1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tạo hứng thú cho học sinh qua các hoạt động dạy học thực tiễn trong môn vật lý trường THCS hà tiến

19 309 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 2,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Tình trạng học sinh quay lưng với những môn khoa học tự nhiên như lí, hóa, sinh, khi mà học sinh học lí, hóa, sinh học không hào hứng mang tính chất đối phó, chủ yếu làm những bài tập

Trang 1

I M Ở ĐẦU 1.1 Lý do chon đề tài

Bộ môn Vật lí là bộ môn thực nghiệm Tư tưởng chủ đạo của các sách giáo khoa Vật lí phổ thông cơ sở là nội dung kiến thức mới được hình thành phần lớn thông qua các thí nghiệm và thực hành Điều đó không chỉ tích cực hoá việc học tập của học sinh mà còn rèn luyện kĩ năng sử dụng thiết bị, đồ dùng trong cuộc sống, rèn luyện thái độ, đức tính kiên trì, tác phong làm việc của những người làm việc khoa học trong thời đại công nghiệp Từ đó thực hiện chương trình đổi mới phương pháp dạy học tích cực

Môn Vật lí là một trong những môn học khá quan trọng trong nhà trường phổ thông, đồng thời nó cũng được áp dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày của mỗi chúng ta Hơn nữa môn học này càng ngày lại càng yêu cầu cao hơn để đáp ứng kịp với công cuộc CNH - HĐH đất nước, nhằm từng bước đáp ứng mục tiêu GD đề ra “ Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” góp phần xây dựng Tổ quốc ngày càng giầu đẹp hơn

- Hơn nữa đội ngũ học sinh là một lực lượng dự bị nồng cốt và thật hùng hậu

về khoa học kỹ thuật, trong đó kiến thức, kỹ năng vật lí đóng góp một phần không nhỏ trong lĩnh vực này

- Qua những năm giảng dạy môn vật lí theo chương trình đổi mới phương pháp và nghiên cứu nhiều tài liệu tôi nhận thấy:

a Vật lí học nghiên cứu các hình thức vận động cơ bản nhất của vật chất, cho nên những kiến thức vật lí là cơ sở của nhiều ngành khoa học tự nhiên, nhất

là hoá học và sinh học

b Vật lí học ở trường phổ thông chủ yếu là vật lí thực nghiệm Phương pháp chủ yếu của nó là phương pháp thực nghiệm Đó là phương pháp nhận thức có hiệu quả trên con đường đi tìm chân lí khách quan Phương pháp thực nghiệm xuất xứ từ vật lí học nhưng ngày nay cũng được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành khoa học tự nhiên khác

c Vật lí học nghiên cứu các dạng vận động cơ bản nhất của vật chất nên nhiều kiến thức vật lí có liên quan chặt chẽ với các vấn đề cơ bản của triết học, tạo điều kiện phát triển thế giới quan khoa học ở học sinh

d Vật lí học là cơ sở lí thuyết của việc chế tạo máy móc, thiết bị dùng trong sản xuất và đời sống

e Vật lí học là một khoa học chính xác, đòi hỏi vừa phải có kĩ năng quan sát tinh tế, khéo léo tác động vào tự nhiên khi làm thí nghiệm, vừa phải có tư duy lôgic chặt chẽ, biện chứng, vừa phải trao đổi thảo luận để khẳng định chân lí

Từ những lí do trên và qua những năm giảng dạy tôi đã chọn đề tài này để viết sáng kiến kinh nghiệm [1]

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Từ việc nhìn nhận thực trạng của vấn đề, tôi muốn đề xuất một số giải pháp đề nâng cao hiệu quả chất lượng học tập của học sinh Qua sáng kiến kinh nghiệm này giúp cho học sinh cảm thấy hứng thú yêu thích môn học, biết vận dụng kiến thức vào giải thích các hiện tượng thực tiễn

Trang 2

- Thụng qua giỏo dục trong nhà trường cỏc em cú sự hiểu biết ban đầu về khoa học, vai trũ của mụn vật lớ là rất quan trọng, vỡ nú giỳp cỏc em làm quen với cỏc kiến thức mới, mở rộng sự hiểu biết của mỡnh để giải thớch một số hiện tượng xảy ra trong thực tế từ đú hỡnh thành niềm tin về mụn học và tư duy học tốt cỏc mụn học khỏc

- Giúp học sinh tham gia một cách tích cực chủ động vào học tập phát huy tính năng động, sáng tạo của học sinh Từ đó học sinh thấy thích đợc học môn học nói chung cũng nh bộ môn Vật lý nói riêng và ham muốn khám phá tri thức nhân loại

1.3 Đối tượng nghiờn cứu

Học sinh trường THCS Hà Tiến trong lĩnh vực mụn học Vật lý THCS

1.4 Phương phỏp nghiờn cứu

- Phương phỏp trũ chuyện: Thụng qua việc trũ chuyện với học sinh lấy phiếu thăm dũ kết qủa, ý kiến phản hồi của học sinh

- Phương phỏp đọc sỏch và tài liệu tham khảo: Phương phỏp này được tiến hành trước và trong quỏ trỡnh nghiờn cứu: Nghiờn cứu cỏc phương phỏp dạy học, cỏc tài liệu lý luận dạy học, phương phỏp dạy học tớch cực bộ mụn Vật lý, sưu tầm liệt kờ cỏc hiện tượng, thớ nghiệm, cỏc nhà Vật lý trong chương trỡnh Vật lý phổ thụng Nghiờn cứu cỏc tài liệu trờn mạng Internet

- Phương phỏp tổng kết kinh nghiệm: Từ việc nắm vận dụng lý thuyết tiến hành nghiờn cứu thực nghịệm đối với học sinh trong trường, điều tra tổng hợp kết quả

và đưa ra vấn đề

II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lớ luận của sỏng kiến kinh nghiệm

Nghị quyết Trung ương 4 khúa VII/1993 đó đề ra nhiệm vụ “Đổi mới phương phỏp dạy học ở tất cả cỏc cấp học ,bậc học”

Nghị quyết Trung ương 2 khúa VII/1996 nhận định: “ Cụng tỏc quản lớ GD&ĐT cú những mặt yếu và bất cập; cơ chế quản lớ của nghành GD&ĐT chưa hợp lớ phương phỏp giỏo dục đào đạo chậm đổi mới, chưa phỏt huy được tớnh chủ động, sỏng tạo của người học”

Nghị quyết 40/2000/QH 10 ngày 9/12/2000 của Quốc hội khúa X về đổi mới chương trỡnh giỏo dục phổ thụng đó khẳng định mục tiờu của việc đổi mới chương trỡnh giỏo dục phổ thụng lần này là “Xõy dựng nội dung chương trỡnh, phương phỏp giỏo dục, SGK phổ thụng mới nhằm nõng cao giỏo dục toàn diện thế hệ trẻ, đỏp ứng yờu cầu phỏt triển nguồn nhõn lực phục vụ cụng nghiệp húa, hiện đại húa đất nước phự hợp với thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trỡnh độ giỏo dục phổ thụng ở cỏc nước phỏt triển trong khu vực và trờn thế giới” Một trong cỏc giải phỏp phỏt triển giỏo dục đưa ra trong chiến lược phỏt triển giỏo dục 2001-2002 là “ phỏt triển đội ngũ nhà giỏo, đổi mới phương phỏp giỏo dục”

Chỉ thị 40-CT/TƯ về việc xõy dựng, nõng cao chất lượng đội ngũ nhà giỏo

và cỏn bộ quản lớ giỏo dục ghi rừ: “ Đặc biệt đổi mới mạnh mẽ và cơ bản phương phỏp giỏo dục nhằm khắc phục kiểu truyền thụ một chiều, nặng lý

Trang 3

thuyết, ít khuyến khích tư duy sáng tạo; bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu tự giải quyết vấn đề, phát triển năng lực thực hành sáng tạo cho người học… ” [2]

- Kinh nghiệm cho thấy rằng, để hình thành phát triển hứng thú nhận thức của học sinh, cần có điều kiện sau đây:

+ Tiến hành dạy học ở mức độ thích hợp nhất đối với trình độ phát triển của học sinh Một nội dung quá dễ hoặc quá khó đều không gây hứng thú Cần biết dẫn dắt để học sinh luôn tìm thấy cái mới, có thể tự lực tìm thấy kiến thức, cảm thấy mình mỗi ngày một trưởng thành

+ Phát huy tối đa hoạt động tư duy tích cực của học sinh Tốt nhất là tổ chức những tình huống có vấn đề đỏi hỏi phải dự đoán, nêu giả thuyết tranh luận những ý kiến trái ngược

+ Tạo không khí thuận lợi cho lớp học, làm cho học sinh hứng thú được đến lớp Muốn thế phải tạo sự giao tiếp thuận lợi giữa thầy và trò, giữa trò với trò Đây là 1 trong những yếu tố quan trọng của việc xây dựng môi trường thân thiện trong trường học, tác nhân quan trọng cho hoạt động tích cực Bằng trình độ chuyên môn của mình, giáo viên tạo được uy tín cao, bằng tác phong gần gũi thân mật, giáo viên chiếm được sự tin cậy của học sinh Bằng cách tổ chức và điều khiển hợp lí các hoạt động của từng cá nhân và tập thể học sinh, giáo viên

sẽ tạo được hứng thú cho cả lớp và niềm vui học tập của từng học sinh

Cơ sở lí luận của sự chú ý đối với cái mới là sự phản xạ dò tìm, theo lệ thường mọi cái mới chưa được biết đến đều là hấp dẫn

- Vai trò của hứng thú đối với học tập và cách phát triển hứng thú của học sinh Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động, làm tăng hiệu quả của quá trình nhận thức, tăng sức làm việc Vì thế cùng với nhu cầu hứng thú là 1 trong những

hệ thống động lực của nhân cách

Trong bất kỳ hoạt động nào, tạo được hứng thú là điều cực kỳ quan trọng, làm các em hăng say với công việc của mình, đặc biệt là học tập Đối với môn vật lí,

có hứng thú các em sẽ có tinh thần học bài, tìm thấy cái lí thú, cái hay trong môn học, không cảm thấy khô cứng, khó hiểu nữa Từ đó tạo niềm tin say mê học tập, đồng thời nó làm cho các em nhận thức đúng đắn hơn Học sinh sẽ biết coi trọng tất cả các môn học, sẽ biết có sự đầu tư, phân chia thời gian hợp lí để kết quả học tập của mình có sự đồng đều, không coi nhẹ môn phụ hay môn chính nào cả Khi các em có sự phát triển đồng đều, như vậy sẽ tạo điều kiện để phát triển nhân cách của các em

Muốn học sinh hứng thú say mê hoạt động nào thì đối tượng của nó chứa đựng những nội dung phong phú, hấp dẫn mới mẻ, càng tìm tòi học hỏi sáng tạo, càng phát hiện trong hoạt động nhiều cái mới mẻ, cái hay có giá trị [3]

2.2 Thực trạng của vấn đề nghiên cứu

a Thực trạng

Qua giảng dạy môn Vật lý ở trường THCS, tôi đã nhận thấy một số thực trạng đặt ra trong quá trình giảng dạy dẫn đến chất lượng học tập, lòng yêu thích môn Vật lý của học sinh còn thấp là:

Trang 4

- Tình trạng học sinh quay lưng với những môn khoa học tự nhiên như lí, hóa, sinh, khi mà học sinh học lí, hóa, sinh học không hào hứng mang tính chất đối phó, chủ yếu làm những bài tập mang tính chất toán học (bài tập định lượng), ngại làm những bài tập định tính

- Khi nói đến môn Vật lý học sinh cảm thấy là môn học quá trừu tượng xa vời với thực tế, những hiện tượng rất trừu tượng mà một tiết học học sinh không thể hiểu hết được

- Học sinh được giảng lí thuyết và vận dụng toán học để giải bài tập Sau một tiết học hoặc chương, học sinh phải nhớ một loạt các công thức, định luật, hiên tượng, … nhưng không biết chúng dùng để làm gì hay có cũng chỉ là mơ màng, nhớ chúng chỉ là để đối phó khi kiểm tra thi cử chứ không biết vận dung chúng

để làm gì Nội dung hiện tượng, định luật, … đó học sinh không nhớ được lâu

và vận dụng nó vào trong cuộc sống sau này

- Đặc biệt khi mà giới trẻ có nhiều thứ "cám dỗ" hơn Học sinh muốn được làm

gì đó, muốn được thể hiện mình, muốn có những phá cách riêng biệt Xã hội càng phát triển thì lại càng có nhiều chương trình, trò chơi, … rất gây hứng thú các em Mà khi học các môn khoa học đặc biệt môn Vật lý học sinh cảm thấy buồn chán

b Kết quả của thực trạng

b.1 Kết quả khảo sát thái độ lòng yêu thích môn học Vật lý

b.2 Kết quả khảo sát chất lượng

2.3 Giải pháp và tổ chức thực hiện

2.3.1 Các biện pháp tổ chức thực hiện

1- Ngay trong qua trình giảng dạy lý thuyết, tôi đã gắn những tình huống trong thực tế để đưa ra tình huống có vấn đề tạo sự hấp dẫn của bài học

2 - Trong quá trình ra bài tập cho học sinh tôi luôn lựa chọn các bài tập mang tính chất thực tế, nội dung bài tập gần gũi với cuộc sống thường ngày, câu chữ của đề bài phải luôn gần với thực tế, rễ hiểu để học sinh hiểu được vật lý không

xa với thực tế

Trang 5

3- Có kế hoạch, chọn các bài trong chương trình dạy để tổ chức cho học sinh làm các đồ dùng học tập, thí nghiệm vui, … mà bài học đó có liên quan ví dụ như:

- Bài Đo độ dài - Vật lý 6 thì tôi tổ chức cho học sinh làm thước kẻ, thước mét, thước dây

- Bài Đo thể tích chất lỏng - Vật lý 6 thì tổ chức cho học sinh làm bình chia độ, 4- Lên kế hoạch xin nhà trường tổ chức các buổi hoạt động ngoại khoá nhỏ làm thí nghiệm vật lý, làm đồ chơi mang tính chất Vật lý, hoặc tổ chức trò chơi mang tính chất Vật lý ví dụ như:

- Sau bài gương phẳng - Vật lý 7 có thể tổ chức cho học sinh chơi trò chơi “Xạ kích qua gương”

- Sau bài Đối lưu - Bức xạ nhiệt – Vật lý 8, thì tổ chức cho học sinh làm đèn kéo quân

- Sau khi học xong bài Máy phát điện - Vật lý 9, thì tổ chức cho học sinh làm một máy phát điện nhỏ

- Sau bài Thấu kính hội tụ; Ảnh của vật tạo bởi thấu kính hội tụ - Vật lý 9, có thể

tổ chức cho học sinh làm kính thiên văn, …

2.3.2 Các giải pháp thực hiện

1 Gắn nội dung dạy học vật lí với những bối cảnh cuộc sống thường ngày

Đây là cách dạy gắn liền với những bối cảnh thực, với những sở thích của học sinh Chẳng hạn các tiết học không diễn ra tuần tự theo như đề mục sách giáo khoa mà mỗi bài giảng là một bối cảnh thực trong cuộc sống Những bối cảnh

đó gắn liền với những kiến thức có sẵn theo yêu cầu Với những bối cảnh như vậy giáo viên đã không chỉ kéo học sinh "trở lại" với vật lý mà còn phát triển ở học sinh nhiều năng lực, nhiều kiến thức sống động

Ví dụ 1: Khi dạy bài “ Định luật phản xạ ánh sáng” Vật lí 7

Tạo tính huống có vấn đề cho bài học: Giáo viên cầm một chiếc gương soi và hỏi Em hãy tìm cách chiếu ánh sáng mặt Trời vào trong gầm một cái bàn để tìm một chiếc kim mà giáo viên đã đánh rơi vào trong đó “không có đèn pin” Khi

đó học sinh sẽ nêu cách làm là dùng chiếc gương chiếu ánh sáng Mặt Trời vào trong gầm bàn Vậy khi ta chiếu ánh sáng như vậy đã dựa vào định luật vật lý nào?

Ví dụ 2: Khi dạy bài “Ứng dụng định luật truyền thẳng của ánh sáng” (SGK Vật Lí 7)

Trước khi học bài này giáo viên yêu cầu học sinh về nhà quan sát thật kĩ bóng của mình khi đi ngoài trời nắng hoặc bóng của người khác, bóng của bàn tay khi bị bóng đèn điện chiếu in lên tường vào ban đêm, (chú ý quan sát sự đậm nhạt của viền ngoài so với bên trong)

Khi vào tiết dạy giáo viên yêu cầu 1– 2 học sinh nêu kết quả quan sát

GV: Tại sao lại có hiện tượng đó?

HS: Lúng túng không biết trả lời thế nào

GV: Để giải thích được vấn đề trên, ta cùng nghiên cứu vào bài mới

HS: Sẽ chú ý vào bài mới để tìm cách trả lời câu hỏi trên

Trang 6

TL:Vùng phía sau không nhận được ánh sáng chiếu tới thì có màu đậm( bóng tối) Vùng phía sau chỉ nhận được một phần ánh sáng chiếu tới gọi là vùng nữa tối (viền mờ )

Ví dụ 3: Chẳng hạn khi học bài “ Lực ma sát” Vật lí 8

Ta có thể tổ chức cho học sinh học bài này ngay ngoài trời bằng những thí nghiệm thực tế về các lực ma sát bằng chiếc xe đạp cho một học sinh đi sau đó bóp phanh gấp làm cho xe trượt trên đường khi đó giáo viên xây dựng khái niệm lực ma sát lăn và ma sát trượt Còn lực ma sát nghỉ cho một học sinh dùng một ngón tay đẩy một chiếc xe máy mà chiếc xe không nhúc nhíc khi đó cho học sinh xây xựng lực ma sát nghỉ Phần lực ma sát trong đời sống và kỹ thuật cho học sinh quan sát ở chiếc xe đạp và xe máy để nêu lợi ích và tác hại của lực ma sát

Ví dụ 4: Khi dạy bài:Bài 20 : Nguyên tử, phân tử chuyển động hay đứng yên? (Vật lý 8)

- GV: Cầm 1 lọ nước hoa đứng ở đầu lớp và xịt nước hoa

- Tất cả học sinh ở trong lớp đề ngửi thấy mùi nước hoa rất thơm

- GV: Tại sao cô đứng ở đầu lớp xịt nước hoa thì các bạn đều ngửi thấy mùi thơm kể cả các bạn ở cuối lớp

- HS: Sẽ có rất nhiều ý kiến khác nhau như: Nước hoa bay khắp lớp, gió thổi nước hoa bay đi……

GV: Nhưng trong phòng lúc này không có gió

- GV: Để giải thích chính xác ta đi bài mới

Ví dụ 5: Khi dạy bài “Quán tính ” ( SGK Vật lý 8)

GV: Đặt một cốc nước đầy lên trên một tờ giấy mỏng để trên bàn nhanh tay giật mạnh tờ giấy ra khỏi đáy cốc thì cốc nước vẫn đứng yên

HS: Chăm chú theo dõi

GV: Em nào giải thích được hiện tượng trên

HS: ???

GV: Để trả lời câu hỏi trên chúng ta đi nghiên cứu bài học mới

Ví dụ 6: Khi dạy bài “ Dẫn nhiệt ” ( SGK Vật Lí 8 )

Ngay khi vào lớp giáo viên xin một học sinh nữ hai sợi tóc

GV: Theo các em khi Cô cho sợi tóc vào lửa thì hiện tượng gì xảy ra?

HS: Tóc sẽ cháy

GV: Các em có tin rằng Cô dùng lửa đốt mà mà sợi tóc không cháy không ? HS: Nghi ngờ về khẳng định của giáo viên

GV: Dùng sợi tóc quấn chặt vào thanh kim loại đồng hình trụ tròn rồi hơ vào ngọn lửa cho học sinh quan sát Sau đó tháo sợi tóc ra cho học sinh quan sát lại HS: Sẽ rất ngạc nhiên khi sợi tóc bị đốt mà không bị cháy

GV: Đặt vấn đề: Em nào cho Cô biết vì sao sợi tóc bị đốt mà không cháy?

Từ đó kích thích tính tò mò của học sinh, học sinh sẽ chú ý ngay vào bài học TL: Vì thanh đồng là vật truyền nhiệt rất tốt nên khi đốt sợi tóc, nhiệt truyền sang thanh đồng nhanh, trong khi đó tóc đẫn nhiệt kém nên không đủ nhiệt độ

để cháy Tuy nhiên không phải tất cả các bài chúng ta đều thực hành được thí

Trang 7

nghiệm tạo tình huống có vấn đề vào bài, nhưng với những bài có thể thì giáo viên nên tìm những thí nghiệm thật gần gũi nhưng đặc sắc để đưa lên đầu bài nhằm tạo tình huống có vấn đề, gây hứng thú học tập cho học sinh

Với những bối cảnh như vậy giáo viên đã không chỉ kéo học sinh "trở lại" với vật lý mà còn phát triển ở học sinh nhiều năng lực, nhiều kiên thức sống động

Ví dụ 7: Khi dạy bài “Thấu kính hội tụ”(SGK Vật Lí 9)

GV: Một nhóm các nhà thám hiểm Bắc cực, khi đi quên mang theo lửa Họ đã nghĩ ra một cách dùng những tảng băng để lấy lửa Liệu rằng họ có lấy được lửa

từ những tảng băng lạnh giá đó không?

HS: Bỡ ngỡ vì có thể chưa nghe thấy bao giờ và tự đặt ra câu hỏi: Băng nó lạnh như thế thì lấy lửa làm sao được?

GV: Để giải thích được vấn đề trên, ta cùng nghiên cứu vào bài mới

HS: Sẽ chú ý vào bài mới để tìm cách trả lời câu hỏi trên

Sau khi học xong bài GV có thể hướng dẫn HS trả lời câu hỏi như sau: Những nhà thám hiểm đã dùng tảng băng trong suốt, gọt tròn tựa như một thấu kính hội tụ, chỉ cần đưa thấu kính băng hướng vào ánh sáng mặt trời để ánh sáng tích tụ chiếu qua thấu kính băng rồi đặt các chất đễ cháy như giấy, đống lá khô,

ở tiêu điểm và thế là… lửa bùng cháy

2 Tổ chức cho học sinh các hoạt động tiểu ngoại khoá Vật Lý

Do đặc điểm của bộ môn vật lí, ngoại khoá có tác dụng bổ sung kiến thức

lí thuyết, kĩ năng thực hành, giới thiệu những ứng dụng của vật lí vào khoa học

và kĩ thuật, quá trình phát triển của vật lí học cho học sinh, làm tăng hứng thú của học sinh đối với môn học, rèn luyện khả năng phân tích và giải quyết vấn đề của họ Ngoại khoá vật lí giúp học sinh hiểu rõ hơn các hiện tượng vật lí, thấy được vai trò to lớn của vật lí trong thực tế đời sống, trong sản xuất và khoa học công nghệ Việc tham gia hoạt động ngoại khoá sẽ giúp học sinh mạnh dạn hơn,

tư duy logic chặt chẽ hơn, từ đó góp phần nâng cao chất lượng học tập môn vật

Nội dung của tiểu ngoại khoá vật lí có thể là những kiến thức nằm trong phạm vi chương trình vật lí THCS, hoạt động gắn với nội khoá với mục đích giúp học sinh nắm chắc hơn các kiến thức, kĩ năng cơ bản Nội dung của ngoại khoá có thể là những kiến thức mở rộng vượt ra ngoài nội dung chương trình, giúp học sinh tăng hiểu biết, phát huy óc sáng tạo

Để tổ chức được hoạt động này yêu cầu cần phải có sự bố chí chuyên môn của phân phối chương trình bộ môn cũng như của nhà trường và sự tâm huyết của giáo viên bộ môn Việc tổ chức được chương trình này cần phải có được kế hoạch cụ thể cho buổi ngoại khoá từ việc giáo viên chọn chủ đề cho đến địa điểm tổ chức, cách thức tổ chức,… chủ đề của buổi ngoại khoá Ví dụ như một

số chủ đề sau:

Ví dụ 1: Tổ chức cuộc thi “ Em yêu Vật lý” Cho mỗi lớp sau đó cho cả khối.

Hình thức tổ chức cuộc thi như chương trình “Đường lên đỉnh Ôlympia” …

Ví dụ 2: Hoặc tổ chức trò chơi mang tính chất vật lý như làm tên lửa nước [4]

Trang 8

Ví dụ 3: Tổ chức trò chơi “ Xạ kích qua gương”

Mục đích của trò chơi

Củng cố định luật phản xạ ánh sáng trên gương phẳng Thi khả năng nhằm thẳng, khả năng ước lượng các góc bằng mắt thường và khả năng bình tĩnh khi tham gia chơi

Dụng cụ và vật liệu

Một đèn pin (S) đã bịt kín pha (hoặc nguồn laser) làm nguồn sáng Chỉ cho ánh sáng lọt qua một lỗ nhỏ để một chùm mảnh và song song Hai gương phẳng G1

và G2 có thể xoay hướng dễ dàng trên giá đỡ Một tấm bìa Đ có các vòng điểm như trên những bia để tập ngắm bắn trong quân đội; mặt phẳng của bia cũng có thể xoay dễ dàng (hình vẽ)

Bố trí và nguyên tắc chơi

Đặt gương G1 và G2 có mặt phản xạ hướng vào nhau (nhưng không song song với nhau), cách nguồn sáng S vào khoảng 1,5m Bia Đ ở cách các gương vào khoảng 0,5m, sao cho khi nhìn vào gương G1 dễ dàng trông thấy ảnh của bia Đ đối với gương G2 (hình vẽ) Người tham gia trò chơi sẽ hướng trục của nguồn sáng vào gương G1 (nhưng chưa được bật đèn sáng), ước lượng tia tới, pháp tuyến, tia phản xạ đối với gương G1, rồi đối với gương G2, ước lượng khả năng tia sáng bắn trúng hồng tâm của bia qua hai lần phản xạ Sau đó đựợc bật đèn sáng để "bắn" thử một lần kiểm tra khả năng ước lượng của mình Nếu mắt ước lượng tốt, có thể tia sáng rọi trúng vòng 9 hoặc 10

Mỗi người được chính thức "Bắn" ba lần, cộng điểm và đánh giá theo các mức:

- Giỏi: Từ 27 điểm trở lên

- Khá: Từ 21 điểm trở lên [5]

Trang 9

Ví dụ 4: Trò chơi trắc nghiệm Vật lí

Nguyên tắc: Các câu trắc nghiệm được lựa chọn trong chương trình học sách giáo khoa hoặc các hiện tương vật lí liên quan đến kiến thức bài học, mỗi câu có một lựa chọn đúng nhất trong 4 lựa chọn A, B, C, D

Các đội sẽ được chuẩn bị trước các bảng trả lời với các chữ cái “A, B, C, D” Mỗi đội sẽ thảo luận trong thời gian qui định và đưa ra đáp án đúng nhất bằng cách giơ đáp án trả lời theo yêu cầu của ban tổ chức (có thể là 10 giây sau khi nghe ban tổ chức đọc xong câu hỏi) Đội nào có số câu trả đúng nhiều hơn sẽ chiến thắng

Phương tiện tổ chức: Thiết kế các câu trắc nghiệm, quy định thời gian trả lời câu hỏi trên powerpoint và trình chiếu trên máy tính

Hình thức chơi: Chia đội

Chú ý: Trò chơi này có thể có một vài học sinh yếu gần như không tham gia Để khắc phục tình trạng này giáo viên cần quan sát nhanh để yêu cầu các em này giải thích sự lựa chọn của đội mình

Có thể lần đầu em học sinh này không trả lời được, nhưng lần chơi sau em đó

sẽ chú ý và tham gia nhiều hơn

Ví dụ 5: Trò chơi lật hình

- Nguyên tắc: Khuất sau các câu hỏi là một bức tranh của nhà Khoa học hoặc nội dung mà chúng ta cần truyền tải kiến thức tới học sinh Chia bức tranh thành nhiều mảnh nhỏ tùy theo số câu hỏi, mỗi mảnh sẽ mang nội dung của một câu hỏi đố vui

Nếu học sinh trả lời đúng thì phần khuất sau câu hỏi đó sẽ hiện ra và các em

có thể đoán nội dung của bức tranh Khi đã đoán đúng nội dung bức ảnh thì trò chơi kết thúc

- Phương tiện tổ chức: Thiết kế trò chơi trên powerpoint và trình chiếu trên máy tính hoặc in trên giấy khổ lớn, hay có thể sử dụng bảng dính

Trang 10

- Hình thức chơi: Chia đội Các đội chọn câu hỏi và trả lời theo lượt Đội nào không trả lời được sẽ chuyển câu hỏi cho khán giả Đội nào có nhiều câu trả lời đúng sẽ chiến thắng

Chú ý: Các câu hỏi ở các mảnh ghép nên có liên quan đến hình ảnh cần truyền tải để rèn cho học sinh sự liên hệ, xâu chuỗi các vấn đề Trò chơi này được áp dụng giống một trong các lần chơi của trương trình đuổi hình bắt chữ rất nổi tiếng trên truyền hình

Ví dụ 6: Trò chơi miêu tả Vật lí

- Nguyên tắc: Người chơi sẽ cầm trên tay danh sách từ (hay khái niệm vật lí) mà ban tổ chức yêu cầu miêu tả

Khi đó, người miêu tả có nhiệm vụ dùng bất kì từ ngữ hoặc hành động nào (có thể là dùng định nghĩa, từ đồng nghĩa, trái nghĩa, …, liệt kê các từ cùng nhóm hoặc có liên quan đến từ trong danh sách) để diễn đạt cho đồng đội mình đoán đúng từ trong danh sách

Người miêu tả không được nói bất kì từ nào trong danh sách với đồng đội của mình Đội nào đoán đúng nhiều từ hơn trong khoảng thời gian qui định sẽ chiến thắng

- Phương tiện tổ chức: Viết các từ cần miêu tả vào các tờ giấy và xếp lại để người chơi bốc thăm ngẫu nhiên

- Hình thức chơi: Chia đội Có thể chia mỗi lớp học thành 2 đội

Ví dụ 7: Đố vui ô chữ Vật lí

- Nguyên tắc: Cách tạo ô chữ thường: Để có ô chữ vật lý có ý nghĩa và hay thì chúng ta nên chọn chủ đề cho ô chữ Chủ đề đó chính là nội dung của ô chữ hàng dọc Từ ô chữ hàng dọc này, chúng ta đặt từ khóa cho các ô hàng ngang Dựa vào từ khóa để đặt câu hỏi cho từng hàng ngang

Ô chữ ở mức độ khó hơn: Tương tự như trên nhưng chủ đề của ô chữ không nhất thiết phải đặt trong ô hàng dọc mà đặt trong từng ô riêng rẽ của ô hàng ngang Mỗi câu hỏi trả lời đúng ở ô hàng ngang sẽ cung cấp một từ khóa cho chủ đề

Khi các từ khóa từ từ hiện ra thì chúng được xếp theo trình tự giải đáp, sau

đó người chơi phải sắp xếp lại tất cả các từ khóa và dự đoán chủ đề của ô chữ Chú ý, người chơi không nhất thiết phải trả lời hết các câu hỏi, khi đoán đúng chủ đề thì trò chơi kết thúc Đội nào có số câu trả lời đúng nhiều nhất sẽ chiến thắng

- Phương tiện tổ chức: Sử dụng phần mềm powerpoint để thiết kế trò chơi và trình chiếu trên máy tính

- Hình thức chơi: Chia đội hoặc sử dụng chơi cho cả lớp vào cuối tiết học để củng cố bài

Ngày đăng: 14/08/2017, 08:11

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình cầu. - Tạo hứng thú cho học sinh qua các hoạt động dạy học thực tiễn trong môn vật lý trường THCS hà tiến
Hình c ầu (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w