tinh bột, dầu ăn…
- Khử trùng nước ăn, khử mùi, bảo quản hoa quả, chữa sâu răng [1]
2.3.1.2 KHỐI 11
Tiết 17 - Bài 10: PHOTPHO (Phần II Tính chất vật lý)
Phiếu học tập (GV cho trước HS về nhà chuẩn bị)
Chất bột, màu đỏ, cấu trúc polime (Pn)
Tính tan Không tan trong nước nhưng tan
được trong một số dung môi hữu
cơ (bảo quản bằng cách ngâm trong nước)
Không tan trong các dung môithông thường
Tính phát quang Phát quang màu lục nhạt trong Không phát quang [3]
Trang 10bóng tối.
Tiết 19 - Bài 12: PHÂN BÓN HÓA HỌC (Phần I Phân đạm; Phần II Phân lân;
Phần IV Phân hỗn hợp và phân phức hợp)
Phiếu học tập (GV cho trước HS về nhà chuẩn bị)
Trang 11Phần II Phân lân
Các loại
phân lân Supephotphat đơn Supephotphat kép Phân lân nung chảy
Thành phần
hóa học chính
Ca(H2PO4)2, CaSO4 Ca(H2PO4)2 Hỗn hợp photphat và
silicat của canxi và magie
Ca 3 (PO 4 ) 2 +2H 2 SO → 2CaSO 4 + Ca(H 2 PO 4 ) 2
2 giai đoạn: điều chế axit H3PO4 và cho axit này tác dụng với quặngphotphoric hoặc apatit
Ca 3 (PO 4 ) 2 +3H 2 SO 4 → 2H 3 PO 4 + 3CaSO 4
Ca 3 (PO 4 ) 2 + 4H 3 PO 4 → 3Ca(H 2 PO 4 ) 2
Nung hỗn hợp quặngapatit, đá xà vân và than cốc ở 10000C, làm nguội, nghiền nhỏ[3]
Phần IV Phân hỗn hợp và phân phức hợp
Giống nhau Đều cung cấp cả 3 nguyên tố dinh dưỡng N, P, K
NH4H2PO4, (NH4)2HPO4
Khác nhau Trộn lẫn các loại phân đơn
giải với nhau
Hỗn hợp các chất tạo ra đồng thời bằng tương tác hóa học [3]
2.3.1.3 KHỐI 12
Tiết 3 -Bài 2: Lipit
Sau khi học tiết 2 – bài 1: Este, để chuẩn bị học tiết 3, GV cho phiếu học tập để HS
về nhà chuẩn bị
Nêu và so sánh một số nội dung về Este và Chất béo