1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số nét đặc sắc nội dung và nghệ thuật thơ điền viên đời đường

62 449 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 749,49 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thơ điền viên đời Đường hay và trong sáng, hình ảnh được miêu tả cũng như không gian trong thơ vô cùng gần gũi, thân thuộc nên khi đọc ta dễ dàng hình dung, tưởng tượng và cảm nhận được

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN THỊ HƯƠNG MAI

MỘT SỐ NÉT ĐẶC SẮC NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT

THƠ ĐIỀN VIÊN ĐỜI ĐƯỜNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN THỊ HƯƠNG MAI

MỘT SỐ NÉT ĐẶC SẮC NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT

THƠ ĐIỀN VIÊN ĐỜI ĐƯỜNG

Chuyên ngành: Văn học nước ngoài

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: Ths Hà Thị Hải

SƠN LA, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong khoa Ngữ Văn (đặc biệt là các

thầy cô trong tổ Lí luận - Văn học nước ngoài) đã tạo điều kiện ủng hộ và giúp

đỡ em trong quá trình nghiên cứu và thực hiện khóa luận tốt nghiệp

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo, ThS Hà Thị Hải đã tận

tình giúp đỡ, chỉ bảo và động viên, tận tình hướng dẫn em trong quá trình thực

hiện khóa luận tốt nghiệp

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể lớp K54 Đại học Sư phạm

Ngữ Văn, các cán bộ ở bộ phận thư viện Trường Đại học Tây Bắc đã giúp đỡ em

trong quá trình sưu tầm tài liệu để hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập, nghiên cứu

khoa học

Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Hương Mai

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

2.1 Ở Trung Quốc 2

2.2 Ở Việt Nam 4

3 Đối tượng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 6

3.1 Đối tượng nghiên cứu 6

3.2 Phạm vi nghiên cứu 6

3.3 Mục đích nghiên cứu 7

3.4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Phương pháp nghiên cứu 7

4.1 Phương pháp khảo sát thống kê 7

4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp 7

4.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu 7

5 Đóng góp của khóa luận 8

6 Cấu trúc của khóa luận 8

CHƯƠNG 1 ĐẶC SẮC NỘI DUNG THƠ ĐIỀN VIÊN ĐỜI ĐƯỜNG 9

1.1 Một số khái niệm 9

1.1.1 Nội dung tác phẩm văn học 9

1.1.2 Hình tượng nghệ thuật 10

1.1.3 Thơ điền viên 11

1.2 Những hình tượng tiêu biểu trong thơ điền viên đời Đường 12

1.2.1 Cánh đồng 13

1.2.1.1 Cánh đồng lúa 14

1.2.1.2 Cánh đồng cỏ 16

1.2.2 Vườn 18

1.2.2.1 Vườn hoa 18

1.3.2.2 Vườn cây ăn quả 20

1.3.3 Ao 22

Trang 5

1.2.4 Con vật 24

1.2.5 Con người 26

Tiểu kết 28

CHƯƠNG 2 ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT THƠ ĐIỀN VIÊN ĐỜI ĐƯỜNG 29 2.1 Khái niệm hình thức tác phẩm văn học 29

2.2 Những phương diện nghệ thuật cơ bản của thơ điền viên đời Đường 30

2.2.1 Điểm nhìn 30

2.2.2 Ngôn ngữ 32

2.2.2.1 Hàm súc 33

2.2.2.2 Hệ thống từ vựng phong phú 34

2.2.2.3 Giàu tính nhạc, họa 37

2.2.2.4 Một số biện pháp nghệ thuật khác 41

2.2.3 Thể loại 45

2.2.3.1 Thể bát cú 45

2.2.3.2 Thể tuyệt cú 48

2.2.3.3 Thể cổ thi 50

Tiểu kết 51

KẾT LUẬN 53

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Gần 3000 năm trước đây, ở đất nước tươi đẹp nơi phù sa hai con sông vĩ

đại Hoàng Hà và Dương Tử bồi đắp nên, người ta đã nghe văng vẳng những lời

ca nồng đượm mà thanh tao, ngọt ngào mà trang nhã, tình tứ mà phiêu du: “Quan

quan thư cưu, tại hà chi châu, yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu” (Quan thư - Kinh thi) Phải chăng vì thế mà nhân loại gọi đất nước ấy là xứ sở của thi ca

Nói đến thơ cổ điển Trung Quốc, người ta chỉ hay nói đến thơ Đường Thơ

ca đời Đường như một vườn hoa trăm sắc nở rộ với nội dung phong phú, đa dạng, hoàn mỹ và nghệ thuật thơ trác việt Trong thế giới Đường thi ấy, thơ điền viên là mảng thơ khá nổi bật với tên tuổi của những thi nhân kiệt xuất như Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Lí Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị… Mảng thơ này cùng với thơ biên tái, thơ sơn thủy, thơ du tiên, du hiệp, thơ vịnh vật, vịnh sử…

đã tạo nên diện mạo kính vạn hoa thống nhất, đa dạng và sức sống mãnh liệt, sinh khí tràn trề của thi ca đời Đường Tìm hiểu về thơ điền viên đời Đường không những giúp mỗi chúng ta có cái nhìn sâu sắc hơn về nội dung và nghệ thuật của mảng thơ này nói riêng mà còn mở rộng được kiến thức đối với thơ ca đời Đường nói chung, từ đó phần nào hiểu được tại sao thơ ca thời Đường lại có

vai trò quan trọng trong việc “làm nên thời đại hoàng kim” của thơ ca cổ điển

Trung Quốc

1.2 Lí do thứ hai thôi thúc khiến tôi lựa chọn đề tài này xuất phát từ sự yêu

thích của tôi đối với thơ điền viên đời Đường Thơ điền viên đời Đường hay và trong sáng, hình ảnh được miêu tả cũng như không gian trong thơ vô cùng gần gũi, thân thuộc nên khi đọc ta dễ dàng hình dung, tưởng tượng và cảm nhận được những vẻ đẹp của thiên nhiên, của cảnh vật hay đơn giản là vẻ đẹp của bức tranh cuộc sống sinh hoạt hằng ngày từ đó thấy được thông điệp tư tưởng, tình cảm trong sáng mà tác giả muốn gửi gắm vào trong đó Càng đọc ta lại càng thấy yêu thích nó hơn, càng muốn chìm đắm thêm chút nữa trong không gian điền viên lãng mạn tươi đẹp ấy Chiêm ngưỡng, cảm nhận cái đẹp cũng là một cách để ta thư giãn, hưởng thụ cuộc sống

Trang 7

1.3 Thơ Đường chiếm một vị trí quan trọng trong chương trình văn học ở

trường Phổ thông, Cao đẳng, Đại học và ngày càng trở nên hấp dẫn đối với các thế hệ độc giả Đó chính là động lực khiến người viết tiếp tục tiếp bước cuộc

hành trình văn học đến với thơ ca đời Đường qua đề tài “Thơ điền viên đời

Đường” Đặc biệt là đã có một số bài thơ điền viên đời Đường được tìm hiểu

trong chương trình Đại học và Trung học phổ thông, đồng thời cũng có nhiều bài thơ trong văn học Việt Nam có liên quan đến đề tài điền viên cho nên việc tìm hiểu đề tài này sẽ giúp ta có thêm kiến thức bổ sung vào sự am hiểu về thơ

ca Trung Quốc, liên hệ và bổ sung thêm kiến thức mở rộng cho văn học trung đại Việt Nam, lấy đó làm tư liệu để tham khảo giảng dạy trong nhà trường phổ thông sau này

2 Lịch sử vấn đề

Với nội dung phong phú và nghệ thuật đặc sắc, thơ điền viên đời Đường đã trở thành đối tượng tìm hiểu của nhiều nhà nghiên cứu ở Trung Quốc cũng như Việt Nam:

2.1 Ở Trung Quốc

Trong cuốn Lịch sử văn học Trung Quốc của Sở nghiên cứu văn học thuộc

Viện khoa học xã hội Trung Quốc (Dư Quan Anh - Tiền Chung Thư - Phạm Ninh chủ biên) các tác giả chỉ mới dừng lại ở việc khái quát về sự phân chia

trường phái và tính kế thừa của phái sơn thủy điền viên: “Sự phân chia các

trường phái theo đề tài… như Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên là nhà thơ sơn thủy điền viên” và nhận định: “Các nhà thơ sơn thủy điền viên kế thừa truyền thống nghệ thuật của Tạ Linh Vận và Đào Uyên Minh Trong việc phản ánh vẻ đẹp thiên nhiên cũng như trong kỹ xảo miêu tả họ có phát triển thêm và làm cho phong phú hơn” [1, 415] Ở đây các tác giả cho rằng sự phân biệt giữa hai đề tài

sơn thủy (sông núi) và điền viên (ruộng vườn) là không rõ nét vì chúng đều nói

về thiên nhiên, về cảnh vật tự nhiên của thế giới khách quan

Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc (Ngô Vinh Chính - Vương Miện

Quý chủ biên) xác định thời Thịnh Đường thơ Trung Quốc có hai phái thơ chính

trong đó một phái là “phái điền viên do Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy làm chủ

Trang 8

chốt, chuyên miêu tả cảnh ruộng vườn nhàn tản…” [4, 205] Như vậy, ở đây tác

giả đã đề cập tới đối tượng chính mà thơ điền viên đời Đường hướng tới

Chuyên luận Đường thi học dẫn luận của Trần Bá Hải khẳng định: “Trên

thi đàn Thịnh Đường quần tinh lấp lánh, có hai trào lưu đặc biệt thu hút sự chú

ý của mọi người, một là trào lưu thơ biên tái… hai là trào lưu thơ sơn thủy điền viên do Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Trừ Quang Hy làm đại diện Thơ sơn thủy điền viên tổng hợp truyền thống vịnh tả điền viên của Đào Uyên Minh và tả cảnh sơn thủy của Tạ Linh Vận nhưng biến đổi thêm, lấy tình thú điền viên thưởng thức sơn thủy, lại lấy nhãn quan sơn thủy để thưởng thức điền viên” [11,

141] Như vậy ở đây tác giả vừa nói lên được vị trí của thơ điền viên trong dòng chảy thơ Đường vừa đề cập đến cảm hứng khi miêu tả và cảm nhận thiên nhiên của các thi nhân đời Đường

Các tác giả của sách Tinh hoa tri thức văn hóa Trung Quốc nhận xét về các nhà thơ điền viên: “Về mặt nghệ thuật, thơ họ ngày càng tinh tế Thông qua việc

miêu tả cảnh sắc điền viên, họ bộc lộ tấm lòng tha thiết đối với cuộc sống yên tĩnh và lòng mến yêu phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp Qua đó họ cũng nói lên nỗi buồn khi có tài mà không gặp vận và sự oán ghét đối với bọn quan trường

Lâm Ngữ Đường trong Nhân sinh quan và thơ văn Trung Hoa còn đặc biệt đề

cao nghệ thuật ấn tượng của thi phái điền viên đến mức cho rằng riêng kỹ thuật tả cảnh của thi phái này đã thâu gọn cả đặc trưng nghệ thuật của thơ Trung Hoa Khi nhận xét về đặc điểm nội dung, nghệ thuật của thơ điền viên, các nhà nghiên cứu Trung Quốc đều có ý kiến tương đối thống nhất, họ đánh giá rất cao

về dòng thơ này trong việc biểu hiện đời sống tinh thần con người thông qua những phương tiện nghệ thuật độc đáo

Trang 9

2.2 Ở Việt Nam

Về mảng thơ điền viên đặc sắc đời Đường mà Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên là đại diện, các nhà nghiên cứu Việt Nam phần nhiều đều dựa theo quan niệm của các tác giả Trung Quốc:

Nhận xét về thơ điền viên đời Đường, Lê Nguyễn Lưu trong cuốn Đường

thi tuyển dịch đã viết: “Một số nhà thơ có khuynh hướng thoát ly nhìn nông thôn bằng con mắt Lão - Trang, vẽ ra khung cảnh ruộng vườn phù hợp với tâm trạng nhàn dật của họ Thiên nhiên ở đó chưa chan khí vị đạo học, trong sáng êm đềm… Những cảnh sinh hoạt nông thôn cũng được họ miêu tả đầy đủ, nhưng công việc điền gia không có gì lam lũ, vất vả mà xem ra lại nhẹ nhàng, hấp dẫn” [22, 126 -127]

Trong cuốn giáo trình Lịch sử văn học Trung Quốc các tác giả Trương

Chính, Trần Xuân Đề, Nguyễn Khắc Phi cũng nhận xét thơ tả cảnh của Vương

Duy, Mạnh Hạo Nhiên là “thứ thơ sơn thủy điền viên của những người siêu

thoát, nhàn nhã, tách rời cuộc sống xã hội” [3, 11]

Trần Trung Hỷ trong chuyên luận Thơ sơn thủy cổ trung đại Trung Quốc cho rằng: “Thơ điền viên là thơ lấy cảnh nông thôn, loại cảnh quan nhân vi (tức

cảnh vật do bàn tay con người tái tạo sắp xếp) làm đối tượng thẩm mỹ chính, về tâm lý tỏ ra an nhiên, tự tại, ổn định” [18, 11] Và theo tác giả, đối tượng chủ

yếu của thơ điền viên là cảnh nông thôn mang tính nhân tạo, thể hiện ý thức quy

ẩn theo mô hình xã hội nông nghiệp cổ truyền, bình lặng và ổn định

Trong cuốn Lịch sử văn học Trung Quốc (tập 1), Lê Huy Tiêu có nhắc tới

thơ điền viên đời Đường nhưng vẫn chỉ là ở vấn đề phân chia trường phái thơ này theo phương diện về đề tài và phương pháp sáng tác Trong đó theo đề tài, ông nhận thấy thơ điền viên đời Đường được chia làm hai nhánh, một nhánh tiến bộ, tích cực gần với thơ xã hội miêu tả đúng thực trạng nghèo nàn, khốn khổ của hiện thực nông thôn, một nhánh bao gồm một số tác giả có tư tưởng

tiêu cực có khuynh hướng thoát ly, ông viết: “Các nhà thơ của thời kỳ này

như Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên… là nhà thơ sơn thủy điền viên…tư tưởng của họ lại mang nhân tố tiêu cực trốn tránh hiện thực…” [28, 415] Còn dựa

Trang 10

trên phương pháp sáng tác thì ông lại chia thành hai nhánh: trường phái thơ lãng mạn với đại diện tiêu biểu là Lí Bạch và trường phái thơ hiện thực mà đại diện tiêu biểu là Đỗ Phủ

Chuyên luận đầu tiên ở nước ta nghiên cứu có chiều sâu về riêng mảng thơ

điền viên đời Đường đó là luận án Thơ điền viên đời Đường của tác giả Đỗ Thị

Hà Giang Luận án này đã đưa ra khái niệm “thơ điền viên đời Đường”, nhấn

mạnh những đặc điểm riêng biệt của nó, khác với thơ điền viên Trung Hoa nói chung, cũng khác với thơ điền viên đời Tấn và thơ điền viên đời Tống của những tên tuổi trứ danh như Đào Uyên Minh, Phạm Thành Đại trong lịch sử thơ

điền viên Trung Quốc: “Thơ điền viên đời Đường là thơ miêu tả cảnh sắc tự

nhiên và không gian sinh hoạt của chủ thể trữ tình chủ yếu ở nơi ruộng vườn thôn dã nhằm biểu đạt tâm thức ẩn dật, an nhiên, thanh thản, thoát tục” [9, 49]

Từ hướng tiếp cận văn hóa, luận án này cho thấy cội nguồn sâu xa làm nảy

sinh một hiện tượng có thể xem là “đặc sản” của nền văn hóa và văn học Trung

Hoa - thơ điền viên - từ lúc phôi thai đến thời kỳ phát triển thành một dòng thơ nổi tiếng đời Đường Những quan niệm về thiên nhiên và chốn điền viên từ triết học, tôn giáo, phong tục tập quán và tâm linh của người Trung Hoa đã có ảnh hưởng khá sâu đậm tới đặc trưng thơ điền viên và tâm thức của thi nhân

Ở nước ta nhìn chung cho tới nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu mang tính chuyên biệt đề cập đến thơ điền viên đời Đường với tư cách một loại hình độc đáo dù người ta đã bàn rất nhiều đến thơ điền viên như một trường lưu không thể thiếu trong nguồn chảy bất tận của Đường thi Đa số các nhà nghiên cứu ghép thơ điền viên với thơ sơn thủy thành một dòng gọi là thơ sơn thủy - điền viên và đánh giá nó là một dòng thơ nổi bật đời Đường với nhiều thành tựu xuất sắc

Luận án của tác giả này đặc biệt quan tâm tới sự kết hợp hài hòa của nội dung và nghệ thuật thơ điền viên để tạo nên những cảnh giới nghệ thuật độc đáo,

đi sâu khám phá đặc trưng cơ bản, cốt lõi của thơ điền viên trên ba phương diện: miêu tả cảnh sắc điền viên, phác họa cuộc sống ẩn dật và tâm thức của thi nhân Cảnh sắc tự nhiên và không gian sinh hoạt trong thơ điền viên đời Đường không

Trang 11

đơn thuần chỉ giới hạn ở phạm vi nông thôn mà bao hàm cả cảnh sắc điền viên như ruộng, vườn, đồng, bãi… và cảnh sắc sơn thủy như sông, núi, suối, khe… Hầu hết các nhà nghiên cứu ở Trung Quốc và Việt Nam đều ghi nhận sự xuất hiện nổi bật của phái thơ điền viên đời Đường Các ý kiến đều đánh giá cao đặc trưng nội dung, nghệ thuật của thơ điền viên, khẳng định đóng góp quan trọng của thi phái này trong sự phát triển rực rỡ của thơ Đường Song những khẳng định đó mới chỉ dừng ở mức độ khái quát về trường phái thơ điền viên đời Đường, nếu có tìm hiểu cụ thể hơn về thơ điền viên đời Đường thì cũng chỉ theo đúng bút pháp thủy mặc trứ danh trong hội họa Trung Hoa, nghĩa là chỉ chấm phá vài nét Mặc dù đã có công trình nghiên cứu chuyên sâu ở Việt Nam

về thơ điền viên đời Đường, đó là luận án của tác giả Đỗ Thị Hà Giang, song luận án này lại không đi sâu phân tích những đặc điểm nội dung và nghệ thuật

cơ bản của thơ điền viên đời Đường Chính vì vậy, với quy mô của một khóa luận, chúng tôi xin được khảo sát, tìm hiểu cụ thể hơn về vấn đề này để người đọc có thể nắm bắt được chi tiết hơn về nội dung đặc sắc và nghệ thuật thơ trác việt của thơ điền viên đời Đường

3 Đối tƣợng, phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là nội dung và nghệ thuật thơ điền viên đời Đường qua các bài thơ đã được dịch ra tiếng Việt

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài đi sâu nghiên cứu một số nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật thơ

điền viên đời Đường Phạm vi khảo sát là cuốn Đường Thi tuyển dịch, tập I, II

của Lê Nguyễn Lưu (NXB Thuận Hóa, 1997) Dòng thơ điền viên đời Đường có nhiều đại diện xuất sắc nhưng ở khóa luận này người viết chỉ chọn thơ của Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Lí Bạch làm đối tượng nghiên cứu chính bởi vì đây là những đại diện xuất sắc nhất của dòng thơ này, ngoài ra chúng tôi còn nghiên cứu và khảo sát thêm một số tác giả khác: Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị, Vi Ứng Vật, Lí Thân…

Trang 12

3.3 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận tập trung nghiên cứu thơ điền viên đời Đường nhằm khám phá con đường tạo ra sức hấp dẫn bền bỉ không phai nhạt trong tâm thức độc giả Qua việc tìm ra nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của thơ điền viên đời Đường, người viết hi vọng giúp các bạn có cái nhìn đầy đủ, toàn diện hơn về mảng thơ nổi tiếng này

3.4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khóa luận có nhiệm vụ làm sáng rõ những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong thơ điền viên đời Đường Trong quá trình thực hiện khóa luận chúng tôi sẽ đi vào phân tích những bài thơ tiêu biểu về đề tài điền viên và mang giá trị nghệ thuật cao trong thơ điền viên đời Đường

4 Phương pháp nghiên cứu

Khóa luận nghiên cứu theo các phương pháp sau:

4.1 Phương pháp khảo sát thống kê

Đây là phương pháp quan trọng, cần thiết được người viết tiến hành trong quá trình thực hiện đề tài dựa vào những khảo sát cụ thể để chứng minh cho những nhận định đánh giá về thơ điền viên đời Đường Phương pháp này cho phép chúng ta tập hợp, phân loại được hệ thống dẫn chứng, những chi tiết có giá trị nghệ thuật cao, các hình ảnh qua đó làm sáng tỏ, tăng sức thuyết phục cho luận điểm

4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Đây là phương pháp được sử dụng thường xuyên trong quá trình triển khai khóa luận Phương pháp này được xem là chủ đạo giúp phân biệt một cách rạch ròi và làm sáng tỏ các luận điểm lớn, nhỏ rồi từ đó đi sâu và từng chi tiết cụ thể

4.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu

So sánh sự tương đồng, khác biệt, so sánh đồng đại - lịch đại, đặt đối tượng nghiên cứu trong mối quan hệ đối chiếu nhau để bổ sung, hỗ trợ làm nổi bật đặc sắc nội dung và nghệ thuật trong thơ điền viên đời Đường

Trang 13

5 Đóng góp của khóa luận

Khóa luận góp phần chỉ ra cụ thể hơn, đầy đủ hơn một số đặc sắc nội dung

và nghệ thuật thơ điền viên đời Đường Khóa luận sẽ là một trong những tài liệu học tập và nghiên cứu về thơ ca điền viên đời Đường cho các bạn quan tâm và yêu mến thơ ca Trung Quốc

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận bao gồm 2 chương:

Chương 1: Đặc sắc nội dung thơ điền viên đời Đường

Chương 2: Đặc sắc nghệ thuật thơ điền viên đời Đường

Trang 14

CHƯƠNG 1 ĐẶC SẮC NỘI DUNG THƠ ĐIỀN VIÊN ĐỜI ĐƯỜNG

Trong thơ điền viên đời Đường, các thi nhân khi miêu tả cảnh sắc thiên nhiên và không gian sinh hoạt của chủ thể trữ tình chủ yếu ở nơi ruộng vườn thôn dã nhằm biểu đạt tâm thức ẩn dật, an nhiên, thanh thản, thoát tục đã triển khai thông qua rất nhiều hình tượng tiêu biểu của vùng quê nông thôn, những hình ảnh mà ta chỉ có thể bắt gặp, chỉ tìm thấy nơi làng quê Trong chương này, sau khi trình bày một số khái niệm và khái quát chung về thơ điền viên đời Đường, chúng tôi tiến hành tìm hiểu một số hình tượng tiêu biểu trong thơ điền viên đời Đường

1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Nội dung tác phẩm văn học

Theo Lê Bá Hán - Trần Đình Sử: “Tác phẩm văn học là một hệ thống

phức tạp bao gồm nhiều yếu tố như chủ đề, tư tưởng, kết cấu, ngôn ngữ, hình tượng, ngoài ra còn có thể kể thêm các yếu tố: nhân vật, cốt truyện… đối với tác phẩm tự sự và kịch Ở những tác phẩm văn học có giá trị có sự kết hợp hài hòa

và tác động qua lại giữa các yếu tố ấy khiến tác phẩm trở thành một chỉnh thể nghệ thuật mang tính thống nhất hữu cơ, biện chứng giữa nội dung thẩm mĩ và hình thức nghệ thuật” [14, 290]

Nội dung tác phẩm văn học là sự giải thích cuộc sống, làm sao cho nó tốt hơn bằng cách chỉ ra cái đúng, cái sai của cuộc sống đó, song song với việc tái

hiện lại hiện thực đó để đạt tới mục đích tiến bộ, cải tạo hiện thực Truyện Kiều

của Nguyễn Du giải thích bi kịch của nàng Kiều là vì xã hội Đó là xã hội phong kiến thối nát, quan lại bóc lột, đồng tiền lũng đoạn, lấn át mọi giá trị đạo đức Chỉ khi nào xã hội bất công đó bị xóa bỏ thì con người mới có được cuộc sống hạnh phúc

Nội dung tác phẩm là hiện thực cuộc sống được phản ánh trong sự cảm nhận, suy ngẫm và đánh giá của nhà văn Đó là một hệ thống bao gồm nhiều yếu

tố khách quan và chủ quan xuyên thấm vào nhau, trong đó có phần nhà văn khái quát, tái hiện đời sống khách quan vừa có phần bắt nguồn từ cảm xúc huyết mạch, lý tưởng của tác giả Ví dụ: những tác phẩm về đề tài người nông dân của

Trang 15

Nam Cao phản ánh chân thực, sâu sắc tình trạng khốn cùng của người nông dân Việt Nam trên con đường phá sản, bần cùng hóa, không lối thoát vào những năm

1930 - 1945 Những gia đình nông dân không nhà nào yên ấm, nhà nào cũng tan tác, chia lìa, bất hạnh gõ cửa từng nhà… với những cái chết trong sự ngột ngạt của cuộc sống nghẹt thở đã đến mức tận cùng của sự bế tắc

Nội dung tác phẩm văn học không phải là phép cộng giản đơn của hai phương diện khách quan và chủ quan mà là một quan hệ biện chứng xuyên thấm

lẫn nhau của chúng Người sáng tác “phải làm sao cho người đọc không phải

phát phiền với các tư tưởng trên sân khấu, mà là mang theo được những tư tưởng khi rời khỏi nhà hát” [23, 251] Người đọc khi đọc xong vở kịch Rômêô

và Juliet của Sêcxpia, cái dư vị của tình yêu cao đẹp vượt lên trên thù hận giữa

Rômêô và Juliet, dư vị của tình người, tình đời theo lý tưởng của chủ nghĩa nhân văn của tác giả sẽ lắng mãi trong tâm hồn độc giả

Như vậy nội dung của tác phẩm văn học là sự nhuần nhuyễn giữa nhận thức và tình cảm với tư tưởng Đó là mối quan hệ thống nhất, biện chứng giữa khách quan và chủ quan

1.1.2 Hình tƣợng nghệ thuật

Theo cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, hình tượng nghệ thuật là “các khách

thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng tưởng tượng sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật”, nghĩa là việc người nghệ sĩ “làm sống lại một cách cụ thể và gợi cảm những sự việc, những hiện tượng đáng làm ta suy nghĩ về tính cách và số phận, về tình đời, tình người qua một chất liệu cụ thể” [14, 147]

Hình tượng là một dạng kí hiệu đặc biệt, siêu ngôn ngữ ẩn chứa những tầng ý nghĩa phong phú, muôn màu về cuộc sống xung quanh Con người không thể tách mình ra khỏi thế giới ấy, vì thế hình tượng luôn tồn tại trong tiềm thức mỗi cá nhân, cộng đồng dân tộc Sự hình thành, tồn tại và phát triển của thế giới hình tượng trong đời sống văn học nghệ thuật từ lâu đã cắm sâu vào gốc rễ nhận thức của con người Do đó để khám phá ra thế giới tâm hồn của mỗi quốc gia, dân tộc đòi hỏi chúng ta phải tìm hiểu về thế giới hình tượng, ví dụ như hình tượng cánh đồng Nga gợi lên hình ảnh của nước Nga, vẻ đẹp Nga, tâm hồn

Trang 16

Nga Để qua từng tác phẩm ta lại cảm nhận được nét văn hóa độc đáo lẫn tâm

sự kìm nén của người viết Có thể nói những hình ảnh biểu tượng trong thơ điền viên đời Đường đã góp thêm vào vẻ đẹp văn hóa rất riêng của đất nước Trung Hoa Tất cả được tái hiện một cách chân thực, sinh động qua cách xây dựng biểu tượng từ phương diện nội dung đến hình thức Hình tượng không chỉ tồn tại trong quan điểm, suy nghĩ, nhận thức của con người, mà dường như qua các trang viết của nhà thơ nó trở thành một sinh vật sống động, đa chiều trước thế giới muôn màu, đa dạng

1.1.3 Thơ điền viên

Trước kia người ta dùng thuật ngữ thơ điền viên để chỉ tác phẩm nói về cuộc sống nhàn dật, đó là theo nghĩa hẹp, ngày nay có rất nhiều ý kiến, quan điểm của các nhà nghiên cứu văn học về thơ điền viên nhưng theo nghĩa rộng hơn Hai từ “điền viên” nếu triết tự thì điền là ruộng, viên là vườn, suy ra thơ điền viên theo nghĩa đen được hiểu là thơ viết về đồng ruộng và vườn tược, song thơ điền viên có đơn giản là thơ viết về đề tài ruộng vườn? Về nội hàm khái

niệm thơ điền viên, có nhiều ý kiến chưa thống nhất

Lê Nguyễn Lưu cho rằng thơ điền viên là thơ “miêu tả sinh hoạt nông

thôn hay cảnh ngộ nông dân”, ông chia ra thơ điền viên có hai loại, loại tiến bộ

gần với thơ xã hội, miêu tả đúng thực trạng nghèo nàn, khốn khổ của hiện thực

nông thôn, loại tiêu cực của các thi nhân “có khuynh hướng thoát ly nhìn nông

thôn bằng đôi mắt Lão - Trang, vẽ ra khung cảnh ruộng vườn phù hợp với tâm trạng nhàn hạ của họ” [22, 116]

Tác giả cuốn Trung Quốc phân thể văn học sử thì không cho rằng thơ

điền viên đơn giản chỉ nói về sinh hoạt nông thôn hay cảnh ngộ nông dân Họ khẳng định điền viên thi khác với nông sự thi ở chỗ có nhiều hứng thú thẩm mỹ hơn, nó từ phong cảnh ruộng vườn và sinh hoạt nông thôn mà hấp thu tư liệu cuộc sống và linh cảm vào trong sáng tác, biểu hiện vẻ đẹp của cảnh quan ruộng vườn, sông núi, ngợi ca mối quan hệ hài hòa giữa con người và tự nhiên…

Các tác giả bộ Lịch sử văn học Trung Quốc của Viện Khoa học xã hội Trung Quốc cũng cho rằng thơ điền viên là loại thơ “ca vịnh cảnh sắc và cuộc

Trang 17

sống nông thôn” [1, 290] Ở đây các tác giả khẳng định thơ điền viên cũng miêu

tả cảnh vật tự nhiên nhưng là cảnh vật gắn liền với không gian nông thôn và sinh hoạt lao động của người nông dân

Trần Trung Hỷ thì cho rằng thơ điền viên lấy cảnh quan nông thôn (loại cảnh quan nhân vi, có bàn tay tạo dựng của con người) làm đối tượng thẩm mỹ chính, biểu hiện tâm lý an nhiên, tự tại Tác giả nói rõ hơn đó là những cảnh

“ruộng vườn”, “nhà cỏ”, “chó sủa”, “gà gáy”… [18, 12]

Trên đây là những ý kiến, quan niệm của một số nhà nghiên cứu về thơ điền viên trong thơ Đường Trên cơ sở tiếp thu và chọn lọc những quan niệm đó, người viết cũng mạnh dạn đưa ra quan điểm của mình về thơ điền viên đời Đường, đó là thơ miêu tả cảnh sắc tự nhiên và không gian sinh hoạt của chủ thể trữ tình, chủ yếu ở nơi ruộng vườn thôn dã nhằm biểu đạt tâm thức ẩn dật, an nhiên, thanh nhàn, thoát tục của các thi nhân đời Đường

1.2 Những hình tượng tiêu biểu trong thơ điền viên đời Đường

Thơ điền viên là một mảng thơ lớn trong dòng chảy thi ca đời Đường, nó không chỉ được biết đến với số lượng tác giả đông đảo, thành tựu gắn liền với những tên tuổi thi nhân kiệt xuất mà nó còn để lại ấn tượng đối với độc giả trong nước và trên thế giới về hệ thống hình tượng vô cùng đa dạng, phong phú và sinh động Những hình tượng tiêu biểu trong thơ điền viên đời Đường chính là những hình tượng tiêu biểu ở nông thôn mà ta thường hay bắt gặp, đó là: những cánh đồng, những mảnh vườn, ao, những con vật quen thuộc, những người nông dân

Chúng tôi khảo sát 1049 bài thơ trong cuốn Đường thi tuyển dịch của Lê

Nguyễn Lưu, NXB Thuận Hóa (1997) tập 1, 2 và thu được kết quả như sau:

Hình tượng

Tổng số

thơ điền viên

Cánh đồng Vườn Ao Con vật Con người

Trang 18

Trong đó:

Nhà thơ điền viên tiêu

biểu

Tổng số lượng thơ điền viên/

tổng số bài khảo sát

Cánh đồng Vườn Ao Con vật

Con Người

Sống trong sự che chở của sông Kỳ, Cánh đồng phía đông rộng mênh mông không có núi Mặt trời ẩn ngoài vùng trồng dâu

Sông phân rõ khoảng giữa những xóm thôn Mục đồng hướng về làng mà đi,

Chó săn theo sát bên người trở về

Người nhàn cũng nào có việc gì, Cửa tre theo đó mà đóng cả ban ngày

(Kỳ thượng điền viên tức sự - Vương Duy)

Trang 19

Cảnh vật ở đây mang vẻ đẹp tự nhiên, hòa điệu cùng với những sinh hoạt bình dị của con người Sông bao bọc lấy xóm làng, quấn quýt với cánh đồng, hài hòa êm ả, dịu dàng cùng nhịp sống nhàn hạ thong dong của con người

Chúng tôi khảo sát cánh đồng trong thơ điền viên đời Đường thấy hình tượng cánh đồng chủ yếu gắn với cánh đồng lúa bên cạnh đó còn có cánh đồng

cỏ, cánh đồng rau, cánh đồng ngô… Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung vào hai loại cánh đồng: cánh đồng lúa và cánh đồng cỏ xuất hiện với tần số lớn trong thơ điền viên đời Đường

1.2.1.1 Cánh đồng lúa

Trong 53 bài thơ điền viên đời Đường viết về cánh đồng mà người viết khảo sát được có 15 bài thơ nhắc trực tiếp đến hình ảnh cây lúa, chưa kể những bài thơ khác viết về cánh đồng lúa một cách chung chung Cây lúa được các thi nhân đời Đường đưa vào trong trang thơ của họ một cách tự nhiên, được nhắc đến trong nhiều hình ảnh khác nhau như: lúa mạ, mạ, lúa chín vàng, lúa mùa, lúa

mạch, lúa nếp, hạt thóc, hạt lúa, gốc lúa…

Cánh đồng lúa trong thơ Vương Duy là cánh đồng lúa mạch tươi tốt, cây lúa đang thì con gái, mơn mởn, tràn trề nhựa sống:

Chim trĩ kêu, lúa mạch tươi tốt, Tằm đã ngủ lá dâu lưa thưa

Người làm ruộng vác cuốc tới, Gặp nhau trò chuyện như mọi khi

(Vị xuyên điền gia - Vương Duy)

Đó là một bức tranh điền viên êm đềm mang đậm chất dân dã nông thôn Bốn câu thơ trên đưa ta tới một không gian thoáng đãng, khoáng đạt, thanh bình của một cánh đồng lúa mạch Cảnh vật, âm thanh ở đây toát lên vẻ ấm no, yên bình, hạnh phúc từ tiếng chim kêu quen thuộc cho đến hình ảnh những con tằm

đã no lá và đặc biệt hơn là xuất hiện hình ảnh những người nông dân với phong thái ung dung, nhàn nhã Những sinh hoạt ở nông thôn cũng được miêu tả đầy

đủ, nhưng công việc điền gia không có gì lam lũ, vất vả mà xem ra lại nhẹ

Trang 20

nhàng, hấp dẫn Bốn câu thơ miêu tả nông thôn mang nét đẹp bình dị, trong sáng

(Xuân đề hồ thượng - Bạch Cư Dị)

Ở hai câu thơ này, tác giả viết về một giống lúa: lúa nếp, hình ảnh này được thi nhân đưa vào trang thơ của mình cùng với biện pháp so sánh, liên tưởng độc

đáo, tài tình Bạch Cư Dị đã so sánh những bông lúa nếp như “những sợi lụa”

khiến cho hình ảnh những bông lúa sớm còn chưa mẩy hạt hiện lên thật mềm mại, mỏng manh, những bông lúa luôn chủ động nghiêng mình theo gió một cách nhịp nhàng, uyển chuyển Với hình ảnh so sánh này, hình ảnh cây lúa hiện lên thật lãng mạn và nên thơ hơn bao giờ hết, mang đến cho ta cảm nhận về một cánh đồng lúa tràn trề sức sống

Vẫn miêu tả cánh đồng lúa gắn với mùa, nhưng nhiều khi cánh đồng lúa trong thơ Bạch Cư Dị lại mang vẻ tiêu điều, buồn bã:

Lúa mạch hỏng vì xuân không mưa, Lúa mùa kém vì thu sương sớm

Cuối năm không có gì bỏ vào miệng,

Ra ngoài đồng đào kiếm củ địa hoàng

(Thái địa hoàng giả - Bạch Cư Dị) Trong bài Cổ phong hình ảnh cánh đồng hiện lên chân thực:

Cày xới lúa đang lúc giữa trưa

Mồ hôi giọt xuống đất dưới cây lúa

(Cổ phong - Lí Thân)

Vẻn vẹn chỉ có mấy câu nhưng Lí Thân đã miêu tả sinh động nỗi cực nhọc, vất vả của người nông dân quanh năm một nắng hai sương làm ra hạt gạo nuôi đời

Trang 21

Hình tượng cánh đồng không chỉ xuất hiện trong thơ điền viên đời Đường,

mà ta còn bắt gặp và biết đến nó với vai trò là biểu tượng quen thuộc trong thơ của Exenhin - nhà thơ lớn của đồng quê nước Nga Hình tượng cánh đồng trong thơ Exenhin mang giá trị biểu trưng cho vẻ đẹp Nga:

Ôi nước Nga, đồng bát ngát đùm hương,

Và màu xanh trong dòng sông soi bóng

Trong sáng tác của mặt trời thi ca Nga - Puskin, hình ảnh cánh đồng cũng

xuất hiện không ít, trong đó bài thơ Làng là một trong những bài thơ miêu tả

giản dị nhưng vô cùng hấp dẫn về cảnh thôn quê trên đất nước Nga:

Yêu biết mấy những thửa vườn xanh thẳm Với muôn hoa và bóng mát dịu dàng Đồng cỏ xanh với đụn rạ ngát hương Lạch suối trong giữa bụi bờ róc rách

Nhà thơ Nguyễn Đình Thi - con người lịch lãm, hào hoa khi ca hát về quê hương đất nước thì tiếng hát ấy cũng cất lên từ đồng lúa:

Việt Nam đất nước ta ơi!

Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

Tuy ở những miền đất khác nhau, đất nước khác nhau nhưng các nhà thơ bằng trái tim nhạy cảm, tràn trề tình yêu cuộc sống vẫn đồng điệu trong cảm nhận về vẻ đẹp của những cánh đồng quê hương riêng của mình

1.2.1.2 Cánh đồng cỏ

Cỏ vốn gần gũi với đời sống nông thôn, với cánh đồng, ruộng vườn, đó là

lý do vì sao trong thơ điền viên đời Đường cánh đồng cỏ xuất hiện tới 11 lần, cỏ cây cũng mang vẻ đẹp, ý nghĩa riêng của nó:

Hoa đồng nội nở khắp nơi, Liễu tơ mềm buông rũ từng hàng

(Thê Thành tây nguyên tống Lý Phán Quan

huynh Vũ Phán đệ thành đô phủ - Đỗ Phủ)

Đôi khi cỏ không đơn thuần chỉ mang ý nghĩa cho sức sống mãnh liệt, mà thi nhân lại sử dụng hình ảnh cây cỏ với một ý nghĩa ẩn dụ khác:

Trang 22

Cỏ trên cánh đồng bời bời, Mỗi năm một lần úa một lần tươi

(Thảo - Bạch Cư Dị)

Bạch Cư Dị đã nhìn thấy cỏ cũng phải trải qua quy luật của tự nhiên, có sinh ra và cũng có mất đi, theo sự tuần hoàn của tạo hóa mỗi năm một lần úa, một lần tươi, cũng giống như cuộc đời mỗi con người: chỉ có một lần sinh ra và một lần mất đi Cho nên khi còn tồn tại thì phải sống thật tốt thật xứng đáng với

sự sống mà tạo hóa đã ban cho, giống như đám cỏ kia, sinh ra vô danh giữa cuộc đời, giữa ruộng đồng bờ bãi song nó vẫn luôn tốt tươi, vẫn mãnh liệt như thế qua nhiều thế hệ

Trong một bài thơ khác, Bạch Cư Dị cũng nhắc đến cỏ:

Lúa nếp sớm như những sợi lụa trên những tấm thảm biếc, Lớp cỏ bồ mới nảy lộc như dải quần lụa xanh

(Xuân đề hồ thượng - Bạch Cư Dị)

Cây cỏ trong thơ điền viên cũng có lúc được mang ra để ví von so sánh, ví

dụ như trong câu thơ trên, với hình ảnh so sánh đó cây cỏ trở nên đẹp đẽ, sinh động hơn, và xứng đáng trở thành một trong những dấu hiệu nhận biết của chốn ruộng đồng nông thôn

Việc xây dựng hình tượng cánh đồng với nhiều sắc thái khác nhau như vậy suy cho cùng ngoài việc thể hiện tâm hồn thi sĩ, tài năng của tác giả còn toát lên tình yêu thiên nhiên, tình cảm sâu nặng với quê hương đất nước của các thi nhân đời Đường, bởi có yêu, có gắn, có da diết với quê hương với ruộng đồng thì họ mới đau đáu một niềm xót xa khi chứng kiến cảnh nông thôn tiêu điều, xơ xác Nhìn chung ta thấy trong thơ điền viên đời Đường nổi bật lên hình ảnh cánh đồng với hai sắc thái khác nhau: một cánh đồng tươi đẹp, giàu chất lãng mạn, mênh mông rộng lớn gắn với cuộc sống nhàn hạ của người nông dân và cũng tồn tại một cánh đồng đầy tính hiện thực xơ xác, tiêu điều gắn với cuộc sống lam lũ khổ cực của người nông dân Tuy nhiên hình ảnh cánh đồng mang màu sắc lãng mạn vẫn giữ vài trò chủ đạo, hình ảnh cánh đồng mang tính hiện thực tuy có nhưng không nhiều trong hệ thống thơ điền viên đời Đường Do ảnh

Trang 23

hưởng trực tiếp từ hai khuynh hướng sáng tác: khuynh hướng lãng mạn do Mạnh Hạo Nhiên và Vương Duy đứng đầu và khuynh hướng hiện thực mà chủ chốt là Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị từ đó mà dẫn đến việc khi họ viết về hình tượng cánh đồng, hình tượng này cũng mang hai sắc thái riêng

1.2.2 Vườn

Bên cạnh hình ảnh cánh đồng, bức tranh thiên nhiên đồng quê còn có hình ảnh của những khu vườn quê Trong tâm thức và văn hóa của nhiều người, hình ảnh vườn quê thường mang nhiều hồi ức về quê hương Chu Văn Sơn trong

cuốn Ba đỉnh cao thơ mới Xuân Diệu - Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử đã từng nhận xét: “Đúng là với một thôn dân, nếu ruộng nghiêng về chức năng sản xuất thì

vườn lại nghiêng về chức năng văn hóa” [25, 155]

Vườn trong thơ điền viên đời Đường chiếm 84 bài trong 159 bài thơ điền viên chúng tôi khảo sát được Vườn có nhiều loại như: vườn rau, vườn khoai, vườn dẻ, vườn hoa, vườn cây ăn quả… nhưng trong phạm vi khóa luận này, chúng tôi chỉ tập trung vào hai loại vườn chính là vườn hoa và vườn cây ăn quả, vì hai loại vườn này xuất hiện với tần suất nhiều hơn cả

1.2.2.1 Vườn hoa

Vườn hoa xuất hiện với tần số nhiều nhất, trong tổng số 84 bài thơ viết về

vườn mà người viết khảo sát được trong cuốn Đường thi tuyển dịch có tới 36 bài

thơ viết về vườn hoa Vườn hoa hiện lên trong thơ điền viên đời Đường là những khóm hoa, bụi hoa, đám hoa, luống hoa Nổi bật trong vườn hoa ấy phải kể đến những loài hoa như hoa cúc, hoa mai, hoa đào, hoa mẫu đơn, hoa thược dược… Trong tổng số 36 bài thơ viết về vườn hoa có 9 lần thi nhân điền viên đời Đường nhắc tới hoa đào Cũng như bao người phương Đông khác, Lí Bạch xem hoa đào là biểu tượng của mùa xuân Hoa đào đi vào thơ của Lí Bạch không chỉ làm tăng thêm vẻ đẹp cho cả khu vườn mà nó còn đưa sắc xuân và những gì tinh hoa của đất trời vào trong thơ ông:

Chó sủa vang trong tiếng nước chảy, Hoa đào đẫm giọt mưa thêm thắm tươi

(Phỏng Đái Thiên sơn đạo sĩ bất ngộ - Lí Bạch)

Trang 24

Hình ảnh hoa đào trong thơ Vương Duy còn được nhắc tới gắn liền với bờ:

Khói tan lộ ra đám lá lan, gió thơm nổi dậy,

Bờ liền với hoa đào, sóng gấm nhấp nhô

(Anh vũ châu - Vương Duy)

Bên cạnh hình ảnh hoa đào tươi thắm, vườn tược chốn đồng quê trong thơ điền viên đời Đường còn nổi bật với hình ảnh của hoa mai:

Trước cửa sổ chắn màn the ngày anh tới, Cây hàn mai đã nở hoa chưa?

(Tạp thi - Vương Duy)

Không chỉ mang ý nghĩa là hình ảnh quen thuộc nơi vườn tược cây mai ở đây còn gợi về tình yêu gắn bó với quê hương giống như ý nghĩa biểu tượng vốn

có của nó Cây mai ở đây cũng chính là bóng dáng quê nhà, trở thành niềm thương nỗi nhớ đối với những người con xa quê Câu hỏi tu từ gợi ra nhiều nỗi niềm, tâm trạng của nhân vật trữ tình khi nhớ về chốn vườn tược quê nhà

Vương Duy trong thơ điền viên của mình cũng dành nhiều tình cảm đặc biệt cho loài hoa này:

Nhị mai hé nở trước tháng chạp, Hoa mai nở rộ khi sang năm mới

(Giang mai - Vương Duy)

Hoa cúc cũng xuất hiện trong vườn hoa của các thi nhân điền viên :

Trước sân có sương móc trắng, Bao trùm các đóa hoa cúc

(Trùng dương tịch thượng phú bạch cúc - Bạch Cư Dị)

Vườn hoa cúc dưới ngòi bút của Bạch Cư Dị hiện lên sống động với sắc vàng rực rỡ như nhuộm cả khu vườn khiến khu vườn trở nên nổi bật, tươi sáng

Trang 25

và tràn đầy sức sống đặc trưng cho sắc vàng của mùa thu Nhưng thật đặc biệt trong khu vườn ngập sắc vàng ấy lại xuất hiện một chòm hoa cúc trắng nổi bật giữa nền vàng, làm nên điểm thú vị và đặc biệt cho vườn hoa cúc

Trong văn học Việt Nam hình ảnh hoa cúc cũng xuất hiện nhiều, Nguyễn

Du qua bài Ngẫu hứng đã nói lên nỗi nhớ quê dào dạt khi nhìn thấy cúc vàng

chớm nở hoa mà trằn trọc thâu đêm:

Lau trắng cúc vàng chớm nở hoa, Canh trường thao thức nhớ quê xa

Trong thơ điền viên đời Đường, viết về chốn vườn tược không chỉ có hoa đào, hoa mai, hoa cúc những loài hoa đặc trưng, thi nhân còn nhắc tới những loài hoa khác nữa để cho khu vườn đó thêm phong phú, muôn màu muôn vẻ như

có thêm sự xuất hiện của hoa quế trong bài Điểu minh giản (Mạnh Hạo Nhiên), hoa tường vi trong bài Ức Đông Sơn (Vương Duy), khóm lan trong Anh Vũ châu (Vương Duy), hoa anh đào trong Cửu biệt ly (Lí Bạch), Tư phụ mi, Thương

trạch ( Bạch Cư Dị), hoa thược dược, hoa mẫu đơn trong Thương trạch (Bạch

Cư Dị)…

1.3.2.2 Vườn cây ăn quả

Bên cạnh vườn hoa, vườn trong thơ điền viên đời Đường còn là những vườn cây ăn quả sum xuê, trong 84 bài viết về vườn, có tới 15 bài thơ thi nhân xưa nhắc đến vườn cây ăn trái Bước vào khu vườn trong thơ điền viên đời Đường ta bắt gặp những vườn đào, vườn mận:

Cửa động lầu cao rợp nắng tà, Mận đào rậm rạp liễu bay hoa

(Thù quách cấp sự - Vương Duy)

Và cũng có khi là những vườn quýt, vườn bưởi:

Giữa sân vắng quýt, bưởi rũ bóng,

(Vũ miếu - Đỗ Phủ)

Khói nhà ai làm lạnh cây quýt, cây bưởi,

(Thu đăng Tuyên Thành tạ diễu bắc lâu - Lí Bạch)

Trang 26

Cây quýt, cây bưởi đi vào trang thơ như những người bạn của con người, như một phần tinh thần không thể thiếu trong cuộc sống của con người ở vùng thôn quê Trong làn khói thu thi nhân cảm nhận được cái lạnh giá của hoa trái trong vườn, chi tiết rất nhỏ nhưng biện pháp nhân hóa đã làm cho khu vườn thêm sống động như cũng mang tâm hồn riêng, có cảm xúc, trạng thái riêng như con người

Thơ điền viên đã dựng lên một mảnh vườn đầy hoa trái ngọt lành, ong say bướm lượn, đó là những hoa trái của quê hương gợi ra một thôn quê yên tĩnh thơ mộng

Thơ Đường thường nhắc tới “vườn xưa”, “vườn cũ”… Đó không chỉ đơn

thuần là vườn trong quá khứ, mà còn là quê hương, là nỗi ám ảnh, là nơi mong ước được trở về của những đứa con xa quê:

Đêm ấy, trong khúc sao nghe có bài Bẻ Liễu,

Ai mà chẳng xao xuyến nỗi nhớ vườn cũ

(Xuân dạ Lạc Dương văn địch - Lí Bạch)

Trong văn học Việt Nam, thơ của Nguyễn Bính thường mang những “ám

ảnh vườn”, ở bài thơ sau ta nghe rõ lời van xin:

Xin thầy mẹ cứ yên tâm, Đừng thương nhớ, một vài năm con về

Thầy ơi, đừng chặt vườn chè,

Mẹ ơi, đừng chặt cây lê con trồng

(Thư gửi thầy mẹ - Nguyễn Bính) Những “vườn chè”, “cây lê”, cây bưởi, cây chanh ấy là cả tuổi thơ ngọt

ngào ấm áp tình quê, là hồn xứ sở, là máu thịt của người yêu quê

Như vậy bên cạnh hình ảnh của cánh đồng, bức tranh thiên nhiên đồng quê trong thơ điền viên đời Đường còn có hình ảnh của những khu vườn Khu vườn trong thơ ấy thật đa dạng, có vườn hoa với muôn loài hoa khác nhau, đua nhau khoe sắc, khoe hương, luôn luôn thay đổi theo mùa, mùa xuân rực rỡ với hoa mai vàng, hoa đào đỏ, mùa thu ngập tràn hoa cúc vàng ươm Khu vườn ấy còn là vườn cây ăn trái quanh năm cho quả ngọt, trái bùi Có khi đó là khu vườn ở ngay

Trang 27

trước mắt thi nhân, những cũng có thể lại là khu vườn xưa cũ trong quá khứ, là nơi gửi gắm bao kỷ niệm, bao cảm xúc, nỗi niềm của một tâm hồn hoài cổ, muốn quay trở về chốn quê hương, nơi đã từng gắn bó Nhưng dù viết về khu vườn gắn với hình ảnh nào thì chung quy lại nó đều là biến thể của quê hương Viết về vườn với niềm say mê, hứng khởi và đôi khi mang nặng cảm xúc, tâm trạng, các thi nhân không chỉ nhằm biểu đạt tâm thức ẩn dật, an nhiên, thanh nhàn, thoát tục mà còn thể hiện tình yêu quê hương dạt dào, sâu lắng

1.3.3 Ao

Thơ điền viên vốn chủ yếu tập trung xoay quanh không gian nông thôn với cuộc sống lao động, sinh hoạt bình dị của con người, ngoài không gian cánh đồng thơ điền viên đời Đường còn miêu tả không gian vườn tược, ao chuôm Bên cạnh những vườn rau, vườn hoa, vườn cây ăn trái… thì ao cũng nằm trong không gian của chốn làng quê Trong thơ điền viên đời Đường có 22 bài thơ viết về

ao, hoặc có hình ảnh gợi liên tưởng đến không gian ao hồ Ao trong thơ điền viên gắn với rất nhiều hình ảnh như: hoa sen, cỏ mọc bên bờ, bèo, trăng, cá… hay nói cách khác, ao trong thơ điền viên đời Đường xuất hiện không đơn điệu mà bao gồm nhiều loại đó là ao sen, ao bèo, ao cá…

Thơ của Vương Duy gợi cho ta hình dung về không gian ao hồ gắn với hình ảnh của hoa sen:

Sen động chiếc thuyền câu,

(Sơn cư thu mính - Vương Duy)

Cũng nhắc đến ao gắn liền với hình ảnh hoa sen, Lí Bạch có bài viết:

Nam hồ tần trắng che, Sen xinh dường muốn nói…

Trang 28

trưng cho mùa hè Các tác giả thơ Đường cũng thật khéo léo khi đưa vào trong thơ điền viên những đặc trưng riêng của thiên nhiên theo các mùa trong năm Trong thơ Bạch Cư Dị hình ảnh về ao không chỉ gắn với hình ảnh hoa sen,

mà còn xuất hiện hình ảnh của bèo và đặc biệt là gắn với hoạt động của con người:

Cô gái nhỏ bơi chiếc thuyền nhỏ, Hái hoa sen trắng đem về

Không biết che lấp dấu vết của mình,

Để một lối mở ra những đám bèo nổi

(Trì thượng - Bạch Cư Dị)

Con người hiện lên thật nhỏ bé giữa thiên nhiên, nhưng ở đây dường như là cái nhỏ bé trong che chở của thiên nhiên Bốn câu thơ toát lên một cuộc sống bình dị với công việc cũng thật bình dị, đời thường: hái sen Bài thơ xuất hiện thêm hình ảnh đám bèo, thứ sinh vật bé nhỏ ấy trở nên quá đỗi quen thuộc ở nông thôn càng làm cho bức tranh nông thôn thêm dân dã, gần gũi

Hình tượng ao không chỉ gắn với hoa sen mà còn gắn với hình ảnh khác như cỏ mọc bên bờ, hoa bên ao, ánh trăng, tiếng sáo… tất cả gợi lên một không gian ao tĩnh lặng:

Hoa bên ao, mặt trời dọi ánh xuân,

(Tạ công đình - Lí Bạch)

Ánh sáng trên núi bỗng chiếu xuống phía tây, Trăng ngoài ao từ từ nhô lên phía đông

(Hạ nhật Nam Đình hoài Tân Đại - Mạnh Hạo Nhiên)

Khi xưa bậc đại nho sĩ - ẩn sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng đem hình ảnh của

ao vào thơ làm phương tiện để nói đến thú tiêu dao của mình:

Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

(Nhàn)

Chùm thơ nức danh về mùa thu của cụ Tam nguyên Yên Đổ cũng lại gợi thi hứng từ cái ao quê:

Trang 29

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo

1.2.4 Con vật

Trong thơ điền viên đời Đường, điểm vào bức tranh thiên nhiên đồng quê

là hình ảnh thế giới loài vật mang nét quê độc đáo Thế giới loài vật trong thơ điền viên đời Đường gần gũi với con người thôn quê là con trâu, con chuồn chuồn, con cò, con dế mèn, con giun… Trong 159 bài thơ điền viên đời Đường

mà người viết khảo sát được có 64 bài thơ liên quan đến thế giới loài vật kể trên Con trâu trong suy nghĩ của người nhà quê gắn bó với công việc lao động đồng áng, là bạn của nhà nông, con trâu trong thơ điền viên đời Đường thường xuất hiện trong trạng thái được nghỉ ngơi thư giãn sau những giờ làm việc vất vả trên đồng Không gian thôn dã của các thi nhân điền viên ít cảnh lao động nhọc nhằn, mà thường là những cảnh nhàn nhã, êm đềm như cảnh trâu, dê thong dong trở về trong ánh nắng chiều:

Nắng xế xiên vào xóm, Trâu, dê về ngõ đông

(Vị Xuyên điền gia - Vương Duy)

Hoa ấm, trâu xanh nghỉ,

Trang 30

Thông cao, hạc trắng ngơi

(Tầm Ung tôn sư ẩn cư - Lí Bạch)

Hình ảnh con trâu hiện lên ở trong trạng thái được nghỉ ngơi, gợi cho ta

liên tưởng về một cuộc sống an nhàn, yên vui chốn đồng quê

Ở không gian “đồng cạn, đồng sâu”, hình ảnh cánh cò cũng trở thành nỗi

ám ảnh của các thi nhân điền viên Đó cũng là hình ảnh quen thuộc ta thường bắt gặp trong thi ca truyền thống khi nói về thân phận con người lao động Cánh cò

trở đi trở lại trong thơ điền viên đời Đường, khi là “cò trắng bay trên vùng

ruộng nước bao la” (Tích vũ Võng Xuyên trang tác - Vương Duy), có khi lại là

cánh cò vút trên bầu trời (Tuyệt cú - Đỗ Phủ) Cánh cò quen thuộc hiện lên trong

tâm hồn các thi nhân mỗi khi họ nghĩ tới quê hương

Trong thế giới con vật gắn với ruộng đồng còn có hình ảnh của những con vật nhỏ bé khác: con vịt con, con chuồn chuồn, con bươm bướm… nó gắn liền với ruộng đồng mộc mạc, giản dị:

Chim sẻ mổ nhau giành cành rơi xuống, Côn trùng bay chơi khắp sân

(Dữ Chu Sơn Nhân - Đỗ Phủ)

Như vậy, bên cạnh bức tranh về cánh đồng lúa, cánh đồng hoa cỏ mênh mông đầy hương đồng gió nội, cạnh bức tranh vườn tược hoa thắm, cây trái sum

Trang 31

xuê, cạnh những bờ ao ngập tràn ánh trăng và vi vu tiếng sáo, nông thôn trong thơ điền viên đời Đường còn có nét sinh động thật nổi bật khi thi nhân đưa vào trong thơ một thế giới loài vật mang nét quê độc đáo Thế giới loài vật ấy không chỉ có những người bạn của nhà nông mà còn có cả những sinh vật nhỏ bé với những âm thanh quen thuộc nơi làng quê Đó là hình ảnh con trâu, con cò, con vịt… là âm thanh của tiếng gà, tiếng chó sủa, chim hót, ve kêu, giun dế gọi mùa… Tất cả tạo nên một sự hài hòa nhất định cho bức họa đồng quê của các thi nhân điền viên đời Đường

1.2.5 Con người

Với thơ điền viên đời Đường, nếu chỉ dừng lại ở phác họa vẻ đẹp của thiên nhiên, của thôn xóm, ruộng vườn, bờ bãi là chưa đủ, bởi con người mới là trung tâm của thế giới nghệ thuật và con người quê cũng là một phương diện nghệ thuật để xây dựng không gian mang chất đồng quê Đó là những con người của cuộc sống hiện thực như ông chài, những ông lão, bà lão thôn quê, người hái củi, trẻ chăn trâu, thổi sáo, cô thôn nữ hay những đứa trẻ bắt bướm, hái hoa…

Trong bài Vị Xuyên điền gia xuất hiện hình ảnh những ông lão thôn quê lom

khom chống gậy đứng bên bờ rào vào thời điểm sắp kết thúc một ngày, khi nắng chiều đổ bóng để ngóng từ xa đám trẻ mục đồng dắt trâu trở về:

Già quê chờ mục tử Chống gậy tựa rào trông

… Nông phu vác cuốc tới Gặp gỡ chuyện thâm nông

(Vị Xuyên điền gia - Vương Duy)

Sau một ngày lam lũ vất vả, người nông dân từ những cánh đồng trở về Công việc điền gia vất vả là thế nhưng trong mắt của thi nhân lại xem như rất nhẹ nhàng và hấp dẫn Đó chính là nét đẹp trong thơ của Vương Duy, ông đã thể hiện một tâm trạng thư thái, nhàn nhã, không màng đến những sầu muộn của thế gian

Ngày đăng: 12/08/2017, 23:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dư Quan Anh - Tiền Chung Thư - Phạm Ninh (chủ biên) (1998), Lịch sử văn học Trung Quốc tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử văn học Trung Quốc
Tác giả: Dư Quan Anh - Tiền Chung Thư - Phạm Ninh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
2. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2003
3. Trương Chính - Trần Xuân Đề - Nguyễn Khắc Phi (1961), Lịch sử văn học Trung Quốc, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Lịch sử văn học Trung Quốc
Tác giả: Trương Chính - Trần Xuân Đề - Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1961
4. Ngô Vinh Chính - Vương Miện Quý (chủ biên) (2004), Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc, NXB Văn hóa Thông tin, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử văn hóa Trung Quốc
Tác giả: Ngô Vinh Chính - Vương Miện Quý (chủ biên)
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
Năm: 2004
5. Cao Hữu Công – Mai Tổ Lân (2000), Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật ngôn ngữ thơ Đường
Tác giả: Cao Hữu Công – Mai Tổ Lân
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2000
6. Phạm Vĩnh Cư (dịch) (2002), Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới
Tác giả: Phạm Vĩnh Cư (dịch)
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2002
7. Nguyễn Sĩ Đại (1996), Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc trưng nghệ thuật của thơ tứ tuyệt đời Đường
Tác giả: Nguyễn Sĩ Đại
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1996
8. Phạm Công Đạt (dịch) (2000), Văn học sử Trung Quốc, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học sử Trung Quốc
Tác giả: Phạm Công Đạt (dịch)
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2000
9. Đỗ Thị Hà Giang (2014), Thơ điền viên đời Đường, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, http://sachviet.edu.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ điền viên đời Đường
Tác giả: Đỗ Thị Hà Giang
Năm: 2014
10. Nguyễn Thu Hà (2016), So sánh thơ thiên nhiên Lí Bạch và Đỗ Phủ, Đề tài nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Tây Bắc, Sơn La Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh thơ thiên nhiên Lí Bạch và Đỗ Phủ
Tác giả: Nguyễn Thu Hà
Năm: 2016
11. Trần Bá Hải (2006), Đường thi học dẫn luận, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường thi học dẫn luận
Tác giả: Trần Bá Hải
Năm: 2006
12. Nguyễn Thị Bích Hải (1995), Thi pháp thơ Đường, NXB Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thi pháp thơ Đường
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải
Nhà XB: NXB Thuận Hóa
Năm: 1995
13. Nguyễn Thị Bích Hải (2003), Bình giảng thơ Đường, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình giảng thơ Đường
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Hải
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
14. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2007), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên)
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
15. Chương Bồi Hoàn - Lạc Ngọc Minh (chủ biên) (2001), Trung Quốc văn học sử, tập 2, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc văn học sử
Tác giả: Chương Bồi Hoàn - Lạc Ngọc Minh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2001
16. Bùi Hữu Hồng (dịch) (2000), Khái yếu lịch sử văn học Trung Quốc, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái yếu lịch sử văn học Trung Quốc
Tác giả: Bùi Hữu Hồng (dịch)
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2000
17. Vương Kiến Huy (chủ biên) (2004), Tinh hoa tri thức văn hóa Trung Quốc, NXB Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tinh hoa tri thức văn hóa Trung Quốc
Tác giả: Vương Kiến Huy (chủ biên)
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2004
18. Trần Trung Hỷ (2007), Thơ sơn thủy cổ trung đại Trung Quốc, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ sơn thủy cổ trung đại Trung Quốc
Tác giả: Trần Trung Hỷ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
19. Đinh Trọng Lạc (2008), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
20. Nguyễn Hiến Lê (dịch) (1994), Nhân sinh quan và thể thơ Trung Hoa, NXB Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân sinh quan và thể thơ Trung Hoa
Tác giả: Nguyễn Hiến Lê (dịch)
Nhà XB: NXB Văn hóa
Năm: 1994

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w