Trong kinh nghiệm giảng dạy của mình, trong bồi dưỡng học sinh giỏi cấphuyện, cấp tỉnh, tôi nhận thấy hệ thống bài tập Hóa học rất đa dạng với nhiềudạng bài khác nhau: bài toán tính theo
Trang 1I Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài:
Sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước ngày nay đòi hỏi nguồnnhân lực không những chỉ đủ về số lượng mà còn phải có chất lượng Nguồnnhân lực đóng vai trò hết sức to lớn đối với sự phát triển của mỗi đơn vị, doanhnghiệp nói riêng và của đất nước nói chung Kiến thức và sự hiểu biết về nguyêntắc đảm bảo chất lượng ngày càng mở rộng hơn, logic tất yếu đòi hỏi chất lượngđào tạo ngày càng phải tốt hơn Định hướng quan trọng trong đổi mới phươngpháp dạy học là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lựchành động, năng lực cộng tác làm việc của người học Đó cũng là những xuhướng quốc tế trong cải cách phương pháp dạy học ở nhà trường
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diệngiáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và họctheo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiếnthức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớmáy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở đểngười học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển
từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạtđộng xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệthông tin và truyền thông trong dạy và học” Để thực hiện tốt mục tiêu về đổimới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhậnthức đúng về bản chất của đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng pháttriển năng lực người học sinh
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái
gì qua việc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành và phát triển năng lực - phẩm chất tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin ), trên
cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên - học sinh theo
hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Hệ thốngbài tập định hướng phát triển năng lực chính là công cụ để học sinh luyện tập
Trang 2dục kiểm tra, đánh giá năng lực của học sinh và biết được mức độ đạt chuẩn của quá trình dạy học Bài tập là một thành phần quan trọng trong môi trường học tập mà người giáo viên cần thực hiện Vì vậy, trong quá trình dạy học, người giáo viên cần biết xây dựng các bài tập định hướng phát triển năng lực
Hóa học là bộ môn khoa học tự nhiên nghiên cứu các chất và sự biến đổi của chất Nắm vững được kiến thức cơ bản sẽ góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Để đạt được mục đích đó, hệ thống các bài tập Hóa học đóng vai trò quan trọng, bởi từ việc giải bài tập thì học sinh sẽ nắm bắt được kiến thức, đào sâu mở rộng, các thiếu sót của học sinh sẽ được sửa chữa
Trong kinh nghiệm giảng dạy của mình, trong bồi dưỡng học sinh giỏi cấphuyện, cấp tỉnh, tôi nhận thấy hệ thống bài tập Hóa học rất đa dạng với nhiềudạng bài khác nhau: bài toán tính theo công thức hóa học, tính theo phương trìnhhóa học, bài toán hỗn hợp, bài toán biện luận chất dư, bảo toàn khối lượng, biệnluận bằng phương pháp trị số trung bình, bài toán lưỡng tính, bài toán oxit axityếu tác dụng với dung dịch kiềm, bài toán axit – bazơ, bài toán lập công thức
Để giúp học sinh giải bài tập nhanh gọn và chính xác, tôi đã nghiên cứu vàtìm ra một số biện pháp giải bài tập áp dụng cho một số dạng bài tập khác nhautrong đó có bài toán axit – bazơ Sau khi đọc xong đề bài, học sinh phải biếtphân loại bài tập thuộc dạng nào, sử dụng một phương pháp hay kết hợp nhiềuphương pháp giải khác nhau Từ việc phân loại bài tập và hướng dẫn học sinhtìm phương pháp giải tôi đã áp dụng cho việc dạy các bài tập cơ bản trên lớp,dạy các bài tập khó hơn khi bồi dưỡng học sinh khá giỏi và đã có nhiều kết quảtiến bộ
Với những lí do trên tôi chọn đề tài: " Nâng cao kĩ năng giải bài toán hóa
học cho học sinh khá giỏi lớp 9 thông qua bài toán axit – bazơ " nhằm giúphọc sinh khá giỏi có kinh nghiệm trong việc giải toán biện luận Qua nhiều nămvận dụng đề tài, tôi thấy học sinh khá giỏi đã tự tin hơn và giải quyết có hiệu quảkhi gặp những bài tập loại này
Trang 3(phạm vi đề tài chỉ nghiên cứu các phản ứng axit – bazơ trong Hóa vô cơ), giúphọc sinh khá giỏi lớp 9 nhận dạng, giải nhanh và chính xác.
3 Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh khá giỏi lớp 9
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Xây dựng cơ sở lý thuyết là phương pháp chung cho mỗi dạng
- Trên cơ sở điều tra thực tế khả năng phát hiện, xử lý số liệu trong bài và giảiquyết bài tập của học sinh
II Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm:
1 Cơ sở lí luận:
1.1 Để giải được các dạng bài tập, đòi hỏi học sinh phải nắm vững kiến thức cơ
bản:
* Định nghĩa axit, bazơ theo chương trình THCS:
- Phân tử axit gồm có một hay nhiều nguyên tử hiđro liên kết với gốc axit, cácnguyên tử hiđro này có thể thay thế bằng các nguyên tử kim loại
- Phân tử bazơ gồm có một nguyên tử kim loại liên kết với một hay nhiềunhóm hiđroxit (- OH)
* Axit đơn(chứa 1 nguyên tử H trong phân tử): HCl, HBr, HI, HNO3
* Axit đa(chứa từ 2 nguyên tử H trở lên trong phân tử): H2SO4, H3PO4, H2SO3
* Bazơ đơn(chứa 1 nhóm nguyên tử -OH): KOH, NaOH, LiOH
* Bazơ đa(chứa từ 2 nhóm nguyên tử -OH trở lên): Ba(OH)2, Ca(OH)2
- Phản ứng hóa học giữa axit và bazơ gọi là phản ứng trung hòa Nếu phản ứngtrung hòa thực hiện giữa dung dịch axit và dung dịch bazơ thì phản ứng trung hòa được coi là phản ứng trao đổi Trong các loại phản ứng hóa học xảy ra trong cùng một dung dịch thì phản ứng trung hòa xảy ra với tốc độ nhanh nhất, được
ưu tiên phản ứng trước
- Sản phẩm của phản ứng trung hòa được xác định theo 3 trường hợp:
Trường hợp 1: Cả axit và bazơ đều phản ứng vừa đủ Đây là trường hợp đơn giản nhất, hay gặp nhất, thông thường đề cho axit mạnh phản ứng với bazơ Sản phẩm tạo thành là muối trung hòa và nước
Trường hợp 2: Cho từ từ dung dịch axit vào ống nghiệm đựng dung dịch bazơ,
do lượng bazơ ban đầu dư nên phản ứng ưu tiên sản phẩm tạo thành là muối trung hòa trước Sau đó thêm tiếp axit vào, do axit dư nên tạo thành muối axit
Trang 4Trường hợp 3: Cho từ từ dung dịch bazơ vào ống nghiệm đựng dung dịch axit,
do lượng axit ban đầu dư nên phản ứng ưu tiên sản phẩm tạo thành là muối axit trước Sau đó thêm tiếp bazơ vào, do bazơ dư nên tiếp tục tạo thành muối trung hòa
1.2 Một số công thức tính toán cơ bản và định luật cơ bản:
a Tìm số mol:
M
= ⇒ = trong đó: m : khối lượng chất (g)
M : khối lượng mol (g)
= ⇒ = trong đó: Vdd : thể tích của dung dịch (lit)
CM: nồng độ mol của dung dịch (mol/l hoặc M)
b Nồng độ phần trăm của dung dịch (C%):
= × trong đó: mct : khối lượng chất tan (g)
mdd = mct + mdm mdd : khối lượng dung dịch (g)
mdd = Vdd Ddd mdm: khối lượng dung môi (g)
Ddd : khối lượng riêng (g/ml)
Vdd : thể tích dung dịch (lit)
c Định luật bảo toàn khối lượng:
- Nội dung: Trong một phản ứng hóa học, tổng khối lượng của các chất sảnphẩm bằng tổng khối lượng của các chất tham gia phản ứng
- Axit đơn: nH = naxit
- Axit đa: nH = 2naxit hoặc nH = 3naxit
- Bazơ đơn: nOH = 2nBaơ
- Bazơ đa: nOH = 2nBazơ
Trang 5d Ngoài ra khi giải bài toán hóa học học sinh phải biết các thao tác toán học (như: cách giải phương trình bậc nhất một ẩn, hệ phương trình bậc nhất 2 ẩn, hệphương trình bậc nhất 3 ẩn, phương trình bậc hai), phương pháp biện luận chất
dư, cân bằng thành thạo các phương trình hóa học theo các phương pháp đã học
2 Thực trạng của vấn đề:
Bản thân là giáo viên đã tham gia bồi dưỡng HSG Hóa học, trong quá trìnhgiảng dạy đã phát hiện ra một số điểm sai lầm của học sinh khi viết phương trìnhhóa học và giải bài tập Hóa học nâng cao dẫn đễn sai đáp số Cụ thể qua bàikiểm tra khảo sát sau:
Ví dụ: (Đề thi HSG tỉnh Thanh Hóa năm 2006 -2007)
Cho hỗn hợp A dạng bột gồm Al, Fe, Cu vào cốc đựng 100ml dung dịch
NaOH 1,2M Sau khi phản ứng hoàn toàn thu được 2,688lit khí (đktc) Thêmtiếp 100ml dung dịch HCl vào cốc thu được dung dịch B và 2,08g hỗn hợp chấtrắn X Hòa tan X trong dung dịch HNO3 loãng, dư thu được 0,672lit khí NO duynhất (đktc) Tính thành phần % theo khối lượng các chất trong hỗn hợp A banđầu
Phân tích: Dựa vào kiến thức bài toán kim loại Al tác dụng với dung dịchNaOH, học sinh viết được PTHH xảy ra:
2Al + 2NaOH + 2H2O → 2NaAlO2 + 3H2↑
Từ số mol H2 tính được nNaOH pư = 0,08mol < nNaOH có = 0,12mol nên NaOH dư,
Al hết Phần còn lại trong cốc chứa Fe, Cu, dung dịch NaAlO2, NaOH dư
Do không biết trật tự các phản ứng (NaOH phản ứng trước, sau đó đến NaAlO 2 , sản phẩm phụ Al(OH) 3 rồi mới đến Fe) thì khi thêm dung dịch HCl vào cốc, học
sinh viết các phản ứng xảy ra ngẫu nhiên của Fe, NaAlO2, NaOH:
Fe + 2HCl → FeCl2 + H2
NaOH + HCl → NaCl + H2O
Có trường hợp còn chưa viết được phản ứng phụ xảy ra kế tiếp nhau:
NaAlO2 + HCl → NaCl + Al(OH)3
Al(OH)3 + 3HCl → AlCl3 + 3H2O
Dẫn đến tìm ra đáp số chất rắn X sai khác với giả thiết, hoặc kết quả âm hoặckhông tìm ra được đáp số
Chất lượng bài tập được đánh giá qua bảng kết quả khảo sát sau:
Trang 6Tổng số học
sinh khảo sát
Chưa biết giải
Biết viếtPTHH nhưngchưa tìm cáchgiải
Biết tính toánnhưng giảingẫu nhiên
Kĩ năng giảithành thạo
bazơ và bài tập lý thuyết dạng phương trình hóa học (Bài tập 2 trang 25 SGK)
chứ chưa cụ thể hóa được các dạng bài tập Do đó học sinh chưa nắm bắt hết nộidung của dạng bài tập axit – bazơ (định tính và định lượng) một cách đầy đủ Xét các ví dụ sau:
Ví dụ 1: (BT249 sách 350BT Hóa học chọn lọc- Đào Hữu Vinh)
A là dung dịch hỗn hợp HCl 0,1M và H2SO4 0,2M B là dung dịch hỗn hợpNaOH 0,05M và Ba(OH)2 0,1M Lấy 50ml dung dịch A, thêm một ít quỳ tímvào, quỳ tím có màu đỏ Thêm V(ml) dung dịch B vào dung dịch A thấy quỳ trởlại màu tím Tính giá trị V
Phân tích : Trong VD1, sử dụng cách giải đại số thông thường, viết 4 PTHH xảy
ra, đặt số mol mỗi chất vào PTHH làm cho giá trị mol tăng lên dẫn đến sai khác
so với giả thiết, hoặc học sinh lúng túng không biết tìm số mol các chất đã phảnứng ở mỗi phản ứng là bao nhiêu Trong trường hợp này sử dụng phương phápbảo toàn mol đối với nOH(bazơ), nH(axit) và tìm thể tích V theo công thức tính:
nOH(bazơ) = nH(axit)
Ví dụ 2: (BT321 sách 350BT Hóa học chọn lọc- Đào Hữu Vinh)
A là dung dịch chứa 0,36mol NaOH, B là dung dịch chứa 0,15mol H3PO4
Thí nghiệm 1: Đổ rất từ từ A vào B
Thí nghiệm 2: Đổ rất từ từ B vào A
Viết các phương trình hóa học xảy ra và tính số mol các chất thu được sau khi
đổ hết dung dịch này vào dung dịch kia
Phân tích: Trong VD2, cần xét các phản ứng theo trật tự:
TN1: Do ban đầu H3PO4 dư nên xảy ra các phản ứng theo trật tự:
(1) H3PO4 + NaOH → NaH2PO4 + H2O
(1’) H3PO4 + 3NaOH → Na3PO4 + 3H2O
(mol) 0,12 0,36 0,12
Trang 7(2’) 2Na3PO4 + H3PO4 → 3Na2HPO4
(mol) 0,06 0,03 0,09
Sau phản ứng, dung dịch thu được gồm có: 0,12 - 0,06 = 0,06mol Na3PO4; 0,09mol Na2HPO4
Nếu sau phản ứng (2’) axit H3PO4 còn dư thì tiếp tục có phản ứng:
(3’) Na2HPO4 + H3PO4 →2NaH2PO4
Dựa vào quan hệ mol và biện luận chất dư tìm số mol các chất sau phản ứng
Từ đó tôi suy nghĩ cần phải đưa ra hệ thống lý thuyết và bài tập theo quanđiểm của chương trình THCS một cách tổng quát và hệ thống giúp giáo viên vàhọc sinh tránh được những sai sót đáng tiếc, giải dạng bài tập axit – bazơ theocách đơn giản nhất, chính xác nhất Trước thực trạng trên, được phân công dạy
bộ môn Hóa học và có điều kiện bồi dưỡng học sinh giỏi 9 trong các đợt thamgia các kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh, tôi thấy cần thiết phải đưa ra một giải pháptốt nhất để các em giải toán không phải mắc sai lầm, từ đó có kĩ năng giải bàitập một cách tốt hơn, chính xác, lập luận phù hợp, tính toán nhanh nhất, thuậnlợi nhất Kết quả đã đem lại thành công khi tôi trực tiếp giảng dạy và bối dưỡng
Vì thế tôi xin nêu một sáng kiến nhỏ của tôi nhằm giúp học sinh phân loại vềphương pháp giải bài tập dạng bài toán axit – bazơ Ở đây chỉ xét cho trườnghợp phản ứng giữa axit và bazơ (trong Hóa học vô cơ) thông thường như định
nghĩa trong chương trình THCS.
3 Giải pháp:
3.1 Phương pháp chung khi giải bài tập Hóa học:
- Học sinh học thuộc những kiến thức cơ bản
- Giáo viên đưa ra phương pháp chung để giải bài toán hóa học:
+ Tính số mol các chất có trước phản ứng ( nếu có)
+ Viết các PTHH xảy ra
+ Đặt số mol của các chất tìm được vào PTHH, đặt ẩn số nếu bài toán là hỗn hợp
+ Lập phương trình toán học, giải hệ phương trình toán học tìm ẩn (nếu là bài tập hỗn hợp) Hoặc biện luận chất dư
+ Tính toán theo yêu cầu của bài
- Giáo viên hướng dẫn học sinh cách phân tích đề bài:
+ Phân tích định tính: có những phản ứng hóa học nào có thể xảy ra trong thí nghiệm
+ Phân tích định lượng: số liệu bài cho dạng khối lượng hay thể tích, số liệucủa hỗn hợp hay của một chất Kết quả:
* Nếu số ẩn số bằng số dữ kiện đề cho thì giải bằng phương pháp lập hệ phương trình toán học, dùng máy tính hỗ trợ kết quả
* Nếu số ẩn số nhiều hơn số dữ kiện, bài toán thuộc một trong các trường hợp: tăng giảm khối lượng, biện luận theo số mol, biện luận theo hóa trị…
* Nếu số ẩn ít hơn số dữ kiện, bài toán thuộc một trong các trường hợp: bài toán chất dư, hiệu suất phản ứng < 100%, có phản ứng phụ…
Trang 83.2 Các dạng bài toán axit – bazơ:
Dạng 1: Bài tập lý thuyết
Phương pháp giải: Phản ứng trung hòa luôn xảy ra trong các điều kiện thí
nghiệm có mặt chất tham gia axit, bazơ, không phân biệt bazơ tan hay khôngtan Nhận biết phản ứng có mặt chất tham gia axit, bazơ thường dùng chỉ thị quỳtím hoặc dung dịch phenol phtalein
VD1: Bài tập 2 trang 25 SGK Hóa học 9
Có những bazơ sau: Cu(OH)2, NaOH, Ba(OH)2 Hãy cho biết những bazơ nào:
a Tác dụng với dung dịch HCl? Viết PTHH
b Đổi màu quỳ tím thành xanh?
Phân tích: Do phản ứng trung hòa đều xảy ra được giữa axit với cả bazơ tan vàbazơ không tan nên câu trả lời đúng là:
Giải:
a Cả 3 bazơ đều tác dụng với dung dịch HCl theo các PTHH:
Cu(OH)2 + 2HCl → CuCl2 + 2H2O
NaOH + HCl → NaCl + H2O
Ba(OH)2 + 2HCl → BaCl2 + 2H2O
b Chỉ có bazơ tan mới đổi màu quỳ tím thành xanh: NaOH, Ba(OH)2
Kinh nghiệm: Dựa vào sự đổi màu của chỉ thị có thể phát triển vấn đề ở mức cao hơn: Cho 3 lọ không nhãn đựng các dung dịch có cùng nồng độ: NaOH,
HCl, H2SO4 Chỉ được dùng dung dịch phenol phtalein, hãy nhận biết các chấtlỏng đựng trong các lọ mất nhãn trên? Viết các phương trình hóa học xảy ra
Phân tích: dung dịch phenol phtalein chỉ đổi màu thành đỏ trong môi trườngbazơ tan, còn trong các môi trường khác thì dung dịch phenol phtalein không đổimàu Trích mẫu thử mỗi lọ hóa chất, dùng chỉ thị nhận ra dung dịch NaOH.Theo các PTHH:
NaOH + HCl → NaCl + H2O
2NaOH + H2SO4 → Na2SO4 + 2H2O
Nhận thấy: n NaOH :n HCl = 1:1;n NaOH :n H SO2 4 = 2 :1 Do dung dịch HCl và dung dịch
H2SO4 có cùng nồng độ, cùng thể tích sẽ có cùng số mol Khi thêm dung dịchNaOH có lẫn dung dịch phenol phtalein (màu đỏ) ở trên vào 2 mẫu thử còn lại,nếu thấy mẫu thử nào tiêu tốn thể tích dung dịch NaOH nhiều hơn (lượng mấtmàu nhiều hơn) là dung dịch H2SO4, tiêu tốn thể tích dung dịch NaOH ít hơn(lượng mất màu ít hơn) là dung dịch HCl Dán nhãn các lọ
Bài tập tương tự: (Đề thi HSG tỉnh Thanh Hóa năm học 2016 -2017): Cho 3
lọ không nhãn đựng các dung dịch có cùng nồng độ: NaOH, HCl, H2SO4 Chỉđược dùng dung dịch quỳ tím có thể nhận biết hết các chất lỏng trên hay không?Viết các phương trình hóa học xảy ra
VD2: Bài tập 8.4 trang 10 SBT Hóa học 9
Bảng dưới đây cho biết giá trị pH của dung dịch một số chất:
Hãy dự đoán trong các dung dịch ở trên:
Trang 9a Dung dịch nào có thể là axit như HCl, H2SO4
b Dung dịch nào có thể là bazơ như NaOH, Ca(OH)
c Dung dịch nào có thể là axit yếu như axit axetic (có trong giấm ăn)
d Dung dịch nào có phản ứng với dung dịch NaOH
e Dung dịch nào có phản ứng với dung dịch HCl
Phân tích : Dựa vào thông tin giá trị thang pH đã học trong Bài 8 Một số bazơ quan trọng (SGK Hóa học 9):
Nếu pH = 7: dung dịch là trung tính (không có tính axit, không có tính bazơ) Nếu pH >7: dung dịch có tính bazơ, pH càng lớn độ bazơ của dung dịch càng lớn.
Nếu pH < 7: dung dịch có tính axit, pH càng nhỏ độ axit của dung dịch càng lớn.
Giải: Câu dự đoán đúng:
a Dung dịch B có thể là axit như HCl, H2SO4
b Dung dịch A có thể là bazơ như NaOH, Ca(OH)2
c Dung dịch C có thể là axit yếu như axit axetic (có trong giấm ăn)
d Dung dịch B, C có phản ứng với dung dịch NaOH
e Dung dịch A có phản ứng với dung dịch HCl
Bài tập nâng cao: Đất chua là đất có giá trị pH như thế nào? Giải thích tại saokhi đất trồng bị nhiễm chua người ta thường bón vôi vào đất mà không bónđạm?
VD3: Nêu và giải thích hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm sau: Nhỏ vài giọt
dung dịch phenol phtalein vào cốc đựng dung dịch NaOH loãng, sau đó nhỏ từ
từ dung dịch HCl tới dư vào cốc
Phân tích: Dựa vào sự đổi màu của chỉ thị:
- Quỳ tím hóa xanh trong môi trường dung dịch bazơ, hóa đỏ trong môi trường dung dịch axit, không đổi màu trong môi trường trung tính
- Dung dịch phenol phtalein đổi màu đỏ trong môi trường dung dịch bazơ,
không đổi màu trong các môi trường còn lại
Giải:
Nhỏ vài giọt dung dịch phenol phtalein vào cốc đựng dung dịch NaOH loãng
xuất hiện màu đỏ Nhỏ từ từ dung dịch HCl tới dư vào cốc, màu đỏ nhạt dần do NaOH đã phản ứng: NaOH + HCl →NaCl + H2O
Khi NaOH phản ứng hết thì dung dịch chuyển về không màu
Kinh nghiệm: Dựa vào thao tác tiến hành thí nghiệm và sự biến đổi màu trong
thí nghiệm có thể kết hợp một số tính chất hóa học khác như: Nêu và giải thích hiện tượng xảy ra trong thí nghiệm sau: Nhỏ nước vào mẩu CaO Sau đó cho nước dư vào sản phẩm Tiếp tục cho một mẩu giấy quỳ tím vào ống nghiệm ? ( hoặc dd phenolphtalein) Nhỏ dung dịch HCl từ từ tới dư vào ống nghiệm trên.
Phân tích : Có 2 phản ứng hóa học: oxit bazơ tác dụng với nước thành dung dịch
bazơ và bazơ tác dụng với axit Theo sự đổi màu của chỉ thị quỳ tím trong 2 môi trường axit (hóa đỏ), kiềm (bazơ tan hóa xanh), học sinh phải biết thông tin
Trang 10Ca(OH)2 là một bazơ tan ít trong nước và phân biệt “nhỏ ít nước” với “cho nướcdư” để nêu chính xác hiện tượng.
Giải: Mẩu vôi sống tan dần tạo thành chất rắn màu trắng (dạng nhão) do CaO phản ứng với nước, phản ứng toả nhiều nhiệt: CaO + H2O → Ca(OH)2
Nếu dùng nước dư sẽ tạo thành dung dịch ở phía trên gọi là nước vôi trong và chất rắn màu trắng lắng đọng ở phía dưới là Ca(OH)2 chưa tan hết
Cho mẩu quỳ tím vào ống nghiệm thì quỳ tím hoá xanh vì phần tan là dung dịch bazơ Nếu dùng dung dịch phenol phtalein thì dung dịch chuyển sang màu đỏ.Thêm dung dịch HCl vào, xảy ra phản ứng:
Ca(OH)2 + 2HCl →CaCl2 + 2H2OQuỳ từ xanh chuyển dần về tím khi cả Ca(OH)2 và HCl đều hết, quỳ chuyển đỏkhi HCl dư
Dạng 2: Bài tập định lượng
VD1: Lấy 50ml dung dịch NaOH cho vào một cái cốc Thêm vào cốc một ít quỳ
tím Hỏi quỳ có màu gì? Sau đó thêm từ từ dung dịch HCl 0,1M vào cốc cho đếnkhi quỳ trở lại màu tím thì dùng hết 28ml dung dịch axit Tính nồng độ mol củadung dịch NaOH đã dùng
Phân tích: Bài toán không dùng ngôn ngữ thông thường “axit hết, bazơ hết” mà
thay bởi việc nhận biết sự đổi màu của quỳ tím”quỳ trở lại màu tím sau phản ứng” Đây là một cách biểu đạt ngôn ngữ hóa học khác nhưng đồng nghĩa cả hai chất axit và bazơ đều hết (số ẩn số bằng số dữ kiện).
Giải: Số mol HCl đã dùng trong phản ứng: n HCl = 0, 028.0,1 0, 0028( = mol)
Thêm quỳ tím vào cốc đựng dung dịch NaOH thì quỳ đổi màu thành xanh Thêm dung dịch HCl vào cốc thì quỳ trở lại màu tím, chứng tỏ HCl và NaOH đều hết NaOH + HCl → NaCl + H2 O
Kinh nghiệm: Từ VD1, có thể chuyển thành dạng tương tự bằng cách cho số
mol của NaOH, tìm số mol HCl, suy ra nồng độ dung dịch HCl như:
Bài tập 77 trang 62 sách 350BT Hóa học chọn lọc- Đào Hữu Vinh
Cần dùng bao nhiêu ml dung dịch H2SO4 0,5M để trung hòa 50g dung dịch NaOH 10%?
Hướng dẫn: nNaOH = 50.10 0,125
100.40 = (mol)
Viết PTHH: 2NaOH + H2SO4 → Na2SO4 + 2H2 O
(mol) 0,125 0,0625
Tìm n H SO2 4 = 2n NaOH , từ đó suy ra Vdung dịch H2SO4= 0,125lit = 125ml
Bài tập nâng cao:
A là dung dịch H2SO4; B là dung dịch NaOH Thực hiện các thí nghiệm:
Thí nghiệm 1: Trộn 0,3lit B với 0,2lit A được 0,5lit dung dịch C Lấy 20ml dungdịch C, thêm tiếp quỳ tím vào thấy có màu xanh Sau đó cho từ từ dung dịch HCl 0,05M tới khi quỳ đổi màu thành tím thấy tốn hết 40ml axit