1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nữ trí thức trong các trường chính trị tỉnh, thành phố ở việt nam hiện nay

182 249 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Là một bộ phận chủ lực trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, lãnh đạo, quản lý trong các trường chính trị, trong những năm qua, được sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền,

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ LAN

NỮ TRÍ THỨC TRONG CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH, THÀNH PHỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ LAN

NỮ TRÍ THỨC TRONG CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH, THÀNH PHỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

Mã số: 62 22 03 08

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐỖ THỊ THẠCH

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực,

có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Nguyễn Thị Lan

Trang 4

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN

NỮ TRÍ THỨC TRONG CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 31 2.1 Quan niệm về nữ trí thức, nữ trí thức trong các trường chính trị ở Việt Nam 31 2.2 Đặc điểm và vai trò của nữ trí thức trong các trường chính trị ở Việt Nam

2.3 Những yếu tố tác động đến vai trò của nữ trí thức trong các trường chính trị 55

Chương 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN VAI TRÒ CỦA NỮ TRÍ THỨC

Chương 4: QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT

HUY VAI TRÒ NỮ TRÍ THỨC TRONG CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ Ở

4.1 Quan điểm cơ bản phát huy vai trò nữ trí thức trong các trường chính trị ở

4.2 Những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của nữ trí thức trong các

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1: Một số trường chính trị có tỷ lệ nữ trí thức thấp trong tổng số

Bảng 2.2: Một số trường chính trị có số lượng nữ trí thức chiếm tỷ lệ cao

trong tổng số đội ngũ trí thức nhà trường 42 Bảng 2.3: Trình độ học vấn của nữ trí thức ở một số trường chính trị

Bảng 3.1: Chức danh giảng dạy của nữ giảng viên ở một số trường

Bảng 3.2: Nữ trí thức ở một số trường chính trị tham gia các chương

Bảng 3.3: Số lượng lớp và chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của một số

trường chính trị trong năm học 2015 - 2016 77

Bảng 3.4: Số lượng nữ trí thức tham gia đề tài nghiên cứu khoa học cấp

số trường chính trị nhiệm kỳ 2010 - 2015 và 2015 - 2020 91 Bảng 3.8: Số lượng nữ trí thức tham gia Ban Giám hiệu ở một số trường

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

Ở Việt Nam, hiện nay có 63 trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là trường chính trị), được Đảng, Nhà nước giao thực hiện chức năng, nhiệm vụ là tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị cấp cơ sở, cán bộ, công chức ở địa phương

về lý luận chính trị - hành chính; đường lối, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; kiến thức và chuyên môn, nghiệp vụ

về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; kiến thức về pháp luật và quản lý nhà nước và một số lĩnh vực khác [17]

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, cùng với sự phát triển đi lên của đất nước, trong những năm qua hệ thống các trường chính trị đã không ngừng phát triển, có nhiều đóng góp tích cực, hiệu quả vào sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở cơ sở, từng bước đáp ứng yêu cầu đặt ra của sự nghiệp đổi mới đất nước Những kết quả đạt được trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của các trường chính trị tỉnh, thành phố có

sự đóng góp quyết định của đội ngũ trí thức nói chung và nữ trí thức nói riêng đang làm việc ở các cơ sở đó

Là một bộ phận chủ lực trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, lãnh đạo, quản lý trong các trường chính trị, trong những năm qua, được sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền, nhà trường và sự vươn lên của bản thân, đội ngũ nữ trí thức các trường chính trị không ngừng phát triển cả

về số lượng, cơ cấu và chất lượng Họ đã và đang làm việc hăng say, nhiệt huyết với tinh thần, trách nhiệm cao nhất trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn Một số chị đã trở thành nhà giáo ưu tú, giáo viên dạy giỏi toàn quốc; có chị trở thành nhà quản lý giỏi với cương vị là thủ trưởng đơn vị Hiện nay, nữ

Trang 7

trí thức các trường chính trị tham gia công tác lãnh đạo, quản lý từ cấp khoa, phòng trở lên chiếm trên 20%, trong đó cán bộ quản lý cấp trường chiếm tỷ lệ khoảng 8%; tỷ lệ có học hàm, học vị cũng được tăng lên,… Những đóng góp của các chị góp phần không nhỏ vào thành tích to lớn của các nhà trường trong công tác đào tạo cán bộ của Đảng, nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, qua

đó góp phần khẳng định vị thế, vai trò của nữ trí thức Việt Nam nói chung trong tiến trình xây dựng đất nước

Tuy nhiên, từ thực tiễn ở các trường chính trị hiện nay, cho thấy, đội ngũ nữ trí thức ở đây, chưa thực sự phát huy hết tiềm năng, vai trò; chưa đáp ứng được yêu cầu khách quan của sự nghiệp đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở cũng như công tác nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển kinh tế -

xã hội địa phương Tỷ lệ nữ trí thức ở các trường chính trị có trình độ đại học trở lên chiếm ưu thế tuyệt đối (100%), nhưng càng ở bậc cao, tỷ lệ này càng thấp đi, thậm chí rất thấp (tiến sỹ chỉ khoảng 2%, chỉ có 12,1% nhà giáo ưu

tú, chưa có nữ giáo sư, phó giáo sư ) Số lượng nữ trí thức người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ rất thấp Phần lớn nữ trí thức có trình độ cao đều đã ở tuổi cao, nữ trí thức trẻ làm lãnh đạo, quản lý nhà trường còn ít Trình độ ngoại ngữ, tin học, kiến thức, kỹ năng, năng lực lãnh đạo, quản lý của một bộ phận không nhỏ nữ trí thức chưa tương xứng với yêu cầu phân cấp quản lý công việc ở các trường chính trị hiện nay,…

Bất cập trên do nhiều nguyên nhân, như nhận thức xã hội về vai trò của

nữ trí thức chưa có sự công bằng so với nam trí thức; môi trường, điều kiện làm việc, cơ chế, chính sách có tính đặc thù cho nữ trí thức trong các trường chính trị còn hạn chế; do sự tự ty, an phận của một bộ phận không nhỏ nữ trí thức v.v Vì vậy, trước yêu cầu của sự nghiệp đào tạo đội ngũ cán bộ cho cấp

cơ sở, nâng cao chất lượng về chuyên môn, nghiệp vụ, cũng như công tác nghiên cứu khoa học góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương,… cần

Trang 8

phải phát huy vai trò của toàn thể đội ngũ cán bộ các nhà trường, trong đó có vai trò quan trọng của đông đảo nữ trí thức các trường chính trị là rất cần thiết, đòi hỏi phải có các giải pháp toàn diện, động bộ, khả thi

Tuy nhiên, cho đến nay, ở nước ta chưa có một công trình nào nghiên cứu cụ thể về nữ trí thức trong các trường chính trị Đây là một khoảng trống cần nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, của Đảng, Nhà nước, các địa phương Là một giảng viên đang giảng dạy tại trường chính trị, tác giả đã

lựa chọn đề tài “Nữ trí thức trong các trường chính trị tỉnh, thành phố ở

Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận án tiến sĩ, chuyên ngành Chủ nghĩa xã

hội khoa học với mong muốn góp phần đề xuất các hướng phát triển đội ngũ

nữ trí thức các trường chính trị đáp ứng yêu cầu đào tạo cán bộ của Đảng, Nhà nước hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích

Trên cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của nữ trí thức trong các trường chính trị ở Việt Nam, luận án đề xuất một số quan điểm cơ bản, giải pháp chủ yếu góp phần phát huy vai trò nữ trí thức trong các trường chính trị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị cấp cơ sở hiện nay

2.2 Nhiệm vụ

Thứ nhất, làm rõ đặc điểm, vai trò và những yếu tố tác động đến nữ trí

thức trong các trường chính trị ở Việt Nam hiện nay

Thứ hai, phân tích thực trạng thực hiện vai trò của nữ trí thức trong các

trường chính trị ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra

Thứ ba, đề xuất các quan điểm cơ bản, những giải pháp chủ yếu nhằm

phát huy vai trò nữ trí thức trong các trường chính trị ở Việt Nam đáp ứng yêu

Trang 9

cầu, nhiệm vụ đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý của hệ thống chính trị cấp cơ

sở hiện nay

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đội ngũ nữ trí thức trong các trường chính trị ở

Việt Nam (vai trò, thực hiện vai trò)

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Hiện nay, cả nước có 63 trường chính trị tỉnh, thành

phố trực thuộc Trung ương Tuy nhiên, trong luận án tác giả đã lựa chọn tiến hành nghiên cứu, khảo sát nữ trí thức ở 08 trường chính trị đại diện cho các vùng miền trong cả nước

Phía Bắc: Trường Chính trị tỉnh Lào Cai, Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ, Trường Chính trị Tô Hiệu thành phố Hải Phòng

Miền Trung và Tây Nguyên: Trường Chính trị tỉnh Nghệ An, Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi, Trường Chính trị tỉnh Đắk Lắk

Phía Nam: Trường Chính trị tỉnh Tây Ninh và Trường Chính trị thành phố Cần Thơ

- Về thời gian: Luận án nghiên cứu nữ trí thức trong các trường chính trị

từ năm 2008 đến nay (Từ khi có Quyết định 184-QĐ/TW, ngày 03/9/2008 của

Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của các trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương)

- Về nội dung: Nữ trí thức trong các trường chính trị hiện nay tham gia

vào nhiều hoạt động khác nhau của nhà trường từ giảng dạy lý luận chính trị, nghiên cứu khoa học, lãnh đạo, quản lý, công tác quản trị văn phòng, công tác tài chính kế toán,… Tuy nhiên, trong giới hạn của luận án, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu vai trò, thực hiện vai trò của nữ trí thức trong các trường chính trị

Trang 10

trên 03 lĩnh vực chủ yếu: (1) Hoạt động đào tạo, (2) Hoạt động nghiên cứu

khoa học và (3) Hoạt động lãnh đạo, quản lý của nhà trường

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đội ngũ trí thức, nữ trí thức, vai trò của đội ngũ nữ trí thức

Luận án tham khảo các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học ở trong nước và nước ngoài liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận án

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận án sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh và một số phương pháp liên ngành

Luận án sử dụng phương pháp điều tra xã hội học, gồm 01 mẫu phiếu khảo sát, với số lượng: 425 phiếu; phạm vi: 08 trường chính trị tỉnh, thành phố

đã được lựa chọn ở mục phạm vi không gian; đối tượng phiếu khảo sát: 220 nữ trí thức và 205 nam trí thức là cán bộ giảng viên, chuyên viên, lãnh đạo, quản

lý các cấp của nhà trường; kết quả khảo sát (Phụ lục 7)

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Một là, luận án góp phần làm rõ đặc điểm, vai trò, điểm mạnh, điểm hạn

chế trong thực hiện vai trò của nữ trí thức trong các trường chính trị hiện nay; chỉ rõ những vấn đề đặt ra đối với việc phát huy vai trò của nữ trí thức trong các trường chính trị hiện nay

Hai là, luận án góp phần đề xuất một số giải pháp, khuyến nghị nhằm

phát huy vai trò của nữ trí thức trong các trường chính trị đáp ứng yêu cầu trong công tác đào tạo cán bộ cấp cơ sở hiện nay

Trang 11

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án cung cấp một số cơ sở lý luận, thực tiễn góp phần trong xây dựng và thực hiện chính sách đối với nữ trí thức trong các trường chính trị nói riêng, nữ trí thức làm công tác lý luận chính trị nói chung

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập những chuyên đề liên quan đến vấn đề con người, đội ngũ trí thức, nữ trí thức, phụ nữ và các chuyên ngành khác có liên quan

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình của tác giả đã công

bố liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm

4 chương, 11 tiết

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN

ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1.1 Những công trình nghiên cứu tiêu biểu về trí thức

Trong những năm qua, các công trình nghiên cứu về trí thức Việt Nam rất đa dạng, phong phú, tiêu biểu như:

Hoàng Phê trong cuốn Từ điển Tiếng Việt cho rằng, trí thức là “người

chuyên làm việc lao động trí óc và có chuyên môn cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của mình” [68] Cách định nghĩa này đã chỉ ra một số đặc điểm của trí thức, nhưng, cho đến nay, nó đã bị vượt qua, bởi nó chưa nhấn mạnh được đặc điểm lao động đặc thù của người trí thức là lao động trí óc sáng tạo, phức tạp, tạo ra những sản phẩm có giá trị đặc biệt về tinh thần, vật chất

Với hai công trình Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước [44] và Trí thức Việt Nam tiến cùng thời đại [45] của Nguyễn Đắc Hưng đã

làm rõ quan niệm về trí thức; vị trí, vai trò của trí thức; những phương hướng chủ yếu để xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức ở nước ta đáp ứng yêu cầu của thời đại Trên cơ sở khẳng định nội hàm rất rộng của khái niệm trí thức, tác giả đã chỉ rõ: Trí thức là những người không chỉ có trình độ học vấn cao

mà điều quan trọng nhất là họ thực sự lao động bằng trí tuệ có tính sáng tạo,

có những cống hiến nhất định hữu ích cho xã hội và phải được xã hội kiểm định chất lượng thông qua hoạt động thực tiễn [45, tr.16-17] Đây là sự đổi mới tư duy về trí thức, từ chỗ coi trọng trình độ chuyên môn được đào tạo đến chỗ thừa nhận và đòi hỏi năng lực lao động thực tế thông qua sự kiểm định khách quan của xã hội

Trang 13

Nguyễn An Ninh, Phát huy tiềm năng của trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong công cuộc đổi mới đất nước [67] Từ những kiến giải về tiềm

năng của trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong giai đoạn hiện nay, tác giả

đã đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm phát huy tiềm năng của đội ngũ này góp phần vào quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trong hai công trình nghiên cứu: Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước [48] và công trình Nguồn lực trí tuệ Việt Nam - Lịch sử, hiện trạng và triển vọng [49] của Nguyễn Văn

Khánh đã tập trung luận chứng khoa học về vấn đề trí thức, nguồn lực trí tuệ với cách tiếp cận liên ngành Đội ngũ trí thức được tác giả quan niệm là tầng lớp tinh hoa của nguồn lực trí tuệ Việt Nam Trên cơ sở khảo sát, đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực này, ông đã đưa ra hệ thống giải pháp có ý nghĩa thiết thực đối với việc xây dựng và phát huy vai trò của nguồn lực trí tuệ đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của sự nghiệp chấn hưng đất nước

Nguyễn Khánh Bật, Trần Thị Huyền, Xây dựng đội ngũ trí thức thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh [10]

Đây là công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu về trí thức dưới góc độ

tư tưởng Hồ Chí Minh Nhóm tác giả đã khái quát những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về trí thức, làm rõ sự vận dụng sáng tạo của Đảng và Nhà nước ta trong công tác xây dựng trí thức đồng thời đánh giá những đóng góp, hạn chế của đội ngũ này trong cách mạng Việt Nam, trên

có sở đó, đi sâu phân tích những giải pháp xây dựng đội ngũ trí thức ở nước

ta thời kỳ 2011 - 2020 đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Phạm Tất Dong trong đề tài Luận cứ khoa học cho các chính sách nhằm phát huy năng lực sáng tạo của giới trí thức và sinh viên [15] đã tập

trung phân tích làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và tính pháp lý của việc

Trang 14

hoạch định chính sách, giải pháp hướng vào việc khơi dậy, khai thác, sử dụng năng lực sáng tạo của giới trí thức và sinh viên trong hoạt động giáo dục và đào tạo

Đàm Đức Vượng, Nguyễn Viết Thông, Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011- 2020 [122] Đây là công trình nghiên cứu công phu và

có hệ thống về trí thức Trên cơ sở đánh giá tổng thể về thực trạng đội ngũ trí thức Việt Nam, đề tài đi sâu phân tích, kiến nghị những giải pháp nhằm xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước

Đề tài đã làm rõ thêm nội hàm của khái niệm trí thức trên bình diện rộng Không những chỉ ra tính chất lao động trí óc cùng với những yêu cầu về sự hiểu biết, trình độ, khát vọng dân chủ, công bằng, tự do và kết quả sáng tạo trong việc truyền bá, phổ biến, ứng dụng vào đời sống xã hội của trí thức, các tác giả đề tài còn xác định rõ thiên chức, phẩm chất, tính cách của người trí thức Việt Nam Đây là tư liệu quan trọng cho tác giả luận án khi nghiên cứu về đặc điểm của đội ngũ nữ trí thức ở các trường chính trị ở Việt Nam hiện nay

Luận án Trí thức Việt Nam trong phát triển kinh tế tri thức [92] của

Nguyễn Công Trí, đã chỉ ra những đặc trưng, tiêu chí cơ bản để xác định trí thức, vai trò của đội ngũ này trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức Luận

án xác định, trí thức là người lao động trí óc và thường có trình độ học vấn cao, được đào tạo hoặc tự đào tạo Tuy nhiên, “giá trị quan trọng nhất của người trí thức chân chính đó là chân lý và lẽ phải; trí thức là người tự tin và ngay thẳng, có lòng tự trọng, khả năng hành xử đúng mực và thích ứng cao với các biến đổi của môi trường tự nhiên, xã hội” [92, tr.30]

Trần Thị Lan trong cuốn Chất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam [55] đã nêu lên cơ sở lý luận về chất lượng lao động

của trí thức giáo dục đại học; đánh giá thực trạng chất lượng lao động của đội ngũ trí thức giáo dục đại học Việt Nam và đề xuất những giải pháp cơ bản để

Trang 15

nâng cao chất lượng lao động của đội ngũ này Tác giả luận án cho rằng “trí thức là một tầng lớp xã hội được đặc trưng bởi phương thức lao động trí óc, sáng tạo Họ là lực lượng chủ yếu tham gia trực tiếp vào việc phát kiến, giữ gìn và truyền bá tri thức góp phần thúc đẩy sự phát triển nhận thức khoa học

và sự tiến bộ của xã hội” [55, tr.26]

Tiếp tục làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự nhận thức đúng đắn của Đảng ta trong quan điểm về trí thức, một số bài viết đăng trên

các tạp chí trong thời gian qua đã đề cập đến vấn đề này, tiêu biểu như: Đội ngũ trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [50]; Những bài học từ quan điểm của Lênin về trí thức [51] của Phan Thanh Khôi;

và Suy ngẫm và nhận thức về vấn đề tri thức [6] của Nguyễn Đức Bách…

Đồng thời, nhiều bài viết đã khai thác những khía cạnh mới về chức năng, nhiệm vụ, chính sách sử dụng, đãi ngộ trí thức và giải pháp phát huy vai trò của đội ngũ trí thức nhằm đáp ứng đòi hỏi, yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập, phát triển kinh tế tri thức Có thể kể đến một số

bài viết như có giá trị khoa học như: Mấy vấn đề cần đổi mới tạo động lực và điều kiện để trí thức nước ta phát huy tài năng trí tuệ [5] của Nguyễn Đức Bách và Nhà khoa học và sự sáng tạo trong khoa học xã hội [52] của Phan Thanh Khôi,…

Bàn về khái niệm trí thức, Dương Trung Quốc, trong bài viết Đảng và trí thức - một thoáng nhìn lịch sử [69] đã cho rằng, trí thức phải được coi là

một “phẩm chất” nhiều hơn là một tầng lớp Do tác động của xu thế phát triển giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và sự phát triển của “kinh tế tri thức” làm cho nội hàm của khái niệm “trí thức” cần được mở rộng hơn Học vấn đã

có cơ hội đến với các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, mọi lực lượng lao động

xã hội đều phải coi tri thức là một nhu cầu sống còn của mình

Những công trình nghiên cứu nêu trên đã cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn quan trọng để tác giả luận án luận chứng về nữ trí thức, về vai trò của đội

Trang 16

ngũ nữ trí thức dưới góc độ là một bộ phận của đội ngũ trí thức trong điều kiện đổi mới, hội nhập, phát triển kinh tế tri thức và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về phụ nữ, bình đẳng giới và

Cuốn sách Địa vị người phụ nữ trong gia đình nữ trí thức [26] của Đoàn Thị Bích Điểm đã chỉ ra rằng, vị thế của người phụ nữ ngày càng được

nâng cao trong gia đình so với phụ nữ Việt Nam trong chế độ xã hội cũ Tuy nhiên so với nam giới vị thế này vẫn còn kém xa, kể cả trong các gia đình nữ trí thức Họ chủ yếu có ưu thế trong việc quyết định những công việc liên quan đến nội trợ, ít quan trọng hơn như mua thức ăn, quần áo, tiền học cho con, Tác giả cũng đã giải thích thực trạng trên là do dựa trên sự phân công lao động xã hội theo giới Phụ nữ là lực lượng thường xuyên thực hiện các công việc nội trợ nên quyết định những công việc này Đàn ông là trụ cột của gia đình nên thường lo toan những việc lớn Điều này đã khẳng định dù có dân chủ hơn, bình đẳng hơn, các gia đình trong đó có gia đình nữ trí thức vẫn

bị ảnh hưởng bởi các định kiến giới

Lê Thị Quý trong bài viết Phụ nữ trong đổi mới: Thành tựu và thách thức [70] cho rằng nhiều nghiên cứu đã luận giải tỷ số chênh lệch giữa nam

Trang 17

và nữ với tư cách là lãnh đạo quản lý trong bộ máy nhà nước ở các cấp Đồng thời, tác giả bước đầu chỉ ra quan niệm, định kiến giới của một số cán bộ chính quyền và người dân đối với việc phụ nữ tham gia lãnh đạo Nghiên cứu này đã cung cấp một số cơ sở cho đề tài khi nghiên cứu nữ trí thức tham gia vào lĩnh vực lãnh đạo quản lý trong các trường chính trị ở Việt Nam hiện nay

Trong bài viết Chất lượng nguồn nhân lực nữ qua lăng kính giới [30]

của Lưu Song Hà, Phan Thị Thu Hà đã phân tích chất lượng nguồn nhân lực

nữ ở Việt Nam từ những khía cạnh thể lực, trí lực và tâm lực Từ kết quả nghiên cứu thực tiễn, nhóm tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ và bình đẳng giới Nghiên cứu này góp phần gợi mở cho tác giả luận án về những giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện vai trò của nữ trí thức các trường chính trị trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao

Đỗ Thị Thạch trong bài Tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong công tác lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay [79], đã nhấn mạnh ở Việt

Nam, cùng với tiến trình lịch sử của dân tộc, phụ nữ luôn phát huy vai trò

và tỏ rõ khả năng của mình trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước Trong công cuộc đổi mới hiện nay, vai trò của phụ nữ càng cần phải phát huy hơn bao giờ hết, nhất là trong lãnh đạo, quản lý, vì phụ nữ vừa có tiềm năng, năng lực, vừa

có truyền thống trong lịch sử, vừa là yêu cầu chung trong sự nghiệp phát triển đất nước

Thứ hai, những công trình nghiên cứu về nữ trí thức

Nữ trí thức Việt Nam một bộ phận của trí thức Việt Nam, là bộ phận tinh hoa của phụ nữ Việt Nam, cùng với đội ngũ trí thức và phụ nữ Việt Nam, cho đến nay, nhiều nhà khoa học trong nước đã dày công nghiên cứu, bỏ nhiều tâm huyết để tìm hiểu, đánh giá và tìm ra các giải pháp hữu hiệu nhằm khai thác

Trang 18

tiềm năng, phát huy vai trò của đội ngũ nữ trí thức Việt Nam Tiêu biểu có thể

kể đến một số công trình như sau:

Đỗ Thị Thạch trong công trình Phát huy nguồn lực nữ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa [74] đã làm rõ quan niệm

về trí thức, nữ trí thức Tác giả, đã phân tích những phẩm chất trí tuệ, cũng như những yếu tố tác động đến sự phát triển trí tuệ của nữ trí thức; những đóng góp của họ đối với sự phát triển của gia đình và đất nước, v.v Từ đó, tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy nguồn lực nữ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đây là công trình đã có một cách tiếp cận mới, góp phần làm rõ quá trình hình thành và đặc điểm của nguồn lực nữ trí thức Việt Nam; góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ định kiến giới, khẳng định vai trò to lớn của nguồn lực nữ trí thức đối với sự phát triển của xã hội, tiến tới thực hiện mục tiêu bình đẳng giới ở nước

ta hiện nay Công trình là tư liệu nghiên cứu quan trọng cho cách tiếp cận của luận án

Trần Thị Minh Đức với công trình Thực trạng nữ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp phát triển đất nước [27] đã đề cập đến cơ sở thực tiễn và

những vấn đề lý luận quan trọng của việc nghiên cứu nữ trí thức Việt Nam trong phát triển đất nước Nghiên cứu đã tập trung phân tích đặc điểm, cơ cấu xã hội của đội ngũ nữ trí thức, vai trò của họ trong một số lĩnh vực tiêu biểu được coi là thế mạnh Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra vai trò không thể thay thế của nữ trí thức làm điểm nhấn khác biệt với nam trí thức đó là chức năng làm vợ, thiên chức làm mẹ Vai trò "kép” của nữ trí thức vừa là hạnh phúc vừa là thách thức đối với họ cần phải hội tụ nhiều biện pháp mới vượt qua

Khẳng định vai trò to lớn của nữ trí thức đối với sự phát triển của đất nước, và đưa ra những kiến nghị chính sách đối với Đảng và Nhà nước, tại

Trang 19

Hội thảo khoa học của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và Đại học Quốc gia

Hà Nội Nữ trí thức Việt Nam đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [40] được tổ chức tại thủ đô Hà Nội Hội thảo đã tập hợp được rất

nhiều quan điểm, bài viết có giá trị nói về những đóng góp to lớn của nữ trí thức trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội trong những năm qua Đồng thời, nhiều bài tham luận đã chỉ rõ thách thức đối với nữ trí thức và những rào cản đang cản trở bước tiến của họ Theo ý kiến của nhiều tác giả, những thách thức và các rào cản nảy sinh từ định kiến giới trong xã hội; từ gia đình và bản thân người phụ nữ Trên cơ sở đó, nhiều nhà khoa học trong Hội thảo cũng đã đề

ra những giải pháp phát triển nữ trí thức trong tương lai để tiến kịp sự phát triển của nam giới

Đề tài nghiên cứu khoa học Vai trò, vị thế của nữ trí thức trong quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam [95] của Trung tâm Nghiên cứu phụ nữ -

Trường Cán bộ Phụ nữ Trung ương (nay là Học viên Phụ nữ Việt Nam) đã chỉ rõ, mặc dù so với nam giới, vị thế của phụ nữ còn thấp, kể cả trong gia đình trí thức, nhưng xu hướng trong gia đình nữ trí thức, mối quan hệ vợ chồng là mối quan hệ dân chủ, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, Như vậy, sự hiểu biết, tri thức có vai trò quan trọng trong xây dựng mối quan hệ bình đẳng giới trong gia đình

Tại Hội thảo của Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

Giải pháp nâng cao vai trò của nữ trí thức trong hoạt động khoa học và công nghệ giai đoạn 2015-2020 [39], các đại biểu đã được nghe 05 báo cáo

của các nhà nghiên cứu, khoa học và các ý kiến đóng góp sôi nổi của nữ trí

thức thuộc Hội Nữ trí thức Việt Nam Trong đó, báo cáo “Giải pháp phát huy vai trò của nữ trí thức trong giảng dạy, nghiên cứu lý luận chính trị”

của tác giả Nguyễn Thị Báo đã cung cấp nhiều thông tin, đưa ra nhiều giải pháp cụ thể để phát huy hơn nữa vai trò của nữ trí thức trong lĩnh vực nghiên

Trang 20

cứu, giảng dạy lý luận chính trị Đây là một tài liệu hữu ích, có giá trị tham khảo quan trọng cho luận án

Trong công trình Nữ trí thức với sự nghiệp phát triển đất nước [83] của

Nguyễn Thị Việt Thanh đã tập hợp một số tham luận được thực hiện trong khuôn khổ đề tài khoa học độc lập cấp Nhà nước “Phát huy vai trò và vị thế của nguồn nhân lực nữ trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa

và hội nhập quốc tế” Các bài tham luận đã mang đến cái nhìn khoa học về những vấn đề khác nhau Nhiều tham luận đã có giá trị khoa học cao khi áp dụng các phương pháp hiện đại, nghiên cứu nữ trí thức từ góc độ một nguồn lực lao động quan trọng của đất nước, nhưng lại có những đặc tính riêng về giới, với những thuận lợi nhưng cũng có nhiều trở ngại, thách thức nảy sinh khi phải cố gắng dung hòa giữa chức năng của người phụ nữ trong gia đình và vai trò của một cá thể độc lập trong xã hội Công trình này đã cung cấp cho luận án phương pháp tiếp cận khoa học hiện đại khi nghiên cứu, đánh giá nữ trí thức trong các trường chính trị ở Việt Nam hiện nay

Nguyễn Đình Tấn trong bài viết Vai trò của nữ trí thức trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa [73] đã cho rằng: Nữ trí thức là bộ phận hợp

thành của tầng lớp trí thức (họ mang tất cả những đặc trưng cơ bản của người trí thức nói chung Họ là những người có đặc trưng về giới tính là phụ nữ, có

đủ trình độ kiến thức, chuyên môn cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp và làm việc trong lĩnh vực trí óc), có vai trò quan trọng trên mọi mặt của đời sống xã hội và gia đình; họ là một lực lượng lao động trí tuệ hùng hậu, v.v

có đóng góp tích cực vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Lưu Song Hà trong bài viết Nữ trí thức với gia đình và sự nghiệp [29]

đã đề cập đến vai trò “kép” của phụ nữ, đồng thời cũng đã so sánh vai trò này đối với nữ trí thức Bên cạnh nhiều thành công thì nữ trí thức gặp nhiều khó khăn, thách thức khi phải gánh trên vai nhiều chức phận, những rào cản

Trang 21

từ việc thực hiện chức năng này hay chức năng kia làm cho người phụ nữ nhiều lúc khó vượt qua Từ việc khẳng định vai trò, trách nhiệm nặng nề hơn của nữ trí thức, tác giả đề xuất một số giải pháp để thực hiện bình đẳng giới tốt hơn

Tiếp tục bàn về nữ trí thức, Lê Tuấn trong bài viết Gỡ bỏ những rào cản

để nữ trí thức phát triển [115] đã khẳng định vai trò của nữ trí thức trong suốt

chiều dài của dân tộc Việt Nam “Đội ngũ nữ trí thức bằng tài năng, trí tuệ, cống hiến không mệt mỏi, có đóng góp quan trọng vào sự phát triển ở nhiều lĩnh vực” Đồng thời, tác giả cũng khẳng định “mặc dù có những bước trưởng thành quan trọng, nhưng đội ngũ trí thức vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng của mình, cũng như yêu cầu khách quan của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Do đó, tác giả đã đề xuất cần có các hoạt động và hình thức thu hút, tập hợp nữ trí thức Cách tiếp cận của tác giả là một gợi ý cho hướng đề xuất giải pháp của luận án

Đỗ Thị Thạch trong bài viết Đặc điểm của đội ngũ nữ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa [77] đã chỉ rõ những đặc điểm

của đội ngũ nữ trí thức Việt Nam về cơ cấu xã hội, cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, Những cơ cấu này đã tác động tích cực, tiêu cực tới vị thế, vai trò, chất lượng của đội ngũ nữ trí thức hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất giải pháp nhằm phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt hạn chế xét từ góc

độ cơ cấu đặc điểm của đội ngũ nữ trí thức nước ta hiện nay Cách tiếp cận này của tác giả không chỉ đánh giá được sâu, cụ thể đặc điểm của nữ trí thức Việt Nam, mà còn là một gợi ý phù hợp cho luận án khi phân tích, làm rõ đặc điểm của nữ trí thức trong các trường chính trị hiện nay

Tiếp đó, Đỗ Thị Thạch đã đánh giá những phẩm chất cơ bản của nữ

trí thức Việt Nam trước yêu cầu hội nhập quốc tế Trong bài viết Trí thức

nữ Việt Nam trước yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế [76] tác giả cho rằng, đội ngũ nữ trí thức Việt Nam phải đảm bảo

Trang 22

ba phẩm chất cơ bản là phẩm chất chính trị vững vàng, có trí tuệ cao, có trách nhiệm xã hội Để phát huy vai trò của nữ trí thức đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế cần thực hiện đồng bộ các giải pháp về nhận thức của cá nhân, cộng đồng đối với vai trò của nữ trí thức, giải pháp về xây dựng chính sách hợp lý, giải pháp xây dựng tổ chức Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Nữ trí thức đại biểu cho quyền lợi của nữ trí thức

Trong bài viết Vai trò, vị thế của nữ trí thức Việt Nam trong phát triển bền vững [80], Đỗ Thị Thạch đã khẳng định vị thế của nữ trí thức trên các lĩnh

vực của đời sống Theo tác giả, để phát triển bền vững, việc phát huy vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ trí thức có ý nghĩa quyết định Tuy nhiên, tác giả cũng đã chỉ ra rằng, vị thế, vai trò của phụ nữ nói chung, nhất là nữ trí thức nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế, nhất là so với đồng nghiệp nam giới của nữ trí thức Vì vậy, trong bài viết này, tác giả đã tập trung đưa ra những giải pháp cơ bản để phát huy vai trò, vị thế của đội ngũ nữ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước bền vững Bài viết là một tư liệu tham khảo rất quan trọng, liên quan trực tiếp đến nội dung mà luận án tiến hành nghiên cứu

Tiếp tục bàn về vai trò của đội ngũ nữ trí thức trong phát triển bền vững

đất nước, Phan Thanh Khôi trong bài viết Đội ngũ nữ trí thức trong phát triển bền vững đất nước [54] đã đưa ra những định hướng lớn như: Xây dựng đội

ngũ nữ trí thức Việt Nam gắn với chiến lược phát triển bền vững đất nước; xây dựng đội ngũ nữ trí thức Việt Nam phù hợp với đường lối phát triển đội ngũ trí thức nước ta nói chung và xây dựng đội ngũ nữ trí thức Việt Nam gắn với chiến lược quốc gia về bình đẳng giới Có thể nói, những định hướng này, một mặt, phù hợp sự phát triển khách quan của đội ngũ nữ trí thức, mặt khác, đáp ứng được yêu cầu xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam nói chung xứng

Trang 23

đáng là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa và phát triển bền vững đất nước

Như vậy, đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về nữ trí thức, vị thế, vai trò của nữ trí thức và những rào cản đối với nữ trí thức, những giải pháp, đề xuất để tiếp tục phát huy hơn nữa vai trò của đội ngũ này trong quá trình phát triển đất nước Song, một thực tế đặt ra rằng, những khó khăn, thách thức nào đang là rào cản đối với việc phát huy tối đa vai trò của nữ trí thức hiện nay, giải pháp nào khắc phục hiệu quả nhất vẫn còn nhiều vấn đề phải bàn thêm, nhất là những vấn đề về chính sách, về giải quyết những khó khăn liên quan đến thiên chức người phụ nữ và thực hiện chủ trương bình đẳng giới Các công trình khoa học nghiên cứu trên là những cơ sở lý luận, tư liệu khoa học quý giá cho luận án trong quá trình nghiên cứu, tiếp cận và giải quyết vấn đề phát huy vai trò của nữ trí thức trong các trường chính trị ở Việt Nam hiện nay

1.1.3 Những công trình nghiên cứu tiêu biểu về trường chính trị và

nữ trí thức trong các trường chính trị

Trường chính trị là đơn vị sự nghiệp trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh/thành phố, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và thường xuyên của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thành ủy đã thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình, góp phần tăng cường và thống nhất sự lãnh đạo, quản lý của các tỉnh, thành ủy và Ủy ban nhân dân các tỉnh/thành phố đối với công tác đào tạo, quản lý cán bộ cơ sở

Một là, những công trình nghiên cứu liên quan về trường chính trị Nguyễn Văn Sách, Trường Chính trị tỉnh Phú Thọ - 55 năm xây dựng

và phát triển (1957 - 2012) [71] Cuốn sách đã ghi lại quá trình xây dựng và

phát triển của nhà trường từ năm 1957 đến nay Suốt 55 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, cán bộ, công chức, viên chức nói chung và cán bộ

Trang 24

nữ trí thức của nhà trường nói riêng đã có nhiều đóng góp vào sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của tỉnh qua các thời kỳ cách mạng, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Đây là một tài liệu quan trọng cho luận án khi tiến hành khảo sát thực tiễn tại Trường

Chính trị tỉnh Phú Thọ

Vụ Các trường chính trị (thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí

Minh), Báo cáo kết quả đề tài khảo sát, đánh giá kết quả triển khai thực hiện chương trình, giáo trình Trung cấp Lý luận chính trị - Hành chính và bộ quy chế, quy định quản lý đào tạo ở các trường chính trị tỉnh, thành phố khu vực miền núi phía Bắc [120] Kết quả khảo sát đã tập trung đánh giá những ưu

điểm và những tồn tại cần tiếp tục được quan tâm, giải quyết về khung chương trình đào tạo, quy chế, quy định đào tạo quản lý của ở các trường chính trị tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc Đồng thời, báo cáo khảo sát cũng

đã đánh giá tình hình tổ chức cán bộ của các trường chính trị (về số lượng, chất lượng của đội ngũ cán bộ) miền núi phía Bắc Đây là tài liệu quan trọng cho luận án khi nghiên cứu, khảo sát ở các trường chính trị tỉnh thuộc khu vực

miền núi phía Bắc Việt Nam

Ở khu vực phía Nam, Vụ Các trường chính trị (thuộc Học viện Chính

trị quốc gia Hồ Chí Minh), Báo cáo kết quả đề tài khảo sát, đánh giá kết quả triển khai thực hiện chương trình, giáo trình Trung cấp Lý luận chính trị - Hành chính và bộ quy chế, quy định quản lý đào tạo ở các trường chính trị tỉnh, thành phố khu vực miền Tây Nam Bộ [121] Kết quả khảo sát đã tập

trung đánh giá những ưu điểm và những tồn tại cần tiếp tục được quan tâm, giải quyết về khung chương trình đào tạo, quy chế, quy định đào tạo quản lý của ở các trường chính trị tỉnh, thành phố khu vực miền Tây Nam Bộ Đồng thời, báo cáo khảo sát cũng đã đánh giá tình hình tổ chức cán bộ của các trường chính trị (về số lượng, chất lượng của cán bộ) miền Tây Nam Bộ Đây

Trang 25

là tài liệu quan trọng cho luận án khí nghiên cứu, khảo sát các trường chính trị tỉnh thuộc khu vực miền Tây Nam Bộ Việt Nam

Hai là, một số công trình nghiên cứu liên quan đến nữ trí thức trong các trường chính trị

Trần Thị Minh Ngọc với bài viết Phát huy vai trò của nữ trí thức trong công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị tại các trường chính trị nước ta và một số vấn đề đặt ra trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Nữ trí thức Hà Nội trong sự nghiệp phát triển thủ đô [65] đã chỉ ra đặc điểm của

nữ trí thức trong nghiên cứu, giảng dạy lý luận chính trị tại các trường chính trị, trên cơ sở đó tác giả đi vào phân tích làm rõ thực trạng của đội ngũ này trong giai đoạn hiện nay Đồng thời, chỉ rõ những nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến sự hạn chế trong việc phát huy vai trò của đội ngũ nữ trí thức Từ đó, tác giả đã đề xuất những giải pháp hữu hiệu có tính khả thi cao trong việc tiếp tục nâng cao vai trò của đội ngũ nữ trí thức trong giảng dạy lý luận chính trị tại các trường chính ở nước ta hiện nay

Vũ Mạnh Hồng trong bài viết Phụ nữ trường chính trị tỉnh Hòa Bình phát huy tốt vai trò trong sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu khoa học [43] đã khẳng định vị trí, vai trò của phụ nữ nhà trường trong

công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học, lãnh đạo quản lý và các hoạt động khác, đóng góp to lớn vào sự phát triển Trường Chính trị tỉnh Hòa Bình hiện nay

Nguyễn Mạnh Hải trong bài viết Chuẩn nghề nghiệp đối với giảng viên trường chính trị tỉnh [32] đánh giá khái quát đội ngũ giảng viên

trường chính trị đã có nhiều bước phát triển tích cực về số lượng và chất lượng Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ này còn nhiều hạn chế, bất cập Do

đó, việc nâng cao chất lượng về mọi mặt, đặc biệt là về phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ này

là đòi hỏi cấp bách

Trang 26

Bài viết Một số suy nghĩ về công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng [90] của Võ Thị Bích Thủy đã đánh

giá những ưu điểm, ưu thế và những điểm chưa được trong công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên tại Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng Trên cơ

sở đó tác giả đã đề xuất những giải pháp để tiếp tục xây dựng đội ngũ giảng viên nhà trường ngày càng vững mạnh Bài viết là một tư liệu tham khảo quan trọng để tác giả luận án có luận cứ thực tiễn khi xem xét, đánh giá thực trạng đội ngũ nữ trí thức trong hoạt động giảng dạy lý luận chính trị ở các trường chính trị hiện nay

Nguyễn Thanh Thuyên trong bài viết Xây dựng đội ngũ giảng viên trường chính trị đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ [91] đã khẳng định giảng viên

trường chính trị là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ trí thức của tỉnh

Sự đóng góp trí tuệ của đội ngũ này trong việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học, tham gia vào các tổ chức, các diễn đàn của trí thức góp phần quan trọng xây dựng tỉnh nhà ngày càng phát triển Theo tác giả, “rất cần có một sự đánh giá chính xác, công tâm; có sự góp ý chân thành; có sự biểu dương kịp thời; có những đãi ngộ xứng đáng với sự nỗ lực phấn đấu, cống hiến; sự tôn vinh thật sự của cộng đồng xã hội cho những đóng góp quan trọng nhưng thầm lặng của họ”

Như vậy, qua khảo sát những công trình nghiên cứu liên quan đến trường chính trị, nữ trí thức trong các trường chính trị chúng tôi nhận thấy, trong 10 năm trở lại đây, chưa có công trình nghiên cứu trực tiếp về các trường chính trị ở cấp độ quốc gia, về cơ bản chỉ là tài liệu viết về lịch sử trường, các bài viết trong Hội thảo khoa học, đăng trên tạp chí, báo Trung ương, địa phương và nội san của các trường; đặc biệt chưa có một công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về trí thức, nữ trí thức trong các trường chính trị Đây chính là khoảng trống, hướng mở mà tác giả luận án muốn góp phần

nghiên cứu

Trang 27

1.2 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

Một là, các công trình nghiên cứu về trí thức

Tác giả người Trung Quốc, Ngụ Quý Tăng trong công trình Kinh tế tri thức xu thế mới của xã hội thế kỷ XXI [72] đã đưa ra một cái nhìn tổng quát về

kinh tế tri thức trong tương lai không xa, từ đó đặt ra sự cấp thiết phải chuẩn

bị hành trang tri thức để có thể tiếp cận và làm việc với nó Đồng thời, cũng

đã đưa ra các giải pháp để phát triển kinh tế tri thức, trong đó có yêu cầu đối với trí thức trong phát triển nền kinh tế tri thức Tuy nhiên, ở công trình này, tác giả mới chỉ dừng lại với trí thức nói chung mà chưa có điều kiện nêu và phân tích những giải pháp đặc thù đối với nữ trí thức - một bộ phận quan trọng và có vai trò lớn trong phát triển kinh tế tri thức

Cùng với quan điểm trên, trong cuốn sách Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân tài kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước [35] của Thẩm Vinh

Hoa, Ngô Quốc Diệu đã đề cập đến nhiều nội dung quan trọng trong tư tưởng của Đặng Tiểu Bình; phác họa bức tranh mang tính tổng thể tư tưởng của Đặng Tiểu Bình về những vấn đề rất cơ bản như: Nhân tài là then chốt của phát triển, đường lối tổ chức và việc xây dựng đội ngũ cán bộ, tư tưởng chiến lược về bồi dưỡng và giáo dục nhân tài, về tuyển chọn nhân tài ưu tú,

về sử dụng và bố trí nhân tài, về tạo môi trường cho nhân tài phát triển, về cải cách chế độ nhân sự trong việc sử dụng nhân tài, v.v… cũng như sự vận dụng các tư tưởng đó trong chiến lược xây dựng nhân tài ở Trung Quốc Có thể nói, đây là một công trình có giá trị tham khảo sâu sắc đối với việc thực hiện chính sách cán bộ nói chung và chính sách đối với trí thức, nhân tài nói riêng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Tuy nhiên, công trình này chưa

đề cập đến đội ngũ nữ trí thức

Trong tác phẩm Về trí thức Nga [66] đã tập hợp được nhiều bài viết

của các học giả Nga Trong công trình này, người đọc có thể nhận thấy mặc

Trang 28

dù chính kiến của các học giả trí thức Nga là rất đa dạng, có khi đối lập nhau nhưng đều trên tinh thần học thuật nghiêm túc Các học giả cho rằng, trí thức

là lực lượng xã hội tương đối đông, có học thức ở một trình độ nhất định và luôn ý thức được vai trò của mình trong sự phát triển của xã hội Nhìn chung, các bài viết được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau đã cung cấp cho người đọc bức tranh về trí thức Nga nói chung, nữ trí thức Nga nói riêng trong thời kỳ trước Cách mạng tháng Mười (1917) của nước Liên Xô và thời

kỳ “hậu Xô Viết”

Jennifer Lewington, Biết trọng dụng người tài, Canada vượt lên trước bầy sói [47] Tác giả đã chỉ ra rằng, nhờ có chiến lược sử dụng nhân tài quốc

gia đúng đắn, đất nước Canada đã vượt qua được tình trạng chảy máu nhân tài vào giữa những năm 1990 của thế kỷ XX Không những thế, hiện nay Canada

là một quốc gia thu hút được hàng triệu nhân tài từ nhiều quốc gia trên thế giới

Do đó, ngày nay, Canada trở thành quốc gia có sự phát triển mạnh, sánh ngang với nước láng giềng Hoa Kỳ, nhất là về lĩnh vực giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học

Điểm cốt lõi trong các công trình nghiên cứu này, các tác giả đã chỉ rõ khái niệm trí thức, đặc thù về tính cách của người trí thức, vai trò của trí thức qua các giai đoạn lịch sử, chính sách sử dụng nhân tài, trí thức ở một số quốc gia, v.v Đây cũng là cơ sở lý luận để tác giả luận án vận dụng luận giải những nội dung chủ yếu của luận án có tính bao quát, toàn diện và phù hợp hơn với xu thế chung của thế giới

Hai là, các công trình nghiên cứu về phụ nữ, bình đẳng giới

Cuốn sách của Barbara Kllerman, Deborah L.Rode, Phụ nữ và Quyền lãnh đạo [9] đã tập trung nghiên cứu sự phát triển của phụ nữ ở nhiều quốc gia

với những thống kê, phân tích cụ thể, cung cấp cái nhìn toàn diện về các chức

Trang 29

vụ lãnh đạo còn ít ỏi của phụ nữ hiện nay, lý do của thực trạng này và những biện pháp có thể thực hiện để thay đổi thực trạng ấy Xã hội chúng ta đã có tiến bộ to lớn trong nhiều thập kỷ qua trong việc mở rộng các cơ hội lãnh đạo cho phụ nữ

Tổ chức UNIFEM (United Nations Development Fun Women - Quỹ

Phát triển Phụ nữ của Liên Hợp quốc) trong cuốn sách Gender and Accountability (Giới và Trách nhiệm giải trình) [116] đã chỉ ra những nỗ lực

của thế giới trong việc xóa bỏ bất bình đẳng giới và thực hiện lồng ghép giới nhằm đáp ứng tốt hơn quyền lợi cho phụ nữ, góp phần làm thay đổi cách mà chúng ta vẫn nghĩ về trách nhiệm giải trình đối với vấn đề giới ở một số lĩnh vực khác nhau của đời sống

Công trình khoa học của UNIFEM, Đảm bảo các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ phục vụ toàn thể nhân dân: Các phương pháp tiếp cận đáp ứng Giới dựa trên các quyền con người [117] được xây dựng nhằm hỗ trợ

các nhà hoạch định chính sách, các nhà lập kế hoạch và các nhà thực hành thuộc khu vực Chính phủ và xã hội dân sự để phát triển, thực hiện và giám sát các chiến lược để đạt mục tiêu cho tất cả mọi phụ nữ và nam giới, trẻ

em gái và trẻ em trai theo cách thức phù hợp với các mục tiêu toàn cầu và các chỉ số trên cơ sở đặc điểm của bối cảnh quốc gia, dân tộc và địa phương cụ thể

UN Women (Cơ quan phụ nữ Liên Hợp Quốc), Pháp luật của chúng

ta có thể thúc đẩy bình đẳng giới, Sổ tay nghiên cứu rà soát pháp luật dựa trên công ước CEDEW [118] tài liệu này được xây dựng dựa trên kinh

nghiệm của các nước Đông Nam Á nhưng lại có khả năng áp dụng ra toàn cầu Tài liệu có nội dung hướng dẫn rà soát luật pháp nhằm đánh giá luật

có phân biệt đối xử với phụ nữ hay không Đây là một tài liệu có giá trị tham khảo cho tác giả luận án trong quá trình nghiên cứu tác động của

Trang 30

chính sách pháp luật Việt Nam đến đội ngũ nữ trí thức ở các trường chính

việc thúc đẩy bình đẳng giới và tăng quyền cho phụ nữ

The World Development Report (Ngân hàng phát triển thế giới), Gender Equality and Development - Báo cáo phát triển toàn cầu: Bình đẳng giới và phát triển [64] Báo cáo đã phân tích những nội dung chính như vai

trò của bình đẳng giới trong sự phát triển chung và cho kinh tế Báo cáo tập trung vào bốn ưu tiên chính: Giảm chênh lệch về giới trong phát triển con người; thu ngắn khoảng cách về giới trong việc tiếp cận các cơ hội kinh tế; thu hẹp sự khác biệt về giới tại nơi làm việc cũng như trong việc bày tỏ ý kiến của người dân; giảm thiểu dần sự mất cân bằng giới tính trong sinh sản

trường chính trị trong vai trò là người lãnh đạo, quản lý

Những những tài liệu của một số cá nhân và tổ chức nước ngoài là nguồn tư liệu cung cấp cơ sở lý luận để tác giả luận án luận giải về nữ trí thức

trong các trường chính trị ở Việt Nam hiện nay

Trang 31

1.3 ĐÁNH GIÁ NHỮNG CÔNG TRÌNH TỔNG QUAN VÀ NHỮNG VẤN

ĐỀ LUẬN ÁN TIẾP TỤC LÀM SÁNG TỎ

1.3.1 Những giá trị cần tham khảo và những “khoảng trống” chưa tiếp cận trong các công trình tổng quan

Thông qua tổng quan tình hình nghiên cứu những vấn đề liên quan đến

đề tài luận án, tác giả khái quát một số giá trị chủ yếu của các công trình tổng quan, luận án cần kế thừa và phát triển:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu đã hệ thống hóa một số cách tiếp

cận về trí thức, trí thức Việt Nam trên nhiều bình diện đa dạng và phong phú:

Từ quan niệm, định nghĩa về trí thức, cho đến nhận thức, đánh giá vai trò của đội ngũ trí thức trong các lĩnh vực của đời sống xã hội,… Các công trình còn luận bàn việc phát huy vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Thứ hai, các công trình, bài viết của các tác giả đã đóng góp quan trọng

về mặt lý luận và thực tiễn, luận giải những vấn đề về phụ nữ, vai trò của phụ

nữ trong gia đình và xã hội, thuận lợi, khó khăn của họ khi thực hiện vai trò

“kép” này

Thứ ba, các công trình nghiên cứu, các bài viết đã phân tích làm rõ vị

trí, vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức nói chung, nữ trí thức nói riêng - bộ phận tinh tuý nhất của nguồn nhân lực trong phát triển đất nước

Thứ tư, các nhà khoa học Việt Nam đã bước đầu đưa ra quan niệm nữ

trí thức ở những góc độ nhất định: Định tính, định lượng; làm rõ vai trò quan trọng của nữ trí thức là lực lượng xung kích đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, hội nhập quốc tế, phát triển bền vững của đất nước

Thứ năm, các tác giả đã phân tích làm rõ thực trạng (thành tựu và hạn

chế) của việc phát huy đội ngũ nữ trí thức, phát triển (đào tạo, sử dụng, quản

Trang 32

lý) đội ngũ trí thức, nữ trí thức; đồng thời nhiều tác giả cũng chỉ ra nguyên nhân cơ bản, những rào cản dẫn đến những hạn chế, yếu kém đó

Thứ sáu, một số học giả đã đưa ra những giải pháp nhằm phát triển đội

ngũ trí thức, nữ trí thức Đặc biệt, có một số tác giả đã làm rõ thực trạng nguồn lực của Việt Nam, trong đó có nguồn lực nữ trí thức trong những năm qua, đưa ra những dự báo về nhu cầu, xu thế, giải pháp phát triển nguồn lực

nữ trí thức

Thứ bảy, một số công trình khoa học đã nêu và phân tích chính sách

của Đảng, Nhà nước về phát triển nữ trí thức nhằm phát huy hiệu quả nguồn lực này, từng bước thực hiện bình đẳng giới

Thứ tám, một số học giả bước đầu đã có những bài viết, công trình

nghiên cứu về trường chính trị, công tác giảng dạy lý luận chính trị ở trường chính trị và một số bài viết liên quan trực tiếp đến đội ngũ giảng viên ở trường chính trị

Bên cạnh những giá trị to lớn về mặt khoa học mà các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án đã đạt được, vẫn còn những “khoảng trống” chưa nghiên cứu như sau:

Một là, chưa có công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về nữ trí

thức trong các trường chính trị ở Việt Nam, nhất là dưới góc độ chính trị - xã hội Đã có một vài bài viết liên quan đến nữ trí thức các trường chính trị, song chưa đi sâu làm rõ nhằm khẳng định việc phát huy vai trò của nữ trí thức trong các trường chính trị là một yêu cầu bức thiết của sự nghiệp đào tạo cán

bộ, lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị cấp cơ sở hiện nay

Hai là, trong thời gian qua, những công trình khoa học đã đề xuất nhiều

giải pháp phát triển nữ trí thức nói chung Tuy nhiên, các giải pháp vẫn chưa

có tính hệ thống, toàn diện, nhất là còn chưa thật sâu sắc về quan điểm giới, từ

đó có thể áp dụng vào thực tiễn một cách có hiệu quả trong các trường chính

Trang 33

trị hiện nay, tránh tình trạng “lãng phí chất xám”, ảnh hưởng đến ngân sách đào tạo của các cá nhân, gia đình, Nhà nước Đặc biệt, phải có những giải pháp mang tính trọng tâm, trọng điểm, có tính chuyên biệt, tạo bước đột phá

để đẩy mạnh việc phát huy vai trò của nữ trí thức trong các trường chính trị hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng của nhà trường, góp phần phát huy toàn diện vai trò của nữ trí thức Việt Nam trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

- Vai trò của nữ trí thức trong các trường chính trị tham gia các nhiệm

vụ chính trị cơ bản của nhà trường: Hoạt động đào tạo lý luận chính trị, hoạt động nghiên cứu khoa học và hoạt động lãnh đạo, quản lý

- Những yếu tố tác động đến vai trò của nữ trí thức trong các trường chính trị, như: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; văn hóa truyền thống Việt Nam; công tác lý luận chính trị và đào tạo lý luận chính trị của Đảng hiện nay

Hai là, luận án phân tích thực trạng thực hiện vai trò và những vấn đề

đặt ra đối với nữ trí thức trong các trường chính trị hiện nay

- Trên cơ sở đặc điểm, vai trò của nữ trí thức trong các trường chính trị, tác giả luận án đã tập trung làm rõ những thành tựu, hạn chế trong thực hiện vai trò của nữ trí thức trong các trường chính trị trên các lĩnh vực đào tạo lý luận chính trị, nghiên cứu khoa học, lãnh đạo, quản lý

Trang 34

- Phân tích, chỉ rõ những vấn đề đặt ra đối với nữ trí thức trong các trường chính trị cần tiếp tục nghiên cứu và giải quyết như: Vấn đề nhận thức,

cơ chế, chính sách của Đảng, Nhà nước, địa phương, bản thân đội ngũ nữ trí

thức về trình độ, năng lực, tâm lý…

Ba là, từ thực trạng và vấn đề đặt ra trong thực hiện vai trò của nữ trí

thức trong các trường chính trị ở Việt Nam, luận án đã nêu lên những quan điểm chỉ đạo và đề xuất những giải pháp cơ bản: Giải pháp nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò của đội ngũ nữ trí thức trong các trường chính trị; giải pháp về nâng cao trình độ, năng lực cho nữ trí thức trong các trường chính trị đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ hiện nay; giải pháp nâng cao chất lượng cuộc sống, tạo động lực phát huy vai trò của nữ trí thức trong các trường chính trị; giải pháp đảm bảo cho nữ trí thức giải quyết hài hòa chức năng “kép”, gia đình và sự nghiệp

Kết luận chương 1

Có thể nói, đội ngũ nữ trí thức Việt Nam đóng vai trò quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta giai đoạn hiện nay Tổng hợp và phân tích những công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài luận án cho thấy, các học giả, các nhà nghiên cứu đã tập trung luận bàn về: Trí thức, vai trò của trí thức Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước; phụ nữ và cách thức giải quyết vấn đề bình đẳng giới Đồng thời, các công trình nghiên cứu, các bài viết tập trung làm rõ về nữ trí thức và vai trò của nữ trí thức đối với sự phát triển của đất nước Nhiều công trình nghiên cứu đã đề xuất những giải pháp, cách thức nhằm phát huy vai trò của nữ trí thức Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế

Đối với các trường chính trị và nữ trí thức trong các trường chính trị, các bài viết của một số học giả mới chỉ bước đầu đánh giá về công tác đào

Trang 35

tạo, bồi dưỡng ở trường chính trị và đội ngũ giảng viên, nữ giảng viên trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học; chưa có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu khoa học đánh giá trực tiếp về nữ trí thức, phát huy vai trò của nữ trí thức trong các trường chính trị hiện nay

Ở góc độ chính trị - xã hội, dưới những hình thức thể hiện khác nhau (những công trình đã in thành sách, đề tài nghiên cứu khoa học, luận án tiến

sỹ, các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học ), các công trình đã làm sáng

tỏ cả về mặt lý luận và thực tiễn, đạt những giá trị khoa học và thực tiễn sâu sắc khi đánh giá về đội ngũ trí thức, nữ trí thức, vai trò của trí thức, nữ trí thức, về phụ nữ và vấn đề bình đẳng giới Nhiều bài viết đã cung cấp cách tiếp cận, những gợi mở đối với nghiên cứu phát huy vai trò của nữ trí thức trong các trường chính trị, song cho đến nay chưa có công trình khoa học nào

từ cấp độ luận án trở lên trực tiếp nghiên cứu về đối tượng nữ trí thức trong các trường chính trị ở Việt Nam

Qua các công trình đã tổng quan trên, một mặt, tác giả kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu phục vụ cho mục đích luận án của mình, mặt khác, giúp cho tác giả nhận thức rõ hơn những khía cạnh mà các công trình trước đó chưa đề cập, chưa nghiên cứu hoặc mới chỉ làm rõ ở những góc độ khoa học khác nhau Đây chính là những gợi mở để tác giả xây dựng những hướng nghiên cứu trong luận án của mình

Trang 36

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ VÀ NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG

ĐẾN NỮ TRÍ THỨC TRONG CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 QUAN NIỆM VỀ NỮ TRÍ THỨC, NỮ TRÍ THỨC TRONG CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

2.1.1 Quan niệm về nữ trí thức Việt Nam

Thứ nhất, quan niệm về trí thức

Thuật ngữ “trí thức” được sử dụng rộng rãi trên thế giới, có nguồn gốc

xuất phát từ tiếng Latinh: Intelligentia (sự thông minh, sự hiểu biết) Bàn về khái niệm trí thức, các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế đã đưa ra những cách hiểu, định nghĩa khác nhau

Giới nghiên cứu ở nước ta cũng đưa ra nhiều định nghĩa về trí thức, tuy nhiên, để trả lời câu hỏi: Ai là trí thức? đa số đều thống nhất cho rằng, trí thức

có những đặc điểm tạo nên sự khác biệt với các nhóm xã hội khác trong xã hội Họ là tầng lớp đặc biệt, vì ở họ hội tụ những đặc điểm có tính chất chuyên biệt riêng có, như: Trình độ học vấn cao, chuyên môn sâu; là người có phẩm chất đạo đức tốt, có lương tâm; lao động mang tính sáng tạo và rất phức tạp Trong đó, giá trị quan trọng nhất trong lao động của trí thức là những sản phẩm trí tuệ mà họ làm ra [74, tr.15] Những đặc điểm này đã được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 27-NQ/T.Ư ngày 27 tháng 8 năm 2009 của Đảng Theo đó: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền

bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội” [21, tr.81]

Thứ hai, quan niệm về nữ trí thức

Nữ trí thức là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ trí thức cả nước và

là một bộ phận tiêu biểu của phụ nữ Việt Nam Họ mang đầy đủ những phẩm

Trang 37

chất cần có của đội ngũ trí thức, đồng thời họ cũng hội tụ cả những phẩm chất tốt đẹp đặc trưng của phụ nữ Việt Nam

Khi bàn về nữ trí thức, có ý kiến cho rằng, các quan niệm về trí thức hiện nay nói chung không có sự phân biệt về giới tính (nam - nữ) Do vậy, khi định nghĩa về trí thức có thể ứng dụng để nhận diện cả nam trí thức và nữ trí thức Tuy nhiên, theo tác giả luận án quan niệm này mới chỉ cho thấy đặc điểm của nữ trí thức dưới góc độ là một người trí thức, nhưng chưa chỉ ra được nét đặc thù riêng của họ so với nam trí thức nhìn từ góc độ giới

Quan niệm khác lại cho rằng: “Nữ trí thức là những người có trình độ

cử nhân trở lên, làm công việc liên quan đến hoạt động trí tuệ và có tính sáng tạo, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị cho xã hội” [86]

Ở mỗi góc độ khác nhau, có những định nghĩa, quan niệm khác nhau về

nữ trí thức Trên cơ sở tiếp cận những quan niệm của một số học giả, tác giả luận án nhận thấy có những điểm chung, thống nhất giữa những nhà nghiên cứu khi định nghĩa về nữ trí thức như:

Một là, nữ trí thức là bộ phận hợp thành của đội ngũ trí thức Xét về

bản chất ở họ hội tụ đầy đủ những đặc trưng cơ bản của đội ngũ trí thức nói chung như: Lao động trí óc, có năng lực tư duy độc lập sáng tạo, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định,

Hai là, nữ trí thức là một bộ phận tinh hoa của giới nữ Họ là lực lượng

tiêu biểu cho giới nữ Ở họ hội tụ những phẩm chất tốt đẹp đặc trưng của phụ

nữ (đức tính cần cù, chịu thương chịu khó, khéo léo, đảm đang,…) Vì vậy "tư cách trí thức và tư cách nữ gắn bó hữu cơ trong mỗi nữ trí thức nước ta” [74, tr.20] Hai đặc điểm trên đã chỉ rõ nữ trí thức vừa là người trí thức, vừa là phụ

nữ, có những điểm đặc thù phân biệt với những người trí thức nói chung

Như vậy, nữ trí thức là những người có trình độ học vấn cao, đang làm

việc trên các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội Họ lao động trí óc là chủ

Trang 38

yếu có tính chất sáng tạo và phức tạp tạo ra những sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị cho xã hội Nữ trí thức, nhìn từ chiều cạnh giáo dục, họ là những người có học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, giỏi kỹ năng,

giàu kinh nghiệm Họ là một bộ phận quan trọng trong đội ngũ trí thức cả nước Nhìn từ chiều cạnh giới tính, họ vừa là bộ phận tiêu biểu về trí tuệ của

phụ nữ Việt Nam, đồng thời là những người vợ, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người, có vai trò vô cùng quan trọng đối với sự nghiệp trồng người và xây dựng gia đình bền vững

2.1.2 Quan niệm về nữ trí thức trong các trường chính trị ở Việt Nam

Nữ trí thức trong các trường chính trị hiện nay là một bộ phận của nữ trí thức Việt Nam, là những người lao động trí óc, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo; có trình độ học vấn cao; có bản lĩnh chính trị vững vàng, đang trực tiếp tham gia truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, kiến thức và chuyên môn, nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, kiến thức về pháp luật và quản lý nhà nước và một số lĩnh vực khác cho cán bộ trong hệ thống chính trị cấp cơ sở trên toàn quốc hiện nay

Là một bộ phận của nữ trí thức Việt Nam nhưng do sự phân công lao động xã hội, cơ cấu nghề nghiệp, nữ trí thức trong các trường chính trị vừa có những đặc điểm chung của nữ trí thức cả nước, vừa có nét riêng mang tính đặc thù của môi trường công tác, cụ thể:

Thứ nhất, cũng giống như nữ trí thức Việt Nam, nữ trí thức trong các

trường chính trị là những người lao động trí óc, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo; có trình độ học vấn cao Tuy nhiên, chuyên ngành được đào tạo chuyên sâu của đội ngũ này chủ yếu là các ngành khoa học xã hội và nhân

Trang 39

văn, lĩnh vực chính trị - xã hội (Triết học, Kinh tế chính trị, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Luật học, Xây dựng Đảng, Lịch sử Đảng, Khoa học hành chính,…)

Thứ hai, do xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn công việc đảm nhận, nữ

trí thức trong các trường chính trị thường được đào tạo có hệ thống về trình

độ lý luận (từ Trung cấp lý luận chính trị, Cao cấp lý luận chính trị và Cử nhân chính trị) Đồng thời, đội ngũ này cũng có khả năng góp phần định hướng trực tiếp cho công tác lý luận của Đảng trong phạm vi hệ thống chính trị cấp cơ sở

Thứ ba, ngoài những chuẩn mực đạo đức, nghề nghiệp của nữ trí thức

nói chung, nữ trí thức trong các trường chính trị phải luôn được nhấn mạnh về bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân, có “tâm” với nghề giáo Bởi lẽ, lực lượng này đang trực tiếp thực hiện công tác “huấn luyện” cán bộ của Đảng ở cấp cơ sở về lý luận chính trị - hành chính, đường lối, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, kiến thức và chuyên môn, nghiệp vụ về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, kiến thức về pháp luật và quản lý nhà nước và một số lĩnh vực khác

Thứ tư, nữ trí thức trong các trường chính trị chủ yếu hoạt động trên

các lĩnh vực: Hoạt động đào tạo (giảng dạy, bồi dưỡng), nghiên cứu khoa học

và lãnh đạo, quản lý Đối tượng đào tạo của họ là cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn và các đơn vị tương đương); trưởng, phó phòng, ban, ngành, đoàn thể cấp huyện và tương đương; trưởng, phó phòng của sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh và tương đương; cán bộ dự nguồn các chức danh trên; cán bộ, công chức cấp cơ

sở và một số đối tượng Trình độ họ tham gia đào tạo là trung cấp lý luận chính trị - hành chính và bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng lãnh đạo, chuyên môn, nghiệp vụ,… cho các đối tượng trên [20]

Trang 40

2.2 ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA NỮ TRÍ THỨC TRONG CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của các trường chính trị

Ngày 05 tháng 09 năm 1994 Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Quyết định số 88-QĐ/TW về việc thành lập trường chính trị cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương để tăng cường và thống nhất sự lãnh đạo, quản lý của các tỉnh, thành ủy và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được thành lập trên cơ sở hợp nhất trường đảng và trường hành chính hoặc trường quản lý nhà nước của tỉnh, thành phố, gọi chung là trường chính trị tỉnh, thành phố

Căn cứ vào Điều lệ Đảng, căn cứ Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư khóa X, Nghị quyết Hội nghị lần thứ

tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về đổi mới, kiện toàn tổ chức

bộ máy các cơ quan Đảng, định hướng về đổi mới tổ chức bộ máy Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, Ban Chấp hành Trung

ương Đảng đã ban hành Quyết định số 184-QĐ/TW ngày 03/9/2008 về “chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương” Quyết định nêu rõ:

Về vị trí, “Trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là

đơn vị sự nghiệp trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy và ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và thường xuyên của ban thường vụ tỉnh

ủy, thành ủy” [20] Theo đó, trường chính trị có vị trí như một ban, ngành cấp tỉnh, thành phố, giống như các sở, ban, ngành khác của tỉnh, thành phố Nhà trường có con dấu và tài khoản riêng để hoạt động Tỉnh ủy, thành ủy quyết định bộ máy biên chế, chính sách đối với cán bộ và học viên của trường; lãnh đạo, chỉ đạo nội dung, quy hoạch, kế hoạch đào tạo bồi dưỡng

Ngày đăng: 14/08/2017, 08:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng (1996), Phụ nữ - giới và phát triển, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ - giới và phát triển
Tác giả: Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1996
2. Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh (Chủ biên) (2008), Bình đẳng giới ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình đẳng giới ở Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Vân Anh, Nguyễn Hữu Minh (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2008
3. Trần Thị Vân Anh (2010), "Những trở ngại đối với sự phấn đấu của nữ lãnh đạo", Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và giới, (2), tr.27-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những trở ngại đối với sự phấn đấu của nữ lãnh đạo
Tác giả: Trần Thị Vân Anh
Năm: 2010
4. Nguyễn Thúy Anh (2011), “Sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị - thể hiện qua bầu cử tại Việt Nam”, Hội thảo quốc tế Vai trò và sự tham gia của phụ nữ trong khu vực nhà nước trong giai đoạn hiện nay, Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tham gia của phụ nữ trong lĩnh vực chính trị - thể hiện qua bầu cử tại Việt Nam”, "Hội thảo quốc tế Vai trò và sự tham gia của phụ nữ trong khu vực nhà nước trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thúy Anh
Năm: 2011
5. Nguyễn Đức Bách (1995), “Mấy vấn đề cần đổi mới tạo động lực và điều kiện để trí thức nước ta phát huy tiềm năng trí tuệ”, Tạp chí Công tác khoa giáo, (4), tr.12-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề cần đổi mới tạo động lực và điều kiện để trí thức nước ta phát huy tiềm năng trí tuệ”, "Tạp chí Công tác khoa giáo
Tác giả: Nguyễn Đức Bách
Năm: 1995
6. Nguyễn Đức Bách (2008), “Suy ngẫm và nhận thức về vấn đề trí thức”, Tạp chí Lý luận chính trị, (9), tr.25-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy ngẫm và nhận thức về vấn đề trí thức”, "Tạp chí Lý luận chính trị
Tác giả: Nguyễn Đức Bách
Năm: 2008
7. Ban Tuyên giáo Trung ương (2013), Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Năm: 2013
8. Nguyễn Thị Báo (2014), “Giải pháp phát huy vai trò nữ trí thức trong giảng dạy, nghiên cứu lý luận chính trị”, Hội thảo Giải pháp nâng cao vai trò nữ trí thức trong hoạt động khoa học và công nghệ giai đoạn 2015-2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp phát huy vai trò nữ trí thức trong giảng dạy, nghiên cứu lý luận chính trị”, "Hội thảo Giải pháp nâng cao vai trò nữ trí thức trong hoạt động khoa học và công nghệ giai đoạn 2015-2020
Tác giả: Nguyễn Thị Báo
Năm: 2014
9. Barbara Kellerman và Deborah L.Rode (2002), Phụ nữ và quyền lãnh đạo, Nxb Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ và quyền lãnh đạo
Tác giả: Barbara Kellerman và Deborah L.Rode
Nhà XB: Nxb Đồng Nai
Năm: 2002
10. Nguyễn Khánh Bật, Trần Thị Huyền (đồng chủ biên) (2013), Xây dựng đội ngũ trí thức thời đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đội ngũ trí thức thời đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Khánh Bật, Trần Thị Huyền (đồng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2013
11. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (2013), “Về công ước CEDAW và sự tham gia của phụ nữ vào vị trí quản lý, lãnh đạo”, Hội thảo quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về công ước CEDAW và sự tham gia của phụ nữ vào vị trí quản lý, lãnh đạo”," Hội thảo quốc gia
Tác giả: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
Năm: 2013
13. Bùi Thế Cường (2013), Phụ nữ Việt Nam trong kỷ nguyên biến đổi xã hội nhanh, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ Việt Nam trong kỷ nguyên biến đổi xã hội nhanh
Tác giả: Bùi Thế Cường
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa
Năm: 2013
14. Deborah Chartsis (2011), “Chính sách công và sự trao quyền cho phụ nữ: Bài học từ Canada”, Hội thảo Nâng cao năng lực cho phụ nữ và phát triển nguồn nhân lực nữ: Cách tiếp cận và bài học từ thế giới, quốc tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công và sự trao quyền cho phụ nữ: Bài học từ Canada”, "Hội thảo Nâng cao năng lực cho phụ nữ và phát triển nguồn nhân lực nữ: Cách tiếp cận và bài học từ thế giới
Tác giả: Deborah Chartsis
Năm: 2011
15. Phạm Tất Dong (1994), Luận cứ khoa học cho chính sách nhằm phát huy năng lực sáng tạo của giới trí thức và sinh viên, Đề tài khoa học cấp Nhà nước, mã số KX04-06, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận cứ khoa học cho chính sách nhằm phát huy năng lực sáng tạo của giới trí thức và sinh viên
Tác giả: Phạm Tất Dong
Năm: 1994
16. Đặng Thị Du (2015), “Thực hiện công tác cán bộ ở Trường Chính trị Tô Hiệu thành phố Hải Phòng”, Tập san kỷ niệm 65 năm thành lập Trường Chính trị Tô Hiệu thành phố Hải Phòng, Hải Phòng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện công tác cán bộ ở Trường Chính trị Tô Hiệu thành phố Hải Phòng”", Tập san kỷ niệm 65 năm thành lập Trường Chính trị Tô Hiệu thành phố Hải Phòng
Tác giả: Đặng Thị Du
Năm: 2015
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Quyết định số 88-QĐ/TW ngày 5/9/1994 về việc thành lập trường chính trị cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tại trang www.dangcongsan.@cpv.org.vn, [truy cập ngày 15/10] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 88-QĐ/TW ngày 5/9/1994 về việc thành lập trường chính trị cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 1994
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đảng toàn tập
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2007
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2008), Quyết định số 184-QĐ/TW của Ban Bí Thư Trung ương Đảng về Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị, thành phố trực thuộc Trung ương, tại trang www.dangcongsan.@cpv.org.vn, [truy cập ngày 10/10] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 184-QĐ/TW của Ban Bí Thư Trung ương Đảng về Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị, thành phố trực thuộc Trung ương
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2008
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (2009), Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Một số trường chính trị có tỷ lệ nữ trí thức thấp trong tổng số - Nữ trí thức trong các trường chính trị tỉnh, thành phố ở việt nam hiện nay
Bảng 2.1 Một số trường chính trị có tỷ lệ nữ trí thức thấp trong tổng số (Trang 46)
Bảng 2.2: Một số trường chính trị có số lượng nữ trí thức chiếm tỷ lệ cao - Nữ trí thức trong các trường chính trị tỉnh, thành phố ở việt nam hiện nay
Bảng 2.2 Một số trường chính trị có số lượng nữ trí thức chiếm tỷ lệ cao (Trang 47)
Bảng 2.3: Trình độ học vấn của nữ trí thức - Nữ trí thức trong các trường chính trị tỉnh, thành phố ở việt nam hiện nay
Bảng 2.3 Trình độ học vấn của nữ trí thức (Trang 50)
Bảng 3.1: Chức danh giảng dạy của nữ giảng viên ở một số - Nữ trí thức trong các trường chính trị tỉnh, thành phố ở việt nam hiện nay
Bảng 3.1 Chức danh giảng dạy của nữ giảng viên ở một số (Trang 74)
Bảng 3.2: Nữ trí thức ở một số trường chính trị tham gia - Nữ trí thức trong các trường chính trị tỉnh, thành phố ở việt nam hiện nay
Bảng 3.2 Nữ trí thức ở một số trường chính trị tham gia (Trang 77)
Bảng 3.3: Số lượng lớp và chất lượng đào tạo, bồi dưỡng - Nữ trí thức trong các trường chính trị tỉnh, thành phố ở việt nam hiện nay
Bảng 3.3 Số lượng lớp và chất lượng đào tạo, bồi dưỡng (Trang 82)
Bảng 3.4: Số lượng nữ trí thức tham gia - Nữ trí thức trong các trường chính trị tỉnh, thành phố ở việt nam hiện nay
Bảng 3.4 Số lượng nữ trí thức tham gia (Trang 86)
Bảng 3.5: Số lượng nữ trí thức tham gia đề tài nghiên cứu khoa học  cấp tỉnh, thành phố ở một số trường chính trị từ năm 2008 đến 2015 - Nữ trí thức trong các trường chính trị tỉnh, thành phố ở việt nam hiện nay
Bảng 3.5 Số lượng nữ trí thức tham gia đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh, thành phố ở một số trường chính trị từ năm 2008 đến 2015 (Trang 87)
Bảng 3.6: Số lượng nam/nữ trí thức tham gia đề tài nghiên cứu khoa học - Nữ trí thức trong các trường chính trị tỉnh, thành phố ở việt nam hiện nay
Bảng 3.6 Số lượng nam/nữ trí thức tham gia đề tài nghiên cứu khoa học (Trang 89)
Bảng 3.7: Số lượng nữ trí thức tham gia Ban chấp hành Đảng bộ - Nữ trí thức trong các trường chính trị tỉnh, thành phố ở việt nam hiện nay
Bảng 3.7 Số lượng nữ trí thức tham gia Ban chấp hành Đảng bộ (Trang 96)
Bảng 3.8: Số lượng nữ trí thức tham gia Ban Giám hiệu - Nữ trí thức trong các trường chính trị tỉnh, thành phố ở việt nam hiện nay
Bảng 3.8 Số lượng nữ trí thức tham gia Ban Giám hiệu (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w