1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hôn nhân và gia đình trong văn hóa người thái đen xã sốp cộp huyện sốp cộp tỉnh sơn la

69 296 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 833,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu hôn nhân và gia đình ở các tộc người có ý nghĩa rất lớn về mặt khoa học, một mặt góp phần làm sáng tỏ quá trình tộc người với các hình thức tiến triển của các loại hình h

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Người hướng dẫn: Th.S Nguyễn Thanh Thủy

SƠN LA, NĂM 2017

Trang 2

Lời cảm ơn!

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo trong khoa Lý luận chính trị, Phòng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế đã động viên, giúp đỡ em trong suốt thời gian làm khóa luận Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn cô giáo, Ths.Nguyễn Thanh Thủy, đã tận tình chỉ bảo và đóng góp những ý kiến khoa học vô cùng quý báu giúp em hoàn thành khóa luận này

Em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong thư viện nhà trường đã tạo điều kiện về mặt tài liệu để em hoàn thành khóa luận Xin cảm ơn đến Ủy ban nhân dân xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp tỉnh Sơn La đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thu thập số liệu Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề khóa luận một cách hoàn chỉnh nhất Song do lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và còn hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà bản thân em chưa thấy được Em rất mong nhận được sự góp ý kiến của quý Thầy, cô giáo và các bạn sinh viên để khóa luận của em được hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5/2017

Sinh viên

Chu Thị Chinh

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 3

3.1 Đối tượng nghiên cứu 3

3.3 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4.1 Mục đích nghiên cứu 4

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Đóng góp của khóa luận 4

8 Kết cấu của khóa luận 5

Chương 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH NGƯỜI THÁI ĐEN Ở HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA 6

1.1 Cơ sở lí luận của việc nghiên cứu hôn nhân và gia đình của người Thái đen ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La 6

1.1.1 Khái niệm hôn nhân 6

1.1.2 Khái niệm gia đình 8

1.1.3 Văn hóa hôn nhân, gia đình 10

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu hôn nhân và gia đình của người Thái đen ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La 12

Chương 2 : HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN Ở XÃ SỐP CỘP, HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA VÀ NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA NÓ 20

2.1 Hôn nhân 20

2.1.1 Hôn nhân truyền thống 20

2.1.2 Nghi lễ cưới hỏi 31

2.1.3 Biến đổi trong hôn nhân người Thái đen hiện nay 37

2.2 Gia đình 40

Trang 4

2.2.1 Gia đình truyền thống của người Thái đen 40

2.2.2 Biến đổi trong gia đình người Thái đen hiện nay 44

2.3 Nguyên nhân của sự biến đổi về hôn nhân và gia đình của người Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La 46

2.3.1 Nguyên nhân kinh tế - xã hội 46

2.3.2 Nguyên nhân văn hóa 47

2.3.3 Nguyên nhân pháp lí 48

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 50

Chương 3 : GIẢI PHÁP PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA TRONG HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN Ở XÃ SỐP CỘP, HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA HIỆN NAY 51

3.1 Những giá trị văn hóa trong hôn nhân và gia đình của người Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La 51

3.1.1 Tích cực 51

3.1.2 Hạn chế 54

3.2 Giải pháp 56

3.2.1 Về kinh tế 57

3.2.2 Về văn hóa – xã hội 58

3.2.3 Về quản lí 59

3.2.4 Về tuyên truyền 59

KẾT LUẬN 62

TÀI LIỆU THAM KHẢO 64

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hôn nhân và gia đình là những thiết chế xã hội có liên quan chặt chẽ với toàn

bộ hệ thống xã hội Nó phản ánh các mối quan hệ sinh học và xã hội, vật chất và tinh thần, tư tưởng và tâm lí Gia đình Việt Nam được coi là tế bào của xã hội, sự thu hẹp của các quan hệ xã hội được thể hiện ở những quan hệ gia đình và dòng họ Hôn nhân

là một trong những vấn đề cơ bản của gia đình vì nó dẫn đến sự tạo lập gia đình mới hoặc làm thay đổi quy mô, cấu trúc, hình thái của gia đình cũ Bản thân hôn nhân cũng

là thiết chế hết sức mềm dẻo đã tồn tại dưới nhiều hình thức

Qua các thời kì, có rất nhiều bằng chứng cho thấy những đặc trưng văn hóa và các khuôn mẫu hôn nhân và gia đình ở các tộc người không ngừng biến đổi Với tính chất biện chứng, sự vận động của hôn nhân và gia đình ngay trong lòng một xã hội là không thể tránh khỏi khi chính xã hội đó đang dần biến thiên Điều này đặt ra một vấn

đề cần được xem xét là liệu có nên có sự can thiệp và hướng dẫn của pháp luật đối với những luật tục trên cơ sở tôn trọng tính văn hóa đa dạng của các dân tộc Do đó, các tập tục này cần được nghiên cứu kỹ trong bối cảnh xã hội hiện đại để làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách phù hợp, nhằm lãnh đạo có hiệu quả công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa, xã hội trong thời kì mới

Dân tộc Thái hiện là cộng đồng đông nhất ở Sơn La, chiếm khoảng 54% dân số trong tỉnh và phân bố ở các huyện chủ yếu như: Quỳnh Nhai, Mường La, Thuận Châu, Sông Mã, Sốp Cộp, Mai Sơn, Người Thái cư trú thành từng bản xen cài chủ yếu với các bản dân tộc thiểu số khác nhau như Mông, Mường, Laha, Khơ mú, tạo nên mối quan hệ xã hội và giao tiếp, trao đổi văn hóa giữa người Thái và các tộc người khác một cách tự nhiên qua các thời kì lịch sử khác nhau trong quá khứ và hiện tại Đặc biệt trong bối cảnh xây dựng nông thôn mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế thị trường, bên cạnh sự tiếp thu những giá trị văn hóa mới của nền văn minh công nghiệp thì văn hóa hôn nhân và gia đình của người Thái đen chịu sự tác động nhiều chiều và đang đứng trước sự mai một bản sắc

Để góp phần nhận diện, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa hôn nhân truyền

thống của người Thái đen trong bối cảnh trên, tác giả đã lựa chọn “Hôn nhân và gia

Trang 6

đình trong văn hóa của người Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La”

làm đề tài khóa luận tốt nghiệp

2 Tình hình nghiên cứu

Hôn nhân và gia đình luôn là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học thuộc lĩnh vực xã hội và nhân văn Việc nghiên cứu hôn nhân và gia đình ở các tộc người có ý nghĩa rất lớn về mặt khoa học, một mặt góp phần làm sáng tỏ quá trình tộc người với các hình thức tiến triển của các loại hình hôn nhân và gia đình ở các thời kì lịch sử khác nhau, mặt khác làm rõ các cấu trúc, quan hệ xã hội và văn hóa trong nội

bộ tộc người và với các tộc người khác

Vì vậy việc nghiên cứu về vấn đề Hôn nhân và gia đình cũng đã được nhiều tác giả quan tâm Và trong thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Cụ thể như:

* Các công trình nghiên cứu về hôn nhân, gia đình nói chung gồm:

- Đỗ Thúy Bình (1999), Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở

Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội

- Nguyễn Thị Thuận (2016), Hôn nhân và gia đình của người Khơ mú ở huyện

Mai Sơn, tỉnh Sơn La Bài viết này tác giả đã tìm hiểu về nguồn gốc, lịch sử và nhận

diện chân dung và đặc điểm văn hóa Hôn nhân và Gia đình của người Khơ mú ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Qua đó, làm rõ những nhân tố tác động trực tiếp, gián tiếp đến

sự biến đổi và những xu hướng trong quan hệ Hôn nhân và Gia đình của tộc người Khơ mú Và đề xuất, kiến nghị nội dung, giải pháp nhằm phát huy các giá trị văn hóa Hôn nhân và gia đình của người Khơ mú trong xây dựng nông thôn mới và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở ở hiện nay

Nam - Lịch sử phát triển và thực tiễn áp dụng

* Các công trình nghiên cứu về hôn nhân, gia đình người Thái như:

- Lò Thị Cẩm Diệp (2010), Phong tục cưới xin của người Thái đen huyện

Thuận Châu – Sơn La Tác giả đã đề cập đến nguồn gốc, nơi cư trú, các bước cưới xin,

những nét văn hóa đặc sắc trong phong tục cưới xin như: tẳng cẩu, uống rượu cần, một

số bài xướng được lưu truyền lại, Đồng thời, tác giả cũng đã nêu lên được ý nghĩa và tìm ra một số giải pháp để bảo tồn và phát huy những bản sắc văn hóa dân độc Thái đen trong thời kỳ đổi mới

Trang 7

- Cà Văn Hoàng (2014), Nạn tảo hôn của người Thái ở xã Nậm Lịch, huyện

Mường Ảng, tỉnh Điện Biên Trong bài viết này, tác giả đã khái quát về người Thái và

tập quán hôn nhân truyền thống của người Thái ở xã Nậm Lịch, huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.Đồng thời, phân tích thực trạng nguyên nhân, những tác động của nạn tảo hôn tới kinh tế xã hội và đưa ra giải pháp khắc phục nạn tảo hôn của người Thái ở địa phương

- Thái Thị Minh (2006), Tìm hiểu phong tục cưới xin của người Thái ở huyện

Thuận Châu, tỉnh Sơn La trong gia đoạn hiện nay Với bài viết này tác giả đã nêu ra

các bước cưới xin theo truyền thống và sự thay đổi hiện nay

- Lò Thị Phượng (2014), Tìm hiểu tục cưới xin truyền thống của người Thái đen

ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Bài viết này tác giả đã khái quát về nguồn gốc lịch

sử văn hóa của người Thái đen, tìm hiểu những nét độc đáo riêng trong phong tục cưới xin của dân tộc Thái đen ở Điện Biên và góp phần giáo dục truyền thống văn hóa,

ý thức giữ gìn văn hóa cho thế hệ trẻ

-Vũ Hải Việt (2017), Ảnh hưởng của Luật tục dân tộc Thái trong thực hiện

pháp luật hôn nhân và gia đình, Tạp chí dân chủ và pháp luật

Ở Sơn La vấn đề hôn nhân và gia đình cũng nhận được nhiều sự quan tâm Những năm qua công tác giáo dục về hôn nhân và gia đình luôn được các cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo như: đưa ra các kế hoạch, chỉ thị, tuyên truyền đến các cơ sở địa phương, vì sự tiến bộ của hôn nhân và gia đình các dân tộc trên toàn tỉnh

Bên cạnh đó, còn có nhiều các tạp chí, bản tin, bài viết, website của các viện nghiên cứu, các trung tâm thông tin, các văn kiện, nghị quyết về vấn đề này Tuy nhiên, chưa có đề tài, công trình nghiên cứu nào đề cập đến hôn nhân và gia đình cùng những biến đổi của nó trong văn hóa người Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Khóa luận lấy đối tượng Hôn nhân và gia đình của người dân tộc Thái đen làm đối tượng tiếp cận, giải mã thông tin và tìm ra các giá trị văn hóa

3.2 Khách thể nghiên cứu

Vấn đề hôn nhân và gia đình của dân tộc Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

Trang 8

- Về nội dung: tiếp cận đối tượng trong cái nhìn truyền thống và biến đổi

Dân tộc Thái bao gồm Thái đen và Thái trắng Tuy nhiên trong bài khóa luận chỉ đi sâu tìm hiểu và nghiên cứu về dân tộc Thái đen

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

- Nhận diện chân dung và đặc điểm văn hóa trong hôn nhân và gia đình của người Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

- Làm rõ những nhân tố tác động trực tiếp, gián tiếp đến sự biến đổi và những

xu hướng trong quan hệ hôn nhân và gia đình của tộc người Thái đen

- Đề xuất giải pháp nhằm phát huy các giá trị văn hóa hôn nhân và gia đình của người Thái đen trong xây dựng nông thôn mới và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở hiện nay

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ cơ sở lý luận về hôn nhân và gia đình của người Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

- Tìm hiểu và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến đổi trong hôn nhân

và gia đình của người Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

- Đề xuất các kiến nghị, phương hướng, giải pháp trong việc thực hiện hôn nhân

và gia đình của người Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

6 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu vấn đề này, tác giả sử dụng các phương pháp như: thu thập tài liệu thứ cấp, điền dã dân tộc học, điều tra phỏng vấn các đối tượng cung cấp thông tin bằng bảng hỏi

7 Đóng góp của khóa luận

Làm rõ được các đặc điểm văn hóa và những nhân tố tác động đến sự biến đổi

và những xu hướng trong quan hệ hôn nhân và gia đình của người Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La Từ đó, đóng góp thêm những phương hướng, giải

Trang 9

pháp nhằm phát huy các giá trị văn hóa hôn nhân và gia đình của người Thái đen trong xây dựng nông thôn mới và xây dựng đời sống văn hóa ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

8 Kết cấu của khóa luận

Khóa luận ngoài phần mở đầu, kết luận, kết cấu gồm 3 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu hôn nhân, gia đình người Thái đen ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

Chương II: Hôn nhân, gia đình của người Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La và những biến đổi của nó

Chương III: Giải pháp phát huy bản sắc văn hóa trong hôn nhân và gia đình của người Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La hiện nay

Trang 10

1.1.1 Khái niệm hôn nhân

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Hôn nhân là thể chế xã hội kèm theo nghi

thức xác nhận quan hệ tính giao giữa hai hay nhiều người thuộc hai giới tính khác nhau (nam, nữ), được coi nhau là chồng và vợ, quy định mối quan hệ và trách nhiệm giữa họ với nhau và giữa họ với con của họ Sự xác nhận đó, trong quá trình phát triển

của xã hội, dần dần mang thêm những yếu tố mới

Hôn nhân là hiện tượng xã hội – là sự liên kết giữa đàn ông và đàn bà, được luật tục hoặc pháp luật thừa nhận để chung sống với nhau xây dựng gia đình

Sách giáo khoa Giáo dục công dân 10 (Bộ Giáo dục và Đào tạo – NXB Giáo dục Việt Nam, Tái bản lần thứ 9, năm 2015): Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn

Theo Từ điển Bách Khoa toàn thư mở Wikipedia:

Hôn nhân là một cách chung nhất có thể được xác định như một sự xếp đặt của mỗi một xã hội để điều chỉnh mối quan hệ sinh lý giữa đàn ông và đàn bà Nó là một hình thức xã hội luôn luôn thay đổi trong suốt quá trình phát triển của mối quan hệ giữa họ, nhờ đó xã hội xếp đặt và cho phép họ sống chung với nhau, quy định quyền lợi và nghĩa vụ của họ Về mặt luật pháp, đó là việc đăng ký kết hôn

Hôn nhân thường là sự kết hợp giữa một người đàn ông được gọi là chồng và một người đàn bà được gọi là vợ Hôn nhân theo chế độ đa thê là một kiểu hôn nhân trong đó một người đàn ông có nhiều vợ Ở một số nước, hôn nhân đồng giới được công nhận Ở một số nước khác, việc đấu tranh hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới đang diễn ra Hiện nay ở Việt Nam, luật hôn nhân và gia đình không cấm hôn nhân giữa những người cùng giới tính song cũng không thừa nhận thể loại hôn nhân này

Hôn nhân, trong chừng mực nào đó, có thể được định nghĩa như là sự kết hợp giữa hai người, một nam và một nữ, để chung sống, cũng như để dành cho nhau sự giúp đỡ và hỗ trợ cần thiết Ta nói trong chừng mực nào đó, vì khái niệm này không có được nội dung như trên một cách trọn vẹn trong luật của nhiều nước

Trang 11

Một mặt, ở một số nước nhất là các nước Hồi giáo, vẫn thừa nhận rằng hôn nhân là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ, nhưng đồng thời còn cho phép một người đàn ông thực hiện sự kết hợp đó với nhiều người đàn bà cùng một lúc:

ta có chế độ hôn nhân đa thê Chế độ đa thê cũng có thời kỳ được thừa nhận ở phương Ðông (Việt Nam, Trung Quốc, ) nhưng nay đã bị bãi bỏ Ở một vài bộ tộc sống theo nền nếp hình thành từ thời kỳ sơ khai của nền văn minh, chế độ đa phu được thừa nhận: một người đàn bà có thể chung sống với nhiều người đàn ông cùng một lúc

Mặt khác, ở một số nước lại xuất hiện xu hướng cho rằng sự khác biệt giới tính không phải là điều kiện bắt buộc của hôn nhân: những người cùng giới tính vẫn có thể chung sống với nhau và tạo thành một gia đình Các nước Bắc Âu là nơi phát triển mạnh nhất của xu hướng này Riêng Hà Lan là nước đầu tiên đã thông qua một đạo luật cho phép kết hôn giữa những người có cùng giới tính Ðối với xã hội phương Ðông, nhất là đối với xã hội Việt Nam, tình yêu giữa những người cùng giới tính được coi là biểu hiện của một tình trạng bệnh tật và hôn nhân giữa những người cùng giới tính là một giao dịch không chỉ nằm ngoài vòng pháp luật mà còn nằm ngoài khuôn khổ đạo đức pháp lý

Về phương diện pháp lý, hôn nhân là một giao dịch đặc biệt trọng thức và phức

hợp Nó bắt đầu bằng việc kết hôn, diễn ra trong một thời gian gọi là thời kỳ hôn nhân

và chấm dứt do một trong hai nguyên nhân – một trong hai bên chết hoặc ly hôn Có trường hợp một người đàn ông và một người đàn bà chung sống với nhau và cũng xây dựng một hộ về mặt xã hội, nhưng lại không đăng ký kết hôn Quan hệ chung sống ấy được chi phối bởi các quy tắc riêng

Ngoài ra khi nghiên cứu về hôn nhân chúng ta cần đề cập đến một số khái niệm liên quan như:

Ngoại hôn, người ta phải chọn người ngoài nhóm (dòng họ, cộng đồng) để cưới

Hình thức hôn nhân này khá phổ biến khi xã hội phát triển đến một giai đoạn nhất định trong xã hội loài người

Hôn nhân hỗn hợp dân tộc là khái niệm dùng để chỉ sự kết hôn giữa hai người

khác giới không cùng dân tộc, tôn giáo

Hôn nhân một vợ một chồng là hình thức hôn nhân giữa một người đàn ông và

một người đàn bà vào một thời điểm nhất định theo luật tục, pháp luật quy định xuất hiện trong thời đại văn minh của xã hội loài người

Trang 12

Như vậy, hôn nhân là sự kết hợp của các cá nhân về mặt tình cảm, xã hội hoặc tôn giáo một cách hợp pháp Hôn nhân có thể là kết quả của tình yêu Hôn nhân

là một mối quan hệ cơ bản trong gia đình ở hầu hết xã hội Về mặt xã hội, lễ cưới thường là sự kiện đánh dấu sự chính thức của hôn nhân

1.1.2 Khái niệm gia đình

Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam nêu rõ tại mục 2 của Điều 3: Gia đình là

tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này

Sách giáo khoa Giáo dục công dân 10 (Bộ Giáo dục và Đào tạo – NXB Giáo dục Việt Nam, Tái bản lần thứ 9, năm 2015): Gia đình là một cộng đồng người cùng

chung sống và gắn bó với nhau bởi hai mối quan hệ cơ bản quan hệ hôn nhân và quan

hệ huyết thống

Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: Gia đình là một cộng đồng người sống

chung và gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và hoặc quan hệ giáo dục Gia đình có lịch sử từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài Thực tế, gia đình có những ảnh hưởng và những tác động mạnh mẽ đến xã hội

Ngay từ thời nguyên thủy cho tới hiện nay, không phụ thuộc vào cách kiếm sống, gia đình luôn tồn tại và là nơi để đáp ứng những nhu cầu cơ bản cho các thành viên trong gia đình Song để đưa ra được một cách xác định phù hợp với khái niệm gia đình, một số nhà nghiên cứu xã hội học đã đưa ra sự so sánh giữa gia đình loài người với cuộc sống lứa đôi của động vật, gia đình loài người luôn luôn bị ràng buộc theo các điều kiện văn hóa xã hội của đời sống gia đình ở con người Gia đình ở loài người luôn bị ràng buộc bởi các quy định, các chuẩn mực giá trị, sự kiểm tra và sự tác động của xã hội; vì thế theo các nhà xã hội học, thuật ngữ gia đình chỉ nên dùng để nói về gia đình loài người

Thực tế, gia đình là một khái niệm phức hợp bao gồm các yếu tố sinh học, tâm

lý, văn hóa, kinh tế, khiến cho nó không giống với bất kỳ một nhóm xã hội nào Từ mỗi một góc độ nghiên cứu hay mỗi một khoa học khi xem xét về gia đình đều có thể đưa ra một khái niệm gia đình cụ thể, phù hợp với nội dung nghiên cứu phù hợp và chỉ

có như vậy mới có cách tiếp cận phù hợp đến với gia đình

Trang 13

Đối với xã hội học, gia đình thuộc về phạm trù cộng đồng xã hội Vì vậy, có thể xem xét gia đình như một nhóm xã hội nhỏ, đồng thời như một thiết chế xã hội mà có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình xã hội hóa con người Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người

Có thể phân ra hai loại gia đình:

Gia đình hạt nhân: Là loại hình gia đình được tạo thành gồm hai thế hệ: Cha

mẹ và con cái chưa lập gia đình Mỗi thành viên của gia đình hạt nhân nằm trong một loạt những quan hệ chuyển biến qua thời gian với từng thành viên kia: giữa chồng với

vợ, cha mẹ với con cái và giữa những người con với nhau

Do vậy cũng có thể có gia đình hạt nhân đầy đủ và gia đình hạt nhân không đầy

đủ Gia đình hạt nhân đầy đủ là gia đình chứa trong nó đầy đủ các mối quan hệ (chồng,

vợ, các con) Gia đình hạt nhân không đầy đủ là gia đình trong nó không đầy đủ các mối quan hệ đó, nghĩa là trong đó chỉ tồn tại mối quan hệ giữa người vợ với người chồnghoặc mối quan hệ giữa người bố hoặc người mẹ với các con

Gia đình hạt nhân là dạng gia đình đặc biệt quan trọng trong đời sống gia đình

Nó là kiểu gia đình của tương lai và ngày càng phổ biến trong xã hội hiện đại

Gia đình mở rộng: Là loại hình gia đình có từ ba, bốn thế hệ trở lên “tam, tứ đại

đồng đường” chung sống với nhau

Đó là một nhóm người ruột thịt của một vài thế hệ sống chung với nhau dưới một mái nhà, thường từ ba thệ hệ trở lên, tất nhiên trong phạm vi của nó còn có cả những người ruột thịt từ tuyến phụ Dạng cổ điển của gia đình mở rộng là gia đình trưởng lớn, có đặc tính tổ chức chặt chẽ Nó liên kết ít nhất là vài gia đình nhỏ và những người lẻ loi Các thành viên trong gia đình được xếp đặt trật tự theo ý muốn của người lãnh đạo gia đình mà thường là người đàn ông cao tuổi nhất trong gia đình Ngày nay, gia đình mở rộng thường gồm cặp vợ chồng, con cái của họ và bố mẹ của

họ nữa Trong gia đình này, quyền hành không ở trong tay của người lớn tuổi nhất

Với tư cách là một hình thức cộng đồng tổ chức đời sống xã hội Gia đình được hình thành từ rất sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài Xuất phát từ nhu cầu bảo tồn và duy trì nòi giống, từ sự cần thiết phải dựa vào nhau để sinh tồn, các

Trang 14

hình thức quần tụ giữa nam và nữ giới, những hình thức cộng đồng tổ chức đời sống gia đình đã xuất hiện Lịch sử nhân loại đã trải qua nhiều hình thức gia đình như: Gia đình đối ngẫu, gia đình hôn nhân từng cặp, gia đình một vợ một chồng

Trên cơ sở của sự phát triển kinh tế - xã hội các kiểu dạng tổ chức cộng đồng mang tính tự nhiên, ngay từ đầu đã chịu sự quy định của sự biến đổi trong sản xuất trong đời sống kinh tế - xã hội Để quan hệ với thiên nhiên, tác động vào thiên nhiên, con người cần phải quần tụ thành các nhóm cộng đồng Ban đầu, các quan hệ chi phối trong những nhóm cộng đồng ấy còn mang sắc thái tự nhiên sinh học sống quần tụ với nhau theo bầy đàn, sinh sống bằng săn bắn hái lượm Trước những yêu cầu của sản xuất và sinh hoạt những đòi hỏi của đời sống kinh tế các quan hệ ấy dần trở nên chặt chẽ, giữa các thành viên trong cộng đồng ấy xuất hiện những cơ chế ràng buộc lẫn nhau phù hợp và thích ứng với những điều kiện sản xuất, sinh hoạt của mỗi một nền sản xuất Gia đình dần dần trở thành một thiết chế xã hội, một hình ảnh “xã hội thu nhỏ” Nhưng không phải là sự thu nhỏ một cách giản đơn các quan hệ xã hội Những gia đình được coi như một thiết chế xã hội đặc thù, nhỏ nhất, cơ bản nhất

Nếu như văn hoá là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, nhằm thoả mãn, đáp ứng các nhu cầu của chính mình thì 2 gia đình không chỉ là một hình thức tổ chức cộng đồng, một thiết chế xã hội mà điều quan trọng gia đình còn là một giá trị văn hoá xã hội Tính chất, bản sắc của gia đình lại được duy trì, bảo tồn, được sáng tạo và phát triển nhằm thoả mãn những nhu cầu của mỗi thành viên trong gia đình trong sự tương tác gắn bó với văn hoá cộng đồng dân tộc, cộng đồng giai cấp, tầng lớp trong mỗi giai đoạn lịch sử của quốc gia, dân tộc

Như vậy: Gia đình là một trong những hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống cộng đồng của con người một thiết chế văn hoá xã hội đặc thù được hình thành, tồn tại

và phát triển trên cơ sở của những quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục giữa các thành viên

1.1.3 Văn hóa hôn nhân, gia đình

Nếu coi văn hóa là gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, thì văn hóa hôn nhân và gia đình, một bộ phận không tách rời của văn hóa chung cũng sẽ bao gồm tất cả những gì làm cho hôn nhân, gia đình cả một cộng đồng này, xã hội này, dân tộc này, khu vực này khác với hôn nhân, gia đình của các cộng đồng, xã hội, dân tộc, khu vực khác Sự khác biệt đó không phải ngẫu nhiên, tình cờ mà nó

Trang 15

được qui định bởi hàng loạt những yếu tố khách quan về đời sống vật chất, tinh thần, chế độ xã hội, môi trường tự nhiên của mỗi cộng đồng người, tồn tại lâu dài trong lịch

sử, để lại dấu ấn đặc biệt trong đời sống xã hội và gia đình, tạo thành cái được gọi là bản sắc văn hóa Một dân tộc chỉ được coi là có một nền văn hóa riêng khi chứng minh được bản sắc văn hóa của mình Cũng như vậy, khi nói đến văn hóa hôn nhân, gia đình

là phải chứng minh được bản sắc của nó

Văn hóa hôn nhân, gia đình là một bộ phận hợp thành của nền văn hóa Việt Nam Đó là hệ thống những giá trị, chuẩn mực đặc thù, có chức năng kiểm soát, điều hành hành vi và mối quan hệ giữa các thành viên trong hôn nhân, gia đình và giữa gia đình với xã hội

Một gia đình được đánh giá là văn hóa khi mỗi thành viên trong gia đình đều có quan hệ ứng xử tốt với cộng đồng cũng như trong nội bộ gia đình phù hợp với các tiêu chuẩn đạo đức xã hội (nếp sống quan hệ lành mạnh, hòa đồng, thương yêu lẫn nhau, không dính đến các tệ nạn xã hội như trộm cướp, ma túy, mại dâm, mê tín dị đoan, chấp hành tốt các quy định về vệ sinh môi trường không làm ảnh hưởng người khác, )

Văn hóa hôn nhân, gia đình nghiên cứu những dấu ấn để lại trong đời sống vật chất, tinh thần của gia đình được biểu hiện thông qua các mối quan hệ, cấu trúc, chức năng, sinh hoạt, đời sống tâm linh… của gia đình Đó là những dấu ấn được duy trì qua lịch sử, trở thành truyền thống, ăn sâu vào tiềm thức, tâm lý, chi phối hành vi, cách ứng xử giữa các thành viên trong gia đình, giữa gia đình với xã hội, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác

Những dấu ấn để lại trong đời sống gia đình ở các cộng đồng, quốc gia, dân tộc không giống nhau, tạo nên tính đa dạng của văn hóa gia đình Sự hội nhập kinh tế, giao lưu văn hóa quốc tế làm cho các nước có xu hướng hợp tác, liên kết và hiểu biết lẫn nhau nhiều hơn nhưng không làm mất đi bản sắc văn hóa dân tộc, bởi vì một trong những yếu tố hình thành nên văn hóa đó là môi trường tự nhiên Sự gắn bó và phụ thuộc của văn hóa vào môi trường tự nhiên làm cho văn hóa không thể xuất khẩu được, trong khi văn minh, một bộ phận của văn hóa lại có thể xuất khẩu được vì nó độc lập với môi trường tự nhiên Chính vì thế mà nhiều quốc gia có trình độ văn minh như nhau nhưng văn hóa thì vẫn khác nhau

Các thành tố của văn hóa hôn nhân, gia đình không tồn tại một cách cô lập mà liên kết với nhau tạo thành một hệ thống thực hiện các chức năng của văn hóa hôn

Trang 16

nhân, gia đình Đó là các chức năng truyền tải văn hóa từ thế hệ này sang thế hệ khác; duy trì sự cân bằng của đời sống hôn nhân, gia đình; bảo đảm sự tiếp nối văn hóa, chống sự đứt đoạn văn hóa; giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa và chức năng hình thành các giá trị văn hóa mới

Từ sự phân tích đặc trưng, qui luật hình thành và phát triển, cấu trúc và chức năng của văn hóa hôn nhân, gia đình, có thể định nghĩa văn hóa hôn nhân, gia đình như sau:

Văn hóa hôn nhân, gia đình là hệ thống những giá trị, chuẩn mực khu biệt đặc thù điều tiết mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và mối quan hệ giữa gia đình với xã hội, phản ánh bản chất của các hình thái gia đình đặc trưng cho các cộng đồng, các tộc người, các dân tộc và các khu vực khác nhau được hình thành và phát triển qua lịch sử lâu dài của đời sống gia đình, gắn liền với những điều kiện phát triển kinh tế, môi trường tự nhiên và xã hội

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu hôn nhân và gia đình của người Thái đen ở huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

Trong điều kiện có tính đặc thù của huyện Sốp Cộp việc làm rõ những điều kiện

về địa lý tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội có một ý nghĩa vô cùng to lớn Đây là căn

cứ quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội qua đó góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống về Hôn nhân và gia đình, nâng cao dân trí, phát triển và biến đổi

Sốp Cộp là một huyện vùng cao biên giới của tỉnh Sơn La, được thành lập theo Nghị định số 148/NĐ-CP của Chính phủ, gồm 7 xã đặc biệt khó khăn tách ra từ huyện Sông Mã Diện tích tự nhiên 147.342 ha, gồm 08 đơn vị hành chính xã gồm: Dồm Cang, Mường Lạn, Mường Lèo, Mường Và, Nậm Lạnh, Púng Bánh, Sam Kha, thị trấn Sốp Cộp, 127 bản, 07 điểm dân cư, có 120km đường biên giới với nước bạn Lào, là huyện có vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng và đối ngoại của tỉnh Sơn La và khu vực Tây Bắc

Phía Đông và phía Nam giáp với nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, phía Tây giáp với tỉnh Điện Biên, phía Bắc giáp với huyện Sông Mã Toàn huyện Sốp Cộp nhìn chung gồm các dân tộc cùng sinh sống như: Thái, Mông, Lào, Khơmú, Kinh, Theo số liệu thống kê, tính đến cuối năm 2013, tổng dân số toàn huyện là 45.789 người với hơn 7 dân tộc anh em cùng sinh sống Trong đó, dân tộc Thái chiếm 62,12%; dân tộc Kinh chiếm 4,61%; dân tộc Mông chiếm 17,61%; dân tộc Mường

Trang 17

chiếm 0,20%; dân tộc Kháng chiếm 0,93%; dân tộc Khơ Mú chiếm 6,56%; các dân tộc khác chiếm 0,04%

Hiện nay, Sốp Cộp đang còn nhiều lợi thế về nông, lâm nghiệp với diện tích đất

tự nhiên 148.088 ha, trong đó đất chưa sử dụng còn trên 81.700 ha, có thể sử dụng vào sản xuất nông nghiệp trên 7.000 ha và sản xuất lâm nghiệp 62.000 ha (34.816 ha rừng phòng hộ; 26.535 ha rừng sản xuất và 5.633 ha rừng đặc dụng)

Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở vùng núi, cùng với nội lực của địa phương nên đời sống nhân dân đã từng bước được cải thiện, được quan tâm đầu tư nhiều dự án xây dựng cơ sở hạ tầng như: Quyết định 134/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, hỗ trợ tấm lợp cho đồng bào dân tộc thiểu số còn nghèo, đời sống khó khăn; Quyết định 135/QĐ-TTg về việc phê duyệt nội dung chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa của Chính phủ; Quyết định số 3665 và 177/QĐ-HĐND tỉnh về chính sách hỗ trợ làm đường giao thông từ xã đến bản, song hiệu quả

mà người dân được hưởng không đáng kể, nhìn chung trên phạm vi toàn diện nền kinh tế vẫn chậm phát triển, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, giao thông đi lại gặp rất nhiều khó khăn, đời sống nhân dân các dân tộc còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp kém, nhân dân các dân tộc đặc biệt là vùng sâu, vùng xa chưa biết áp dụng tiến

bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất do đó năng suất lao động chưa cao Đa phần nhân dân sinh sống bằng sản xuất nông nghiệp thủ công, nền kinh tế tự cung tự cấp là chính, một số ít làm ăn buôn bán nhỏ lẻ, tập trung chủ yếu ở trung tâm huyện và các trung tâm xã, số hộ nghèo trên địa bàn huyện vẫn còn nhiều (trên 70%) Bên cạnh đó

là các phong tục tập quán và các hủ tục lạc hậu vẫn còn tồn tại trong bộ phận không nhỏ nhân dân các dân tộc thiểu số đã và đang là yếu tố làm kìm hãm sự phát triển kinh

tế - xã hội của địa phương

* Về kinh tế - xã hội:

Về kinh tế:

Sốp cộp là vùng đất giàu tiềm năng về kinh tế Trong những năm qua, được sự quan tâm của Trung ương, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, cùng với sự đoàn kết, năng động, quyết tâm vượt khó của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong

các lĩnh vực của đời sống xã hội

Trang 18

Kinh tế của huyện tiếp tục có những bước phát triển mới, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt Tốc độ phát triển kinh tế, thu nhập bình quân trên người tăng; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực Năm

2015, Tổng thu ngân sách Nhà nước địa phương 5 năm qua đạt 2.045,2 tỷ đồng, tăng 104,5% so với kế hoạch Thu ngân sách trên địa bàn 94,9 tỷ đồng, tăng 137,2% so với

kế hoạch, chi ngân sách là 2.038,2 tỷ đồng, tăng 103,8% so với kế hoạch Hoạt động của ngân sách trên địa bàn huyện cơ bản đáp ứng được nhu cầu vốn vay kinh doanh,

sản xuất của nhân dân các dân tộc trong huyện [14, tr.2]

Huyện thường xuyên quan tâm chỉ đạo, triển khai công tác khuyến nông, hướng dẫn nhân dân áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu giống, mùa vụ và tăng cường thâm canh cây trồng Cùng với các địa phương trong

công tác di dân tái đ ịnh cư phục vụ xây dựng thủy điê ̣n N ậm Công I và Nậm Công II hoàn thành công tác cấp đất ở, đất sản xuất cho các hộ dân tái định cư trên địa bàn

sở hạ tầng tốt, giúp người dân tái định cư ổn định cuộc sống lâu dài Đây là thành tích của huyện Sốp Cộp nói riêng và tỉnh Sơn La nói chung, là kết quả của sự hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích quốc gia, vì dòng điện ngày mai của Tổ quốc

Về xã hội:

Sốp Cộp là một trong năm huyện nghèo của tỉnh Sơn La, địa bàn rộng, giao thông đi lại khó khăn, xuất phát điểm nền kinh tế xã hội còn thấp, mặt bằng dân trí không đồng đều Toàn huyện có 6 xã vùng đặc biệt khó khăn, nhiều xã có bản đặc biệt khó khăn Tập quán canh tác còn lạc hậu, các tệ nạn ma tuý, mại dâm, cờ bạc còn diễn biến phức tạp

Sốp Cộp là một huyện đặc biệt khó khăn nằm trong trong diện 62 huyện nghèo của cả nước Nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế của huyện xuất phát điểm thấp, phát triển chưa đồng bộ, quy mô nhỏ lẻ, năng suất chất lượng sản phẩm chưa cao; kết cấu

hạ tầng, kinh tế - xã hội yếu kém, giao thông đến các trung tâm xã, bản còn nhiều khó khăn nhất là vào mùa mưa, tình hình diễn biến thiên tai, dịch bệnh khó lường An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vẫn còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp

Hệ thống chính trị xã, bản, một số nơi hoạt động còn yếu, trình độ năng lực của một

số cán bộ chủ chốt ở cơ sở chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ đổi mới

Trang 19

Với địa hình hiểm trở, phức tạp, dân số không tập trung đã gây khó khăn trong công tác quản lý, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở

Tuy nhiên, những năm qua Đảng và Nhà nước có nhiều chủ chương chính sách

về phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh - quốc phòng các chương trình dự án đầu tư cho đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, do đó công tác vận động định canh định cư từng bước ổn định; Cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng được tăng cường Đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân các dân tộc đang từng bước được cải thiện, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, khối đại đoàn kết các dân tộc đã và đang được củng cố, phát triển Tất cả 7 xã, thị trấn có đường ô tô đến trung tâm xã, trong đó có 2 xã, thị trấn có đường bê tông nhựa, 7/7 xã có trụ sở làm việc, nhà văn hoá được xây cấp 4 trở lên Bệnh viện trung tâm huyện được xây dựng với quy mô 100 giường bệnh, 100% các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ

sở và trường trung học phổ thông được xây dựng kiên cố và bán kiên cố Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện được đầu tư, xây dựng nâng cấp tăng diện phủ sóng

Xã Sốp Cộp là một xã nằm ngay trung tâm thị trấn huyện Sốp Cộp, gồm 1522

hộ dân cư với 06 dân tộc chủ yếu: Thái khoảng 989 hộ (chiếm Khoảng 65% dân số toàn huyện), Kinh khoảng 304 hộ (chiếm khoảng 20% dân số toàn huyện), còn lại là các dân tộc: Khơmú, Lào, Mông, Mường chiếm thiểu số trong xã

Xã Sốp Cộp gồm có 17 bản: Hua Mường (322 hộ), Cang Mường (135 hộ), Lả Mường (87 hộ), Nà Lốc (107 hộ), Co Pồng (81 hộ), Sốp Nặm (125 hộ), Nà Dìa (136 hộ), Nà Sài (81 hộ), Nà Nó (49 hộ), Pom Khăng (55 hộ), Bản Ban (71 hộ), Huổi Khăng (57 hộ), Huổi Pe (56 hộ), Bản Pe (70 hộ), Co Hịnh (31 hộ), Pá Hốc (23 hộ), Tà

Cọ (36 hộ)

Về văn hóa:

Thông qua các tài liệu thành văn đã trở thành luật tục của người Thái, thông qua các truyện lịch sử như: “Quam Tô Mương” (chuyện kể bản mường), “Quắm Pú Sấc” (những cuộc chinh chiến của người Thái), Phanh Mương, Piết Mương, và các chính kiến kết luận của các nhà khoa học ta có thể có thể nhận thấy rằng: Người Thái tỉnh Sơn La nói chung và người Thái huyện Sốp Cộp nói riêng đều có cội nguồn từ Đông Nam Á và tổ tiên của họ đã thiết lập thành bản, thành mường, cư trú và sinh sống ổn

định từ mảnh đất này từ xưa

Trang 20

Với phong tục tập quán canh tác của dân tộc mình, người Thái sớm có văn minh lúa nước nên họ sinh sống thiết lập bản mường thường nằm dọc theo những thung lũng ven khe suối, có đồng ruộng lớn, nhỏ liên tiếp nhau Người Thái có nhiều kinh nghiệm và khá thuần phục về kĩ thuật khai khẩn đồng ruộng, đắp phai, khơi mương, bắc máng, làm guồng hay con quay để lấy nước từ nơi thấp đưa lên nơi cao để làm ruộng Lúa nước được coi là nguồn lương thực chủ yếu của người Thái đen Kinh nghiệm đồng ruộng của họ được nhân dân đúc kết trong bốn từ “Mương, phai, lái, lin” Ngoài ra, dân tộc Thái cũng làm nương để trồng thêm lúa, hoa màu (khoai, sắn,

ngô, ), chăn nuôi gia súc gia cầm, nuôi cá,

Nam giới thông thạo các việc đan lát các đồ dùng trong nhà, chế tạo ra các công

cụ trong cuộc sống Còn nữ giới thì thạo các việc trồng bông, dệt vải, cắt may, thêu thùa Người Thái đen xây dựng cho mình ngôi nhà sàn, với đặc trưng ngôi nhà sàn của người Thái đen có nóc hình mai rùa, chỏm đầu đốc có khau cút với nhiều kiểu khác

nhau, khung cửa ra vào và cửa sổ có nhiều hình thức trang trí lạ mắt

* Về trang phục:

Cũng như các dân tộc khác, trang phục của người Thái đen thể hiện rất rõ nét bản sắc văn hóa dân tộc

Thông thường trong lao động và trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày, nam

giới người Thái đen thường mặc áo cánh ngắn được may bằng vải chàm đen, xẻ ngực,

cổ tròn, tay dài hoặc tay ngắn Khuy áo được cài bằng cúc tròn hoặc cúc vải, có hai túi được may ở vạt áo trước và một túi may ở ngực trái áo

Vào dịp hội hè, lễ tết, cưới xin nam giới mặc thêm chiếc áo dài xẻ nách màu chàm, cổ đứng tròn, vạt áo dài tới gối, đầu đội khăn thường là màu đen

Nam giới người Thái đen mặc quần dài màu nâu chàm, ống rộng buộc giải rút,

sử dụng thắt lưng vải hoặc thắt lưng da trâu để tạo thêm sự mạnh mẽ cho người nam giới

Phụ nữ người Thái đen thường ngày mặc áo ngắn gọi là “Xửa cỏm”, nhiều màu sắc, bó sát người, có đính hàng cúc bướm có thể bằng bạc trắng Cổ được may tròn, đúng vừa khít với người để tôn lên những nét quyến rũ của phụ nữ Thái

Chiếc áo Thái kết hợp với váy “Xỉn” được may thành hình ống Khi mặc váy quấn chặt lấy vùng eo, đoạn váy thừa được gấp nếp sang bên cạnh cho gọn Dùng thắt lưng xanh có viền kim tuyến giữ cho cạp váy không bị tuột ra Phụ nữ Thái đen đầu

Trang 21

đội khăn Piêu, trên nền khăn được thêu nhiều hoa văn phong phú đặc trưng hình hoa

lá, đường diềm Chiếc khăn Piêu không chỉ là vật trang trí mà trong đời sống tinh thần, Piêu còn là biểu tượng tham gia vào lệ tục, nghi lễ trang trọng Đôi nam nữ sau khi đính ước thường trao tặng cho nhau chiếc khăn Piêu để làm tin, cô dâu khi về nhà chồng phải dùng Piêu để làm quà biếu cho bố mẹ,

Đi cùng với khăn Piêu là châm cài tóc Phụ nữ Thái đen khi lấy chồng phải qua nghi thức “Tẳng Cẩu” Bà mối chải tóc cho cô dâu ngược lên rồi cuộn thành búi tóc ở đỉnh đầu dùng châm bạc hay châm vàng cài lên giữ cho búi tóc được chắc chắn và dùng để trang trí cho đẹp

* Về ẩm thực:

Người Thái thích ăn cơm nếp xôi, cơm lam, cơm gạo cẩm, gạo nhuộm màu, cơm độn, ngô bung, sắn khoai, ăn với “Chẳm chéo” và các món nướng, Pỉnh, Nửng, Moọk, Lạp,

Với đời sống vật chất hết sức phong phú, người Thái đen Sốp Cộp đang ra sức xây dựng bản mường giàu đẹp, các thành viên trong cộng đồng bản mường có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, góp phần vào công cuộc xây dựng đời sống văn hóa mới của Đảng, Nhà nước đang phát động

* Đời sống sản xuất và tín ngưỡng của người Thái đen

Các dân tộc khu vực Tây Bắc nói chung và dân tộc Thái đen Sốp Cộp nói riêng

từ xa xưa đều có ý niệm vạn vật hữu linh, thế giới ý niệm, hư vô quyết định sự tồn vong và phát triển của thế giới hiện thực Từ những quan niệm trên đã nảy sinh nhiều phong tục tập quán, tập tục cúng bái, lễ hội dâng cỗ khẩn cầu thần linh phù hộ cho con người khỏe mạnh không đau ốm, cầu được mưa thuận gió hòa, lễ tục cúng nhà, lên nhà mới, tục cưới xin, tang ma Những người đứng ra thực hiện phong tục này là những ông Mo, bà Mo Họ là người có uy tín trong bản, am hiểu phong tục tập quán dân tộc mình và được đồng bào kính trọng Ngoài ra người Thái đen còn tổ chức những lễ hội

“Xên bản”, “Xên mường” Không chỉ có nghi thức tế lễ (phần lễ) mà còn tổ chức văn nghệ, vui chơi (phần hội) Người thái đen tổ chức các trò chơi dân gian như kéo co, ném còn, đánh trống,

Bản mường Thái thường định cư gần nguồn nước, mỗi bản có từ vài chục đến hơn trăm nóc nhà kề bên nhau Đời sống vốn gắn bó với thiên nhiên, với rừng núi

Người Thái hoạt động sản xuất dựa vào nông nghiệp là chính, chủ yếu là dựa vào

Trang 22

trồng lúa nước trên các cánh đồng thông lũng, nếp nương ở các sườn đồi, dân cư có nhiều kinh nghiệm đắp phai, đào mương, dựng con, bắc máng lấy nước làm ruộng Ở những nơi đất cao hơn không dẫn nước vào được thì xây dựng các cây guồng để đong nước từ suối lên ruộng lúa nước là nguồn lương thực chính, đặc biệt là lúa Nếp Người Thái cũng làm nương để trồng lúa, hoa màu và nhiều thứ cây khác Từng gia đình chăn nuôi gia súc, gia cầm, đan lát, trồng bông se sợi, trồng cây thuốc nhộm, dệt vải, một số nơi làm đồ gốm người Thái có nghề dệt rất lâu đời, các sản phẩm nổi tiếng của người Thái là vải thổ cẩm, với những hoa văn độc đáo, màu sắc rực rỡ, bền đẹp Người dân tự trồng dâu nuôi tằm se sợi, dệt thổ cẩm hoạt động săn bắn thời trước

và nay là chăn nuôi cũng rất được chú trọng

Ngày nay hoạt động sản xuất của người Thái cũng đã được giao thoa, học hỏi người kinh, xuất hiện thêm nhiều ngành mới trong hoạt động sản xuất, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất để đảm bảo sự phát triển bền vũng của dân tộc, kể cả hoạt động dịch vụ người dân đã đưa khoa học kỹ thuật vào canh tác sản xuất nhưng vẫn còn hạn chế

Với nguồn gốc lịch sử lâu đời, người Thái đen có một di sản văn hóa truyền thống mang đậm màu sắc dân tộc Truyền thuyết, thần thoại, cổ tích, truyện thơ, ca dao, là những vốn văn hóa quý báu của văn học cổ truyền người Thái Những tác phẩm thơ ca nổi tiếng của người Thái như: “Xống Chụ Xon Xao”, “Chương Han”,

“Khun Lú - Nàng Ủa”, “Ý Nọi - Nàng Xưa”, và với tiếng khèn, tiếng sáo “Pí Thiu” của người con trai, tiếng ca nhẹ nhàng đằm thắm của người con gái Thái, những bài hát dân ca của dân tộc mình luôn được cất lên trong những ngày hội và cuộc sống ngày thường Gõ sạp “múa sạp” là một nét sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo của đồng bào dân tộc Thái đen – Tây Bắc Múa sạp được sử dụng trong các lễ hội hay trong mỗi gia đình có tổ chức cuộc vui có nhiều khách tham dự Trong mỗi bản mường của đồng bào dân tộc người Thái đen hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng là một nét văn hóa tiêu biểu Từ giữa mùa thu, vào mùa bông nở hay sang mùa xuân tối đến các cô gái tập trung ở sàn giữa bản, hay ở sàn ngoài nhà nào đó để đốt lửa Các cô gái thì dệt vải, kéo sợi, các chàng trai thì đến chơi thổi kèn, gẩy đàn Đôi bên trai gái nói với nhau những lời tình tứ, đưa đẩy rồi dẫn vào những bài hát giao duyên Cuộc chơi dẫn đến khuya và thường là cơ hội để đôi bên kết duyên vợ chồng

Những cơ sở thực tiễn trên có ảnh hưởng rất lớn đến hôn nhân, gia đình trong văn hóa của người Thái đen ở xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La

Trang 23

*

* * Như vậy, hôn nhân là phương thức để xây dựng, duy trì và phát triển gia đình,

vì vậy thông thường người ta luôn gắn gia đình với hôn nhân và hình thành khái niệm

“hôn nhân - gia đình” Hôn nhân - gia đình là thiết chế xã hội hết sức đa dạng và phức tạp phản ánh các mối quan hệ sinh học và văn hóa, vật chất và tinh thần, tư tưởng và tâm lý Gia đình dựa trên cơ sở hôn nhân nhưng không chỉ giới hạn ở đó, gia đình bao gồm nhiều mặt trong mối quan hệ huyết thống giữa các thế hệ, giữa gia đình với dòng

họ, giữa gia đình với xã hội… Nên gia đình liên quan chặt chẽ tới toàn bộ hệ thống xã hội Một mặt, gia đình trực tiếp hoặc gián tiếp phản ánh những điều kiện kinh tế - xã hội, những biến đổi đang diễn ra trong một xã hội cụ thể, mặt khác nó tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội Gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc tái sản xuất con người để duy trì lực lượng lao động xã hội, là môi trường xã hội hóa cơ bản nhất đối với mỗi cá nhân, là nơi tổ chức cuộc sống bình thường hàng ngày, đem lại

sự thỏa mãn cho cá nhân về mọi mặt, là nơi hỗ trợ và ổn định cho mỗi cá nhân khi môi trường xã hội xung quanh bị xáo trộn

Các hình thái hôn nhân - gia đình biến thiên theo lịch sử và khác nhau ở các xã hội khác nhau Sự chuyển biến của nó là kết quả những mối tương tác không chỉ giữa các thành viên bên trong hôn nhân - gia đình mà quan trọng hơn nữa là sự tương tác giữa hôn nhân - gia đình với các yếu tố xã hội bên ngoài Các hình thái hôn nhân - gia đình vừa thể hiện đa dạng phức tạp, vừa có những nét đồng nhất định trong quá trình phát triển, thể hiện tính qui luật, tính thống nhất của nhân loại

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, văn hóa về hôn nhân, gia đình Việt Nam nói chung và văn hóa trong hôn nhân, gia đình của người dân tộc Thái đen nói riêng đang chịu những tác động nhiều chiều và biến đổi mạnh mẽ Việc phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của gia đình truyền thống trong thời đại ngày nay, khắc phục những hệ quả tiêu cực do xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế mang lại là yêu cầu bức thiết của toàn xã hội

Trang 24

Chương 2 HÔN NHÂN, GIA ĐÌNH CỦA NGƯỜI THÁI ĐEN Ở XÃ SỐP CỘP, HUYỆN

SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA VÀ NHỮNG BIẾN ĐỔI CỦA NÓ

2.1 Hôn nhân

2.1.1.Hôn nhân truyền thống

2.1.1.1 Quan niệm về hôn nhân

Người Thái đen quan niệm hôn nhân là quy luật của tạo hóa, mục đích cuối cùng của hôn nhân theo họ là thỏa mãn nhu cầu sinh con, duy trì nòi giống của gia đình, họ hàng và xây dựng xã hội Ngoài ra, kết hôn còn là điểm tựa cho bố mẹ khi về già, và đặc biệt để tăng thêm thế lực cho dòng họ Bởi quan niệm truyền thống như vậy nên gia đình của người Thái đen thường có nhiều con Hôn nhân của họ dựa trên tình yêu của đôi trai gái, đặc biệt dựa trên sự đồng thuận giữa hai gia đình Điều này còn vượt lên trên cả sự đồng thuận của đôi nam nữ, bởi đó không chỉ là việc riêng của đôi trẻ mà còn liên quan mật thiết đến cả gia đình, dòng họ, đặc biệt đến chuyện “nối dõi tông đường”, thờ cúng tổ tiên

Chế độ hôn nhân của người Thái đen là một vợ một chồng, tuân thủ quy định của luật tục Người dân cho biết nếu ai vi phạm sẽ bị phạt vạ, không có trường hợp ngoại lệ, bất kể đó là con cái hay người thân của chủ mường (Chẩu mường), chủ đất (Chẩu đin) Hôn nhân không chỉ là sự gắn kết hai con người, hai gia đình mà còn có vai trò liên kết các dòng họ, tạo nên một liên minh, thế lực trong cộng đồng bản mường Với người Thái đen rất hiếm thấy trường hợp một người đàn ông có nhiều vợ Tuy nhiên, đôi khi cũng có người lấy vợ lẽ; đó là trường hợp hi hữu, khi mà người vợ

cả không thể sinh con Hôn nhân cần phải thể hiện sự trọng thị giữa nhà trai và nhà gái; vì thế mới xuất hiện vai trò của vợ chồng ông bà mối (xoọc lạm) - người am hiểu phong tục tập quán, biết làm mát lòng, mát mặt cả hai họ bằng tài ăn nói và cũng là người điều hành các nghi lễ Cùng với “xoọc lạm”, người Thái đen còn đặc biệt đề cao quyền của ông cậu trong các quyết định dẫn tới hôn nhân và chỉ đạo, điều hành hôn lễ

Trong gia đình người Thái đen, khi có con đến tuổi trưởng thành, ai cũng muốn kén được chàng rể hay cô dâu ưng ý Khi chọn vợ, chọn chồng, người Thái đen không chỉ xem xét điều kiện kinh tế của gia đình sẽ kết thông gia mà còn quan tâm đến phong cách sống và đạo đức của họ Thông thường, khi chọn vợ, người đàn ông để ý xem hoàn cảnh kinh tế của gia đình nhà vợ thế nào, anh em họ hàng ra sao Hơn tất cả, họ

Trang 25

đặc biệt lưu tâm đến sức khỏe, tính siêng năng, cần cù, khéo léo, hiền hậu và sự chung thủy của người mà mình sẽ lấy làm vợ Khi gả con gái, gia đình bên vợ cũng muốn kén những chàng rể khỏe mạnh, tháo vát trong việc ruộng nương Sức khỏe là yếu tố hàng đầu trong những tiêu chí chọn vợ, chọn chồng của đồng bào nơi đây Hơn nữa, ở người Thái đen, hoạt động kinh tế chủ yếu mang tính tự cấp tự túc, kinh tế thị trường tuy cũng tác động ít nhiều nhưng không đáng kể, bởi vậy người vợ có vai trò rất quan trọng trong việc nội trợ cũng như sản xuất ra của cải vật chất, đáp ứng nhu cầu ăn, mặc trong gia đình Hình thức của phụ nữ, tuy không phải là tiêu chí hàng đầu, song lại là yếu tố mà các chàng trai luôn để ý Họ cho rằng sức khỏe và sắc đẹp là do thiên phú, nhưng phẩm chất cần cù, siêng năng, tháo vát cũng như sự ứng xử khéo léo là do truyền thống và giáo dục gia đình Hơn nữa, những phẩm chất đó còn được rèn luyện, thử thách trong cuộc sống hằng ngày Đôi khi các bậc cha mẹ có thể châm chước, bỏ qua những điểm chưa được để quyết định việc hôn nhân cho con cái Những tiêu chí trên thể hiện quan niệm của người Thái đen về những phẩm chất lý tưởng của người làm vợ, làm chồng và làm con trong gia đình Có lẽ, đó cũng là ước mơ của hầu hết các tộc người, bởi nó hội tụ đủ các yếu tố sức khỏe, đạo đức và công việc

Trong xã hội truyền thống, người Thái đen đã hình thành bộ luật tục gồm nhiều điều quy định rất cụ thể và chặt chẽ liên quan đến mọi mặt đời sống, trong đó có những điều xử phạt nặng đối với các trường hợp chửa hoang, ngoại tình, ly dị, loạn luân… Ví dụ, bị bắt quả tang ngoại tình, phạt cả nam lẫn nữ hai nén bạc trắng cùng với một con lợn để tẩy uế cho bản Gái chửa hoang, phạt 15 lạng bạc; đàn bà góa có chửa với trai tân hay gái tân có chửa với đàn ông góa, phạt hai nén bạc Trong hôn nhân của người Thái đen, những tàn dư mẫu hệ còn sót lại được biểu hiện ở vai trò của ông cậu, hay còn gọi là quyền ông cậu Ở các lễ dạm hỏi, nhất thiết phải có người này và ngày cưới phải có mâm cơm biếu riêng Trong hôn nhân truyền thống, bố mẹ đẻ của cô dâu chỉ được xem là “chẩu côn” - nghĩa là chủ người, còn “chẩu khuôn” - nghĩa là chủ hồn lại là ông cậu, bởi vì khi cô dâu mới lọt lòng mẹ thì chính ông cậu là người đặt tên, làm vía cho cháu gái Số tiền “cá hùa” (phạt vạ) như đã mô tả ở trên cũng do ông cậu quyết định Tuy nhiên, do chế độ phụ quyền ở người Thái đã được củng cố, nên ngày nay, vai trò của ông cậu ít nhiều mờ nhạt dần trong hôn nhân

Trang 26

2.1.1.2 Các nguyên tắc trong hôn nhân

Ở cộng đồng người Thái đen, nhận thức về hôn nhân là một quá trình hình thành, sàng lọc và đúc kết từ những biểu hiện cụ thể của đời sống hàng ngày Gia đình

là tế bào của xã hội, hôn nhân là cơ sở tạo nên một gia đình Một xã hội tồn tại và phát triển bền vững một phần dựa trên chế độ hôn nhân được xây dựng một cách vững chắc Trải qua quá trình hình thành và phát triển, mỗi tộc người đều trải nghiệm và đúc kết thành nguyên tắc hôn nhân phù hợp với văn hóa và đạo đức của tộc người đó Tuy nhiên, cuộc sống thì muôn hình vạn trạng, luôn biến đổi Đặc biệt, những vấn đề liên quan đến hôn nhân diễn ra trên thực tiễn thì vô cùng sinh động Điều đó buộc cộng đồng người Thái xây dựng nên quy ước ứng xử vừa nghiêm khắc, chặt chẽ để duy trì

sự ổn định và tính bền vững văn hóa cộng đồng nhưng cũng phải có sự mềm dẻo, nhân văn đối với những trường hợp khác biệt để gia tăng tính liên kết gia đình, dòng họ, cố kết cộng đồng Những ứng xử đó được người Thái gọi là luật tục, gồm các nguyên tắc

mà mỗi thành viên cộng đồng đều có ý thức gìn giữ và tuân theo

Trong hôn nhân người Thái đen luôn coi trọng các nguyên tắc truyền thống, đặc biệt là xem xét các huyết thống xa hay gần để không phạm phải các điều cấm kỵ truyền thống tộc người đã đúc rút truyền lại

Nguyên tắc ngoại hôn dòng họ

Nguyên tắc cơ bản trong hôn nhân là ngoại hôn dòng họ (au côn nọ họ) Người Thái đen nghiêm cấm người cùng một dòng họ kết hôn với nhau, đây là nguyên tắc bất

di bất dịch Đây là nguyên tắc đề cao tính huyết thống trong hôn nhân, là nguyên tắc phổ biến của nhân loại, được hình thành từ lâu đời và ở người Thái đen, nó được quy định trong luật tục; tuân thủ nguyên tắc đó là điều bắt buộc đối với mỗi thành viên của cộng đồng Ngoại hôn dòng họ có mục đích là duy trì sự khỏe mạnh của giống nòi - mấu chốt của sự phát triển và trường tồn về khía cạnh sinh học của một tộc người Khoa học ngày nay đã chứng minh rằng, ở những trường hợp hôn nhân cận huyết, tỉ lệ trẻ bị dị tật bẩm sinh về cơ thể cũng như tinh thần là rất cao Chính vì thế, cho đến nay, nguyên tắc này vẫn được người Thái đen coi trọng và tuân thủ một cách nghiêm ngặt

Nguyên tắc hôn nhân thuận chiều:

Đây là nguyên tắc cơ bản thứ hai trong hôn nhân của người Thái Trường hợp lấy ngược lại bị coi là vi phạm luật tục; và sự vi phạm đó được gọi là “táo hua mu” - quay đầu lợn Nguyên tắc này được diễn đạt như sau: nếu con trai của dòng họ A lấy

Trang 27

con gái của dòng họ B thì con trai của dòng họ B không được lấy con gái của dòng họ

A mà chỉ được lấy con gái của dòng họ C Cũng như thế, con trai của dòng họ C không được phép lấy con gái của dòng họ B nữa mà chỉ được lấy vợ là người ở dòng họ A Đây chính là cơ sở để hình thành ba mối quan hệ họ hàng cơ bản: “Ải Noọng” – “Lung Ta” – “Nhinh Xao” Mối quan hệ này được diễn đạt như sau: Nếu con trai của nhóm

“Ải Noọng” A lấy con gái của nhóm “Ải Noọng” B; con trai của nhóm “Ải Noọng” B lấy con gái của nhóm “Ải Noọng” C; con trai của nhóm “Ải Noọng” C lấy con gái của nhóm “Ải Noọng” A, thì các mối quan hệ trên sẽ được biểu thị: A là “Nhinh Xao” của

B, còn B là “Lung Ta” của A (quan hệ A - B); B là “Nhinh Xao” của C, còn C là

“Lung Ta” của B (quan hệ B - C); C là “Nhinh Xao” của A, còn A là “Lung Ta” của C (quan hệ C – A) Quan hệ “Lung Ta” – “Nhinh Xao” là quan hệ dựa trên tuyến hôn nhân, do hôn nhân mang lại Thông thường, con gái bên “Lung Ta” là đối tượng hôn nhân của con trai bên “Nhinh Xao” Một mặt, ta thấy A, B, C là những nhóm “Ải Noọng” sống trong một bản hoặc các bản khác nhau; mặt khác, không phải bao giờ các nhóm “Ải Noọng” A, B, C này cũng trao đổi hôn nhân với nhau trong phạm vi cùng bản mà thường có xu thế mở rộng phạm vi sang các bản lân cận với những nhóm “Ải Noọng” khác nữa Do vậy, A, B, C vừa là “Ải Noọng”, “Lung Ta” vừa là “Nhinh Xao” của nhau trong cùng một bản và cũng có mối quan hệ như thế đối với các bản khác Chính quan hệ đó đã hình thành nên mối quan hệ thân tộc và thích tộc chồng chéo nhau trong các dòng họ ở cùng một bản và các bản lân cận Minh chứng cho điều đó, người Thái có câu: Bỏ ải mi noọng, bỏ Lung Ta, mi Nhinh xao (Không phải anh cũng

là em, không phải anh em bên rể cũng là anh em bên vợ, bên bà)

Nguyên tắc nội hôn tộc ngươ ̀ i tức là hôn nhân chỉ được thực hiện giữa những

người cùng dân tộc, không có những trao đổi gen với những nhóm dân tộc khác (không lai giống)

Đồng bào Thái đen cho rằng lấy người khác tộc sẽ gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống gia đình cũng như trong lao động sản xuất và sinh hoạt hằng ngày, vì họ không biết phong tục dân tộc mình, không biết thờ cúng ma nhà mình Vậy nên trong cuộc sống chúng ta ít khi gặp trường hợp con trai người Thái đen lấy vợ là người dân tộc khác, hoặc người con gái Thái cũng rất ít đi lấy chồng dân tộc khác (đặc biệt là dân tộc Mông hầu như là không có trường hợp hôn nhân giữa người Thái và người Mông)

Trang 28

Tuy nhiên, hiện nay cũng đã xảy ra trường hợp con dâu, con rể gia đình người Thái đen là người khác dân tộc chủ yếu là người Kinh nhưng vẫn chiếm khá ít

vợ tiếp theo không cấm

Hôn nhân truyền thống của người Thái đen bị chi phối bởi tính chất loại hình gia đình phụ quyền Dù trai hay gái đến tuổi trưởng thành đều được phép tự do tìm hiểu, yêu đương, nhưng cuộc hôn nhân có thành hay không đều do cha mẹ quyết định Nhằm đảm bảo các nguyên tắc luật tục, tập quán pháp, trước khi quyết định hôn nhân nên bố mẹ, họ hàng phải biết để xem xét vấn đề huyết thống xa hay gần để tránh nhầm lẫn lấy phải họ hàng gần Nếu phạm phải quy tắc truyền thống sẽ không duy trì được nòi giống vì cận huyết

2.1.1.4 Các trươ ̀ ng hợp hôn nhân đặc biệt

* Hôn nhân từ tục trộm vợ (lặc mia)

Thứ nhất: Trộm vợ có sự thỏa thuận:

Hai người yêu nhau và muốn nhanh chóng thành vợ thành chồng, nhưng theo tập quán của người Thái, để tiến đến hôn nhân cần trải qua một thời gian khá dài với nhiều nghi lễ Bởi vậy, muốn “đốt cháy giai đoạn”, sớm được về ở với nhau, đôi trai gái bàn bạc tổ chức trộm vợ Đôi khi, đôi lứa muốn tiến đến hôn nhân nhưng do nhà trai quá nghèo không thể theo tập quán; trong trường hợp này, cô gái sẽ mở cho người mình yêu “lối thoát”, đó là trộm vợ để hai người có thể sớm thành vợ chồng Tục trộm

vợ thường diễn ra vào lúc xẩm tối Buổi tối sau khi ăn cơm xong, cô gái xin phép cha

mẹ đến nhà bạn chơi (để được ra ngoài) Trong khi đó, chàng trai rủ thêm vài người bạn thân đến chỗ đã hẹn với cô gái, khi đi ngang qua đó, cô gái “bị” những người này bắt, đưa về nhà chàng trai Trước khi ra khỏi nhà, cô gái kín đáo mang vài bộ váy, áo (đã lặng lẽ chuẩn bị từ trước) và đặt miếng trầu lên miệng chõ đồ xôi, ngụ ý báo cho cha mẹ biết mình đã trốn theo người yêu

Trang 29

Về đến nơi, đôi trẻ quỳ lạy cha mẹ của chàng trai và chàng trai xin phép cha mẹ làm lễ cúng tổ tiên Mâm cúng tổ tiên được nhanh chóng chuẩn bị, rồi được bày biện trước bàn thờ cùng với áo của người con gái Gia chủ cúng báo tổ tiên rằng hôm nay gia đình làm lễ nhập ma nhà cho con dâu, từ nay cô gái này là con cháu trong nhà, mong tổ tiên chấp nhận và phù hộ cho đôi trẻ hạnh phúc, sinh nhiều con và gặp nhiều may mắn Cũng trong đêm hôm đó, chàng trai phải mang một gói trầu cau sang nhà cô gái, tìm cách đặt lên cầu thang hoặc treo gần đó để sáng hôm sau, cha mẹ cô gái tỏ tường

Ngay hôm sau, nhà trai nhờ ông mối đại diện mang ít lễ vật sang nhà gái thưa chuyện, xin nhà gái cho chàng trai đến ở rể hoặc chọn ngày tốt tổ chức lễ cưới Khi sự

đã rồi, thường thì nhà gái buộc phải đồng ý cho nhà trai chịu phạt vạ một khoản tiền Sau đó, nhà trai mang một con lợn (mu), đôi gà (xoong cáy), rượu (lảu) đến làm vía cho bố mẹ cô gái Trường hợp này, đám cưới tổ chức đơn giản bên nhà gái Sau khi đón dâu về thì làm lễ cúng tổ tiên bên nhà trai một lần nữa với sự chứng kiến của anh

em họ hàng là xong

Thứ hai: trộm vợ không có sự thỏa thuận

Người con trai đem lòng yêu quý cô gái nào đó mà không được đáp lại tình cảm, bèn tìm cách “trộm vợ” để có được cô gái Có người rủ vài người bạn đón lõng

cô gái đi làm nương hay đi lấy củi trên rừng về muộn rồi cưỡng chế cô về nhà mình

Có người thì nhờ bạn gái của cô ấy rủ đi chơi, khi ngang qua nhà người con trai đó, cô bạn kiếm cớ để cô gái ấy cùng vào nhà Khi cô gái đã ở trong nhà, người nhà nhanh chóng chuẩn bị rượu, trầu cau và gà luộc (nếu kịp), sau đó, họ lấy chiếc khăn của cô gái đặt vào mâm lễ để cúng tổ tiên nhà chàng trai Gia chủ khấn báo tổ tiên rằng cô gái này sẽ là con dâu của gia đình, mong tổ tiên chấp nhận Khấn xong, người ta yêu cầu

cô quỳ lạy tổ tiên và bố mẹ chàng trai

Trường hợp này, hầu hết các cô gái đều cự tuyệt, vì thế một người bên nhà trai lấy tay ấn đầu cô gái xuống Lễ nhập ma nhà xong, nhà trai chuẩn bị đồ lễ để hôm sau sang nhà gái xin cưới Trước đây, những người đàn ông của dòng họ làm “Tạo” (chúa đất, chúa mường) thường tự cho mình quyền lấy nhiều vợ Khi tạo đã thích cô gái nào thì tìm mọi cách để đưa cô gái đó về làm vợ Tục trộm vợ cũng là cách để “Tạo” thực hiện mong muốn của mình “Tạo” thường cho người cướp cô gái về nhà, mổ lợn, gà để cúng tổ tiên và trong trường hợp này, các cô gái thường phải cam chịu làm vợ của

“Tạo” vì nếu không, gia đình cô sẽ bị tạo gây khó dễ

Trang 30

Trong cả hai trường hợp, đám cưới chỉ diễn ra bên nhà trai Trước hôm cưới, nhà trai mang đùi lợn và một nén bạc trắng sang bồi thường cho nhà gái Hiện nay tục trộm vợ không có sự thỏa thuận là việc làm phạm pháp tuy không nhiều nhưng vẫn còn tồn tại

* Hôn nhân của những người ly hôn

Mặc dù với người Thái đen, ly hôn là một kết cục xấu và bị chê cười, nhưng hiện tượng đó đôi khi vẫn xảy ra Nếu không may gia đình đôi ngả thì thiệt thòi phần nhiều nghiêng về người phụ nữ Sau khi ly dị, họ khó có cơ hội đi bước nữa, mà đa phần là ở vậy nuôi con Người đàn ông bỏ vợ cũng bị người dân coi thường, dù có dễ dàng hơn trong việc đi bước nữa nhưng cũng khó lấy được một người thật sự hoàn hảo trong cộng đồng mình

Hôn nhân giữa những người đã ly hôn có nhiều điểm khác biệt về cách ứng xử với một đám cưới thông thường Những ứng xử đó biểu hiện rõ nét trong nghi lễ, nghi thức Mọi thủ tục được giảm thiểu tối đa Người ta chỉ đến thăm gia đình nhà gái một lần để bàn chuyện cưới Tuy vẫn nhờ người làm mối nhưng các nghi lễ ăn hỏi hay còn gọi là đi thăm tháng không được thực hiện Thường thì với những đám cưới kiểu này, đôi lứa đã quen biết và tự trao đổi, thống nhất mọi việc và tự quyết định là chính, còn hai bên gia đình gặp nhau cốt để biết mặt hoặc để thống nhất lại Đám cưới chỉ là một nghi lễ nho nhỏ để báo cáo tổ tiên và mời một số anh em, họ hàng, bạn bè và người thân quen trong bản đến uống rượu, chứng kiến thời khắc họ nên vợ thành chồng

Trường hợp đàn ông chưa vợ mà lấy phụ nữ góa thì chỉ cần nhờ người làm mối đến thưa chuyện, sau đó tổ chức đón dâu đưa về nhà trai làm lễ cưới Trong lễ cưới phải cúng báo ma nhà và nói rõ với tổ tiên là người sắp về làm dâu đã từng nhập ma nhà chồng trước Tục này có từ lâu đời Theo quan niệm của bà con nơi đây, khi chết, người đàn ông này sẽ phải ở một mình trong thế giới tổ tiên, bởi vì người đàn bà đó đã là ma của nhà chồng trước, linh hồn bà sau khi chết sẽ tìm về với người chồng đầu tiên

Hay hôn nhân giữa những người góa cũng được bà con coi là chuyện bình thường Tuy nhiên, trong trường hợp này, các nghi thức trong hôn nhân không tuân thủ đầy đủ như đối với trai tân lấy gái tân mà đơn giản hơn nhiều Nếu hai người đã quyết định tiến tới hôn nhân, nhà trai cũng nhờ ông bà mối đến nhà gái thưa chuyện và đặt vấn đề cưới, chứ không tổ chức ăn hỏi nữa Khi tổ chức đám cưới, phải thực hiện nghi thức cúng tổ tiên với bài cúng riêng

Trang 31

* Hôn nhân khác tộc người (ngoại hôn tộc người)

Hiện nay, hôn nhân giữa các nhóm Thái rất phổ biến Bên cạnh đó, còn có những cuộc hôn nhân giữa người Thái với người Kinh, Mường,… Nhưng đặc biệt rất hiếm thấy trường hợp hôn nhân giữa người Thái với người Mông Bà con giải thích,

do người Mông thường ở những bản trên cao, họ chỉ xuống chợ để trao đổi hàng hóa hay có việc liên quan đến thủ tục hành chính Họ hay đi theo nhóm, theo từng gia đình hoặc theo cặp đôi chứ ít khi đi riêng lẻ Họ sống khá khép kín, ít giao du với người khác tộc Chính những điều đó khiến cho việc kết hôn giữa người Mông và các nhóm Thái rất hạn chế

Tuy nhiên, về cơ bản, sự giao thoa văn hóa diễn ra rộng khắp không chỉ ở miền xuôi mà còn phổ biến ở miền núi, cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Qua đó có thể thấy nếp nghĩ cũ đã thay đổi; quan niệm về tộc người làm chủ hay người đến sau gần như không còn là vấn đề quan trọng Mà căn bản là các tộc người cùng chung sống, làm ăn

và xây dựng vùng đất này ngày càng phát triển, đem lại cuộc sống no đủ hơn

Hôn nhân giữa con trai người Kinh với con gái Thái chủ yếu diễn ra ở khu vực thị trấn hay một vài bản xung quanh thị trấn, bởi ở những khu vực này rất đông người Kinh sinh sống Đám cưới thường diễn ra theo tập quán của người Kinh, gồm lễ dạm ngõ, lễ ăn hỏi và lễ cưới, tuyệt nhiên không còn các lễ đi thăm nhà gái theo tháng Tuy nhiên, nhà trai vẫn phải tuân theo một số tập quán của người Thái như phải mời người làm mối đến dạm hỏi, đồ sính lễ khi đi hỏi và xin cưới phải có những chiếc khăn, áo, váy truyền thống của người Thái đen Bên cạnh đó, tục đón dâu vào lúc một giờ sáng vẫn được nhà gái yêu cầu thực hiện

Ở một số gia đình có thành viên kết hôn với người khác tộc đã nảy sinh xung đột văn hóa xoay quanh tập quán cưới xin Chẳng hạn, gia đình nhà gái người Thái muốn nhà trai người Kinh phải mang lễ vật sang thăm nhà gái hằng tháng để thắt chặt mối quan hệ giữa hai họ; nhưng nhà trai lại không biết tục lệ đó Thế nên, họ cảm thấy không được tôn trọng Đó là cảm giác chung của một số gia đình Thái làm thông gia với người Kinh Nguyên nhân có thể do nhà trai khác tộc nên không am hiểu tập quán của người Thái, hoặc do sống ở xa (huyện khác), điều kiện đi lại khó khăn, không thể qua lại hằng tháng như vậy Mặt khác, với người Kinh, hai nhà chỉ qua lại khi cần trao đổi về đám hỏi, đám cưới hoặc chỉ đến thăm nhau vào dịp lễ tết

Trang 32

Tục lệ Thái đưa dâu vào lúc nửa đêm, nhưng người Kinh lại chỉ đưa dâu vào ban ngày; đó cũng là một trở ngại khó thống nhất giữa hai họ, đón dâu Hơn nữa, hình thức ở rể một thời gian không được phía nhà trai đón nhận Có thể nói, sự khác biệt xuất phát từ văn hóa, tâm lý tộc người thường dẫn đến không ít khó khăn trong việc sắp xếp, tổ chức các nghi lễ Đôi khi, đem lại cảm giác thiếu thoải mái, khó xử, thậm chí sứt mẻ tình cảm giữa hai gia đình

Hôn nhân của người Thái đen trong xã hội truyền thống chứa đựng nhiều giá trị văn hóa Hôn nhân gồm nhận thức và hành vi ứng xử được xây dựng trên các nguyên tắc

và tâm lý tộc người Các nghi thức, nghi lễ trong hôn nhân độc đáo, đánh dấu mốc lớn trong chu kỳ đời người Các nghi lễ cưới xin hàm chứa nhiều giá trị về đạo đức, tâm lý, tình cảm, ứng xử xã hội; là dịp để các thành viên trong cộng đồng thắt chặt mối quan hệ

họ hàng, láng giềng Điều đó được minh chứng qua những tục lệ tốt đẹp, mang tính nhân bản cao, như tập quán tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong mọi mặt đời sống

Hiện nay, hôn nhân của người Thái là bức tranh đan xen giữa truyền thống và biến đổi; qua đó có thể dễ dàng nhận thấy “sự giằng xé” giữa cái cổ truyền và cái mới

Ấn tượng đầu tiên là cảm giác đầm ấm, đậm tình người, gắn bó cộng đồng toát lên từ cảnh bà con trong bản vận trang phục truyền thống ngồi kín trên nhà sàn uống rượu chúc mừng gia chủ có dâu hiền rể thảo

2.1.1.5 Tục ở rể

Khác với các dân tộc khác, người Thái đen huyện Sốp Cộp nói riêng và các vùng có người Thái đen sinh sống nói chung, khi chàng trai muốn kết hôn với người con gái mình yêu phải trải qua thời gian thử thách của bố mẹ vợ Tục lệ đó mang màu sắc đặc trưng và riêng biệt của người Thái đen với tên gọi là tục ở rể, tiếng Thái đen gọi là “Khươi Quản”

“Khươi Quản” của người Thái đen thể hiện tấm lòng của chàng rể mới muốn đề đáp công ơn của cha mẹ vợ đã nuôi dạy vợ mình lớn lên thành người Thời gia ở

“Quản” thường là 3 đến 4 năm nhưng song vì điều kiện hoàn cảnh khác nhau của từng gia đình mà thời gian này có thể được rút ngắn lại Gia đình nhà trai đã chọn ngày lành tháng tốt xin phép nhà gái và tiếp tục tiến hành các bước tiếp theo

Tục ở rể được tiến hành theo các bước sau:

Sau khi làm xong bước “To Pác” (ăn hỏi), ông mối chọn ngày lành tháng tốt đã cùng các bô lão và anh em trong họ dẫn chàng rể đến nhà bố mẹ vợ xin được làm rể ở “quản”

Trang 33

Khi đi gia đình nhà trai đã chuẩn bị đồ dùng tư trang cho chàng rể đầy đủ bao gồm: Hòm quần áo, chăn, màn, đệm, gối, dao, cuốc, súng, và một con trâu đực trưởng thành có sức cày đến buộc ở gầm nhà sàn bố mẹ vợ Tất cả những tư trang trên

do một đoàn thanh niên trai tráng gánh

Đi đến nhà bố mẹ vợ, bước lên gian “quản” đã có mẹ vợ và những người thuộc

họ phía “Lung Ta” đang chờ sẵn để đón con rể Ông mối dắt tay chàng rể đến trước bố

mẹ vợ và họ hàng làm lễ 3 lượt, nguyện làm con rể của gia đình và phụng dưỡng cha

mẹ đến suốt đời

Bố vợ đứng lên nâng con rể đứng dậy và đáp lời cầu khẩn:

“Nể nang nhiều cũng không biết đường cư xử Việc nào cần làm thì làm, cần đi thì đi

Con nòi Tạo ăn ở như Tạo Con loài rồng thì ăn ở như rồng

Lệ bản mường đã định ra rõ ràng Chúng tôi phận cha mẹ cũng đội ơn trời đất Không còn lời nhẽ thế này thế nọ nữa rồi Mọi điều đều tốt đẹp cả”

Nói dứt lời bố vợ sai người đón lấy đồ tư trang của chàng rể mang vào và đặt ở gian buồng phía “quản” để chàng trai bắt đầu quãng đời làm rể của mình

Thời gian ở rể lâu hay ngắn tùy thuộc vào việc làm, tính nết và sự thể hiện của chàng trai

Trong những năm thử thách người con trai chỉ được ăn chung, làm việc chung với cô gái Còn khi ngủ thì phải ngủ ở một chỗ riêng gần sàn quản (Khươi Quản) bởi

vì cô gái còn búi tóc sau gáy, chưa “Tẳng Cẩu” Nếu vi phạm (nhất là có mang) thì sẽ

bị phạt rất nặng theo luật lệ bản mường: Phạt trai 5 lạng bạc kèm theo rượu, trâu Phạt gái 5 lạng bạc kèm theo rượu trâu Trai mất thêm một lạng bạc kèm rượu, lợn cúng vía cho nhà gái “Lung Ta” Gái mất thêm một lạng bạc kèm rượu, lợn cúng vía cho chồng chưa cưới

Nếu cô gái đã có người dạm hỏi vẫn đứng núi này trông núi nọ, yêu người khác (nhất là khi có mang) thì phạt trai 15 lạng bạc, gái 15 lạng bạc Trai mất thêm 3 lạng bạc kèm theo rượu, lợn cúng vía cho nhà người con gái Gái trả của cho người chồng chưa cưới và mất thêm một lạng bạc kèm theo rượu, lợn để cúng vía cho chồng chưa cưới

Trang 34

Ngoài thời gian ở rể “Khươi Quản”, sau khi tổ chức lễ “cưới lên” đôi vợ chồng trẻ lại quay lại về nhà gái sinh sống, chàng trai tiếp tục ở rể, chăm chỉ lao động để đền đáp công ơn cha mẹ Từ thời gian này chàng trai đã được chung chăn, chung đệm với

vợ Ở rể kết thúc trong khoảng thời gian từ 3 đến 4 năm, khi đôi vợ chồng đã có từ 1 đến 2 con, gia đình nhà trai tổ chức lễ “cưới xuống” chính thức đón dâu về nhà chồng

Ngày nay, do thực tế đời sống chi phối, người con trai không thể ở rể như trước

vì họ có thể là cán bộ xã, cán bộ công chức và vì việc tách bản hoặc di dân Việc ở rể tùy thuộc vào hoàn cảnh có thể là một tuần hoặc một, hai tháng Dù nhiều thay đổi về hình thức nhưng các bước thực hiện giá trị văn hóa hết sức độc đáo, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa dân tộc Thái

2.1.1.6 Cư tru ́ sau hôn nhân

Sau một thời gian ở rể như hai gia đình thỏa thuận, nhà trai tổ chức lễ cưới đón dâu Theo quan niệm của người Thái đen đây mới là lễ cưới công nhận chính thức vợ chồng sau một thời gian chàng rể được thử thách bên nhà vợ Thời gian sống chung của đôi vợ chồng trẻ bên nhà chồng không cố định thời gian cụ thể Việc sống chung với gia đình chồng sau kết hôn là điều kiện thuận lợi để người con dâu nhanh chóng hoà nhịp và gắn kết tình cảm với các thành viên khác trong gia đình, củng cố quan hệ gia đình, thích nghi với văn hoá ứng xử của gia đình chồng, được bố mẹ chồng giúp đỡ thêm về vật chất, thời gian, kinh nghiệm sống

Việc ở chung kết thúc chỉ khi nào bố mẹ chồng cho rằng có đủ điều kiện kinh

tế, nhà ở, v.v…cho đôi trẻ ra ở riêng một cách thuận lợi nhất Vì ở riêng ngay sau khi cưới có thể sẽ khiến các cặp vợ chồng gặp khó khăn về kinh tế Do không phải luôn ở chung, ăn chung với gia đình nhà chồng nên vấn đề trách nhiệm của vợ chồng người con trưởng không còn quá nặng nề như trước Trên thực tế, việc chăm sóc bố mẹ và lo lắng công việc của gia đình, dòng họ thường rơi vào vợ chồng người con nào ở chung hoặc ở gần cha mẹ nhất, thậm chí, đó lại chính là vợ chồng của người con gái, người

mà theo quan niệm hôn nhân truyền thống là đã kết thúc mọi ràng buộc với gia đình cha mẹ đẻ sau khi kết hôn

Ngày đăng: 12/08/2017, 23:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Bốn (2012), Những biến đổi các giá trị văn hóa truyền thống trong gia đình Việt Nam hiện nay, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr.450 - 458 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những biến đổi các giá trị văn hóa truyền thống trong gia đình Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Văn Bốn
Nhà XB: Nxb Văn hóa Thông tin
Năm: 2012
3. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB. Sự thật
Năm: 2006
4. Gia đình Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Luận văn, đồ án, đề tài tốt nghiệp, Luanvan.net.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
5. Giáo trình: Nhân học về thân tộc, dòng họ, Hôn nhân và gia đình – Trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia thành phồ Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân học về thân tộc, dòng họ, Hôn nhân và gia đình
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh
6. Giữ gìn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc Tây Bắc (2001), NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc Tây Bắc
Tác giả: Giữ gìn và phát huy di sản văn hóa các dân tộc Tây Bắc
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2001
7. Khuất Thu Hồng (2015), Gia đình và hôn nhân Việt Nam thay đổi như thế nào, Tạp chí hôn nhân gia đình Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình và hôn nhân Việt Nam thay đổi như thế nào
Tác giả: Khuất Thu Hồng
Năm: 2015
8. Nguyễn Thị Hương, Những nhân tố tác động đến sự biến đổi của Gia đình Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ , Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn- Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nhân tố tác động đến sự biến đổi của Gia đình Việt Nam hiện nay
9. Vi Trọng Liên, (2002), Vài nét về người Thái ở Sơn La, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về người Thái ở Sơn La
Tác giả: Vi Trọng Liên
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2002
10. Ths. Nghiêm Thu Nga, (2014), Một số biến đổi của văn hóa gia đình Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, Tạp chí cộng sản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số biến đổi của văn hóa gia đình Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa
Tác giả: Ths. Nghiêm Thu Nga
Năm: 2014
11. Phạm Thị Kim Oanh, (2010), Hôn nhân và gia đình của người Thái ở huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, Luận án Tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hôn nhân và gia đình của người Thái ở huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La
Tác giả: Phạm Thị Kim Oanh
Năm: 2010
13. Sách giáo khoa Giáo dục công dân 10, (2015), Bộ Giáo dục và Đào tạo, NXB Giáo dục Việt Nam, Tái bản lần thứ 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa Giáo dục công dân 10, (2015)
Tác giả: Sách giáo khoa Giáo dục công dân 10
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2015
15. Cao Văn Thanh (chủ biên) (2004), Bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống của người Thái Bắc Trung Bô hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống của người Thái Bắc Trung Bô hiện nay
Tác giả: Cao Văn Thanh (chủ biên)
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
16. Tòng Văn Thảo, (2009), Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tộc người Thái ở Thành phố Sơn La trong xu thế hội nhập, Khóa luận tốt nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tộc người Thái ở Thành phố Sơn La trong xu thế hội nhập
Tác giả: Tòng Văn Thảo
Năm: 2009
17. Ngô Đức Thịnh – Cầm Trọng (2003), Luật tục Thái ở Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật tục Thái ở Việt Nam
Tác giả: Ngô Đức Thịnh – Cầm Trọng
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
19. Cầm Trọng, (1993), Tìm hiểu văn hóa dân tộc Thái ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa dân tộc Thái ở Việt Nam
Tác giả: Cầm Trọng
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1993
2. Lò Thị Cẩm Diệp (2010) Phong tục cưới xin của người Thái đen huyện Thuận Châu – Sơn La Khác
12. Lò Thị Phƣợng (2014), Tìm hiểu tục cưới xin truyền thống của người Thái đen ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Khác
14. Tài liệu Đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Sốp Cộp lần thứ II (2010-2015) Khác
18. Nguyễn Thị Thuận (2016), Hôn nhân và gia đình của người Khơ mú ở huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w