Vấn đề phụthuộc chủ yếu là người sử dụng nó, phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cáchkhai thác triệt để mọi khía cạnh có thể có của bài toán, giáo viên không giải thaycho học sinh,
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Nhằm giáo dục toàn diện cho học sinh, cùng những môn học khác môn Hóahọc cũng góp phần giáo dục đạo đức, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dâncho học sinh: lòng nhân ái, lòng yêu nước, yêu lao động, tinh thần quốc tế, sự tuânthủ pháp luật, sự tôn trọng và bảo vệ thiên nhiên,…
Bài tập hóa học giữ vai trò rất quan trọng Nó vừa giúp học sinh củng cố líthuyết đã học vừa hình thành những kỹ năng tính toán, suy luận, thực hành… Tuynhiên, không phải một bài tập “hay” thì luôn có tác dụng tích cực Vấn đề phụthuộc chủ yếu là người sử dụng nó, phải biết trao đúng đối tượng, phải biết cáchkhai thác triệt để mọi khía cạnh có thể có của bài toán, giáo viên không giải thaycho học sinh, phải để học sinh tự mình tìm ra cách giải, lúc đó bài tập hoá học mớithật sự có ý nghĩa trong việc bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh Giáo viênkhông những dạy học sinh giải bài toán mà còn giúp học sinh tìm ra phương pháp
để có thể giải dạng toán đó một cách thành thạo
Hiện nay việc giải bài tập hoá học của học sinh có phần hạn chế, đa số các
em chỉ học phần lý thuyết đã được học trên lớp, các công thức tính toán trong hoáhọc thì các em không quan tâm, không biết sử dụng công thức nào cho phù hợptheo từng bài tập Trong môn hoá học, để giải tốt một bài toán hoá đòi hỏi học sinhphải biết chọn được phương pháp giải, thì mới giải một bài toán đúng chính xác kếtquả
Để nâng cao chất lượng và hiệu quả giảng dạy môn hoá học THCS, giúp họcsinh làm tốt dạng bài tập hóa học có lượng chất dư sau phản ứng tốt hơn, bản thân
tôi chọn giải pháp: “Hướng dẫn học sinh trường THCS Lương Ngoại phương
pháp giải bài tập hoá học có lượng chất dư sau phản ứng”.
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Việc hình thành kỹ năng giải bài tập hoá học cho học sinh là một trongnhững phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh trong học tập, giúphọc sinh tự hình thành và tự lĩnh hội kiến thức, giúp học sinh nắm vững chắc và sâusắc kiến thức Qua đó rèn luyện kỹ năng giải bài tập hoá học, rút ra được phươngpháp giải bài tập hóa học cho mình một cách chính xác Giải pháp khoa học này chỉthật sự đạt kết quả tốt khi học sinh:
Biết phân tích và tóm tắt đề bài
Trang 2Biết và thuộc được các công thức tính toán trong hóa học như: số mol, tỉ lệphần trăm, tính khối lượng, tính nồng độ % và nồng độ mol
Biết cách tìm mối liên hệ giữa các công thức trong một bài toán hóa học cụthể
Biết hướng giải bài toán Hóa
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
Các bài tập hoá học có lượng chất dư sau phản ứng trong chương trình lớp 9 Học sinh khối lớp 9 trường THCS Lương Ngoại – huyện Bá Thước
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng các phương pháp sau:
Đọc tài liệu:
Đọc tài liệu có liên quan đến đề tài: Lý luận dạy học hoá học; Phương phápgiảng dạy hoá học trong nhà trường phổ thông; một số tài liệu về đổi mới phươngpháp dạy học ở trường THCS; tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy học sinh yếu kémmôn hoá học THCS; tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên THCS, sáchgiáo khoa, sách giáo viên lớp 8, 9, các chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi, chuyên
đề hoá học đã được truyền tải qua mạng Internet Hình thành kỹ năng giải bài tậphoá học trường THCS để rút ra một số nội dung kiến thức cần thiết
Điều tra:
Trao đổi kinh nghiệm với các giáo viên dạy cùng môn
Đàm thoại với học sinh để tìm ra những khó khăn mà học sinh thường gặptrong khi giải bài tập hoá học
Theo dõi kết quả qua các bài kiểm tra và phần trình bày của học sinh trướclớp (trên bảng)
2 NỘI DUNG2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN:
- Kiến thức là cơ sở, là nền tảng để hình thành kỹ năng, nhưng ngược lại việc nắmvững kỹ năng, kỹ xảo sẽ có tác dụng trở lại giúp kiến thức trở nên sống động, linhhoạt hơn
- Dạy hoá học không phải là quá trình truyền thụ kiến thức, “rót” kiến thức mộtchiều vào học sinh mà chủ yếu là quá trình giáo viên thiết kế, tổ chức, điều khiểncác hoạt động của học sinh theo các mục tiêu cụ thể
Trang 3- Học Hoá học không phải là quá trình tiếp nhận kiến thức một cách thụ độngnhững tri thức hoá học, mà chủ yếu là quá trình học sinh nhận thức tự khám phá,tìm tòi tri thức khoa học một cách chủ động tích cực, là quá trình tự phát hiện vàgiải quyết các vấn đề
-Đổi mới phương pháp dạy học là:
Đổi mới hoạt động của giáo viên theo hướng tích cực
Đổi mới hoạt động học tập của học sinh theo hướng chủ động tích cực Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học: phải đa dạng, phong phú hơn chophù hợp với việc tìm tòi cá nhân, hoạt động theo nhóm và toàn lớp
Sử dụng một cách linh hoạt các phương pháp dạy học đặc thù của bộ mônhoá học với các kỹ thuật thiết kế tổ chức hoạt động dạy học theo hướng tích cực
Một số kỹ thuật thiết kế tổ chức kết hợp với hoạt động học tập của học sinhphát huy có hiệu quả việc sử dụng đồ dùng dạy học của bộ môn
- Trong tất cả các phương pháp giải bài tập hoá học, thì phương pháp giải bài tập cólượng chất dư sau phản ứng là một trong những phương pháp cũng không kémphần quan trọng nhằm giúp học sinh rèn kỹ năng giải bài tập hóa học rất tốt, họcsinh sẽ dễ dàng giải một bài tập hoá học thành thạo, không thiếu các bước hoặctrình tự mà bài tập yêu cầu
2.2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ:
Trường THCS Lương Ngoại là một trường nằm trên địa miền núi, cơ sở vậtchất còn thiếu thốn, không có phòng chức năng cho bộ môn Hoá học Trong nămhọc 2016 – 2017, bản thân tôi được phân công giảng dạy môn hoá học khối 8,9.Qua khảo sát chất lượng đầu năm thì kết quả không được khả quan lắm Qua tìmhiểu thì nhận thấy rằng do phần bài tập các em đa số không giải được, chỉ tóm tắtđược đề bài hoặc chuyển đổi khối lượng, thể tích thành số mol Còn việc địnhhướng tìm ra phương pháp để giải bài tập thì các em không nắm rõ được Qua đóbản thân thân tôi xác định được rằng nguyên nhân các em không giải bài tập được
là do:
Giáo viên: Lên lớp không có nhiều thời gian sử dụng bài tập hoá học hoặcnếu có sử dụng thì không được thường xuyên, không mang tính hệ thống, chưađịnh rõ phương pháp giải Mặc dù tốn rất nhiều thời gian ở trên lớp nhưng hiệu quảcủa việc lĩnh hội tri thức của học sinh chưa cao
Học sinh: Không học lý thuyết, không nắm vững các công thức tính toántrong hoá học như khối lượng, thể tích, nồng độ dung dịch Rất ít học sinh có tàiliệu nâng cao (phương pháp giải bài tập hoá học cơ bản hoặc nâng cao ) hoặc kiến
Trang 4thức về toán học còn hạn chế Do đó, các em không có một hướng đi trong việc tìmtòi cách giải một bài tập, không xác định được phương pháp giải bài tập mà giáoviên cho các em làm là phải giải như thế nào? Giải theo phương pháp nào?
Từ những nguyên nhân trên dẫn đến việc giải bài tập hoá học của học sinhcòn rất nhiều hạn chế Cụ thể kết quả khảo sát lần 1 với 40 học sinh khối 9 năm học
2015 - 2016 ở trường THCS Lương Ngoại được kết quả như sau:
Số bài
kiểm
tra
Giỏi(Điểm 8-10)
Khá(Điểm 6,5-7,5)
T Bình(Điểm 5-6,5)
Yếu, kém(Điểm dưới 5)
Vì vậy, những biện pháp nào cần phải đặt ra để giải quyết tình trạng này,mang lại hiệu quả cũng như nâng dần chất lượng bộ môn hoá học THCS đây là vấn
đề cần phải quan tâm đến
Qua thực tế giảng dạy tôi thấy học sinh làm các bước: tóm tắt đề, chuyển đổithành số mol, viết và cân bằng các phương rình hóa học thì các em làm rất tốt Tuynhiên xác định các công thức có liên quan và tìm hướng đi (phương pháp giải) thìlúng túng nên dẫn đến việc giải một bài toán chưa chính xác lắm
Để góp phần khắc phục các khó khăn đó, tôi đã tìm hiểu và lựa chọn giải
pháp “Hướng dẫn học sinh THCS Lương Ngoại phương pháp giải bài tập hóa
học có lượng chất dư sau phản ứng” theo phương pháp phân tích đi lên (từ kết
luận trở về giả thiết), phù hợp với trình độ nhận thức của các em theo trình tự từ bàitập dễ đến khó
2.3.2 Giải pháp chung:
Đối với giáo viên:
Để bồi dưỡng kỹ năng giải bài tập Hoá học cho học sinh một cách toàn diệnhơn thì giáo viên cần phải phối hợp với một số biện pháp cụ thể sau:
Trang 5- Giảm tỉ lệ thuyết trình trên lớp của giáo viên, dành thời gian thích đáng cho
tự học, tự nghiên cứu, thảo luận, giải đáp thắc mắc
- Tăng cường sử dụng bài tập trong quá trình giảng dạy với mức độ thườngxuyên, đáp ứng yêu cầu về tài liệu tham khảo và trang bị đầy đủ các phương tiệndạy học cần thiết
- Tổ chức phong trào thiết kế, xây dựng các loại bài tập trong tổ chuyênmôn
- Tiến hành tìm kiếm và xây dựng các loại bài tập qua các kênh thông tin
- Động viên học sinh tự sưu tầm các dạng bài tập khác nhau và bài tập nângcao
Việc sử dụng bài tập Hoá học nên trở thành một tiêu chí để đánh giá chấtlượng bài giảng
Đối với học sinh:
Để làm tốt các bài tập hoá học, việc cần thiết trước hết là các em phải đọc kỹ
đề, tóm tắt được nội dung đề cho và vấn đề cần tính toán (cần tìm) cân bằng nhanh
và đúng các phản ứng hoá học rồi mới làm các bước là phân tích dữ kiện theo yêu
cầu của bài, xác định phương pháp giải bài tập
Học sinh phải có ý chí quyết tâm cao độ, luôn tìm phương pháp học tập tốtcho mình, phải học bằng chính sức mình, nghĩ bằng cái đầu của mình, nói bằng lờinói của mình, viết theo ý mình, không rập khuôn theo câu chữ của thầy; rèn luyệnkhả năng độc lập suy nghĩ, suy luận đúng đắn và linh hoạt sáng tạo thông quanhững câu hỏi, bài toán
Trong các bước giải bài tập Hoá học, giáo viên phải rèn cho học sinh các kỹnăng như: rèn kỹ năng phân tích tóm tắt đề, kỹ năng xác định các công thức cần sửdụng trong bài tập, kỹ năng viết phương trình hoá học, kỹ năng nhận định có chất
dư sau phân tích đi lên (tìm mối liên hệ giữa các công thức), kỹ năng xác địnhphương pháp giải bài tập theo yêu cầu đề đặt ra
Trong giải pháp này tôi chỉ đề cập đến vấn đề phương pháp giải bài tập Hoáhọc có lượng chất dư sau phản ứng (xác định chất dư, tính sản phẩm tạo thành, tínhlượng chất dư sau phản ứng) Không đề cập đến vấn đề chất dư phản ứng tiếp vớinhững chất mới sinh ra
Bước 1: Rèn kĩ năng phân tích và tóm tắt đề
Tóm tắt đề bài là dùng các ký hiệu m; mdd; n; M; C%; CM; H%; Vkhí; Vdd;
để biểu thị các số liệu của đề bài cho và cần tìm trong bài toán hoá học
Trang 6Ví dụ 1: Áp dụng chữa bài tập trong bài 5 (sgk) “Luyện tập: Tính chất hóa học của oxit và axit” Cho 0,2 mol Canxi oxit tác dụng với 500ml dung dịch HCl 1M
Tính khối lượng muối thu được sau phản ứng
-Các em đọc kỹ đề bài Tìm ra các đại
lượng mà đề bài cho và đại lượng cần
tìm
-Nếu nói đến mol thì nói đến đại
lượng nào? Ký hiệu là gì?
-Dùng ký hiệu nào để biểu diễn đại
lượng 0,2 mol CaO
-Ta dùng ký hiệu nào để biểu diễn đại
-Nói đến đại lượng số mol, dùng ký hiệu
Ví dụ 2: Áp dụng phần hướng dẫn làm bài tập trong bài 19 “Sắt” Cho 5,6
gam sắt tác dụng với 5,6 lít khí Cl2 (đktc) Sau phản ứng thu được một lượng muối clorua là bao nhiêu gam?
- Yêu cầu học sinh đọc kỹ đề bài toán
Tìm ra các đại lượng mà đề bài cho
-Để biểu thị hai đại lượng trên thì ta
cần sử dụng ký hiệu nào?
-Học sinh có thể bị nhầm lẫn giữa hai
ký hiệu thể tích chất khí và thể tích
dung dịch Do đó giáo viên phải chú ý
- Đề bài cho 5,6 gam sắt và 5,6 lít khí
Cl2 (đktc)
Trang 7Bước 2: Rèn kĩ năng xác định các công thức cần dùng:
Xác định công thức có liên quan trong bài toán hoá học là một việc hết sứccần thiết, không kém phần quan trọng, nhằm định hướng đúng cho việc tính toántheo yêu cầu đề ra Qua đó học sinh mới có hướng phân tích bước tiếp theo để giảibài tập đúng kết quả
Ví dụ 1: Áp dụng chữa bài tập trong bài 5 (sgk) “Luyện tập: Tính chất hóa học của oxit và axit” Cho 0,2 mol Canxi oxit tác dụng với 500ml dung dịch
HCl 1M Tính khối lượng muối thu được sau phản ứng
Giáo viên bắt đầu hướng dẫn học sinh dựa vào phần tóm tắt của bài toán đểtìm các công thức cần sử dụng trong bài
Giáo viên: Viết các công thức tính số mol trên bảng như sau
m1) n = M
2) n = C
Trang 8m × C%
100 × M
3) n =
Giáo viên: Trong ba công thức trên ta chọn công thức nào (số mấy) để tính
số mol của HCl ? Vì sao ?
Học sinh: Chọn công thức 2) n = CM × V dd Vì theo đề bài cho Vdd(HCl) =
500 (ml)= 0,5 (lít) và CM(HCl) = 1M
Giáo viên: Em hãy viết công thức tính khối lượng muối Canxi clorua?
Học sinh có thể viết các công thức tính lượng muối canxi clorua như sau:
dd
C% m 100%
1) m=
2) m = n M
Đến đây giáo viên cần xác định cho học sinh muốn tính khối lượng muốitrong bài này là phải sử dụng công thức số (2) m = n M Vì đề bài không cóliên quan đến khối lượng dung dịch muối và nồng độ % (C%) Do đó phải chọncông thức số (2)
Giáo viên: Tóm lại các công thức cần sử dụng trong bài tập này là các côngthức nào?
Học sinh: công thức cần sử dụng là: n = CM × V dd
và m = n M
Ở phần giải pháp nầy chưa chú ý đến có lượng chất dư hay không, mà chỉchú ý đến những công thức áp dụng trong phần tính toán mà thôi Đến giải pháp 4
sẽ trình bày cụ thể hướng giải
Ví dụ 2: Áp dụng phần hướng dẫn làm bài tập trong bài 19 “Sắt” Cho
5,6 gam sắt tác dụng với 5,6 lít khí Cl2 (đktc) Sau phản ứng thu được một lượng muối sắt (III) clorua là bao nhiêu gam?
Giáo viên hướng dẫn học sinh dựa vào phần tóm tắt của bài toán để tìm cáccông thức cần sử dụng trong bài
Giáo viên: Em hãy viết công thức tính số mol của sắt và số mol của khí clo?
Học sinh: Fe Fe
Fe
m M
n = và 2
2
Cl Cl
v
n = 22,4
Ở đây học sinh yếu có thể viết công thức tính số mol của sắt và khí clo sai,
do nhầm lẫn, giáo viên phân tích cho học sinh hiểu rõ sắt là chất rắn và clo là chấtkhí, nên chỉ áp dụng tính số mol theo hai công thức trên
Giáo viên: Em hãy viết công thức tính khối lượng muối sắt (III) clorua?
Trang 9Học sinh: mFeCl3 =nFeCl3 × MFeCl3
Có thể học sinh đưa ra các công thức tính khác như:
3
FeCl dd(FeCl ) FeCl
Ở phần giải pháp nầy chưa chú ý đến có lượng chất dư hay không, mà chỉchú ý đến những công thức áp dụng trong phần tính toán mà thôi Đến giải pháp 4
sẽ trình bày cụ thể hướng giải
Tóm lại: Do học sinh không thuộc các công thức tính toán, nên dễ nhằm lẫn
khi đưa ra các công thức cần sử dụng hợp lý cho bài tập, giáo viên cần phân tích kỹvấn đề, làm rõ nội dung của các đại lượng cần tìm Từ đó mới hình thành kỹ năngcho học sinh xác định các công thức cần sử dụng cho bài tập
Bước 3: Rèn kỹ năng viết phương trình phản ứng hoá học
Trong bài tập hoá học, viết phương trình phản ứng hoá học là một bước rấtquan trọng, nếu học sinh không xác định được chất tham gia và sản phẩm thì sẽ viếtsai phương trình phản ứng hoá học, dẫn đến việc giải bài toán hoá học sẽ bị saihoàn toàn Do đó, giáo viên cần rèn kỹ năng viết phương trình phản ứng thông quaviệc xác định kỹ chất tham gia và sản phẩm, áp dụng đúng tính chất hoá học củaphản ứng và điều kiện cho phản ứng hoá học xảy ra
Ví dụ 1: Áp dụng chữa bài tập trong bài 5 (sgk) “Luyện tập: Tính chất hóa học của oxit và axit” Cho 0,2 mol Canxi oxit tác dụng với 500ml dung dịch HCl
1M Tính khối lượng muối thu được sau phản ứng
Giáo viên: Hãy cho biết đâu là chất tham gia phản ứng?
Học sinh: Chất tham gia phản ứng là Canxi oxit và Axit clohiđric
Giáo viên: Canxi oxit có tác dụng được với Axit clohiđric không? Sản phẩm
là những chất nào? Vì sao?
Học sinh: Canxi oxit tác dụng được với Axit clohiđric, sản phẩm tạo thành
là muối canxi clorua và nước Vì canxi oxit là một oxit bazơ sẽ tác dụng được vớidung dịch axit theo tính chất hoá học của oxit bazơ (hoặc tính chất hóa học củaaxit)
Giáo viên: Em hãy viết phương trình hoá học của phản ứng:
dd Axit + Oxit bazơ Muối + Nước
Trang 10Học sinh: Phương trình hoá học:
CaO + 2HCl CaCl2 + H2O
Do học sinh không thuộc hoá trị, nên có thể viết sai công thức muối canxiclorua là CaCl Khi gặp tình huống này thì giáo viên cần hước dẫn cho học sinhthành lập công thức hoá học dựa vào hoá trị để thành lập công thức hợp chất muốicanxi clorua như sau:
II I
y x
Ca Cl từ đó suy ra x = 1; y = 2 Công thức đúng là CaCl2
Ví dụ 2: Áp dụng phần hướng dẫn làm bài tập trong bài 19 “Sắt” Cho
5,6 gam sắt tác dụng với 5,6 lít khí Cl2 (đktc) Sau phản ứng thu được một lượng muối sắt (III) clorua là bao nhiêu gam?
Giáo viên: Em hãy xác định chất tham gia và sản phẩm tạo thành trong bài tập trên ?
Học sinh:
+ Chất tham gia là: Sắt và khí clo
+ Sản phẩm là: Muối sắt (III) clorua
Lưu ý: Các em biết rằng đơn chất sắt khi tác dụng với đơn chất clo thì thể
hiện hóa trị III, còn khi tác dụng với hợp chất HCl thì thể hiện hóa trị II
Giáo viên: Em hãy viết phương trình hoá học
Phương pháp giải:
Giả sử ta có a mol chất A tác dụng với b mol chất B sinh ra c mol chất C và
d mol chất D theo phương trình hóa học: eA + gB hC + kD
- Chuyển đổi thành số mol của các chất tham gia phản ứng
- Viết PTHH của phản ứng: eA + gB hC + kD
Trang 11e mol g mol h mol k mol
a mol b mol c mol d mol
e g thì chất B dư sau phản ứng, sản phẩm C và D tính theo chất A
* Số mol chất dư = số mol đã cho – số mol phản ứng
2.3.3 Giải pháp cụ thể- Một số ví dụ áp dụng trong các bài dạy trên lớp
Ví dụ 1: Áp dụng chữa bài tập trong bài 5 (sgk) “Luyện tập: Tính chất hóa học của oxit và axit” Cho 0,2 mol Canxi oxit tác dụng với 500ml dung dịch
HCl 1M Tính khối lượng muối thu được sau phản ứng
Giáo viên dựa vào phần tóm tắt đề, các công thức cần sử dụng, phương trìnhhoá học để hướng dẫn học sinh phân tích như sau:
Giáo viên: Hãy nêu các bước giải một bài toán hóa học
Học sinh: Trình bày như sau (đối với học sinh khá – giỏi)
+ Bước 1: Tóm tắt đề
+ Bước 2: Chuyển đổi thành số mol (nếu có)
+ Bước 3: Viết Phương trình phản ứng, cân bằng phương trình hóa học củaphản ứng, điền tỉ lệ số mol theo phương trình và số mol của chất tham gia mà đềbài cho
+ Bước 4: Phân tích đề bài theo hướng phân tích đi lên (đi từ kết luận đếngiả thiết), để tìm các công thức hoặc vấn đề để giải hoàn chỉnh bài toán
Giáo viên: Em hãy tóm tắt đề bài và viết phương trình hóa học
Học sinh: Tóm tắt đề, chuyển đổi thành lượng chất và viết PTHH của phản ứng