1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Vấn đề nhận thức và thực tiễn trong triết học imanuen canto

36 356 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 161,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

A. LỜI NÓI ĐẦU Triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử tư tưởng Tây Âu và thế giới cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Đây là đỉnh cao của thời kỳ triết học cổ điển phương Tây, đồng thời có ảnh hưởng to lớn tới triết học hiện đại triết học cổ điển Đức vì vậy, trở thành một trong ba nguồn gốc hình thành chủ nghĩa Mác – nguồn gốc triết học (cùng với kinh tế chính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp) Triết học Cantơ khởi xướng một phong trào lưu triết học mới – triết học duy tâm phê phán tiên nghiệm để tiếp đó, Phíchtơ Seu – ing tiếp tục tìm tòi mở rộng, đến Hêghen nó phát triển thành một hệ thống triết học duy tâm biện chứng và Phoiơ bắc đã kết thúc triết học cổ điển Đức với chủ nghĩa duy vật nhân bản của mình. Triết học Cantơ là một hiện tượng hết sức phức tạp. Cantơ là người đầu tiên có ý đồ và đã được thực hiện ý đồ tổng kết toàn bộ tri thức Triết học trong lịch sử tư tưởng loài người. Trên tinh thần phê phán, Cantơ đã phê phán các hệ thống triết học trước đó, gạn lọc kế thừa và phát triển những yếu tố mà ông cho là đúng giá trị, từ đó xây dựng một hệ thống triết học riêng theo một mẫu mực mới – Triết học vạn năng. Imanuen Cantơ (Imanuel Kant) là một trong những nhà triết học vĩ đại của lịch sử tư duy phương Tây trước Mác. Triết học Cantơ “là nền tảng và điểm xuất phát của triết học Đức hiện đại, những hạn chế trong triết học của ông không làm lu mờ công lao đó của triết học triết học Cantơ” Triết học Cantơ có vị trí quan trọng trong triết học cổ điển Đức. Cantơ có vị trí quan trọng trong triết học trong triết học cổ điển Đức. Triết học Cantơ đi vào rất nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh, nêu lên những lý tưởng mới lạ, trừu tượng và hết sức khó hiểu. Chính vì vậy cho đến nay dù đã nhiều công trình nghiên cứu về Cantơ, song không phải những công trình đó đã đi sâu cặn kẽ vào hết các ý tưởng của Cantơ không phải ai cũng hiểu nó một cách hoàn toàn giống nhau.

Trang 1

A LỜI NÓI ĐẦU

Triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát triển mới về chất trong lịch sử

tư tưởng Tây Âu và thế giới cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX Đây là đỉnhcao của thời kỳ triết học cổ điển phương Tây, đồng thời có ảnh hưởng to lớntới triết học hiện đại triết học cổ điển Đức vì vậy, trở thành một trong banguồn gốc hình thành chủ nghĩa Mác – nguồn gốc triết học (cùng với kinh tếchính trị học Anh và chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp) Triết học Cantơkhởi xướng một phong trào lưu triết học mới – triết học duy tâm phê phán tiênnghiệm để tiếp đó, Phíchtơ Seu – ing tiếp tục tìm tòi mở rộng, đến Hêghen nóphát triển thành một hệ thống triết học duy tâm biện chứng và Phoiơ bắc đãkết thúc triết học cổ điển Đức với chủ nghĩa duy vật nhân bản của mình Triếthọc Cantơ là một hiện tượng hết sức phức tạp Cantơ là người đầu tiên có ý

đồ và đã được thực hiện ý đồ tổng kết toàn bộ tri thức Triết học trong lịch sử

tư tưởng loài người Trên tinh thần phê phán, Cantơ đã phê phán các hệ thốngtriết học trước đó, gạn lọc kế thừa và phát triển những yếu tố mà ông cho làđúng giá trị, từ đó xây dựng một hệ thống triết học riêng theo một mẫu mựcmới – Triết học vạn năng Imanuen Cantơ (Imanuel Kant) là một trongnhững nhà triết học vĩ đại của lịch sử tư duy phương Tây trước Mác Triết họcCantơ “là nền tảng và điểm xuất phát của triết học Đức hiện đại, những hạnchế trong triết học của ông không làm lu mờ công lao đó của triết học triếthọc Cantơ”

Triết học Cantơ có vị trí quan trọng trong triết học cổ điển Đức Cantơ

có vị trí quan trọng trong triết học trong triết học cổ điển Đức Triết học Cantơ

đi vào rất nhiều vấn đề, nhiều khía cạnh, nêu lên những lý tưởng mới lạ, trừutượng và hết sức khó hiểu Chính vì vậy cho đến nay dù đã nhiều công trìnhnghiên cứu về Cantơ, song không phải những công trình đó đã đi sâu cặn kẽvào hết các ý tưởng của Cantơ không phải ai cũng hiểu nó một cách hoàn toàn

Trang 2

Do đó, em nghiên cứu đề tài “Vấn đề nhận thức và thực trong triết học Imanuen Cantơ” nhằm nghiên cứu một cách khái quát về hệ thống triết

học của Cantơ, nghiên cứu về triết học thực tiễn, triết học nhận thức về cuộcđời và sự nghiệp của ông

Do quá trình làm bài còn nhiều thiếu sót, cũng như kiến thức và tài liệuchưa được đầy đủ em mong được sự góp ý và chỉnh sửa và bổ sung của Thầy

để bài viết được thực sự hoàn chỉnh hơn

3 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài:

3.1 Mục đích:

Đề tài có mục đích nghiên cứu khái quát các hệ thống triết học về nhậnthức luận và triết học thực tiễn của nhà triết học Canto, và nêu nên nét đặctrưng nhất về cuộc đời sự nghiệp của Canto để nêu bật nên giá trị, ý nghĩa, vàtiến bộ của hệ thống tư tưởng triết học ông

3.2 Nhiệm vụ:

Để thực hiện được những mục đích đã đưa ra ở trên thì đề tài có nhiệm

vụ sau:

- Làm rõ cơ sở, tiền đề ra đời của tư tưởng triết học của Canto

- Nghiên cứu hệ thống triết học nhận thức và thực tiễn của Canto

- Ý nghĩa, giá trị của hệ thống triết học của Imanuen Canto

4 Phương pháp nghiên cứu và phạm vi của đề tài:

4.1 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp logic lịch sử kết hợp sử dụng cácphương pháp tổng hợp, so sánh, khái quát và hệ thống hoá

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Với mục tiêu đã xác định trên, phạm vi của đề tài này chỉ nghiên cứu hệthống triết học nhận thức các quan điển đó ở trong các sách, báo, trong cácbài viết về triết học Canto

5 Kết cấu của đề tài:

Trang 3

Ngoài phần mở bài, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo đề tài kếtcấu theo ba phần phần I, II, và III tương ứng nội dugn nghiên cứu của đề tài.

Trang 4

B NỘI DUNG

I KHÁI QUÁT VỀ TIỀN ĐỀ RA ĐỜI VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA

TRIẾT HỌC CỔ ĐIỂN ĐỨC.

1.1 Tiền đề xuất hiện triết học cổ điển Đức.

Hai cuộc cách mạng tiêu biểu đó là Cách mạng công nghiệp Anh và Cáchmạng tư sản pháp ảnh hưởng rộng lớn đến phong trào giải phóng ở các nướcchâu Âu chống chủ nghĩa phong kiến, phát triển hệ tư tưởng tư sản - hệ tưtưởng mới và tiến bộ trong lịch sử Các nhà tư tưởng tư sản đòi hỏi phải trả lạicho con người những cái mà hệ tư tưởng phong kiến đang phủ nhận Quyền tự

do, bình đẳng, quyền sở hữu riêng của mỗi cá nhân và quyền mưu cầu hạnhphúc Hệ tư tưởng tư sản tuyên bố: con người là thực thể tối cao, con ngườiphải vươn tới trí tuệ và tự do, phải thực hiện tiến bộ xã hội và hạnh phúc chocon người

Tuy nhiên về mặt chính trị, chủ nghĩa phong kiến chưa bị tiêu vong hoàn toàn.Giai cấp tư sản cảm nhận được khả năng thất bại của mình không chỉ từ sựphản công của thế lực phong kiến mà cả từ phía quần chúng bị áp bức, nhữngngười mà sự khẳng định của CNTB cang làm cho đời sống của họ tồi tệ hơn.Ngay từ những cuộc cách mạng tư sản trước đó trong “đẳng cấp thứ ba” nàyxuất hiện những mâu thuẫn và giờ đây chúng trở thành mâu thuẫn đối kháng.Tình hình đó dẫn đến trong hệ tư tưởng tư sản khuynh hướng thoả hiệp vớicác lực lượng phong kiến lại tăng lên, các thể chế phong kiến đến lượt mìnhlại thích nghi với trật tự tư sản và trong phạm vi đáng kể được tư sản hoá.Những mâu thuẫn và thoả hiệp có biểu hiện rõ nhất ở nước Đức, nơi mà có sựphát triển của CNTB bị cản trở bởi điều kiện kinh tế và chính trị của nó

F Enghen nhận xét rằng: đó là “thời kỳ nhục nhã về mặt chính trị và xã hội”

“Mọi thứ đều nát bét lung lay, xem chừng sắp sụp đổ, thậm chí chẳng còn tớimột tia hy vọng chuyển biến tốt lên vì dân tộc, thậm chí không còn đủ sức vứt

bỏ cái thây ma rữa nát của chế độ đã chết rồi”

Trang 5

Nhưng đồng thời Enghen cũng viết rằng “thời kỳ nhục nhã” đó lại mang mộtnét đặc biệt rất đáng tự hào: Đó là thời kỳ vĩ đại trong lịch sử văn hoá, nghệthuật và triết học Đức, mỗi tác phẩm xuất chúng của thời đại đó đều thấmđượm tinh thần phê phán, phản kháng, chống lại chế độ xã hội đương thời.Tinh thần đó tràn đầy trong các tác phẩm văn học nghệ thuật, triết học của:G.G.Heeđe (1744 - 1803), G.F.Lêxinh (1729 - 1791), G.F.Sinlơ (1759 - 1805),I.F.G.Phichtơ (1762 - 1814), S.V.Selling (1775 - 1854), G.V.F.Hêghen (1730 -1831), Lútvích Phoiơbắc (1804 - 1872) các đại biểu lỗi lạc của triết học cổđiển Đức.

ở Đức cũng như ở Pháp, cách mạng đã chuẩn bị tư tưởng cho cách mạng tưsản Nhưng khác với các nhà tư tưởng Pháp, các nhà triết học Đức khôngđồng thời là các nhà hoạt động cách mạng Không như P.H.Hônbach (1723 -1789), R.Điđirô và các nhà hoạt động khác ở thời kỳ khai sáng, các nhà triếthọc Đức là những nhà duy tâm Điều đó được phản ánh trong sự bất lực tiếnhành một cuộc cách mạng chống lại trật tự phong kiến, và cuối cùng thể hiện

ở sự thoả hiệp của họ Các học thuyết triết học duy tâm của các nhà triết học

cổ điển Đức không thể làm tiền đề cho sự cải tạo tư sản nước Đức, theo mongmuốn mà tuyên ngôn của họ đã nêu, tự do, trí tuệ, hạnh phúc và quyền conngười

Mác gọi triết học Cantơ là học thuyết Đức của cách mạng tư sản Pháp Địnhnghĩa đó cũng hoàn toàn đúng với triết học Phíchtơ, Sêling, Hêghen

Học thuyết của các nhà triết học Đức về sự phát triển đã gián tiếp hoặc trựctiếp chống lại các lực lượng phong kiến phản động V.I.Lênin viết: “lòng tincủa Hêghen vào lý tính của con người và vào quyền lợi của con người vànguyên lý cơ bản của triết học Hêghen cho rằng trong thế giới luôn diễn ramột quá trình liên tiếp biến hoá và phát triển , ngay cả cuộc đấu tranh chốnghiện trạng, cuộc đấu tranh chống bất công đang tồn tại và chống điều ác tunghoành cũng bắt rễ từ quy luật phổ biến là sự phát triển không ngừng”

Trang 6

Song các học thuyết đó không biến thành cách mạng được, nó duy tâm và yếuhèn Tính chất duy tâm và tinh thần yếu hèn đó đã dẫn đến những hạn chếtrong triết học cổ điển Đức.

Hạn chế của nó là ở chỗ, các nhà triết học Đức hiểu sự phát triển như một quátrình tinh thần, một quá trình tự thức tỉnh và sự phát triển của lý tính Cáchhiểu đó đã xóa nhoà bản chất vật chất của sự cải tạo xã hội hiện thực và về lýthuyết nó biện hộ cho sự thoả hiệp chính trị với các thế lực phong kiến củagiai cấp tư sản

Vấn đề dặt ra là tại sao các nhà duy tâm tư sản yếu hèn trong điều kiện kinh tế

- xã hội thấp kém của nước Đức lại làm nên những thành tựu vĩ đại trong triếthọc

Lịch sử tư tưởng chứng minh rằng, các học thuyết tư tưởng tiến bộ có thể nảysinh trong lòng một nước có trình độ kinh tế lạc hậu hơn nếu biết tiếp thuthành tựu mọi mặt của các nước tiến bộ khác

ở Pháp vào thế kỷ XVIII nền kinh tế kém phát triển hơn ở Anh, song lại hìnhthành chủ nghĩa duy vật: Hônbach, R.Điđro Chính vì chủ nghĩa duy vậtPháp dựa trên những thành tựu của chủ nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVII ở Đứctình hình cũng tương tự Triết học cổ điển Đức dựa trên những thành tựu triếthọc của các nước phát triển châu Âu, nó tiếp thu được tư tưởng giải phóng tưtưởng cách mạng của các nhà duy vật cách mạng Pháp

Những tiền đề cho sự phát triển thế giới quan biện chứng đối với lịch sử nhânloại và sự khái quát lý thuyết phép biện chứng của các nhà duy tâm Đức là:bước ngoặt kinh tế - xã hội có tính chất thời đại của Anh, bước ngoặt tư tưởng

xã hội có tính lịch sử thế giới của cách mạng tư sản Pháp, sự kế thừa truyềnthống triết học biện chứng Đức và đặc biệt là những thành tựu của khoa học

tự nhiên

Những bậc tiền bối của triết học cổ điển Đức là nhà triết học - toán học PhápR.Điđro, nhà vật lý học Anh I.Niutơn, C.Vônphơ Các học thuyết của họchứa đựng những tư tưởng biện chứng sâu sắc

Trang 7

Khoa học tự nhiên lúc này với những phát minh xuất sắc đã vạch rõ tính biệnchứng của quá trình tự nhiên, thúc đẩy việc xây dựng phép biện chứng.

Những thành tựu đó phản ánh vào trong tư tưởng, trong những học thuyết củacác nhà triết học cổ điển Đức và là những tiền đề cho những tư tưởng biệnchứng thiên tài của họ Những thành tựu đó chứng tỏ khoa học tự nhiên đãchín muồi cho sự tổng kết biện chứng, nó cần xây dựng một phương pháp tưduy và khảo sát mới - phương pháp biện chứng để có thể phản ánh đầy đủnhững quy luật tự nhiên khách quan Nếu ở thế kỷ XVII những nhà khoa họcbắt đầu từ Bêcơn, Galilê, xây dựng một cách tự phát phương pháp siêu hìnhcho nhận thức khoa học thì ở cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, các nhà triếthọc Đức đã bắt đầu xây dựng phương pháp biện chứng cho khoa học Nhưng

sự thực hiển nhiên đó trong triết học cổ điển Đức chưa tiến hành triệt để, nóvẫn là triết học đầy mâu thuẫn trên cơ sở chủ nghĩa duy tâm xa lạ với tinhthần duy vật càng xa lạ với biện chứng duy vật khoa học

1.2 Đặc điểm của triết học cổ điển Đức.

Kế tục tư tưởng triết học cổ đại (Xôcrat cho triết học là sự tự ý thức của conngười về chính bản thân mình) và phục hưng (coi con người là trung tâm).Cantơ lần đầu tiên hiểu con người là chủ thể đồng thời là kết quả của quátrình hoạt động của mình, khẳng định hoạt động thực tiễn cao hơn lý luận.Hêghen phát triển thêm tư tưởng này và coi bản thân lịch sử phương thức tồntại của con người, mỗi cá nhân hoàn toàn làm chủ vận mệnh của mình Ông

Trang 8

khẳng định: con người là sản phẩm của một thời đại lịch sử nhất định vì vậy

nó mang bản chất xã hội

Trước những thành tựu khổng lồ của kinh tế - xã hội, khoa học - văn hoá Cácnhà triết học cổ điển Đức từ Cantơ đến Hêghen đều đề cao sức mạnh trí tuệ vàkhả năng hoạt động của con người Tuy nhiên, khi nhấn mạnh sức mạnh củacon người họ đã rơi vào cực đoan, họ đã thần thánh hoá con người, coi conngười là chúa tể tự nhiên, bản thân giới tự nhiên nhiều chỗ cũng được họ luậngiải như kết quả hoạt động của con người

Tuy vậy phải thấy một trong những thành tựu to lớn của triết học cổ điển Đức

là nó khẳng định rằng tư duy và ý thức chỉ có thể phát triển trong chừng mựccon người nhận thức và cải tạo thế giới Con người là chủ thể, đồng thời là kếtquả của toàn bộ nền văn minh do chính mình tạo ra, nghiên cứu tiến trình lịch

sử nhân loại cũng như toàn bộ mối quan hệ con người - tự nhiên như một quátrình phát triển biện chứng

Tuy từ lập trường duy tâm, các nhà triết học cổ điển Đức đã xây dựng nên các

hệ thống triết học độc đáo, đề xuất được tư duy biện chứng, lôgic biện chứng,học thuyết về các quá trình phát triển, mà tìm tòi lớn nhất trong tất cả các tìmtòi của họ đó là phép biện chứng

Với cách nhìn tổng quát và phương pháp biện chứng, các nhà triết học cổ điểnĐức có ý đồ hệ thống hoá toàn bộ tri thức và thành tựu mà nhân loại đã đạtđược Tiếp thu tinh hoa của siêu hình học thế kỷ XVIII trong việc phát triển tưduy lý luận và hệ thống hoá toàn bộ tri thức loài người, Cantơ và Hêghen có ý

đồ xây dựng một hệ thống triết học vạn năng làm nền tảng cho thế giới quancủa con người, khôi phục lại các quan niệm coi triết học là khoa học của cáckhoa học

Phải nói rằng: triết học cổ điển Đức là giai đoạn phát triển mới về chất tronglịch sử tư tưởng Tây Âu và thế giới cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX Đây làđỉnh cao của thời kỳ triết học cổ điển ở phương Tây, đồng thời nó ảnh hưởng

to lớn đến triết học hiện đại

Trang 9

Mặt hạn chế:

Hạn chế chung nhất trong thế giới quan của các nhà triết học cổ điển Đức thểhiện rõ mâu thuẫn giữa tính cách mạng - khoa học về tư tưởng với tính bảothủ về lập trường chính trị - xã hội hầu hết các nhà triết học thời kỳ này đềuxây dựng được hệ thống triết học chứa đựng những tư tưởng khoa học lớn cótính vạch thời đại, đặc biệt là triết học Cantơ và Hêghen Nhưng họ lại khôngdám tiến hành, thực hiện những cuộc cải cách, bảo vệ chính thể Nhà nướcPhổ phong kiến

Chủ nghĩa duy tâm thần bí, phía trước và bên cạnh các nhà triết học cổ điểnĐức là một dòng triết học duy vật, đặc biệt là tư tưởng duy vật của các nhàtriết học khai sáng Song các nhà triết học cổ điển Đức thấy rằng: từ quanđiểm duy vật, người ta không thể giải thích được thế giới Bản chất của thếgiới theo họ là tinh thần, do vậy chỉ có thể giải quyết được những vấn đề củathế giới bằng tinh thần Họ đã từ thế giới tinh thần xây dựng nên những hệthống triết học duy tâm, thần bí

Triết học trừu tượng tách rời hiện thực, triết học cổ điển Đức đưa ra đượcnhững tư tưởng tiến bộ, chống chế độ xã hội cũ nhưng đó chỉ là những tưtưởng, nó không đi vào chính trị xã hội và hoạt động cách mạng mà chỉ lànhững hệ thống triết lý trừu tượng ở bên trên

Nếu các nhà tư tưởng pháp tiến hành cách mạng trong thực tiễn, công khaichống lại Nhà nước và giáo hội thì các nhà triết học cổ điển Đức chỉ suy nghĩ

về nó trong tư tưởng, không giám công khai chống lại thực tại đó Họ là cácgiáo sư chính thức trong các trường Đại học của vương quốc Phổ, do sợ hãihiện thực cách mạng, thoả hiệp với giai cấp tư sản, tư tưởng cách mạng của

họ đã phải phủ ngoài triết học của mình một lớp vỏ thần bí duy tâm tự biện,nặng nề, xa rời hiện thực

Trang 10

II VÀI NÉT VỀ CUỘC ĐỜI VÀ

Trang 11

SỰ NGHIỆP CỦA IMANUEN CANTO.

I.kant là người sáng lập ra triết học cổ điển Đức Ông sinh ngày 22 - 04 - 1724

và lớn lên trong một gia đình trung lưu gốc Scốtlen tại Kenítbec, một thànhphố cổ vùng Đông - Bắc nước Phổ trước đây Mùa thu năm 1740 ông vào họckhoa triết học trường đại học Kenítbec Ở đây ông được trang bị không chỉtriết học mà cả khoa học tự nhiên Ngay từ những năm trong trường đại họcông đã rất quan tâm và có năng khiếu về các môn toán học và vật lý học và cơhọc, vũ trụ học

Năm 1770, ông trở thành giáo sư và là Giám đốc trường Đại học

Kennitbéc Năm 1775, ông nhận học viện Tiến sỹ triết học với luận văn:

“Lịch sử tự nhiên và lý thuyết về thiên hà”.Cantơ không hề ra khỏi thành phốquê hương quá 60 dặm và suốt đời độc thân ông mất ngày 12 tháng 4 năm1804

Ở trường đại học Kenitbéc, Cantơ giảng một loạt các môn học: Siêu hình học(triết học) và lôgíc học, toán học và cơ học, vật lý học và địa chất học, nhânloại học và lịch sử tự nhiên đại cương Ông còn giảng cả vũ trụ học, địa vật

lý, nhân chủng học Cũng ở đây, Cantơ đã tập trung toàn bộ sức lực và thờigian để thực hiện nhiệm vụ mà cả cuộc đời ông đã dặt ra cho mình là xâydựng một hệ thống triết học mới Nhiều công trình khoa học tự nhiên và triếthọc của ông đã ra đời, nâng ông lên vị trí một trong những học giả uyên bácnhất thời đó Những học thuyết của ông thống trị tư tưởng khoa học và triếthọc tư sản thế kỷ XIX Ông đã để lại cho nhân loại một trong những hệ thốngtriết học độc đáo và sâu sắc nhất.Quá trình phát triển triết học của Cantơ diễn

ra qua hai thời kỳ

Thời kỳ 1: Từ năm 1770 trở về trước

Thời kỳ 2: Từ năm 1770 đến cuối đời

Bởi nhiệm vụ triết học trong thời kỳ 2 do Cantơ đặt ra là phê phán (các hệthống triết học trước đó) nên thời kỳ này được gọi là thời kỳ phê phán Còn

Trang 12

thời kỳ 1, tư tưởng phê phán chưa rõ ràng nên được gọi là thời kỳ tiền phêphán.

2.1 Thời kỳ tiền phê phán và những tư tưởng triết học khoa học tự nhiên.

Thời kỳ 1, Cantơ đã quan tâm đến nhiều lĩnh vực mà ông đang giảng dạy vànghiên cứu trong trường Đại học nhưng chủ yếu tập trung vào triết học tựnhiên Nghiên cứu những vấn đề trong lĩnh vực triết học tự nhiên Cantơ xuấtphát từ niềm tin cho rằng: Triết học với tư cách là một khoa học lý thuyết tựbiện có thể lý giải được mà không cần đến kinh nghiệm.Thời kỳ này, vớinhững thành công trong khoa học ông là người lạc quan, tin tưởng vào khảnăng nhận thức thế giới của con người Trong thời kỳ này Cantơ viết một khốilượng lớn các công trình về triết học, khoa học tự nhiên Đặc điểm rõ rệt trongcác công trình này là những tư tưởng triết học và khoa học tự nhiên gắn bóchặt chẽ với nhau Ở nhiều ngành khoa học tự nhiên, nơi mà Cantơ bỏ côngnghiên cứu, ông đều đề xuất được những ý tưởng có giá trị

Trong vật lý học, khi phát triển các tư tưởng về sự vận động, về lực hấp dẫncủa các nhà toán học, vật lý học và cơ học, Cantơ đã luận giải sâu hơn lýthuyết về sự vận động và đứng im

Trong sinh học, Cantơ đã đề xuất tư tưởng phân loại động vật theo nguồn gốcriêng của từng loại, cơ sở của sự phân loại là dựa vào các nhóm gen củachúng

Trong nhân loại hoc, Cantơ đề xuất tư tưởng về lịch sử tự nhiên của loàingười ở đây ông lý giải sự hình thành và sự phát triển của loài người qua cácgiai đoạn mông muội, văn minh và hiện đại

Khác với Niutơn, Cantơ đã thử ứng dụng các nguyên tắc của khoa học tựnhiên hiện đại vào việc giải thích không chỉ kết cấu của hệ thống Mặt trời chogiai đoạn hiện tại, mà còn giải thích sự nảy sinh của hệ thống đó

2.2 Thời kỳ phê phán và những quan điểm triết học cơ bản.

Trang 13

Nếu ở thời kỳ tiền phê phán, Cantơ nghiên cứu triết học khoa học tự nhiên thìsang thời kỳ phê phán ông chú ý những vấn đề xã hội con người, nếu trướcđây ông thừa nhận con người có khả năng nhận thức thế giới thì bây giờ ônglại cho rằng con người không nhận thức được thế giới, trước đây ông là người

đề cao trí tuệ thì nay ông lại đề cao tín ngưỡng

Về nhận thức luận, Cantơ luôn luôn bác lại những nhà duy vật kinh nghiệmchủ nghĩa, những nhà cho rằng trí tuệ của chúng ta có được là nhờ kinhnghiệm, nhờ kinh nghiệm mà ta nhận thức đuợc thế giới.Ngược lại,Cantơ chorằng, trí tuệ là một cơ quan năng động có sẵn khả năng hiểu biết -trí tuệ tiênnghiệm, chúng ta nhận thức thế giới có hiệu quả chính là bằng trí tuệ tiênnghiệm đó

Từ năm 1770 về sau, Cantơ đã đặt ra nhiệm vụ cho bản thân mình là phải xâydựng một hệ thống triết học theo quan điểm duy tâm phê phán tiên nghiệm

Hệ thống triết học đó được Cantơ trình bày chủ yếu trong bộ ba tác phẩm Phê phán lý tính thuần tuý (1781)

Phê phán lý tính thực tiễn (1788)

Phê phán năng lực phán đoán (1790)

III NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC CANTƠ

3.1 Triết học nhận thức:

Triết học lý luận của Cantơ đề cập đến những vấn đề nhận thức luận vàlogíc học với mục đích xây dựng một nền tảngthế giới quan mới cho con

Trang 14

người, xác định giới hạn và đối tượng của tri thức con người,hay theo cách

đặt vấn đè của cantơ là giải đáp vấn đề tôi có thể biết được cái gì?

Triết học nhận thức chủ yếu là xây dựng lý thuyết tiên nghiệm; tri thức

và khả năng (giới hạn) của các loại tri thức

3.1.1 Thuyết hai thế giới và quan niệm về nhận thức.

Tiền đề cho bộ ba tác phẩm “triết học phê phán” của Cantơ là thuyết hai thế giới : Thế giới vật tự nó (Ding and Sich) và thế giới hiện tượng

(fonomen)

3.1.1.1 Thuyết hai thế giới:

Cơ sở tư tưởng của sự hình thành quan niệm “vật tư do”

a) Vấn đề quan hệ giữa tư tưởng và hiện thực vẫn luôn là vấn đề phức tạp, nónhư một câu hỏi treo trước nhà triết học.Trong khi các nhà khoa học và triếthọc chưa có ý kiến thống nhất, khoa học và thần học đối lập nhau trong việcgiải quyết vấn đề đó thì Cantơ nghiêng về phía cho rằng hiện thực và tư tưởng

là hai lĩnh vực khác nhau, không liên quan đến nhau

b) “Do hạn chế về khoa học, Engen nhận định sự hiểu biết của loài người vềthế giới cho đến nay vẫn còn quá vụn vặt, mơ hồ, đến nới đằng sau mỗi sự vật

tự nhiên ấy, người ta vẫn có thể cho rằng có một “vật” tự do bí ẩn đặc biệtnữa”.Chưa vượt qua tầm nhìn đương đại, Cantơ cũng quan niệm như vậy.Cantơ coi “cái vật tự do bí ẩn đặc biệt” ở đằng sau mỗi sự vật đó là “cái cânnguyên”, “cái tồn tại thực sự”, là “bản chất” của vật chất, bản chất của thếgiới

c) Dựa vào Thuyết động lưc học Cantơ cho rằng chính cái vật tự do bí ẩn ởđằng sau sự vật chính là cái tạo ra “lực vận động” như là một nguyên nhânđầu tiên của vật chất,của vận động-cái tinh thần của tinh thần,-cái đó,tự nó,tồntại Và cantơ đi đến kếtl luận: rõ ràng là có vật tự do

Cantơ viết: “tôi gọi vật tự nó là khái niệm đang nghi ngờ nhưng nó tồntại khách quan và không thể nhận thức được bằng mọi cách.Khái niêm vật tự

Trang 15

nó nghĩa vật cần phải được nhận thức không phải như đói tượng cảm tính mànhư vật tồn tại tự nó”.

Thế giới vật tự nó

Vật tự nó theo quan niệm cua Cantơ có thể hiểu theo ba nghĩa sau:

1 Là vật khách quan, tự nó tồn tại, ở bên ngoài con người, con ngườikhông biết gì về nó

2 Vật tự nó là căn nguyên của thế giới, là cái tồn tại thức sự, là bảnchất của thế giới, tinh thần của tinh thần

3 Vật tự nó còn ám chỉ những những chuẩn mực, những lý tưởng củamọi sự hoàn thiện tuyệt đối mà con người không thể đạt tới được, nhưng nó lànhững điều mà con người hằng mong ước: Tự do, linh hồn bất tử, Thượng Đế.Đây là lĩnh vực thuộc đối tượng của tín ngưỡng, của niềm tin

Thế giới hiện tượng

Thế giới hiện thực trong lĩnh vực muôn màu muôn vẻ của nó như đấtnước, sông núi, cỏ cây,…và những quy luật dẫn dắt mọi quá trình của thế giớiđó,…theo Cantơ, là những cái đang tồn tại dưới dạng hình thức (hiện tượng)của thể giới vật tự nó Thế giới đó biểu hiện ra như chúng ta thấy là do “tácđộng”thế giới vật tự nó đến khả năng cảm giác tiên nghiệm của chúng ta, gâynên những biểu tượng, những biểu tượng đó qua kinh nghiệm của chủ thểnhận thức mà xây dựng nên những hình dạng như chúng đang tồn tại tronghiện thực Cantơ viết rằng, “giác tính, bằng khả năng tổng hợp của mình,thông qua các khái niệm hay các phạm trù mà sáng tạo ra giới tự nhiên vớicác hiện tượng đa dạng, phong phú như nó đang tồn tại Mọi hiện tượng củagiới tự nhiên phải chịu sự chi phối của các phạm trù lý tính” Nói cách khác,thế giới hiện tượng này chính là thế giới bề ngoài của thế giới vật tự nó, làphần biểu hiện “ vật chất” của thế giới tinh thần

Lý do vật tự nó là không thể nhận thức được

a) Vào thời đại của Cantơ, nhiều nhà tư tưởng thừa nhận sự tồn tại của

Trang 16

vai trò của Thượng Đế trong thế giới hiện thực Đó là chổ yếu của cả thần học

và triết học duy tâm nói chung để các nhà vô thầm phủ nhận sự tồn tại củaThượng Đế Để cứu vãn tinh thần duy tâm, Cantơ đã coi Thượng Đế khôngphải cái gì khác mà, đó là cái tự do, là linh hồn bất tử, là vật tự nó - nghĩa làThượng Đế cái tự nó tồn tại, con người không giải thích được và cũng khôngthể biết được

b) Cantơ đòi hỏi ở tri thức khoa học và triết học sự hoàn thiện tuyệtđôí: coi đó là tri thức lý tưởng của con người Song, cũg như Hium vàLépnhít, một mặt Camtơ cho rằng, để khoa thực sự ;là khoa học thì nó phảidựa trên tri thức tiến nghiệm., nghĩa là tri thức mang tính phổ quát và tất yếu(chân lý) Mặt khác, do chua thoát khỏi quan niệm siêu hình -sự nhìn nhậnthế giới một cách tách rời- Cantơ cho rằng mọi sự vận động trong thế giới bênngoài chúng ta chỉ là sự tồn tại dưới dạng đơn giản nhất, ngẫu nhiên.Vậy là ởđây có khả năng mà phải chọn một:

1 Nếu khẳng định,mọi tri thức đều là sự phản ánh các sự vật của kháchquan thì phải thì phải thừa nhận mọi khoa học đều chỉ dựa trên nhưỡng trithức đơn nhất, ngẫu nhiên

2 Nếu đòi hỏi mọi tri thức khoa học đạt đến tính phổ quát và tất yếu thìphải thừa nhận, nguồn gốc của khoa học (triết học) không phải là sự phản ánhthế giới khách quan ; tri thức đó chính là kết quả của sự sáng tạo của riêng trítuệ con người

Đứng trước sự lựa chọn trên, Cantơ lập luận: Từ trước tới nay người tacho rằng, “mọi tri thức của chúng ta đều phải phù hợp với các sự vật( quanđiểm nhận thức luận duy vật-N.V.H) Tuy nhiên, trên thực tế mọi ý đồ thôngqua khái niệm để xác lập một cái gì đó tiên nghiệm về các sự vật thì đều thấtbại Vì thế, có lẽ, giải quyết nhiệm vụ cơ bản của triết học sẽ hiệu quả hơnnếu chúng ta xuất phát từ luận điểm:” Các sự vật phải phù hợp với nhận thứccủa chúng ta” (nhận thức tiên nghiệm duy tâm-N.V.H) Điều này sẽ đáp ứng

Trang 17

tốt hơn cái việc mà triết học đòi hỏi là phải có được tri thức tiên nghiệm vềvật tự nó”.

Như vậy, với ý đồ xây dựng nền tảng tri thức tiên nghiệm của khoahọc( triết học), cũng như quan niệm cho rằng mọi tri thức của con ngườikhông phải là sự phản ánh thế giới khách quan, Can tơ đi đến khẳng định vật

tự nó là không thể nhận thức được

3.1.1.2 Quan niệm về nhận thức.Kinh nghiệm và tiên nghiệm

Theo Cantơ, con người nhận thức là nhờ kinh nghiệm (“mọi kiến thức đều bắtđầu từ kinh nghiệm “) Cantơ phân biệt hai loại kinh nghiệm: Kinh nghiệmthông thườngvà kinh nghiệm khoa học

Kinh nghiệm thông thườnglà kinh nghiệm được hình thành từ những”sự trảiqua” trong cuộc sốngcũng như trong nhận thức nói chung của cá nhân

Kinh nghiệm nhận thức khoa học là kinh nghiệm bậc cao: Kinh nghiệm củatri thức với tư cách là” cơ quan năng động có sẵn khẳ năng nhận thức” –tức là

ở đó đã có sẵn yếu tố tiên nghiệm Như vậy, đây làkinh nghiệm tiên nghiệm;

nó là công cụđể phát hiện cái tiên nghiệm mới

Tiên nghiệm có hai mức độ:

a) Cái có trước kinh nghiệm-ap rio ri

b) Cái siêu nghiệm-tứclà tiên nghiệm đích thực, tiên nghiệm bậc cao.Trong siêu nghiệm có tiên nghiệm và hậu nghiệm vứi tư cách là phán đoántiên nghiệm

Đối tượng của triết học không phải là nghiên cứu bản thân kinh nghiệm

mà chủ yếu là nghiên cứu cái tiên nghiệm và hậu nghiệm – siêu nghiệm,( tứcnghiên cứu cái có truớc và có sau kinh nghiệm)

Siêu nghiệm xuất phát từ kinh nghiệm nhưng không phải là kinhnghiệm Nó là sự vượt qua kinh nghiệm thông thường, vượt qua những hiệntượng mà con người nhận biết được bằng các giác quan Những hình ảnh màgiác quan thu được chỉ là những kinh nghiệm thông thường, ít có ý nghĩa

Trang 18

Tiên thiên là cái vốn có của tự nhiên mà thực chất, đó là cái tự do, cáibản chất của thế giới.ở con người ( vì con người là một bộ phận của tự nhiên)thì tiên thiên chính là các yếu tố bẩm sinh.

Cái tiên nghiệm, siêu nghiệm, tiên thiên như đã phân tích, do còn là kếtquả của sự chuyển hoá trong chủ thể nhận thức, cho nên nó có tính xã hội.Tuynhiên về nguồn gốc, về bản chất, nó thuộc tự nhiên.Bản tính thiện, bản tínhsáng tạo, bản tính vươn tới.Tự do của con người là những cái thuộc tiên thiên,chúng không phải đợi đến lúc cá nhân có đầy đủ kinh nghiệm mới xuấthiện.Những tư chất ở mỗi cá nhân, năng khiếu, thiên chức mỗi người, nòigiống đều là những cái thuộc tự nhiên, chúng được phát huy ngay cả khi cánhân chưa có nhiều kinh nghiệm.Các cảm giác, các hoài cảm, các dục vọng,

…cũng không cần chờ có kinh nghiệm rồi mới có

Nhận thức và khả năng của nhận thức

Con người với tư cách là chủ thể nhận thức có vốn có tri thức tiên nghiệmnhận thức là việc chủ thể dùng tri thức tiên nghiệm để xem xét sự vật Nguyêntắc nhận thức: Không phải là tri thức của chủ thể phải phù hợp với sự vật, mà

sự vật phải phù hợp với tri thức của chủ thể nhận thức

Nhận thức bắt đầu từ khi các sự vật hiện tượng khách quan tác độngcác giác quan của con người, gây nên những cảm giác từ toàn bộ những cảmgiác đó, thông qua kinh nghiệm mà chủ thể nhận thức xây dựng nên nhữnghình ảnh, những khái niệm, những phạm trù, những quy luật …Về hiện tượngnói riêng và về thế giới hiện tượng nói chung

Cantơ viết: Nhận thức là do những năng lực nhận thức tạo ra, do hoạtđộng sáng tạo của chủ thể tạo ra tri thức, tri thức đó tạo ra thế giới hiện tượng

và chính nó lại trở lại nhận thức cái do chính mình tạo ra đó

Vậy là thế giới hiện tượng, nói đến cùng, là do kinh nghiệm con người

“ xây dựng” – thế giới nằm trong phạm vi của cái chủ quan do chính tri thứccủa chủ thể nhận thức tạo ra Đến luợt mình con người nhận thức là thế giới

hiện tượng này Cho nên Cantơ còn gọi triết học của mình là Hiện tượng luận.

Ngày đăng: 13/08/2017, 12:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w