Các khái niệm trên mặc dù đã nêu ra được một số nét đặc trưng của hợpđồng tặng cho quyền sử dụng đất nhưng vẫn chưa đầy đủ, bởi vì: Hợp đồngtặng cho quyền sử dụng đất khi các bên đã thỏa
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của vioệc nghiên cứu đề tài
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là một trong những hợp đồngquan trọng của giao dịch dân sự nói chung, vì là một quan hệ dân sự phổ biếntrong cuộc sống của nhân dân ta và là một trong những phương thức pháp lýhữu hiệu giúp cho cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác xác lập và thựchiện việc chuyển quyền sử dụng đất nhằm thỏa mãn các nhu cầu trong sảnxuất kinh doanh và trong đời sống sinh hoạt hàng ngày
Trên phương diện lý luận, hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là mộtdạng của hợp đồng tặng cho tài sản Do tài sản trong hợp đồng này là quyền
sử dụng đất - một tài sản đặc biệt quan trọng, vì thế việc dịch chuyển nó thôngqua hợp đồng tặng cho được pháp luật quy định chặt chẽ hơn nhiều so vớiviệc tặng cho các tài sản thông thường khác
Xuất phát từ tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực nêu trên của hợpđồng tặng cho quyền sử dụng đất, Luật đất đai năm 2013 và Bộ luật Dân sựnăm 2005 đã quy định cụ thể, chi tiết, chặt chẽ và tương đối hoàn thiện vềviệc xác lập, thực hiện cũng như các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng tặngcho quyền sử dụng đất, tạo nên sự ổn định về quan hệ tặng cho quyền sử dụngđất trong giai đoạn hiện nay, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước
Tuy nhiên trên thực tế, việc tặng cho quyền sử dụng đất ở nước ta diễn
ra rất đa dạng, phong phú và trải qua nhiều thời kỳ khác nhau, mỗi thời kỳ cónhững nét riêng biệt của nó do sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan vàkhách quan, dẫn đến những diễn biến phức tạp Hiện nay, các tranh chấp vềhợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất diễn ra ngày càng nhiều và rất phức tạp,vẫn còn có những thắc mắc, những quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngượcnhau gây nên nhiều tranh luận, Vì vậy việc nghiên cứu một cách có hệ thống
về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất để làm rõ cơ sở lý luận và nguyêntắc giải quyết các tranh chấp về lĩnh vực này là một yêu cầu bức xúc, có tínhcấp thiết trong giai đoạn hiện nay
Trang 2Với lý do trên, nên em chọn "Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
" làm đề tài nghiên cứu niên luận để bảo đảm tính cấp thiết và tính thời sự của
vấn đề
2 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
a Mục đích nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm góp phần làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểmpháp lý và ý nghĩa của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, cơ sở pháp lýcủa việc xác lập, thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và thực tiễngiải quyết tranh chấp về vấn đề này; nhằm chỉ ra các nguyên nhân, nhữngmặt bất cập trong việc quy định pháp luật làm ảnh hưởng đến sự tồn tại vàphát triển của quan hệ tặng cho quyền sử dụng đất hiện nay Từ đó, đề xuấtmột số kiến nghị để hoàn thiện pháp luật nhằm góp phần tạo ra hành langpháp lý vững chắc trong quan hệ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
b Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Nghiên cứu các quy định của Luật đất đai năm 2013, Bộ luật dân sựnăm 2005 về vấn đề tặng cho quyền sử dụng đất
- Nghiên cứu việc tặng cho quyền sử dụng đất trên thực tế
- Nghiên cứu thực tiễn công tác xét xử của Tòa án qua các vụ án tranhchấp về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
- Đề xuất những kiến nghị để hoàn thiện các quy định pháp luật về hợpđồng tặng cho quyền sử dụng đất và nâng cao hiệu quả giải quyết các tranhchấp về vấn đề này
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
a Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Là những quy định của pháp luật về hợp đồng tặng cho quyền sử dụngđất; vấn đề thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất trên thực tế vàviệc giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực này
b Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Tặng cho quyền sử dụng đất là một vấn đề phức tạp và rộng lớn, có thểđược nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Trong phạm vi của bài niên
Trang 3luận, tôi chỉ tập trung nghiên cứu khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tặng choquyền sử dụng đất và các quy định của pháp luật về loại hợp đồng này.Nghiên cứu thực tiễn và giải quyết các tranh chấp về tặng cho quyền sử dụngđất của Tòa án nhân dân.
4 Phương pháp nghiên cứu:\
Cơ sở phương pháp luận trong việc nghiên cứu đề tài của luận văn làTriết học Mác – Lênin, dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,ngoài ra còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: phântích, so sánh, tổng hợp, thống kê Để làm rõ những nội dung cơ bản, chủ yếucủa hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, để thấy được những mặt tích cực
và hạn chế trong việc quy định của pháp luật về vấn đề này, từ đó kiến nghịcác giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về tặng cho quyền
sử dụng đất trong giai đoạn hiện nay
5 Kết cấu của niên luận.
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Khái quát chung về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất Chương 2: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định hiện hànhcủa pháp luật Việt Nam
Chương 3 : Thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về hợpđồng tặng cho quyền sử dụng đất và hướng hoàn thiện pháp luật
Trang 4NỘI DUNG CHƯƠNG I.KHÁI QUÁT CHUNG HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN
SỬ DỤNG ĐẤT 1.1.Khái niệm và đặc điểm Hợp dồng tặng cho quyền sử dụng đất
1.1.1.Khái niệm về Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
Trong cuộc sống hàng ngày, để thỏa mãn các nhu cầu trong sản xuất,tiêu dùng con người thường tặng cho nhau những tài sản nhất định Cũngnhư các hợp đồng thông dụng khác, tặng cho tài sản chỉ làm phát sinh quan hệhợp đồng khi bên được tặng cho nhận tài sản Như vậy hợp đồng tặng cho làmột hợp đồng thực tế và không có tính đền bù
Với các đặc điểm như vậy nên khái niệm về hợp đồng tặng cho tài sảnđược quy định tại Điều 465 BLDS năm 2005 như sau:
"Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bêntặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặngcho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận"
Theo quy định của pháp luật thì đối tượng của hợp đồng tặng cho cóthể là động sản, bất động sản hoặc quyền tài sản, mà quyền sử dụng đất cũng
là một loại tài sản nên hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cũng là một dạngcủa hợp động tặng cho tài sản Tuy nhiên do tài sản trong hợp đồng này làquyền sử dụng đất - một tài sản đặc biệt quan trọng nên việc dịch chuyển nóthông qua hợp đồng tặng cho được pháp luật quy định chặt chẽ hơn nhiều sovới các tài sản khác
Để đưa ra một khái niệm toàn diện và đầy đủ về hợp đồng tặng choquyền sử dụng đất, cần xem xét hợp đồng này ở nhiều phương diện khác nhaucùng với các tính chất và đặc điểm của nó Trước hết, theo phương diện kháchquan thì : Pháp luật về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là sự quy địnhcủa Nhà nước về việc chuyển dịch quyền sử dụng đất từ bên tặng cho sangbên được tặng cho
Theo phương diện chủ quan thì: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
là một giao dịch dân sự, trong đó các bên tự trao đổi, thỏa thuận với nhau về
Trang 5việc tặng cho quyền sử dụng để làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sựnhất định nhằm thỏa mãn các nhu cầu sử dụng đất 1
Mặt khác,khái niệm về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được cácnhà khoa học Việt Nam nêu tại Điều 722 - BLDS năm 2005 như sau:
"Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bêntheo đó bên tặng cho giao quyền sử dụng đất cho bên được tặng cho màkhông yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận theo quy định của
Bộ luật này và pháp luật về đất đai"
Các khái niệm trên mặc dù đã nêu ra được một số nét đặc trưng của hợpđồng tặng cho quyền sử dụng đất nhưng vẫn chưa đầy đủ, bởi vì: Hợp đồngtặng cho quyền sử dụng đất khi các bên đã thỏa thuận và thực hiện theo đúngyêu cầu của pháp luật về đất đai thì được Nhà nước thừa nhận và được coi là
có hiệu lực, do đó nó là cơ sở pháp lý xác định việc dịch chuyển quyền sửdụng đất từ bên tặng cho sang bên được tặng cho một cách hợp pháp và làmột căn cứ để xác định quyền sử dụng đất của bên được tặng cho
Từ các phân tích ở trên và qua việc xác định các đặc điểm của hợpđồng tặng cho quyền sử dụng đất, có thể đưa ra một khái niệm khoa học vềhợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất như sau:
Hợp đồng tặng cho quyền SDĐ là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên tặng cho và bên được tặng cho, theo đó bên tặng cho giao quyền SDĐ cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận theo quy định của pháp luật về đất đai Đồng thời nó còn là một phương tiện pháp lý quan trọng bảo đảm cho việc dịch chuyển quyền SDĐ từ bên tặng cho sang bên nhận tặng cho nhằm thỏa mãn các nhu cầu về sử dụng đất.
1.1.2 Đặc điểm pháp lý của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là hợp đồng tặng cho tài sản, dovậy nó cũng có đầy đủ các đặc điểm của hợp đồng tặng cho Hợp đồng tặngcho quyền sử dụng đất có các đặc điểm pháp lý sau đây:
•Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là hợp đồng thực tế
1 TS Đinh Trung Tụng (2001), "Một số vấn đề về hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam", Thông tin khoa học pháp lý (11+12), Viện nghiên cứ Khoa học Pháp lý.
Trang 6Cũng như các hợp đồng tặng cho tài sản khác, hợp đồng tặng choquyền sử dụng đất là hợp đồng thực tế, được thể hiện khi bên được tặng chonhận được quyền sử dụng đất từ bên tặng cho chuyển giao theo quy định phápluật, nghĩa là tại thời điểm đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền thì bên được tặng cho được coi là nhận được quyền sử dụngđất từ bên tặng cho chuyển giao, do đó hợp đồng tặng cho mới có hiệu lực vàquyền của bên được tặng cho mới phát sinh Do đặc điểm này của hợp đồngtặng cho mà mọi việc thỏa thuận về việc tặng cho quyền sử dụng đất đều chưa
có hiệu lực khi các bên chưa chuyển giao quyền sử dụng đất cho nhau
Đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thì đối tượng của hợpđồng chính là quyền sử dụng đất - một loại tài sản đặc biệt nên việc chuyển
nó thông qua hợp đồng tặng cho được pháp luật quy định chặt chẽ hơn vớiviệc tặng cho các tài sản khác Theo quy định pháp luật thì không phải ai cóquyền sử dụng đất đều có quyền tặng cho quyền sử dụng đất cho bất cứ ngườinào, đồng thời không phải ai cũng có quyền nhận quyền sử dụng đất và khôngphải loại đất nào cũng được tặng cho Việc tặng và nhận tặng cho quyền sửdụng đất phải tuân thủ theo quy định pháp luật về đất đai, vì vậy hình thứccủa hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, cócông chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật và có hiệu lực tại thờiđiểm đăng ký quyền sử dụng đất đai cơ quan Nhà nước có thẩm quyền Nhưvậy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất chỉ có hiệu lực từ thời điểm đăng
ký tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, đây chính là một nét riêng của loạihợp đồng này
Đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thì trên thực tế nhiều khibên tặng cho đã lập văn bản tặng cho quyền sử dụng đất và giao đất cho bênđược tặng cho khai thác, sử dụng nhưng chưa đăng ký tại cơ quan có thẩmquyền thì hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất này vẫn chưa có hiệu lực nênchưa làm phát sinh quyền của bên được tặng cho và chưa được Nhà nướccông nhận về quyền sử dụng đất, do vậy bên tặng cho vẫn có quyền đòi lạiquyền sử dụng đất đã giao
Trang 7•Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là hợp đồng không có đền bù
Đối với hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thì tiền đề hình thành làmối quan hệ tình cảm giữa các chủ thể, trên cơ sở đó, các chủ thể thiết lập vớinhau hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất để giúp đỡ nhau nhằm thỏa mãnnhu cầu về sử dụng đất, điều này thể hiện ở chỗ: bên tặng cho chuyển giao tàisản và quyền sở hữu tài sản cho bên được tặng cho, còn bên được tặng chokhông có nghĩa vụ trả lại cho bên tặng cho bất kỳ lợi ích nào Vì vậy hợp đồngtặng cho quyền sử dụng đất là hợp đồng không có đền bù và thường đượcgiao kết trên cơ sở tình cảm và tinh thần tương thân tương ái giữa nhữngngười có quan hệ họ hàng thân thuộc hoặc quen biết nhau Chính yếu tốkhông có đền bù đã tạo cho hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là hợp đồngđặc biệt trong các hợp đồng dân sự
1.2 Ý nghĩa của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
Mỗi chế độ xã hội khác nhau có quy định pháp luật khác nhau về hợpđồng tặng cho quyền sử dụng đất, nhưng tựu trung lại thì hợp đồng tặng choquyền sử dụng đất được hình thành và xây dựng trên cơ sở quan hệ tình cảmgiữa con người với nhau Xuất phát từ mối quan hệ tình cảm, con người tặngcho nhau quyền sử dụng đất để khai thác, đáp ứng các nhu cầu sản xuất, kinhdoanh và sinh hoạt hàng ngày Với mục đích trên nên hợp đồng tặng choquyền sử dụng đất có các ý nghĩa sau:
•Nâng cao tình đoàn kết và tinh thần tương thân tương ái trong nhân dân
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa con người với nhau thườngđược xuất phát từ các mối quan hệ tình cảm nhất định, có thể đó là mối quan
hệ họ hàng, ruột thịt , cũng có thể đó là mối quan hệ quen biệt như bạn bèhoặc những người trong cùng làng, xã tặng quyền sử dụng đất cho nhau Việctặng cho quyền sử dụng đất này dù được hình thành từ bất kỳ mối quan hệnào thì nó cũng nhằm giúp đỡ nhau trong cuộc sống Chính vì lẽ đó mà nó có
ý nghĩa xã hội sâu sắc, nó nâng cao tình đoàn kết và phát huy tinh thần tươngthân tương ái trong nhân dân
Trang 8•Góp phần thúc đẩy sự phát triển sản xuất, kinh doanh
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Nhà nước quy định và thừanhận nên mọi người đã coi hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là mộtphương tiện pháp lý quan trọng, đảm bảo cho việc dịch chuyển quyền sử dụngđất từ người này sang người khác nhằm đáp ứng các nhu cầu trong sản xuất,kinh doanh Chính yếu tố này đã thúc đẩy con người tặng cho nhau quyền sửdụng đất để khai thác, sử dụng đất một cách hợp lý và có hiệu quả Mặt kháckhi Nhà nước công nhận hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có hiệu lực,tức là Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của bên được tặngcho, điều đó sẽ thúc đẩy bên được tặng cho gắn bó hơn với đất đai mà họđược sử dụng, họ sẽ tích cực đầu tư công sức để cải tạo đất đai đồng thời rasức tăng gia sản xuất hoặc đẩy mạnh kinh doanh trên phần đất của mình Nhưvậy với việc quy định của pháp luật về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
đã đáp ứng được nhu cầu trong sản xuất, kinh doanh của nhân dân, nó điềuphối và thúc đẩy việc sử dụng đất một cách hợp lý và có hiệu quả, góp phầnlàm cho sản xuất, kinh doanh ngày càng phát triển
•Là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp về tặng cho quyền sử dụng đất
Mặc dù Nhà nước thừa nhận người sử dụng đất hợp pháp có quyền tặngcho người khác quyền sử dụng đất của mình nhưng phải theo đúng các quyđịnh của pháp luật về đất đai, tuy nhiên trên thực tế có một số người tặng chonhau quyền sử dụng đất nhưng không tiến hành làm các thủ tục chuyển quyền
mà vẫn giao đất cho nhau sử dụng và trong quá trình sử dụng phát sinh cácmâu thuẫn dẫn đến tranh chấp về quyền sử dụng đất
Với các tranh chấp này thường được kiện ra Tòa án và cơ quan Tòa áncăn cứ vào các quy định của pháp luật về hợp đồng tặng cho quyền sử dụngđất để giải quyết, nếu giữa hai bên tranh chấp đã làm hợp đồng và hoàn tấtcác thủ tục về tặng cho quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luậtthì bên được tặng cho có quyền sử dụng đất vì hợp đồng tặng cho quyền sửdụng đất đã có hiệu lực pháp luật, ngược lại nếu hai bên chưa tiến hành hoàn
Trang 9tất hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật thìquyền sử dụng đất chưa được chuyển giao cho bên được tặng cho nên bênđược tặng cho chưa được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất này Nhưvậy hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là cơ sở pháp lý để Tòa án căn cứvào đó giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
•Tạo sự thuận lợi cho Nhà nước trong việc quản lý đất đai
Sự chuyển dịch quyền sử dụng đất từ người này sang người khác thôngqua hợp đồng tặng cho được pháp luật quy định tương đối chặt chẽ, với sựquy định cụ thể về điều kiện, nội dung và hình thức của hợp đồng tặng choquyền sử dụng đất, Nhà nước đã kiểm soát và theo dõi được sự dịch chuyểnquyền sử dụng đất của các chủ thể tặng cho nhau Theo quy định của phápluật thì việc tặng cho quyền sử dụng đất giữa các chủ thể phải được lập thànhvăn bản, có công chứng hoặc chứng thực và phải được đăng ký tại cơ quanNhà nước có thẩm quyền Thông qua việc đăng ký này, Nhà nước theo dõi,kiểm soát được các biến động về việc sử dụng đất, nắm được tình hình tặngcho quyền sử dụng đất giữa các chủ thể trong xã hội, đồng thời phát hiệnđược việc trốn thuế của các chủ thể khi chuyển nhượng đất cho nhau nhưnglại ẩn dưới dạng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, từ đó có các biện phápquản lý đất đai một cách chặt chẽ, khoa học
Trang 10CHƯƠNG 2.HỢP ĐỒNG TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THEO
QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM
2.1 Chủ thể và đối tượng của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
2.1.1 Chủ thể của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
2.1.1.1 Điều kiện của chủ thể.
Vì quyền sử dụng đất là một loại tài sản đặc biệt nên người sử dụng đấtphải đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, do vậychủ thể của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất không những phải có đầy
đủ các điều kiện mà pháp luật quy định đối với chủ thể của một giao dịch dân
sự thông thường mà còn phải có các điều kiện chặt chẽ khác Theo quy địnhtại điểm a, khoản 1, Điều 122, BLDS năm 2005 thì người tham gia giao dịchphải có năng lực hành vi dân sự, đây là một trong những điều kiện bắt buộc
để giao dịch dân sự có hiệu lực Do đó đối với chủ thể tham gia giao dịch tặngcho quyền sử dụng đất phải là người có năng lực hành vi dân sự
Đối với cá nhân khi tham gia vào giao dịch tặng cho quyền sử dụng đấtthì tư cách chủ thể của nó phải được xác định thông qua năng lực hành vi dân
sự Tại Điều 17 BLDS năm 2005 quy định: "Năng lực hành vi dân sự của cánhân là khả năng của cá nhân đó bằng hành vi của mình xác lập, thực hiệnquyền, nghĩa vụ dân sự".Như vậy theo quy định của pháp luật thì chủ thểtham gia giao dịch tặng cho quyền sử dụng đất phải là người có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ (người từ đủ 18 tuổi trở lên và có trí não phát triển bìnhthường), còn những người chưa thành, người mất năng lực hành vi dân sự,người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự khi tham gia quan hệ hợp đồng tặngcho quyền sử dụng đất đều phải thông qua người đại diện theo quy định củapháp luật
Đối với pháp nhân (chủ yếu là các tổ chức kinh tế) khi tham gia vàoquan hệ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thì phải thỏa mãn điều kiện vềchủ thể được quy định tại Điều 84 -BLDS năm 2005: Được thành lập hợppháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác
và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; Nhân dân mình tham gia các quan hệ
Trang 11pháp luật một cách độc lập Đồng thời việc tham của pháp nhân vào quan hệhợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất phải thông qua người đại diện của phápnhân đó (đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền) Người đại diện xác lập,thực hiện giao dịch dân sự nhân danh người được đại diện, các quyền, nghĩa
vụ do người đại diện xác lập làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của pháp nhân,tuy nhiên pháp nhân chỉ được tham gia quan hệ hợp đồng tặng cho quyền sửdụng đất theo đúng quy định của pháp luật
Đối với hộ gia đình, quyền sử dụng đất hợp pháp của hộ gia đình chính
là tài sản chung của hộ gia đình đó vì thế khi tham gia vào quan hệ tặng choquyền sử dụng đất thì hộ gia đình phải có năng lực chủ thể Năng lực chủ thểcủa hộ gia đình có những đặc điểm sau:
+ Năng lực pháp luật và năng lực hành vi của hộ gia đình phát sinhđồng thời với việc hình thành hộ gia đình với tư cách chủ thể
+ Năng lực chủ thể của hộ gia đình do pháp luật quy định và có tínhchất hạn chế trong một số lĩnh vực (Điều 106 - BLDS năm 2005)
Khi hộ gia đình tham gia quan hệ tặng cho quyền sử dụng đất với tưcách là bên tặng cho thì phải được các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên trong
hộ gia đình đồng ý và ký tên vào hợp đồng đây là một quy định trong việcđịnh đoạt tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình2
Ngoài các quy định về năng lực hành vi của người tham gia hợp đồngtặng cho quyền sử dụng đất thì theo quy định tại điểm c, Điều 122 BLDS năm
2005 người tham gia hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất phải hoàn toàn tựnguyện, nó thể hiện ý chí của các bên không bị ràng buộc hoặc chịu tác độngcủa bất kỳ một yếu tố khách quan nào trong việc tặng cho và nhận tặng choquyền sử dụng đất
Ngoài các quy định trên, pháp luật còn quy định về điều kiện cụ thể củamỗi bên trong việc tặng cho quyền sử dụng đất:
Điều kiện đối với bên tặng cho quyền sử dụng đất
2 Nguyễn Mạnh Bách (1995), Pháp luật về hợp đồng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Trang 12Theo quy định tại Khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai 2013 thì người sửdụng đất có các điều kiện sau sẽ được thực hiện quyền tặng cho quyền sửdụng đất :
Có giấy chứng nhận trừ trường hợp quy định tại điểm b Khoản 3 Điều
186 đối với người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài
Khi có giấy chứng nhận thì người sử dụng đất được Nhà nước bảo hộquyền và lợi ích hợp pháp, là phương tiện để người sử dụng đất thực hiệnquyền của mình khi tiến hành tặng cho quyền sử dụng đất Trong trường hợpngười sử dụng đất chưa có giấy chứng nhận nhưng có một trong các loại giấy
tờ về quyền sử dụng đất được quy định tại khoản 1, 2 và 3 Điều 100 Luật đấtđai năm 2013 thì cũng được tặng cho quyền sử dụng đất nhưng quyền tặngcho này chỉ được thực hiện đến hết ngày 30/6/2007, kể từ ngày 01/7/2007 trở
đi muốn tặng cho quyền sử dụng đất thì buộc phải có giấy chứng nhận
Đất không có tranh chấp
Để bảo vệ quyền lợi cho bên nhận tặng cho quyền sử dụng đất và đảmbảo trật tự xã hội, pháp luật đất đai quy định chỉ những thửa đất không xảy ratranh chấp mới được phép tặng cho quyền sử dụng đất, còn những thửa đấtxảy ra tranh chấp thì sau khi giải quyết xong mọi mâu thuẫn, bất đồng giữacác bên mới được tiến hành tặng cho quyền sử dụng đất Nói tóm lại khi tiếnhành tặng cho quyền sử dụng đất thì thửa đất của bên tặng cho phải là đấtkhông có tranh chấp
Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án
Đây là một quy định nhằm đảm bảo quyền lợi cho người được thi hành
án, đồng thời cũng là biện pháp bảo đảm tài sản giúp cơ quan Thi hành ántriển khai việc thi hành bản án được tốt hơn, ngoài ra nó còn là biện pháp đểngăn chặn việc tẩu tán tài sản của người thi hành án.Mặt khác, quyền sử dụngđất này là tài sản bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của người sử dụng đất.Cho nên chỉ được tặng cho quyền sử dụng đất khi quyền sử dụng đất đókhông bị kê biên để đảm bảo thi hành án
Trang 13Đất đang trong thời hạn sử dụng
"Thời hạn sử dụng đất" là quy định của Nhà nước đặt ra buộc người sửdụng đất phải tuân theo và chỉ được thực hiện các quyền trong thời hạn này.Như vậy người sử dụng đất chỉ được thực hiện quyền tặng cho quyền sử dụngđất trong thời hạn sử dụng đất, khi hết thời hạn thì người sử dụng đất có thểđược Nhà nước tiếp tục giao đất, cho thuê đất nếu có nhu cầu sử dụng tiếp vàchấp hành đúng các quy định của pháp luật đất đai hoặc cũng có thể bị Nhànước thu hồi đất
Bên cạnh điều kiện chung đối với bên tặng cho quyền sử dụng đất như
đã nêu thì pháp luật còn quy định điều kiện khác đối với bên tặng cho quyền
sử dụng đất :
•Hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống xen kẽ trong phân khu bảo vệnghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng nhưng chưa cóđiều kiện chuyển ra khỏi phân khu đó thì chỉ được chuyển nhượng, tặng choquyền sử dụng đất ở, đất rừng kết hợp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôitrồng thủy sản cho hộ gia đình, cá nhân sinh sống trong phân khu đó
•Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất ở, đất sản xuất nôngnghiệp trong khu vực rừng phòng hộ thì chỉ được chuyển nhượng, tặng choquyền sử dụng đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân đangsinh sống trong khu vực rừng phòng hộ đó
•Hộ gia đình, cá nhân là dân tộc thiểu số sử dụng đất do Nhà nướcgiao đất theo chính sách hỗ trợ của Nhà nước thì được chuyển nhượng, tặngcho quyền sử dụng đất sau 10 năm, kể từ ngày có quyết định giao đất theoquy định của Chính phủ
Điều kiện đối với bên nhận tặng cho quyền sử dụng đất
Để đưa ra các điều kiện đối với bên nhận tặng cho quyền sử dụng đất,cần phân thành các nhóm chủ thể của bên nhận tặng cho quyền sử dụng đấtnhư sau:
•Nhóm thứ nhất bao gồm: Cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư, Nhànước
Trang 14Pháp luật chưa có quy định cụ thể về điều kiện của các chủ thể này trong việcnhận tặng quyền sử dụng đất, chỉ có tại điểm c khoản 1 Điều 169 Luật Đất đai 2013quy định quyền nhận tặng cho quyền sử dụng đất của cá nhân, hộ gia đình và cộngđồng dân cư theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 và điểm e khoản 1 Điều 179Luật này, nhưng đây chỉ là một quy định chung về quyền nhận tặng cho quyền sửdụng đất của cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng dân cư chứ không đề ra các điều kiện
cụ thể của các chủ thể này trong việc nhận tặng cho quyền sử dụng đất
•Nhóm thứ hai bao gồm: Tổ chức, người Việt Nam định cư ở nướcngoài
Những chủ thể này chỉ được nhận tặng cho quyền sử dụng đất trongnhững trường hợp mà pháp luật cho phép, theo quy định tại điểm e khoản 1Điều 179 Luật đất đai 2013: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc cácđối tượng có quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở thìđược nhận quyền sử dụng đất thông qua nhận tặng cho nhà ở gắn liền vớiquyền sử dụng đất, còn tổ chức được nhận quyền sử dụng đất thông qua nhậntặng cho theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Luật đất đai 2013
Tuy nhiên pháp luật cũng quy định về các trường hợp mà tổ chức , cánhân, hộ gia đình,cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài,doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được nhận tặng cho quyền sửdụng đất :
•Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo,người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất đốivới trường hợp mà pháp luật không cho phép chuyển nhượng, tặng cho quyền
sử dụng đất
•Tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đấttrồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân, trừtrường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
Trang 15•Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp khôngđược nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa.
•Hộ gia đình, cá nhân không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng choquyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ, trongphân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặcdụng, nếu không sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đó
Như vậy đối với các quy định của pháp luật có thể thấy: Cá nhân,
hộ gia đình, cộng đồng dân cư được phép nhận tặng cho quyền sử dụng đất,trừ những trường hợp mà pháp luật nghiêm cấm Với người Việt Nam định cưnước ngoài và các tổ chức trong nước có quyền nhận tặng cho quyền sử dụngđất trong những trường hợp pháp luật cho phép,đồng thời trừ những trườnghợp pháp luật cấm
Tóm lại: Chủ thể của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất phải là
những người có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, đó là những ngườiphải được pháp luật cho phép hoặc không cấm trong việc tham gia quan hệtặng cho quyền sử dụng đất và phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, phảihoàn toàn tự nguyện
+Tổ chức sự nghiệp công lập tự chủ tài chính được Nhà nước cho thuêđất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê mà tiền thuê đất đã trảkhông có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì có quyền tặng cho quyền sửdụng đất theo quy định pháp luật
Trang 16+ Tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất trước ngày trước ngày01/07/2004 mà đã trả tiền thuê đất cho cả thời gian thuê hoặc đã trả trước tiềnthuê đất cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhấtnăm năm thì có quyền tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định của phápluật trong thời hạn đã trả tiền thuê đất
+ Tổ chức kinh tế đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nôngnghiệp trong trường hợp không chuyển mục đích sử dụng đất hoặc chuyểnmục đích sử dụng đất mà thuộc trường hợp được Nhà nước giao đất có thutiền sử dụng đất ,cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuêthì có quyền tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật
+ Tổ chức kinh tế nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có nguồngốc do Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất hoặc Nhà nước cho thuê đất trảtrước tiền một lần cho cả thời gian thuê mà tiền sử dụng đất ,tiền thuê đất đãtrả không có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì có quyền tặng cho quyền
sử dụng đất theo quy định pháp luật về đất đai
+ Tổ chức kinh tế sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyềncho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất không thu tiền sử dụng sang đất
có thu tiền sử dụng hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thờigian thuê thì có quyền tặng cho quyền sử dụng đất
+ Tổ chức kinh tế nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của hộ giađình, cá nhân mà đó không phải là đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuêđất hằng năm; nhận góp vốn của tổ chức kinh tế khác mà đất đó có nguồngốc do Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất hoặc được Nhà nước cho thuêthu tiền thuê một lần cho cả thời gian thuê thì có quyền tặng cho quyền sửdụng đất theo quy định pháp luật
+ Tổ chức kinh tế được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lầncho cả thời gian thuê để đầu tư xây dựng công trình ngầm thì có quyền tặngcho quyền sử dụng đất cho Nhà nước; tặng cho cộng đồng dân cư để xâydựng các công trình phục vụ lợi ích chung của cộng đồng, tặng cho nhà tìnhnghĩa gắn liền với đất theo quy định của pháp luật
Trang 17•Đối với hộ gia đình, cá nhân:
+ Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giaotrong hạn mức; đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đấttrả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, được Nhà nước công nhậnquyền sử dụng đất; đất nhận chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho,nhận thừa kế thì có quyền tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước; tặngcho cộng đồng dân cư để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung củacộng đồng, tặng cho nhà tình nghĩa gắn liền với đất theo quy định của phápluật; tặng cho quyền sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân hoặc người ViệtNam định cư ở nước ngoài thuộc đối tượng quy định theo quy định pháp luật
+ Hộ gia đình, cá nhân thuê đất, thuê lại đất trả tiền thuê đất một lầncho cả thời gian thuê trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuấtthì có quyền tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật
+ Hộ gia đình cá nhân sử dụng đất được cơ quan Nhà nước có thẩmquyền cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất không thu tiền sang đất
có thu tiền hoặc thuê đất thu tiền đất một lần cho cả thời gian thuế thì cóquyền tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật
•Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài :
+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư tại Việt Nam đượcNhà nước Việt Nam giao đất có thu tiền sử dụng đất có quyền tặng cho quyền
sử dụng đấttheo quy định pháp luật
+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được nhận chuyển nhượngquyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất,khu công nghệ cao, khu kinh tế và có quyền tặng cho quyền sử dụng đất theoquy định
+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài thuê đất, lại đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khuchế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế trong trường hợp trả tiền thuê đất,thuê lại đất một lần cho cả thời gian thuê, thuê lại thì có quyền tặng cho quyền
sử dụng đất
Trang 18+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng có quyền
sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở gắn liền với quyền sửdụng đất ở tại Việt Nam có quyền chuyển quyền sử dụng đất ở khi tặng chonhà ở cho tổ chức,cá nhân trong nước,người Việt Nam định cư ở nước ngoàithuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam , tặng cho nhà ở gắn liền vớiquyền sử dụng đất cho Nhà nước ,cộng đồng dân cư, nhà tình nghĩa
•Đối với Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài :
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có sử dụng đất được hìnhthành do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của doanh nghiệp Việt Nam trong trường hợp hình thành do nhận chuyển nhượng cổ phần là doanhnghiệp mà bên Việt Nam chiếm tỷ lệ cổ phần chi phối theo quy định của phápluật về doanh nghiệp thì doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có quyềntặng cho quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật
+ Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuê đất, thuê lại đất trongkhu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khukinh tế trong trường hợp trả tiền thuê đất, thuê lại đất một lần cho cả thời gianthuê, thuê lại thì có quyền tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định của phápluật
•Đối với Doanh nghiệp liên doanh
+ Doanh nghiệp liên doanh giữa tổ chức, cá nhân nước ngoài, ngườiViệt Nam định cư ở nước ngoài với tổ chức kinh tế mà tổ chức kinh tế gópvốn bằng quyền sử dụng trong trường hợp đất của tổ chức kinh tế góp vốn doNhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lầncho cả thời gian thuê mà tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đã nộp không cónguồn gốc từ ngân sách nhà nước hoặc đất của tổ chức kinh tế góp vốn donhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất không phải là đất thuê của Nhà nướctrả tiền thuê đất hàng năm mà tiền đã trả cho việc nhận chuyển nhượng không
có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước thì doanh nghiệp có quyền tặng choquyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật
Trang 19+ Doanh nghiệp nhà nước được Nhà nước cho thuê đất trước ngày 01tháng 7 năm 2004 mà được sử dụng giá trị quyền sử dụng đất như ngân sáchnhà nước cấp cho doanh nghiệp, không phải ghi nhận nợ và không phải hoàntrả tiền thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai để góp vốn liên doanhvới tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài thì doanh nghiệp liên doanh cóquyền tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, giá trị quyền
sử dụng đất là phần vốn của Nhà nước đóng góp vào doanh nghiệp liêndoanh
+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất cóthu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gianthuê mà góp vốn bằng quyền sử dụng đất với tư cách là tổ chức kinh tế trongnước vào liên doanh với tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài thì doanhnghiệp liên doanh có quyền tặng cho theo quy định của pháp luật
Chủ thể là bên nhận tặng cho quyền sử dụng đất
•Nhà nước: Là đại diện chủ sở hữu, thực hiện quản lý thống nhất toàn
bộ đất đai của cả nước, vì vậy Nhà nước là chủ thể đặc biệt có quyền nhậntặng cho quyền sử dụng đất từ các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức kinh tế hayngười Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền mua nhà ở gắn liền vớiquyền sử dụng đất ở tại Việt Nam Như vậy Nhà nước là một chủ thể của hợpđồng tặng cho quyền sử dụng đất với tư cách là bên nhận tặng cho quyền sửdụng đất
•Hộ gia đình, cá nhân: pháp luật đã thừa nhận hộ gia đình, cá nhân làmột trong những chủ thể được nhận tặng cho quyền sử dụng đất theo điểm ckhoản 1 Điều 169 Luật đất đai 2013
•Cộng đồng dân cư: được nhận tặng cho quyền sử dụng đất của tổchức kinh tế, hộ gia đình và cá hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài,Doanh nghiệp liên doanh, Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo quyđịnh pháp luật tặng cho để xây dựng các công trình phục vụ lợi ích chung củacộng đồng Như vậy cộng đồng dân cư cũng được pháp luật thừa nhận là chủthể được nhận tặng cho quyền sử dụng đất
Trang 20•Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ởtại Việt Nam được nhận tặng cho nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở
•Đối với tổ chức trong nước cũng là chủ thể được nhận tặng cho quyền
sử dụng đất theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 và điểm e khoản 1Điều 179 Luật Đất đai 2013
2.1.2 Đối tượng của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
Đối tượng của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất phải là quyền sửdụng đất, tuy nhiên không phải quyền sử dụng đất nào cũng trở thành đốitượng của hợp đồng tặng cho mà chỉ những quyền sử dụng đất không bị phápluật cấm tặng cho mới là đối tượng của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.Theo quy định của Luật đất đai 2013: Đối tượng của hợp đồng tặng choquyền sử dụng đất là quyền sử dụng đất nông nghiệp quyền sử dụng đất ở,quyền sử dụng đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp ngoại trừ nhữngquyền sử dụng đất bị hạn chế trong các điều kiện được quy định tại Điều
191, Điều 192 Luật Đất đai 2013
Như vậy không phải bất cứ ai có quyền sử dụng đất đều có quyền tặngcho quyền sử dụng đất cho bất cứ người nào và không phải bất cứ người nàocũng có quyền nhận tặng cho quyền sử dụng đất, mà việc tặng cho và nhậntặng cho quyền sử dụng đất phải tuân theo các quy định của pháp luật
2.2 Hình thức của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất
Hình thức của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là cách thức biểuhiện nội dung của hợp đồng, thông qua đó mà các chủ thể, những người khác
và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thấy rõ được nội dung mà các bên thamgia trong hợp đồng đã cam kết, thỏa thuận, đồng thời còn giúp cơ quan Nhànước có thẩm quyền kiểm tra, kiểm soát được hợp đồng tặng cho quyền sửdụng đất có hợp pháp hay không Hình thức của hợp đồng tặng cho quyền sửdụng đất còn là cơ sở khẳng định các bên đã xác lập hợp đồng, xác định rõquyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng này, vì vậy nó còn là chứng cứquan trọng trong tố tụng dân sự
Trang 21Mặt khác,hình thức của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cũng làmột trong những hình thức chuyển quyền sử dụng đất, do đó theo quy định tạiĐiều 689 BLDS 2005: Hình thức của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đấtphải thỏa mãn hai yếu tố:
- Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản
- Hợp đồng tăng cho quyền sử dụng đất phải có chứng thực hoặc chứngnhận theo quy định của pháp luật
2.2.1 Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản.
Đối tượng của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất là quyền sử dụngđất - một loại tài sản đặc biệt quan trọng nên pháp luật đất đai quy định rấtchặt chẽ về hình thức của hợp đồng tặng cho loại tài sản này, mà cụ thể làhình thức của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nhất thiết phải được lậpthành văn bản, trong trường hợp mà không lập thành văn bản thì tòa án - cơquan Nhà nước có thẩm quyền sẽ có quyền quyết định, buộc các bên tham giahợp đồng phải thực hiện đúng quy định này trong một thời gian nhất định, nếucác bên không tuân theo thì hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất sẽ bị vôhiệu
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản vìquyền sử dụng đất là loại tài sản phải đăng ký quyền sử dụng nên bên nhậntặng cho chỉ có thể được công nhận quyền sử dụng đất mà bên tặng chochuyển giao nếu việc tặng cho này thể hiện qua hợp đồng bằng văn bản Mặtkhác hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất bằng văn bản sẽ là căn cứ để cơquan Nhà nước có thẩm quyền kiểm tra, giám sát được việc dịch chuyểnquyền sử dụng đất giữa các chủ thể, đồng thời cũng là căn cứ pháp lý vữngchắc để ghi nhận những nội dung mà các bên đã thỏa thuận xác lập, từ đó tạo
cơ sở để giải quyết khi xảy ra tranh chấp về quyền sử dụng đất giữa các bên