Chính vì vậy khi nghiên cứu đề tài này , tôi muốn tìm hiểu rõ hơn về phương ngữ ở xã này và cũng để cho mọi người thấy sự khác biệt trong cách phát âm trong lời ăn tiếng nói hằng ngày củ
Trang 1Đề tài : Sự thể hiện âm đầu trong tiếng địa phương ở xã Khuyến Nông ,
huyện Triệu Sơn
A Phần mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Lời nói của con người là một chuỗi âm thanh được phát ra kế tiếp nhau trong không gian và thời gian Việc phân tích chuỗi âm thanh ấy người ta nhận được các đơn vị của ngữ âm
Mỗi âm tiết tiếng Việt là một khối hoàn chỉnh trong phát âm Trong ngữ cảm của người Việt, âm tiết tuy được phát âm liền một hơi , nhưng không phải là một khối bất biến mà có cấu tạo lắp ghép Và khối lắp ghép ấy có thể tháo rời từng bộ phận của âm tiết này để hoán vị với bộ phận tương ướng với
âm tiết khác.Bộ phận lắp ghép của âm tiết ấy bao gồm : âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu
Âm đầu chiếm một vị trí quan trọng trong việc cấu tạo nên âm tiết và âm tiết tiếng Việt thì luôn có mặt của phụ âm đầu
Xã Khuyến Nông là một xã ở Huyện Triệu Sơn , tỉnh Thanh Hóa với diện tích là 7.08 kilomet vuông , dân số là 7782 người Tuy dân số không đông đúc nhưng ở đây có một đặc điểm đặc biệt đó là cách họ phát âm một số âm đầu khác biệt với tiếng toàn dân hay ta còn gọi là phương ngữ
Chính vì vậy khi nghiên cứu đề tài này , tôi muốn tìm hiểu rõ hơn về phương ngữ ở xã này và cũng để cho mọi người thấy sự khác biệt trong cách phát âm trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của họ để khi các bạn tới đây có thể hòa nhập được với con người nơi đây một cách thân thiện
2 Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về âm đầu ở các xã, các vùng miền thì cũng đã có một số nhà nghiên cứu có đề cập tới tuy nhiên không rõ ràng Hay ở một số bài tiểu luận của sinh viên các bạn cũng đã đụng chạm tới vấn đề này tuy nhiên chưa
có một công trình nghiên cứu nào về âm đầu trong tiếng địa phương
3 Mục tiêu của đề tài
Nghiên cứu vấn đề này nhằm mục tiêu sau:
Tìm hiểu sự thể hiện một số âm đầu trong tiếng địa phương ở xã Khuyến Nông nhằm thấy được cách mà họ thể hiện âm đầu trong lời ăn tiếng nói
Trang 2hằng ngày của mình như thế nào, đã đúng và có phù hợp hay không Đê từ đấy tìm ra giải cách khắc phục
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: sự thể hiện âm đầu trong phương ngữ
Phạm vi nghiên cứu : Xã Khuyến Nông , huyện Triệu Sơn
5 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này , tôi sử dụng các phương pháp sau:
1 Phương pháp thống kê
2 Phương pháp phân loại
3 Phương pháp đối chiếu, so sánh
4 Phương pháp phân tích và tổng hợp
6.Bố cục chung
Ngoài phần Mở đầu , kết luận đề tài gồm có 2 chương
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
1 Âm đầu
1.1 Số lượng và miêu tả
1.1.1 Số lượng
1.1.2 Miêu tả
2 Từ ngữ địa phương
2.1 Khái niệm từ ngữ địa phương
2.2 Đặc điểm từ ngữ địa phương
Chương 2: Âm đầu được thể hiện trong tiếng địa phương ở xã Khuyến Nông huyện Triệu Sơn
2.1 Sự thể hiện của âm đầu trong tiếng địa phương ở xã Khuyến Nông
2.2 Biến thể của tiếng địa phương ở xã Khuyến Nông
2.2.1 Nguyên nhân
2.2.2 Giải pháp
C Kết luận
B NỘI DUNG
Trang 3Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1 Âm đầu
1.1 Số lượng
Gồm 21 phụ âm đầu
1.2 Miêu tả
Trong tiếng Việt có các loại âm : âm môi, âm lưỡi , âm đầu lưỡi , cuối lưỡi
và âm thanh hầu
Tại vị trí thứ nhất trong âm tiết, âm đầu có chức năng mở đầu âm tiết Những
âm tiết mà chính tả không ghi âm đầu như an, ấm, êm được mở đầu bằng động tác khép kín khe thanh, sau đó mở ra đột ngột, gây nên một tiếng bật Động tác mở đầu ấy có giá trị như một phụ âm và người ta gọi là âm tắc thanh hầu (kí hiệu: /?/) Như vậy, âm tiết trong tiếng Việt luôn luôn có mặt
âm đầu (phụ âm đầu) Với những âm tiết mang âm tắc thanh hầu như vừa nêu trên thì trên chữ viết không được ghi lại, và như vậy vị trí xuất hiện của
nó trong âm tiết là zero, trên chữ viết nó thể hiện bằng sự vắng mặt của chữ viết Sau đây là Bảng hệ thống âm đầu (phụ âm đầu) trong tiếng Việt:
Trong bảng hệ thống trên, có ghi âm vị /p/, một âm vị không xuất hiện ở vị trí đầu âm tiết trong các từ thuần Việt Nhưng do sự tiếp xúc ngôn ngữ, do nhu cầu học tập cũng như giao lưu văn hoá, khoa học-kĩ thuật cần phải ghi lại các thuật ngữ, tên dịa đanh, nhân danh nên bảng trên có đưa /p/ vào trong
hệ thống phụ âm đầu của tiếng Việt
Sau đây là hệ thống phụ âm đầu ở Bắc Bộ ( theo chuẩn chính tả)
Bảng 1:
Trang 4-Bộ vị cấu âm
Môi
Răng
Lợi
-Phương thức hữu thanh
Tắc
Nổ
- Vô thanh
b(b)
p(p)
bật hơi
mũi
hữu thanh
khe
xát
- Vô thanh
m (m), v (v), f (ph)
Mạc
Hầu
ch (ch), k(c , k), nh(nh), ng(ng), g(g), x(kh), h(h), d(đ), t(t), th(th), n(n), z(d), s(x), Z(gi), s(s),
Rung
r (r) , l(l),
( Hệ thống phụ âm đàu theo giáo trình Phương ngữ tiếng Việt của tác giả Hoàng Thị Châu) hệ thống này sẽ là cơ sở để đối chiếu và miêu tả được hệ thống phụ âm đầu trong từ ngữ địa phương xã Khuyến Nông
2 Từ ngữ địa phương
Trang 52.1 Khái niệm
Những từ thuộc một phương ngữ (tiếng địa phương) nào đó của ngôn ngữ dân tộc và chỉ phổ biến trong phạm vi lãnh thổ địa phương đó, thì được gọi là từ địa phương
Như vậy, khái niệm từ địa phương trước hết nhằm vào những khác biệt về mặt từ vựng chứ không phải là những khác biệt về mặt ngữ âm Sự khác biệt
chẳng hạn như: lắt lẻo – lắc lẻo, gập ghềnh – gập ghình, không phải là mục
tiêu chú ý của từ vựng
Từ địa phương là những từ ngữ chỉ được dùng ở một hoặc một số địa phương nhất định
Trong tiếng Việt hiện nay , ở các địa phương khác nhau , cách phát âm một số phụ âm đầu chưa thống nhất Hệ thống phụ âm đầu phản ánh vào chữ quốc ngữ
là có số lượng âm vị tương đối đầy đủ hơn cả so với hệ thống âm đầu đang tồn tại trong các phương ngữ hiện nay Như vậy , có sự khác biệt trong hệ thống phụ âm đầu ở các phương ngữ , cả mặt số lượng âm vị lẫn chất lượng âm vị( tức
về tính chất ngữ âm của âm vị )
2.2Đặc điểm từ địa phương
Có những con đường khác nhau đã dẫn tới sự hình thành những kiểu phương ngữ khác nhau
2.2.1 Do sự vật được gọi tên chỉ có ở một vài địa phương nhất định nên
tên gọi của chúng trở thành từ địa phương Loại này, trong từ vựng chung của
toàn dân tộc không có từ tương ứng với chúng Ví dụ: nhút, lớ, (quả) tắt, chẻo (phương ngữ Trung Bộ), sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, tràm, trâm bầu,
chao, (phương ngữ Nam Trung Bộ và Nam Bộ Việt Nam).
2.2.2 Có những từ cùng gọi tên một sự vật, hiện tượng với từ trong từ
vựng chung, nhưng hai từ khác nhau hoàn toàn về mặt ngữ âm Ví dụ: ngái –
xa, nỏ – không, rào – sông, rú – núi, mô – đâu, tê – kia, rứa – thế, chộ – thấy, trốc – đầu, nhủ – bảo, xán – đập/ném, (phương ngữ Trung Bộ); má – mẹ, điệp – phượng, mè – vừng, muỗng – thìa, lượm – nhặt, mắc cỡ – xấu hổ, (phương
ngữ Nam Trung Bộ và Nam Bộ)
Trường hợp này có thể có hai nguyên nhân chính Một là, cùng một sự vật nhưng mỗi địa phương, trong quá trình phát triển cùng dân tộc, đã định danh một cách khác nhau Dần dần, một tên gọi (một cách định danh) của một địa phương trở nên phổ biến rộng rãi, khiến cho tên gọi của địa phương kia không thể phổ biến được nữa Nó chỉ còn hoạt động tồn tại trong phạm vi địa phương
và trở thành từ địa phương Hai là, cả hai từ vốn đã cùng là từ của từ vựng
Trang 6chung, nhưng sau đó, vì xung đột đồng nghĩa, một từ phải rút lui và được bảo
toàn trong phạm vi địa phương rồi trở thành từ địa phương Các cặp từ: đầu –
trốc, nhủ – bảo, là như vậy.
2.2.3 Nhiều từ vốn là dạng cổ của từ tương ứng trong từ vựng chung hiện
nay Dạng cổ đó được bảo toàn trong một địa phương, còn dạng mới, dạng hậu
kì của chúng thì đi vào từ vựng chung Kết cục là hai dạng chỉ khác nhau ở một
bộ phận ngữ âm nào đó mà thôi Ví dụ: gấy – gái, chí – chấy, nác – nước, kha –
gà, khót – gọt, cúi – gối, ví – với,
2.2.4 Kiểu từ địa phương thứ tư là những từ đồng âm với từ trong từ vựng
chung Có hai khả năng có thể dẫn tới tình hình này: Một là chúng quan hệ đồng
âm thuần tuý, ngẫu nhiên, hai là do trước đây, chúng vốn chỉ là một từ, nhưng một địa phương nào đó đã chuyển đổi đối tượng gọi tên của từ đi, theo những chiều hướng khác nhau; hoặc ngược lại, từ trong từ vựng chung đã chuyển đổi
đi như thế Chúng ta có thể so sánh những ví dụ sau đây:
Hòm vật hình hộp để đựng đồ đạc săng, quan tài
2.3 Các biến dạng địa phương của ngôn ngữ về mặt này hay mặt khác,
hiện đang tồn tại như một tất yếu Điều đó, một mặt nói lên rằng ngôn ngữ thống nhất của dân tộc vẫn tồn tại và thể hiện trong tính đa dạng của nó; mặt khác, lại nói lên rằng sự tồn tại các tiếng địa phương là kết quả của những diễn biến lịch sử xã hội rất khác nhau Chính vì thế, từ vựng địa phương được xem như nơi bảo tồn được những chứng tích xa xưa của ngôn ngữ dân tộc Trong nhiều khía cạnh khảo sát, xử lí đối với từ địa phương, việc tìm tòi những tàn dư
cổ còn sót lại trong đó, là điều rất có giá trị và đáng chú ý
Có những tổ hợp song âm khi tách ra dùng đơn lẻ thì tiếng Nam chọn yếu tố thứ nhất, còn tiếng Bắc chọn yếu tố thứ hai: dơ bẩn, đau ốm, lời lãi, bao bọc, mai mối, hư hỏng, dư thừa, kêu gọi, sợ hãi, hình ảnh, la mắng, bồng bế, hăm dọa… Ngược lại có những tổ hợp người miền Bắc chọn yếu tố đầu, người miền Nam chọn yếu tố sau: thóc lúa, giẫm đạp, đón rước (trong phương ngữ
Bắc Bộ, rước mang nghĩa trang trọng), lừa gạt, sắc bén, lau chùi, thứ hạng,
Trang 7chăn mền, chậm trễ, tìm kiếm, vâng dạ, đùa giỡn, thuê mướn, mau lẹ, hung
dữ, trêu chọc…
Nhiều từ vựng, phương ngữ Bắc quen dùng từ thuần Việt, phương ngữ Nam
hay dùng từ Hán Việt như (bắc/nam): hát/ca,chè/trà, bèo tây/lục
bình, quán/tiệm, mướp đắng/khổ qua, đỗ/đậu Ở chiều ngược lại, phương ngữ Bắc thông dụng từ Hán Việt thì phương ngữ nam hay dùng từ đã Việt Hóa như: hoa quả/trái cây
Nhiều từ vựng phương ngữ miền Nam có nguồn gốc từ bối cảnh sông nước, đặc điểm tự nhiên của miền Tây Nam Bộ, như: có giang, quá giang, anh em cọc chèo (phân biệt chèo lái, chèo kế, chèo mũi) chỉ anh em đồng hao ở ngoài Bắc, khẳm (chỉ thứ gì nhiều quá ví dụ khẳm tiền), chìm xuồng (chỉ vụ việc bị lãng quên), tới bến, xuống nước
Chương 2
ÂM ĐẦU ĐƯỢC THỂ HIỆN TRONG TIẾNG ĐỊA PHƯƠNG Ở XÃ
KHUYẾN NÔNG HUYỆN TRIỆU SƠN
2.1 Sự thể hiện của âm đầu trong tiếng địa phương ở xã Khuyến Nông, huyện Triệu Sơn
Tiếng địa phương đã trở thành một khái niệm quen thuộc trong tất cả các vùng miền ở nước ta Ở mỗi một nơi thì có tiếng nói một giọng điệu khác nhau
Hệ thống âm đầu trong phương ngữ xã Khuyến Nông : về cơ bản hệ thống phụ âm đầu trong từ ngữ địa phương Khuyến Nông có tương đối đầy đủ các
âm vị như bảng 1 Tuy nhiên có một vài sự khác biệt
Thứ nhất :Sự phát âm giống nhau giữa hai âm vị tr/ch, s/x, r/d dẫn đến quá trình lộn hai âm vị thành một âm vị trong quá trình phát âm
Vd : bầu chời, con xâu, đi chơi dồi…nên chỉ tạo ra một âm xát uốn lưỡi /z/ thì trong thổ ngữ Khuyến nông lại tồn tại một phụ âm rung hoàn toàn , giốn như cách phát âm của miền duyên hải hạ lưu sông Hồng
Thứ hai: nếu trong phương ngữ Trung thiếu phụ âm rung r, phát âm không rung lưỡi , lưỡi chỉ vỗ vào lợi , chưa chạm đến lợi
Trong tiếng địa phương ở xã Khuyến Nông âm đầu được sử dụng hầu hết là đúng tuy nhiên ở một số âm có sự khác biệt so với từ toàn dân :
Các từ vả, véo, vốc (loại từ, ví dụ một vốc), vũng (nước), vanh/vành (ra),
víu và một từ gốc Hán là vái được phát âm tương ứng là bả,
béo/bẹo/bẻo, bốc, bổng, banh/bành, bíu và bái.
Trang 8 Các từ vách, vú, vấu (ví dụ: vấu tre), vếu (váo), vân vê, vầy vò được phát
âm là mách, mú, mấu, mân (mê), mếu (máo), mằn (mò) Trong đó, có sự liên hệ giữa mằn hay mần với vày hay vầy Có thể coi /m/ là một trong
các dạng quá khứ của /v/, cả hai đều có cấu âm môi, cùng tiêu chí thanh tính Đây chính là do quá trình xát hóa âm tắc – mũi
Các từ vệ (vệ đường), vê (vê thuốc lào), vảy (vảy nước, vảy rau), vạch (tạo thành đường nét), vập (vập đầu) được phát âm thành dệ, dê, dảy
(dẳn), dạch, dặp (bổ dặp mặt = ngã dập mặt) Ngoài ra còn có các cặp
như vẻo (đất) – dẻo (đất), vẹo – dẹo, vươn (cổ) – dướn (cổ), vểnh (tai) – dảnh tai… Có thể trong ngôn ngữ toàn dân vẫn tồn tại song song hai biến thể /v/ và /ʐ/ hay /z/ (có tự dạng trong từ điển là "r" – rệ, rê, rẩy, rạch hay "d" - dập) nhưng ở phần lớn phương ngữ ở xã Khuyến nông là /
z/ Trong tiếng Việt, âm quặt lưỡi /ʐ/ (viết là r) là tiền thân của v, còn /z/ (chữ viết là d) chỉ là biến thể của /ʐ/
Các từ vây, vần (vần nhau), vén (vén áo), vẫy (vẫy đuôi) được phát âm thành quây, quần, quén, quảy , tức là đã có sự biến đổi từ /k/ (kèm theo
âm đệm /-w/, chữ viết là "qu") thành /v/ trong tiếng Việt toàn dân…
Ví dụ:
- Ngoài đềnh họ đang riễn cấy tích tri rứa? (Ngoài đình họ đang diễn cái
tích gì đấy?)
-Trả biết họ đang riễn cấy tích tri, chỉ thấy đang tốc dâu đổ diệu ( Chả
biết họ đang diễn cái tích gì , chỉ thấy đang tốc râu đổ rượu
- Con trâu – con châu
- xấu xí – sấu sí
-con râu , con dể - con dâu, con rể
- chời hôm nay sanh quá - trời hôm nay xanh quá
- con dắn rài 2m - con rắn dài 2m
Do ảnh hưởng của tiếng nói địa phương cho nên ngay trong các bảng hiệu của cửa hàng người ta cũng in giống như ngôn ngữ nói hằng ngày
Ví dụ :
- Ép sấy , nhuộm , uốn soăn – uốn xoăn
- Xửa xe đạp – sửa xe đạp
- Nem trua dán – nem chua rán …
2.1 Biến thể của tiếng địa phương ở xã Khuyến Nông
Trang 9Một số từ đặc trưng của từ địa phương ở xã Khuyến nông : trốc (đầu), trượng (mắt), me (con bê), ỉn, ỉ (con lợn),ruốc (moi), con của (vật nuôi), chậy(chị), cấy ( cái), cấy liềm ( cái liềm), con tru ( con trâu) , mằn ( làm ), đi nhởn( đi chơi), nậu hoa( nụ hoa), vũ trậu( vũ trụ), thày( bố), cấy tềnh ( cái tình), cắt lọ ( gặt lúa), tròng ngô ( trồng ngô) , đi cấn( đi cấy) , trời tún( trời tối) , tắc dài( tóc dài)
… con người nơi đây sử dụng hầu hết tiếng địa phương trong lời ăn tiếng nói hằng ngày , trong lao động sản xuất và ngay cả trong giao tiếp với người từ nơi khác đến Đặc biệt là người miền nam làm cho họ không hiểu được đối phương đang nói gì
Khá nổi bật là nhóm từ thường dùng trong khẩu ngữ hay về mặt từ loại là các
đại từ, rất giống với phương ngữ Nghệ Tĩnh như đại từ nghi vấn: mô (đâu), chi
(gì), răng (sao)…, đại từ chỉ định: ni (này), tê (kia), nớ (ấy), ở ri (thế này)…, đại
từ xưng hô: mi (mày), nớ (ấy), tau (tao)… Một số đại từ nhân xưng trong từ địa
phương ở xã Khuyến Nông cũng được sử dụng trong một số thổ ngữ thuộc vùng
phương ngữ Bắc Bộ như cha (bố, cũng xuất hiện ở Hà Nam), thầy (bố), dượng (chồng của dì, cũng dùng ở Thái Bình)… … Đặc biệt, từ cha ở xã Khuyến
Nông cũng như một số xã Hà Nam, được dùng để khóc người cha đã mất, không dùng trong đời sống như ở Nghệ Tĩnh Đôi khi một số đại từ ngôi thứ ba
giống phương ngữ Nam Bộ như cách nói tắt ổng (ông ấy), ảnh (anh ấy), trỏng
(trong ấy)… nhưng có nhiều từ không gặp ở các phương ngữ khác như mê (nhiều), mê ra (nhiều lắm), mê man (rất nhiều), cả cả (tất cả)…
Ngoài những từ đồng nghĩa nhưng khác âm với tiếng Việt phổ thông như đã nêu
ở trên, từ địa phương ở xã Khuyến Nông còn có một số từ đồng âm nhưng khác
nghĩa với tiếng Việt phổ thông như mê man (rất nhiều), tê (kia, không phải ở
trạng thái mất hết cảm giác ở một bộ phận nào đó của cơ thể), cân kè (cây cọ), cấy đài (cái gầu múc nước)…
Trong nhiều trường hợp, từ địa phương không thay thế hoàn toàn so với tiếng Việt phổ thông, mà chỉ được sử dụng trong một số ngữ cảnh nhất định Ví dụ
kêu được dùng để thay thế gọi trong các trường hợp
Gọi để người khác nghe mà đáp lại: Kêu em viền ăn cơm.
Yêu cầu phải đến nơi nào đó: Kêu hấn viền.
Gọi bằng tên gọi:O nứ kêu là Hoa.
Nhưng lại dùng gọi trong một số ngữ cảnh khác: Gọi điện viền nhà cho mẹ,
Tiếng gọi của trái tim…
Một phương thức cấu tạo từ đa tiết trong từ địa phương ở xã Khuyến Nông là
kết hợp yếu tố địa phương với yếu tố toàn dân Về từ láy, có mê man (rất nhiều),
lần khân… Về từ ghép có ăn trấm, ăn trẩy, ăn trắt…
Trang 102.2.1 Nguyên nhân
Họ sử dụng tiếng địa phương là do ảnh hưởng thế hệ trước Từ lúc sinh ra và
đử 18 tuổi hầu hết đều sống ở quê hương nơi mình được sinh ra , từ âm thanh đầu tiên họ được nghe thấy là tiếng địa phương chính vì thế từ lúc là một đứa trẻ chưa được đến trường thì đã nói được tiếng địa phương Như chúng ta đã biết thì ngôn ngữ được hình thành theo quy luật đó là : nghe- nói-đọc-viết chính vì vậy ở mỗi một làng xã ,một vùng miền khác nhau thì sẽ có một phong cách ngôn ngữ riêng biệt Và ở xã Khuyến Nông cũng vậy họ nói tiếng địa phương ở nơi họ sinh sống là do truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác
Tiếng địa phương là một đặc trưng riêng của mỗi vùng miền , nó tạo nên các giá trị đặc sắc góp phần tạo nên sự đa sắc màu trong ngôn ngữ của dân tộc
Tuy nhiên do ảnh hưởng của tiếng địa phương mà ở một số từ ngữ họ không chỉ phát âm lệch chuẩn mà còn dẫn đến sai ở chữ viết Đó là một sai phạm không nên có nó ảnh hưởng không tốt tới một số mặt trong đời sống như: khi viết một biên bản hay một đơn từ , một lá thư nếu như chúng ta viết theo những ngôn ngữ mà chúng ta nói hằng ngày sẽ làm cho người khác khó hiểu và đôi khi khiến người khác hiểu lầm ý mà chúng ta muốn diễn đạt
2.2.2 Giải pháp
Cần sửa một số lỗi khi phát âm các từ có âm đầu là tr/ ch, d /r/gi, s/x sao cho đúng với quy luật của nó
C
KẾT LUẬN
Là một xã với một số dân thưa , trong ngôn ngữ nói hằng ngày của họ lại rất đặc biệt nó mang đậm dấu ấn địa phương mang lại một màu sắc vùng quê Việt Nam Tuy nhiên ở một số từ ngữ âm đầu họ sử dụng chưa chính xác chính vì vậy cần phải điều chỉnh dần dần để có một phương ngữ không chỉ mang dấu ấn vùng miền mà còn phù hợp với ngữ nghĩa ngữ cảnh của nó
D
TÀI LIỆU THAM KHẢO
bản Đại học quốc gia Hà Nội