1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu tuyển quặng apatit loại II vùng Mỏ Cóc bằng sơ đồ kết hợp tuyển nổi trọng lực và tuyển nổi thông thường độ hạt 0,5 mm

83 389 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 4,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU I. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài Ngày nay, với sự phát triển của nền nông ngiệp nước nhà, nhu cầu phân bón trong nước ngày càng cao trong đó đặc biệt là các loại phân chứa gốc phosphat.Để đáp ứng nhu cầu, việc khai thác quặng apatit ngày càng được đẩy mạnh. Do nguồn cung cấp nguyên liệu chính cho các nhà máy tuyển hiện nay là quặng apatit loại III ngày càng cạt kiệt. Trong khi quặng apatit loại II, có trữ lượng lớn nhưng mới chỉ được khai thác một phần rất nhỏ làm phân lân nung chảy. Vì vậy cần phải nghiên cứu công nghệ tuyển các loại quặng apatit loại II, để thay thế dần cho quặng apatit loại III và đáp ứng được nhu cầu về nguyên liệu ngày càng tăng của các nhà máy sản xuất phân bón. Hiện tại các nghiên cứu về tuyển quặng apatit loại II đã được triển khai đến quy mô bán công nghiệp và đã thu được một số kết quả khả quan, do đó để tận dụng tài nguyên, cần có kế hoạch nghiên cứu dần việc tuyển quặng apatit loại II để đưa vào sử dụng. 1. Lý do lựa chọn đề tài Quặng apatit loại II tại vùng Lào Cai có trữ lượng khá lớn xong chưa có phương án tuyển hiệu quả, do đây là loại quặng xâm nhiễm thô, có độ cứng cao nên nếu áp dụng phương pháp tuyển nổi thông thường như với quặng III thì khá tốn chi phí đập nghiền, apatit – dolomit lại có tỉ trọng , tính chất lý hóa gần như nhau nên việc sử dụng các phuoeng pháp tuyển truyền thống gặp nhiều khó khăn và không mang lại hiệu quả kinh tế. Đề tài tốt nghiệp: “Nghiên cứu tuyển quặng apatit loại II vùng Mỏ Cóc bằng sơ đồ kết hợp tuyển nổi trọng lực và tuyển nổi thông thường độ hạt 0,5 mm”được đặt ra để giải quyết vấn đề tuyển quặng loại II có hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà máy sản xuất phân bón và dần thay thế cho nguồn apatit loại III đang cạn và giảm được chi phí đập nghiền khá hiệu quả. 2. Mục tiêu của đề tài Đánh giá khả năng kết hợp phương pháp tuyển nổi trọng lực và tuyển nổi thông thường để tuyển có hiệu quả mẫu quặng II vùng Mỏ Cóc Lào Cai Xác định các thông số và sơ đồ tuyển để từ quặng MCQ II2 thu được tinh quặng apatit có hàm lượng P2O5 ≥ 32%. Trên cơ sở đó, đánh giá khả năng ứng dụng của thiết bị tuyển nổi trọng lực vào thực tế để cải thiện sơ đồ xử lý quặng apatit loại IIvà khả năng kết hợp phương pháp tuyển nổi trọng lực và tuyển nổi thông thường để tuyển hiệu quả quặng loại II tại Lào Cai.

Trang 1

MỞ ĐẦU

I Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài

Ngày nay, với sự phát triển của nền nông ngiệp nước nhà, nhu cầu phân bón trong nước ngày càng cao trong đó đặc biệt là các loại phân chứa gốc phosphat.Để đáp ứng nhu cầu, việc khai thác quặng apatit ngày càng được đẩy mạnh Do nguồn cung cấp nguyên liệu chính cho các nhà máy tuyển hiện nay là quặng apatit loại III ngày càng cạt kiệt Trong khi quặng apatit loại II, có trữ lượng lớn nhưng mới chỉ được khai thác một phần rất nhỏ làm phân lân nung chảy Vì vậy cần phải nghiên cứu công nghệ tuyển các loại quặng apatit loại II, để thay thế dần cho quặng apatit loại III

và đáp ứng được nhu cầu về nguyên liệu ngày càng tăng của các nhà máy sản xuất phân bón Hiện tại các nghiên cứu về tuyển quặng apatit loại II đã được triển khai đếnquy mô bán công nghiệp và đã thu được một số kết quả khả quan, do đó để tận dụng tài nguyên, cần có kế hoạch nghiên cứu dần việc tuyển quặng apatit loại II để đưa vào

sử dụng

1 Lý do lựa chọn đề tài

Quặng apatit loại II tại vùng Lào Cai có trữ lượng khá lớn xong chưa có phương

án tuyển hiệu quả, do đây là loại quặng xâm nhiễm thô, có độ cứng cao nên nếu áp dụng phương pháp tuyển nổi thông thường như với quặng III thì khá tốn chi phí đập nghiền, apatit – dolomit lại có tỉ trọng , tính chất lý hóa gần như nhau nên việc sử dụng các phuoeng pháp tuyển truyền thống gặp nhiều khó khăn và không mang lại hiệu quả kinh tế

Đề tài tốt nghiệp: “Nghiên cứu tuyển quặng apatit loại II vùng Mỏ Cóc bằng sơ

đồ kết hợp tuyển nổi trọng lực và tuyển nổi thông thường độ hạt -0,5 mm”được đặt ra

để giải quyết vấn đề tuyển quặng loại II có hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà máy sản xuất phân bón và dần thay thế cho nguồn apatit loại III đang cạn và giảmđược chi phí đập nghiền khá hiệu quả

2 Mục tiêu của đề tài

Trang 2

- Đánh giá khả năng kết hợp phương pháp tuyển nổi trọng lực và tuyển nổi thôngthường để tuyển có hiệu quả mẫu quặng II vùng Mỏ Cóc- Lào Cai

- Xác định các thông số và sơ đồ tuyển để từ quặng MCQ II2 thu được tinh quặng apatit có hàm lượng P2O5 ≥ 32%

- Trên cơ sở đó, đánh giá khả năng ứng dụng của thiết bị tuyển nổi trọng lực vào thực tế để cải thiện sơ đồ xử lý quặng apatit loại IIvà khả năng kết hợp phương pháp tuyển nổi trọng lực và tuyển nổi thông thường để tuyển hiệu quả quặng loại II tại Lào Cai

3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

3.1 Cách tiếp cận

Trên cơ sở tài liệu tham khảo thí nghiệm tuyển nổi thông thường và tuyển nổi trọng lực đối với apatit loại II tại Việt Nam và thế giới Sau đó tối ưu hóa các thông sốđiều kiện của quá trình

3.2 Phương pháp nghiên cứu

- Tổng hợp tài liệu về tuyển quặng apatit nói chung và quặng apatit –đolomit trênthế giới và Việt Nam

- Thí nghiệm trong phòng thí nghiệm: tuyển nổi thí nghiệm điều kiện, tuyển nổi vòng hở, tuyển nổi vòng kín, tuyển nổi trọng lực và đưa ra các thông số tối ưu

- Đánh giá và đưa ra kết luận

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu tuyển mẫu quặng apatit loại II vùng Mỏ Cóc - Lào Cai cấp hạt -0,5 mm

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu tuyển quặng MCQ II2 (apatit loại II vùng Mỏ Cóc – Lào Cai) bằngphương pháp kết hợp tuyển nổi trọng lực và tuyển nổi thông thường

Trang 3

PHẦN I: TỔNG QUAN 1.1 Tổng quan về apatit và apatit Lào cai

1.1.2 Khái niệm về apatit và phân loạiApatit là quặng chứa hợp chất của phospho, có công thức hoá học tổng quát là Ca- 5(F,Cl) [PO4]3 Nó là nguyên liệu chính để sản xuất phospho và các hợp chất của nó.Phospho và các hợp chất chứa phospho được ứng dụng rộng rãi trong nền kinh tếquốc dân, ngành công nghiệp phân bón sử dụng khoảng 90% nhu cầu về phospho, ởđây phospho được sử dụng dưới dạng các loại phân bón chứa phosphat (phân lân) nhưsupe phosphat đơn và kép, amophos, nitrophos, phosphat kết tủa, các loại phân lânnung chảy Các ngành công nghiệp khác sử dụng 10% nhu cầu còn lại Phospho đỏđược sử dụng rộng rãi trong luyện kim và công nghiệp sản xuất diêm, phosphatnatritrong công nghiệp sản xuất bột giặt và chất tẩy rửa, phosphatcanxi trong công nghiệpsản xuất giấy, ferophospho trong công nghiệp luyện kim, các este của axit phosphorictrong công nghiệp chất dẻo, thuốc trừ sâu và hoá dược, các hợp chất sunfua và cloruachứa phospho là những hoá chất quan trọng trong tổng hợp hữu cơ

Theo thành phần hoá học, khoáng vật, thạch học quặng apatit được phân chia ra bốndạng cơ bản:

- Quặng I: Là loại quặng apatit hầu như đơn khoáng thuộc phần không phong hoá củatầng KS5 hàm lượng P2O5 chiếm khoảng 28 – 40%

- Quặng II: Quặng apatit – carbonat thuộc phần chưa phong hoá của tầng quăng KS5

và hàm lượng P2O5 chiếm khoảng 18 – 25%

- Quặng III: Quặng apatit - thạch anh thuộc phần chưa phong hoá của tầng KS4 và cáctầng trên quặng KS6 và KS7 hàm lượng P2O5 chiếm khoảng từ 12 – 20%, trung bình

là 15%

- Quặng IV: Quặng apatit - thạch anh - mica thuộc phần chưa phong hoá của tầngdưới quặng KS4 và các tầng trên quặng KS6 và KS7 hàm lượng P2O5 là từ 8 -10%.Trữ lượng và tình hình khai thác quặng apatit

1.1.3 Trên thế giới

Trang 4

Theo thống kê, trữ lượng quặng apatit trên thế giới hiện vào khoảng 63,1 tỉ tấn P2O5.Trong đó, quặng apatit – cacbonat là kiểu phosphorit trầm tích khá phổ biến trên thếgiới là nguồn nguyên liêu phosphat khổng lồ cung cấp khoảng 80-90% sản lượngphosphat trên toàn thế giới trong 10 năm qua Những bể quặng apatit chủ yếu nằm ởNga, Cộng hòa Nam Phi, Braxin, Phần Lan, Dimbabue, Canada; còn photphorit có ởnhiều nơi nhất là Châu Phi, Bắc Mỹ.

Bảng 1.1 Trữ lượng dự trữ (khai thác) và trữ lượng tài nguyên của các nước đứng

đầu thế giới thời điểm 2010.

Tên quốc gia Trữ lượng dự trữ (106

Trang 5

- Tài nguyên: nguồn quặng apatit ở mọi cấp độ có thể được khai thác ở một thờiđiểm trong tương lai, bao gồm nguồn dự trữ.

Bảng 1.2 Sản lượng khai thác quặng apatit các nước trên thế giới

Trang 6

đến KS3) có bề dày 430m, phụ thành hệ dolomit - lục nguyên chứa photphat (tầngKS4 đến KS7) có bề dày 300m và phụ thành hệ lục nguyên – cacbonat (tầng KS8) có

bề dày 350m Phụ thành hệ dolomit – lục nguyên chứa photphat đã bị biến chất đượcđặc trưng bởi các đá phiến giàu dolomit, apatit, thạch anh, muscovit, fenspat

Bảng 1.3 Trữ lượng quặng apatit đã thăm dò và trữ lượng dự báo

IV 22,290 116,640 138,930 151,780 290,710 1074,000 1364,710Tổng 103,08

5 295,093 398,178 337,818 735,996 1666,617 2402,613

Bảng 1.4.Thành phần hóa học trong quặng Apatit Lào Cai

Tên hợp chất Hàm lượng trong quặng %

Loại I Loại II Loại III(KS4) Loại IV(KS6,7)

Trang 7

Trong khi diện tích đất nông nghiệp nước ta ngày càng bị thu hẹp do quá trình

đô thị hóa và chuyển đổi sang các ngành khác, đến năm 2025 giảm đi 10-15% đấtnông nghiệp, mà nhu cầu lương thực ngày càng tăng Để đảm bảo lương thực trongnước, chủ trương chính phủ là thâm canh nông nghiệp Do đó, nhu cầu phân bón ngàycàng cao, đặc biệt là các loại phân có gốc phosphat Sản lượng khai thác và chế biếnquặng apatit ở nước ta sẽ tăng cao Theo dự báo, từ năm 2017 đến 2030 sản lượng cácloại quặng khai thác cần phải đáp ứng như sau:

- Quặng loại I: 900 nghìn tấn/năm;

- Quặng loại II: 6.895 nghìn tấn/năm;

- Quặng loại III: 3.150 nghìn tấn/năm;

- Quặng loại IV: 10.945 nghìn tấn/năm

Quặng apatit loại II có trữ lượng tài nguyên lớn nhưng mới chỉ được sử dụngtrực tiếp để sản xuất phân lân nung chảy nên sản lượng khai thác và sử dụng còn rất

Trang 8

hạn chế, mặt khác quặng loại I và loại III ngày càng cạn kiệt dần Giai đoạn sắp tới,quặng II không chỉ được sử dụng trực tiếp cho sản xuất phân lân nung chảy mà cònlàm giàu quặng để cung cấp cho nhu cầu sản xuất phân bón, sản xuất thức ăn gia súc,sản xuất axit photphoric trích ly đáp ứng cho nhu cầu hóa chất trong nước đang ngàycàng tăng Do đó, việc nghiên cứu khai thác, chế biến và sử dụng quặng II ngay từbây giờ là điều cần thiết.

1.2.Tổng quan về tuyển quặng apatit loại II trên thế giới và ở Việt Nam

I.2.1 Tình hình tuyển quặng loại II trên thế giới

Quặng phosphat – carbonat là nguồn trữ lượng nguyên liệu phosphat khổng lồtrên thế giới mà cho đến nay mới bắt đầu nghiên cứu sử dụng Một số khoáng sàngphosphat nguồn gốc trầm tích biển trên thế giới: Karatau (Liên Xô), Florida (Mỹ),Jamacotra (Ấn Độ), Khupsugun (Mông Cổ), Yunan (Trung Quốc)…carbonat ở nhữngkhoáng sàng này chủ yếu là dolomit

Nghiên cứu sử dụng quặng phosphat – dolomit được tiến hành đồng thời trênhai phương diện:

- Tuyển tách dolomit tối đa ra khỏi quặng và sau đó xử lý quặng tiếp tục bằngaxit để sản xuất phân bón

- Tìm kiếm phương hướng sử dụng trực tiếp những quặng giàu dolomit khôngqua tuyển hoặc chỉ tuyển sơ bộ

Quặng phosphat – dolomit đã được thử nghiệm với hầu hết các phương pháptuyển truyền thống như: Tuyển rửa, tuyển huyền phù, tuyển hoá, tuyển tĩnh điện, kếtbông chọn lọc, nung thiêu, tuyển nổi thuận, tuyển nổi ngược

- Nung thiêu là một trong những phương pháp truyền thống để tuyển quặngphosphat – carbonat Nó được áp dụng rộng rãi để khử carbonat và các hợp chất hữu

cơ trong quặng ở các nước Bắc Phi, Trung Đông và Mỹ Bản chất của phương pháp

Trang 9

này là dùng nhiệt độ cao để làm bốc vật chất hữu cơ, phân huỷ carbonat và sau đó làdùng nước để hoá vôi và rửa các sản phẩm tạo thành khi phân huỷ carbonat.

Ở nhiệt độ 300oC vật chất hữu cơ bị cháy và bốc khỏi quặng, đến 6000C thànhphần carbonat có trong mạng tinh thể carbonat fluorapatit được tách ra, cấu trúc tinhthể co lại.Dolomit bị phân huỷ ở 7500C và đến 9500C thì canxit bị phân huỷ Nungthiêu là phương pháp hữu hiệu để xử lý quặng phosphat carbonat độ hạt thô (ở BắcPhi), có hàm lượng vật chất than cao, có hàm lượng carbonat phân tán trong các viliên tinh với apatit cao

Nhược điểm của phương pháp này là chi phí năng lượng lớn, không loại đượcthạch anh và các silicat và trong nhiều trường hợp cụ thể không tách được hoàn toànCaO và MgO khi mà những hợp chất này kết hợp với thạch anh

- Tuyển nổi: Hàng năm bằng phương pháp tuyển nổi, thế giới đã tuyển được 60-70 triệu tấn quặng phosphat Tuyển nổi là phương pháp tuyển rất có hiệu quả trongviệc tách apatit ra khỏi các khoáng vật khác Phương pháp tuyển nổi đã được áp dụng

ở quy mô công nghiệp để tách apatit và canxit ở Jacupirauga (Braxin), Xiliniavi (PhầnLan), thậm chí để tách dolomit và phosphorit ở Karatau (Liên Xô), Kondo (Mỹ) vàJamacotra (Ấn Độ) Phosphat và đolomit có tính chất tuyển nổi rất giống nhau vì vậytrong quá trình tuyển nổi nếu không áp dụng các thuốc tập hợp, đè chìm có độ chọnriêng cao cũng như các sơ đồ tuyển phức tạp thì khó có thể tách chúng một cách hữuhiệu.Hiện nay trên thế giới trong công nghệ tuyển nổi người ta áp dụng phương pháptuyển nổi thuận và tuyển nổi ngược

- Tuyển nổi ngược là sơ đồ truyền thống để tuyển quặng phosphat – dolomit.Bản chất của sơ đồ này là đè chìm các khoáng vật phosphat bằng axit và tuyển nổidolomit bằng các thuốc tập hợp dạng axit béo (CMK)

Được áp dụng lần đầu tiên tại nhà máy tuyển Karatau (Liên Xô), đó là sơ đồtuyển nổi ngược dùng axit phosphoric Phosphat bị đè chìm bởi axit phosphoric ở pH

Trang 10

= 4,9 - 5 và đolomit được tuyển nổi bởi axit béo tổng hợp, từ quặng đầu 22,5% P2O5

và 3,7% MgO qua các giai đoạn tuyển nổi nhận được tinh quặng 28,2% P2O5 và 1,5%MgO với mức thực thu P2O5 là 70% Sau đó các chuyên gia Liên Xô đã áp dụng sơ đồnày tuyển hiệu quả các quặng Abutartun (Ai Cập), Lào Cai (Việt Nam), Khupsugun(Mông Cổ), gần đây nó được thử nghiệm Jamacotra (Ấn Độ) và Yunan (Trung Quốc)cho kết quả khả quan

Sơ đồ tuyển nổi khuấy tiếp xúc 2 giai đoạn: Đầu tiên quặng được khuấy tiếpxúc với thuốc tuyển ở pH = 10, sau đó quặng lại được khuấy tiếp xúc tiếp tục ở pH =

4 và tiến hành tuyển nổi đolomit Để tạo ra môi trường axit có thể áp dụng axitsuphuric, axit clohydric, axit axetic (dấm) hoặc một số axit khác, phương án khuấytiếp xúc hai giai đoạn áp dụng có hiệu quả để tuyển quặng phosphat – đolomit Florida(Mỹ)

Phương án tuyển dùng thuốc đè chìm là axit fluosilixic được thử nghiệm vớiquy mô bán công nghiệp tại nhà máy tuyển Kondo (Mỹ) Quặng vào tuyển nổi chứa20,8 – 25,2% P2O5; 0,69 – 1,1% MgO và 20,5 – 26,8% SiO2 Ở giai tuyển nổicarbonat, để đè chìm phosphat và silicat người ta dùng fluosilixic (H2SiF6) chí phí0,41 – 1 kg/tấn, thuốc tập hợp dùng là axit béo chưng cất từ dầu talo ở dạng nhũ tương5%, chi phí 0,56 – 0,63 kg/tấn Sản phẩm ngăn máy tuyển nổi carbonat khuấy tiếp xúcvới 0,18 – 0,27 kg/tấn este amin bậc nhất ở dạng axetat để tuyển nổi cation silicat Sảnphẩm ngăn máy tuyển nổi cation là tinh quặng phosphat chứa 25,5 – 31,6% P2O5; 0,59– 0,84% MgO và 7,4 – 19,4 %SiO2

Phương pháp tuyển nổi quặng phosphat – carbonat có sử dụng axit carbonicdạng khí, bùn quặng được làm bão hoà bởi axit carbonic dạng khí và sau đó tuyển nổicarbonat bằng thuốc tập hợp dạng anion, lượng axit carbonic cấp vào bùn quặng đượcxác định sao cho pH bùn quặng giảm xuống khoảng 4 – 6, phương án này áp dụngtuyển trong phòng thí nghiệm có hiệu quả quặng phosphat – đolomit Florida (Mỹ)

Trang 11

Phương án sử dụng thuốc đè chìm phosphat là axit hydroxyl etylen diphospho

để tuyển quặng phosphat – carbonat Với quặng phosphat – đolomit ở Kondo (Mỹ) từquặng đầu 21% P2O5 và 3,2% MgO có thể nhận được tinh quặng 32%P2O5, ít hơn 1%MgO, với thực thu P2O5 khoảng 80%

Phosphat có thể bị đè chìm khi khuấy tiếp xúc bùn quặng sunphat nhôm vàmuối kali hoặc natri của axit nho, quặng Abutartur (Ai Cập) chứa 26,4% P2O5 và3,51% MgO, có thể nhận được 32,10% P2O5 và 0,43% MgO với chế độ thuốc tuyển:Sunphat nhôm 200 g/t, tatrat (muối axit nho) 400 g/t, axit oleic 1300 g/t, etanol 650 g/t

và NaOH 500 g/t, pH = 7,8

Sơ đồ tuyển nổi quặng phosphat – carbonat có sử dụng thuốc tập hợp lưỡng tínhcataflot, với thuốc tập hợp này có thể thực hiện sơ đồ tuyển anion – cation chỉ dùngmột thuốc tập hợp, với điều kiện thay đổi pH.Đầu tiên với pH tự nhiên ta tuyểncarbonat, sau đó trong môi trường axit tạo bởi axit phosphoric ta tuyển silicat Phương

án này được áp dụng cho kết quả khả quan với quặng phosphat – carbonat ở Tuynizi,Maroc, Ai Cập, Pháp, Florida (Mỹ)

Cho đến nay, sơ đồ tuyển nổi ngược trong môi trường axit vẫn là phươnghướng chính để tuyển quặng phosphat - đolomit nguồn gốc trầm tích khó tuyển, có thểdùng nhiều loại axit có hiệu quả nhưng hiệu quả nhất vẫn là axit phosphoric

- Tuyển nổi thuận: Người ta có thể tuyển nổi chọn riêng có hiệu quả apatit vàcarbonat đối với những quặng có nguồn gốc macma Ở Braxin, từ quặng 5% P2O5 khi

đè chìm canxit bằng tinh bột và tuyển nổi apatit bằng dầu talo có thể nhận được tinhquặng 36 – 38% với mức thực thu P2O5 là 80% Ở Phần Lan, từ quặng 4% P2O5 khi ápdụng thuốc tuyển mới dạng dẫn xuất lưỡng tính từ sarcozin nhận được tinh quặng 36 –37% với mức thực thu P2O5 là 85%

Tuyển nổi tách apatit và carbonat trong môi trường kiềm là một việc phức tạp,cho đến nay vấn đề đã trở nên ít khó khăn hơn Carbonat có thể bị đè chìm bởi thuỷ

Trang 12

tinh lỏng, các polime nguồn gốc hữu cơ như tinh bột, dectrin, licnhin… Nhất là hỗnhợp của những thuốc đè chìm trên.Với những chế độ thuốc đè chìm và thuốc tập hợpdạng axit béo, trong nhiều trường hợp có thể người ta đã đạt được những kết quả khảquan.

Những năm gần đây đã xuất hiện một loại thuốc tập hợp có độ chọn riêng caođối với sơ đồ tuyển nổi thuận Thuốc tập hợp lưỡng tính dạng N – axit hoá axit amin

OS – 100 ( Thuỵ Điển), dẫn xuất của sarcozin (Phần Lan), DAK (Liên Xô)… Đây lànhững thuốc tập hợp chọn riêng cao đối với apatit, cho nhiều chỉ tiêu công nghệ tốt và

có khả năng làm việc trong các chế độ nước tuần hoàn phức tạp

Những thử nghiệm với thuốc tập hợp Flotol 7,9 (dẫn xuất alkyl của axitphosphoric) ở Liên Xô với quặng mỏ Cordor thành phần vật chất phức tạp cho nhữngkết quả lý tưởng

Sơ đồ tuyển nổi thuận thường được áp dụng đối với quặng apatit – carbonatnguồn gốc macma.Đối với quặng phosphat – carbonat nguồn gốc trầm tích, các sơ đồnày thường kém hiệu quả và ít được áp dụng hơn.Tuy nhiên, đối với quặng trầm tích

đã bị biến chất, khi mà chất phosphat đã ở dạng apatit người ta vẫn có thể thử nghiệmvới các sơ đồ tuyển nổi thuận tương tự

Đối với quặng phosphat – đolomit nguồn gốc trầm tích để tuyển nổi chọn riêngchúng bằng sơ đồ tuyển nổi thuận thì thông thường đó là những chế độ thuốc tuyểnphức tạp với hỗn hợp các thuốc tập hợp, hỗn hợp các thuốc đè chìm Nghiên cứutuyển nổi thuận quặng phosphat – đolomit Karatau với thuốc đè chìm là hồ tinh bột,thuốc tập hợp là hỗn hợp của 3 loại thuốc, từ quặng 23,5% P2O5; 2 – 2,4% MgO nhậnđược tinh quặng 28,5% P2O5; 1,8% MgO với mức thực thu 76% P2O5

- Tuyển huyền phù là một trong những phương pháp phổ biến và quen biết nhất

để tuyển than và nhiều loại khoáng sản khác Tuy nhiên, đối với quặng phosphatphương pháp này mới được thử nghiệm , người ta phát hiện ra rằng trong thành phần

Trang 13

của nhiều quặng phosphat – carbonat và phosphat - carbonat thạch anh có nhiều thànhphần thạch học khác nhau với hàm lượng P2O5 và MgO khác nhau, các thành phầnthạch học này có thể tách ra khỏi nhau ở cấp hạt thô hơn nhiều so với cấp hạt giảiphóng các khoáng vật.

Những nghiên cứu đầu tiên về đặc tính trọng lực và tính khả tuyển bằng huyềnphù đã được nghiên cứu cho các quặng phosphat – đolomit Florida (Mỹ) và Karatau(Liên Xô) Kết quả cho thấy rằng phương pháp tuyển huyền phù rất có triển vọng đốivới quặng khó tuyển Karatau, tuỳ theo mục đích mà người ta lấy tỷ trọng phân tách là2,9 g/cm3 (để tách thạch anh và một phần carboant) hoặc 3,0 g/cm3 (để tách phần nặng

là tinh quặng phosphat)

Đối với quặng Karatau, tuyển huyền phù thực hiện các chức năng sau:

- Tách đá vây quanh làm nghèo quặng

- Tách quặng ra các thành phần làm nguyên liệu cho lò điện và nguyên liệu xử lýaxit

- Tuyển quặng sơ bộ trước khi tuyển nổi hoặc nung thiêu

- Xemhình2.1

Trang 14

NghiÒn Nguyªn liÖu cho lß ®iÖn

Hình 2.1: Sơ đồ tuyển huyền phù quặng Janatas (Karatau)

- Các phương pháp tuyển hoá: Các nhà khoa học Mỹ công bố rằng khi sục khíSO2 vào bùn quặng có thể làm giảm đáng kể thành phần MgO của tinh quặng tuyểnnổi từ quặng phosphat – carbonat Trong quá trình sục khí này, một số muối mangan,sắt, đồng, có trong quặng phosphat làm chất xúc tác quá trình oxi hoá SO2 pha lỏngthành axit suphuric và axit này phân huỷ carbonat canxi và manhe thành sunphat.Nhiều nghiên cứu khác tập trung vào quá trình ngâm chiết các quặng phosphat nghèo,

Trang 15

kết hợp quá trình sản xuất phân bón phức hợp.Quá trình ngâm chiết trong axit nàythường có rượu hoặc axeton trong bùn quặng.

Mô tả quá trình xử lý quặng phosphat nghèo ở Úc: Quặng được xử lý bởi hỗnhợp nước, axeton, SO2 và sau đó tách quặng không tan Dung dịch được đun nóng, kếttủa dicanxi phosphat và sunphat canxi, axeton và một phần SO2 được thu hồi và quayvào quá trình công nghệ

Một sơ đồ xử lý độc đáo quặng phosphat – đolomit là sơ đồ tuyển hoá - tuyểnnổi quặng Karatau của Liên Xô: Quặng được nghiền mịn và sau đó đưa vào quá trìnhphân huỷ carbonat trong dung dịch đặc biệt, manhe chuyển vào dung dịch dạng hỗnhợp MgSO4 + Mg(H2PO4)2, còn CaO kết tủa thành thạch cao CaSO4 Mức độ thu hồiMgO khoảng 60 -70% Vì trong dung dịch có Mg(H2PO4)2 nên phosphat không đi vàdung dịch được, phần rắn gồm có thạch cao, phosphat và thạch anh Pha lỏng được đisản xuất manhe phosphat anmoni 30 – 35% P2O5, 17 – 20% Mg và 7 – 8% N, sảnphẩm cát của bể cô đặc được phân theo cấp -0,074 mm Nước tràn bể cô đặc cùng vớiđuôi tuyển nổi đi xử lý axit (H2SO4), cát của máy phân cấp đưa đi tuyển nổi Tuyểnnổi đựơc tiến hành ở pH = 6 – 8,5 với thuốc tập hợp cation, sản phẩm bọt thu hồi tới90% thạch cao và 60% cặn không tan, sản phẩm ngăn máy được đưa đi cô đặc, lọc,sấy và sản xuất axit phosphoric trích ly (xem hình 2.2)

Các nhà khoa học Mỹ đưa ra một số đề án thay đổi bề mặt khoáng vật đưa vàotuyển, bề mặt của các khoáng vật phosphat được phủ một màng mỏng sunphit, sau đóphosphat sẽ có khả năng được tuyển nổi bằng các thuốc tập hợp đối với quặngsunphit Trong quá trình tuyển nổi phosphat đi vào sản phẩm bọt, carbonat và silicatcòn lại trong sản phẩm ngăn máy

Trang 16

Manhe phosphat ammoni

Sấy

Quặ ng đầu -15mm

Xử lý H2SO4

Lọc

Tinh quặng để trích ly axit phosphoric

Bã thải

Hỡnh 2.2: Sơ đồ tuyển hoỏ - tuyển nổi quặng Karatau

Như vậy việc phõn tỏch quặng phosphat – carbonat – silicat chỉ cần tiến hànhtrong một cụng đoạn tuyển nổi Từ quặng phosphat – carbonat trung Florida chứa9,5% P2O5; 1,47%MgO sau chế độ tuyển như trờn nhận được tinh quặng 29% P2O5;0,85% MgO và 12,4% SiO2, thực thu P2O5 là 82,4%

Trang 17

Một đề án khác của các nhà khoa học Anh là khi trong bùn quặng có thuốctuyển ta thêm vào manhetit nghiền mịn, những hạt manhetit này sẽ bám một cáchchọn lọc lên chỉ một khoảng vật Sau đó quá trình tuyển được tiến hành trong các máytuyển từ cường độ cao.Quặng đưa vào tuyển là đá vôi chứa phosphat 8% P2O5, khoángvật chính là canxi Quặng được nghiền, khử slam và cấp 0,01 – 0,25 mm đi tuyển.Tinh quặng manhetit đựơc nghiền tới cấp hạt - 0,03mm và 24 giờ trước khi sử dụngthì trộn theo tỷ lệ nhất định với chất hoạt tính bề mặt Khuấy tiếp xúc bùn đặc, hỗnhợp manhetit với chất hoạt tính bề mặt ở pH = 11 trong vòng 10 phút Sau đó trongtrường điện từ yếu người ta loại đi manhetit thừa không bám vào các hạt khoáng.Ởmáy tuyển từ cường độ cao người ta tách sản phẩm từ chủ yếu là canxit và sản phẩmkhông từ là tinh quặng phosphat Sau quá trình tuyển như vậy ta nhận được tinh quặng

25 – 26% P2O5 với mức thực thu 80% P2O5 Chi phí manhetit 25 – 50 kg/tấn, chi phíhoạt tính bề mặt 1,1 – 2,8 kg/tấn

1.2.1 Tình hình tuyển quặng II ở Việt NamQuặng loại II hiện được sử dụng với quy mô nhỏ, làm nguyên liệu cho một số nhà máy phân lân nung chảy, lớn nhất là nhà máy phân lân Văn Điển Quặng cục loại II yêu cầu để sản xuất phân lân nung chảy có hàm lượngP2O5 22 – 24%, độ ẩm < 4%, độhạt 50 – 200 mm Các dạng sử dụng khác: Sản xuất phospho vàng, axit phosphoric trích ly mới ở quy mô bán công nghiệp

Quặng II hiện chủ yếu được tuyển trong phòng thí nghiệm bằng các phương pháp:

- Tuyển theo phương pháp tuyển nổi

Quặng apatit – carbonat Lào Cai đầu tiên được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và quy mô bán công nghiệp tại Viện nghiên cứu quốc gia về nguyên liệu Mỏ Hoá Chất, Liên Xô năm 1958 Từ mẫu quặng Mỏ Cóc 24,28% P2O5 và 6,01% MgO, bằng sơ đồ tuyển nổi tập hợp chọn riêng dùng axit phosphoric đã nhận được tinh quặng 34%

Trang 18

P2O5 với mức thực thu P2O5 là 75% Chi phí thuốc tuyển là 2,0 kg/tấn xà phòng lỏng, 0,5 kg/tấn thuỷ tinh lỏng và 10 kg/tấn H3PO4.

Tại phòng thí nghiệm của trường Đai học Mỏ - Địa Chất cũng áp dụng sơ đồ trên, từ quặng Mỏ Cóc 27% P2O5 cũng nhận được tinh quặng 37,5%P2O5 với mức thực thu P-2O5 là 72,5% Chi phí thuốc tuyển là 1,5 kg/tấn axit oleic; 1,5 kg/tấn thuỷ tinh lỏng; 5,0 kg/tấn xôda và gần 30 kg/tấn axit sunphuaric (tuyển trong chế độ không dùng nước tuần hoàn)

Trong nghiên cứu hợp tác giữa trường Đại học Mỏ địa chất và công ty thiết kế mỏ hoáchất có tiến hành một đề tài nghiên cứu bổ xung tuyển quặng II, trong đó các tác giả tập trung nghiên cứu các phương pháp tuyển không phải là sơ đồ tuyển nổi ngược với axit phosphoric.Mẫu quặng nghiên cứu là quặng loại II Mỏ Cóc Lần đầu tiên thử nghiệm nung hoá vôi và phương pháp tuyển nổi thuận với các thuốc đè chìm khác nhau: Thuỷ tinh lỏng (với mođun 2,5 - 3,25), than hoạt tính, taniauh, quebracho, natri sunphat và amonsunphat cũng như hỗn hợp thuỷ tinh lỏng với đồng sunphat và thuỷ tinh lỏng với natri phosphat dibasic Theo kết quả nghiên cứu thì nung hoá vôi là không có hiệu quả với quặng loại II Lào Cai.Các sơ đồ tuyển nổi thuận cho kết quả không cao.So với sơ đồ tuyển nổi ngược dùng axit phosphoric thì hàm lượng quặng tinh apatit thấp hơn 4 -5%

Tất cả các nghiên cứu trên đều tập trung nghiên cứu mẫu quặng loại II Mỏ Cóc.Các nghiên cứu cũng cho thấy rằng bằng sơ đồ tuyển nổi ngược với axit phosphoric cho kết quả tốt hơn các sơ đồ tuyển nổi thuận và phương pháp nung hoá vôi

Tuyển nổi ngược: Mẫu 201 được tuyển nổi theo sơ đồ hình 1.3 với chi phí thuốc tuyển 500 g/tấn CKK và 6500 g/tấn H3PO4 (5000 g/t vào tuyển chính và 500 g/t vào mỗi tuyển tinh) nhận được tinh quặng 29,27% P2O5; 2,33% MgO, với thực thu P2O5 là80,36% Khi tăng chi phí H3PO4 lên 12000 g/t (9000 g/t vào tuyển chính và 1000g/t

Trang 19

vào mỗi tuyển tinh) nhận được tinh quặng 30,97% P2O5; 1,62% MgO với mức thực thu P2O5 là 83,30%.

Tuyển nổi thuận: Với chế độ thuốc tuyển 500g/t thuỷ tinh lỏng; 105g/t flotol và 52,5 g/t HΨK, đã thu được tinh quặng 34,79% P2O5; 1,88% MgO với mức thực thu P2O5 là 87,77%

- Tuyển theo phương pháp tuyển trọng lực

Các chuyên gia Nga cũng đã tiến hành khảo sát và nghiên cứu khả năng áp dụng phương pháp tuyển trọng lực cho một số mẫu quặng loại II Lào Cai, kết quả cho thấy:Mẫu quặng Đông Hồ: Hàm lượng silic cao nên khả năng tuyển trọng lực là tốt Từ mẫu 202 tách ra được 30,6% sản phẩm thải với hàm lượng P2O5 5,7%; MgO 9,7% và 33,6% cặn không tan Mất mát P2O5 theo sản phẩm nhẹ 9,4%

TuyÓn næi chÝnh TuyÓn tinh 1

TuyÓn tinh 2 TuyÓn tinh 3

MÉu 201

Hình 1.3: Sơ đồ thí nghiệm tuyển nổi mẫu quặng 201

Trang 20

Từ mẫu này ta có thể nhận được sản phẩm giàu (cấp tỷ trọng +3,05 g/cm3) 31,4% P2O5; 3,6% MgO; 1,1% cặn không tan và sản phẩm trung gian với thu hoạch 36,5%

có 22,4% P2O5; 7,2%MgO và 4,7% cặn không tan Sản phẩm trung gian này có thể tuyển nổi tiếp tục hoặc được sử dụng để sản xuất phân lân nung chảy

Từ mẫu 201 khu Mỏ Cóc có thể tách ra sản phẩm quặng thải cấp tỷ trọng nhẹ với thu hoạch 15,7%, hàm lượng P2O5 11,6%; MgO 10,8% và cặn không tan 13,7% Có thể tách ra cấp tỷ trọng nặng (+3,05g/cm3) tinh quặng 32,1%P2O5; 3,7%MgO; 2,4% cặn không tan Nếu tăng tỷ trọng phân tách tới 3,1 g/cm3 thì hàm lượng P2O5 trong sản phẩm nặng tăng tới 34 – 35% P2O5

- Sơ đồ tuyển kết hợp trọng lực - tuyển nổi

Để xác định các chỉ tiêu tuyển quặng II theo sơ đồ tuyển kết hợp, các sản phẩm phân tách trọng lực cũng như cấp vụn mẫu 201 và 202 được thử nghiệm xử lý tiếp tục Quátrình tuyển tách các khoáng vật silic vào cấp tỷ trọng nhẹ không những chỉ giảm tải trọng vào các khâu nhiều tốn kém là nghiền và tuyển nổi, mà còn tạo điều kiện thuận lợi để nhận tinh quặng apatit chất lượng cao, vì lúc đó nhiệm vụ của công đoạn tuyển nổi chỉ là phân tách các khoáng vật apatit và carbonat

Phương án 1: Tuyển trọng lực một giai đoạn và sau đó tuyển nổi tiếp tục cấp tỷ trọng

nặng

Trang 21

Hình 1.4: Sơ đồ tuyển kết hợp trọng lực - tuyển nổi mẫu quặng 201 và 202

Trang 22

Bảng 1.6: Các chỉ tiêu tuyển quặng loại II theo sơ đồ tuyển kết hợp

Các sản phẩm và

các chỉ tiêu

Tuyển nổi ngược

Tuyển nổi thuận

Tuyển nổi ngược

Tuyển nổi thuận

HΨK-0,05

Trang 23

Phương án 2: Tuyển huyền phù hai giai đoạn Tuyển nổi chỉ tiến hành với các cấp tỷ

trọng sản phẩm trung gian và cấp hạt vụn

QuÆng sau ®Ëp Ph©n cÊp

TuyÓn träng lùc 2 giai ®o¹n

Hình 1.5: Sơ đồ tuyển kết hợp theo phương án 2 mẫu quặng 201

Trang 24

Phương án 3: Sử dụng sơ đồ tuyển huyền phù hai giai đoạn theo sơ đồ hình 1.6,

tuyển nổi chỉ tiến hành với cấp tỷ trọng nặng và cấp hạt vụn còn cấp tỷ trọng sản phẩm trung gian dạng cục là sản phẩm hàng hoá Theo sơ đồ này, từ quặng dạng apatit – carbonat khu Mỏ Cóc có thể nhận được tinh quặng 36% P2O5

S¶n phÈm trung

gian d¹ng côc

QuÆng sau ®Ëp Ph©n cÊp

TuyÓn träng lùc 2 giai ®o¹n

CÊp tû

TuyÓn næi

QuÆng th¶i QuÆng tinh apatit

Hình 1.6: Sơ đồ kết hợp theo phương án 3 mẫu quặng 201

1.3 Tổng quan về tuyển nổi trọng lực Hydrofloat

1.3.1 Nguyên lý tuyển nổi trọng lực

Về nguyên lý, thiết bị này gần giống như các thiết bị phân cấp dòng nước ngược đã được áp dụng rất lâu để phân cấp các hạt khoáng mịn mà cụ thể là các máy phân cấp thủy lực.Theo nguyên lý phân cấp dòng nước ngược thì các hạt vật liệu được đưa vào thiết bị dạng cột thẳng đứng trong đó có dòng nước chảy ngược lên với tốc độ xác định Các hạt thô có tốc độ rơi lớn hơn tốc độ dòng nước ngược sẽ lắng xuống đáy

Trang 25

thiết bị và tháo tải ra ngoài, còn các hạt mịn có tốc độ rơi nhỏ hơn tốc độ dòng nước ngược sẽ bị cuốn theo dòng nước chảy tràn trên miệng thiết bị Các thiết bị này hoạt động trong điều kiện rơi tự do và phân tách theo độ hạt Đã từ lâu người ta cũng biết rằng, trong những thiết bị phân cấp dạng này, nếu nồng độ các hạt rắn lớn thì các hạt khoáng sẽ phân tách theo cả tỷ trọng Điều kiện phân cấp rơi vướng mắc nêu trên có thể được tạo ra bằng cách tháo tải các hạt lắng đọng một cách hạn chế để tạo ra bùn đặc trong thiết bị.Nói một cách khác, các hạt rắn tích tụ dưới đáy thiết bị phân cấp tạo nên một lớp vật liệu có vai trò như một lớp huyền phù tự sinh, ngăn cản các hạt

khoáng nhẹ hơn đi qua nó Các thiết bị tuyển dạng phân cấp rơi vướng mắc như trên được áp dụng nhiều để tuyển các loại quặng sa khoáng

Gần đây người ta nhận thấy rằng lớp vật liệu hạt rắn tạo môi trường phân tách như trên có thể tạo ra bằng cách duy trì vật liệu dưới dạng tầng sôi.Tầng sôi là trạng thái đặc biệt của các hạt khoáng mịn trong môi trường khí hoặc lỏng, chúng có khả năng duy trì mật độ cao nhưng vẫn ở trạng thái lơ lửng, tách rời nhau.Trạng thái tầng sôi được tạo ra bằng cách cho chất lỏng (hoặc chất khí) sục qua lớp vật liệu đặt trên tấm lưới phân phối Các thiết bị tuyển tầng sôi đã được áp dụng từ lâu trong công nghệ hóa học để duy trì tiếp xúc tối đa giữa các pha rắn và pha lỏng (cũng như giữa pha rắn

và pha khí) tuy nhiên để phân tách khoáng vật theo nguyên lý tuyển trọng lực thì mới chỉ được phát hiện và áp dụng trong những năm gần đây

1.3.2 Thiết bị tuyển nổi trọng lực hydrofloatThiết bị tuyển nổi trọng lực (hindered settling bed seperator (HSBS)) còn gọi là thiết

bị phân tách rơi vướng mắc là loại thiết bị trong đó các hạt cấp liệu rơi ngược với dòng nước đều đặn đi lên từ đáy thiết bị Các hạt vật liệu được phân tách trong các thiết bị này chủ yếu theo tỷ trọng và ở mức độ thấp hơn là theo độ hạt

HSBS đã được sử dụng làm thiết bị phân cấp trong công nghiệp khoáng sản từ nửa thế kỉ trước.Trong thiết bị này, nếu các hạt nhỏ có tốc độ rơi thấp hơn tốc độ dòng

Trang 26

nước tạo tầng sôi thì chúng sẽ đi vào vùng phía trên của lớp tầng sôi, còn các hạt thô

có tốc độ rơi cao hơn sẽ đi xuống phía dưới của vùng tầng sôi.Tuy nhiên, nếu trong cấp liệu kích thước hạt nằm trong một giới hạn nào đó thì sự phân chia được thực hiệnchủ yếu bởi sự khác nhau về khối lượng riêng của hạt.Các hạt mịn có khối lượng riêng thấp đi vào máng hứng sản phẩm tràn, trong khi đó các hạt thô có tỷ trọng cao đivào sản phẩm cặn qua cửa tháo đá và đi ra ngoài

Cần lưu ý rằng, hiệu suất phân tuyển theo tỉ trọng của máy HSBS chỉ phù hợp với cấpliệu có cỡ hạt nằm trong một giới hạn hẹp, hơn nữa tốc độ dòng nước đi lên thường thấp nên các máy này khi tuyển vật liệu đầu có độ hạt nằm trong giới hạn quá rộng, thường có sự lẫn lộn của các hạt thô có tỉ trọng thấp vào phần có tỉ trọng lớn Điều này dẫn đến sự tích tụ các hạt thô có tỉ trọng trung bình ở phía trên của lớp tầng sôi; những hạt này quá nhẹ không thể đi qua lớp tầng sôi và quá nặng không thể nâng lên

để vào sản phẩm tràn Tăng tốc độ dòng nước đi lên được xem là giải pháp để chuyển các hạt thô có tỉ trọng thấp vào sản phẩm tràn, song việc tăng tốc độ dòng nước đi lên cũng làm trôi hết các hạt mịn có tỉ trọng lớn vào máng tràn và sự lẫn lộn này sẽ làm giảm hiệu quả tuyển chung của máy

HSBS có các ưu điểm nổi bật như: diện tích chiếm chỗ nhỏ, dễ điều chỉnh tỷ trọng phân tuyển, làm việc ổn định, có thể thay đổi năng suất trong phạm vi rất rộng và hiệusuất tuyển cao HSBS có thể ứng dụng để: tuyển than (Reed, 1995; Honaker, 2000) tuyển khoáng sản cát (Mankosa, 1995) và tái chế dây dẫn điện (Mankosa và Carve, 1995) HSBS cũng có thể được sử dụng cho nhiều ngành công nghiệp khác như: làm giàu quặng sắt, thiếc, chì, kẽm v.v

Như chúng ta được biết thì trong quá trình tuyển nổi thì giai đoạn phân tách tổ hợp bóng khí- hạt khoáng ra khỏi bùn quặng có bản chất trọng lực Tổ hợp bóng khí hạt khoáng do có tỷ trọng nhẹ hơn nước nên nổi lên khỏi bùn tuyển nổi, vào sản phẩm bọt

và được tách ra ngoài Tuy nhiên các hạt thô quá không tuyển nổi được cho dù chúng

kỵ nước và bám vào được bóng khí Nguyên nhân là do trong điều kiện thủy động học

Trang 27

của ngăn máy tuyển nổi thì trọng lực cũng như các lực ly tâm sinh ra luôn phá vỡ các

tổ hợp bóng khí – hạt khoáng hình thành và do đó ngăn cản các hạt thô đi vào sản phẩm bọt

Để khắc phục hiện tượng trên người ta kết hợp quá trình tuyển nổi và tuyển trọng lực, tức là tuyển nổi vật liệu trong một thiết bị trọng lực nào đó và các quá trình này được gọi là tuyển nổi Trong các tài liệu tham khảo có mô tả các quá trình tuyển nổi - máy lắng, tuyển nổi -phân ly vít, tuyển nổi bàn đãi Trong các quá trình trên, vật liệu được

xử lý thuốc tuyển để tạo sự khác biệt về tính ưa kỵ nước của các hạt vật liệu cần phân tách trước khi cấp vào thiết bị trọng lực Thông thường ngoài các thuốc tập hợp phổ biến thì người ta bổ sung thêm dầu không cực để tăng cường độ kỵ nước của hạt vật liệu thô Trong quá trình tuyển nổi – máy lắng, nước dưới lưới được cấp dưới dạng hỗn hợp nước-bóng khí trong đó pha khí được phân tán dưới dạng các bóng khí mịn Các bóng khí này khi đi qua lớp vật liệu sẽ bám dính vào các hạt kỵ nước, tạo tổ hợp với chúng và thúc đẩy quá trình phân tầng vật liệu trong đó các hạt kỵ nước tập trung trên bề mặt lớp vật liệu Trong quá trình tuyển nổi bàn đãi thì các hạt kỵ nước được tiếp xúc với không khí khi chúng vượt qua các gờ đặt vuông góc với các gờ thông thường của bàn đãi và sau đó nổi trên bề mặt màng nước tương tự như tuyển nổi màng Quá trình tuyển nổi bàn đãi được áp dụng phổ biến để tuyển tách khử lưu huỳnh ra khỏi các tinh quặng trọng lực, ví dụ như tách arsenopyrit ra khỏi tinh quặng thiếc

Gần đây tại trường đại học Virginia (Mỹ) đã nghiên cứu phát triển quá trình tuyển kết hợp tuyển nổi với tuyển tầng sôi trong thiết bị gọi là Hydrofloat Thiết bị này về cấu tạo hoàn toàn giống như thiết bị tuyển tầng sôi cấp liệu theo phương ngang (máy Crossflow TBS) Sự khác biệt ở đây là nước tạo tầng sôi được sục khí và chứa các bóng khí nhỏ được tạo ra bởi các ống khuấy tĩnh (static mixer) Máy HydroFloat gồm một thùng hình chữ nhật được chia thành các buồng phân chia nhỏ ở phía trên, phía dưới là côn khử nước (xem hình 1.7)

Trang 28

Thiết bị này hoạt động tương tự như các máy HSBS truyền thống, trong đó cấp liệu rơi ngược với dòng nước đi lên, song lớp tầng sôi phải được thông khí liên tục bằng khí nén được phun lên từ hệ thống ống phun, tạo nên một lượng nhỏ các bóng khí trong lớp tầng sôi Các bóng khí này sẽ bám dính vào các hạt kị nước (bao gồm các hạt có tính kị nước tự nhiên hoặc nó được làm kị nước bề mặt bằng thuốc tập hợp) chứa trong lớp tầng sôi tạo thành tập hợp hạt - bóng khí có tỉ trọng thấp thúc đẩy các hạt này đi vào sản phẩm nhẹ thoát ra qua ngưỡng tràn ở trên Các hạt ưa nước tích tụ

và được tháo ra tại đáy thiết bị Sơ đồ cấu tạo và hoạt động của thiết bị Hydrofloat được trình bày tại hình vẽ Các thiết bị tuyển nổi trọng lực cho phép nâng cao độ hạt tuyển nổi đến vài mm

Tăng kích thước giới hạn trên của tuyển nổi hạt thô là một thách thức lâu dài trong ngành công nghiệp chế biến khoáng sản Hydrofloat làm tăng đáng kể thu hồi có chọnlọc các hạt thô bằng cách áp dụng nguyên tắc tuyển nổi - trọng lực cơ bản

Trong 15 năm qua công nghệ này đã được áp dụng thành công với các khoáng sản công nghiệp với khả năng thu hồi các hạt thô lên đến 3mm Gần đây, công việc thử nghiệm trong phòng thí nghiệm đối với quặng sunfua đã chỉ ra rằng thiết bị mới này

có khả năng thu hồi được các khoáng sản kim loại khi ở chế độ nghiền thô Do vậy giảm được rất nhiều chi phí năng lượng nghiền Ngoài ra thiết bị này còn ứng dụng đểtuyển tách than, quặng sắt, khoáng chất công nghiệp, các kim loại cơ bản, các chất sunfit,

Máy tuyển Hydrofloat nâng cao thu hồi hạt thô bởi các ưu điểm sau:

- Tăng khả năng va chạm hạt khoáng-bóng khí

- Tăng số lần trượt bóng khí-hạt khoáng

- Tăng thười gian lưu lại trong bùn quặng

- Giảm sự hỗn loạn và tách rời

Trang 29

- Giảm các giới hạn nổi

Hình 1.7 Sơ đồ nguyên lý cấu tạo máy Hydrofloat

Hydrofloat được thiết kế riêng cho xử lý nguyên liệu hạt thô Với thiết bị mới này có thể tối đa hóa hiệu quả sử dụng bằng cách thiết kế vòng tuyển nổi phân chia vật liệu đầu nơi mà vật liệu thô được điều chỉnh riêng biệt từ mùn Thiết bị Hydrofloat được phát minh để cung cấp một giải pháp cho ngành công nghiệp để vượt qua một thách thức lâu dài - thu hồi hiệu quả của các hạt thô hơn 150-200 µm

Bảng1.7 Bảng thông số của thiết bị tuyển Hydrofloat

Xảđáy

Van xả

Nước +khí bơm vào

Đầu nước vào

Ống trộ ntĩn h

Các hạt mịn/nhẹ Mặt phân cắt lớp tầng sôi

Bảng điều khiển

Xả tràn Cảm biến

Cấpliệu

Trang 30

Số hiệu máy Quy mô Kích thước

(DxH) mm

Khối lượng (Kg)

Năng suất (t/h)

HF - 150 Phòng thí nghiệm 140x600 165 0,3-0,45

HF - 400 Bán công nghiệp 410x1350 240 2,5-3,8

Trang 31

Để đánh giá đầy đủ những lợi thế, tiềm năng về công nghệ của Hydrofloat, một vòng thử nghiệm với công suất 5t/h đã được lắp đặt và đánh giá trong một nhà máy công

Trang 32

nghiệp tuyển photphat.Nguồn cấp nguyên liệu của vòng kiểm tra liên tục được phân loại, điều chỉnh và nâng cấp bằng cách sử dụng công nghệ Hydorfloat.Kết quả kiểm tra cho thấy Hydrofloat có thể tạo ra một sản phẩm photphat cao cấp trong một giai đoạn duy nhất của thiết bị phân tách Chất lượng sản phẩm dao động từ 70-72% BPL (phosphate xương vôi = 2,185 x% P2O5) và 5-10% insols (axit chất rắn không hòa tan) Thực thu BPL vượt quá 98% theo tỷ lệ nguyên liệu đầu lớn hơn 2t/h mỗi ft2 của diện tích mặt cắt ngang thiết bị phân tách Những kết quả này vượt trội so với tuyển nổi cột truyền thống, thu hồi ít hơn 90% các sản phẩm có giá trị tại một năng suất dưới 1 t/h mỗi ft2.

Hình 1.8 Quy mô thử nghiệm để dánh giá hoạt động của thiết bị Hydrofloat

Bước đầu từ kết quả trong phòng thí nghiệm và quy mô bán công nghiệp đã chỉ ra rằng máy tuyển nổi trọng lực Hydrofoat có khả năng đạt được thực thu BPL

(phosphate xương vôi) vượt trội so với các máy tuyển nổi cơ khí và máy tuyển nổi cộttruyền thống Điều này đặc biệt rõ ràng đối với hạt có kích thước >35 mesh.Thu hồi của hạt thô, những hạt có hàm lượng cao dẫn đến cải tiến rất nhiều chất lượng sản phẩm

Tuyển tách

Máy tuyển HydroFloat

CẤP

LIỆU

SẢN PHẨM THẢI

Sấy Tang quay

Cửa tháo sp thô (+ 0.6 mm)

QUẶNG TINH PHOSPHATE

Thùng khuấy Sấy

Phân cấp

Dòng ngang

Điều chỉnh Phân cấp

Trang 33

Hình 1.9 Kết quả thử nghiệm thu hồi Photphat thô

Đồ thị này cho thấy khả năng thu hồi cao và có chọn lọc rất cao khi sử dụng thiết bị HydroFloat để tuyển phosphate thô Dữ liệu từ 4 nhà máy khác nhau cho kết quả phù hợp

Hình 1.10 Máy tuyển Hydrofloat quy mô bán công nghiệp

Sản phẩm Inslo (%) Thực thu

P 2 O 5 (%)

Trang 34

Hình 1.11 Thiết bị Hydrofloat trong sản xuất

Sự phát triển của thiết bị Hydrofloat được dựa trên việc áp dụng nguyên tắc cơ bản của quá trình tuyển nổi Sự có mặt của lớp tầng sôi làm tăng tỷ lệ va chạm giữa hạt khoáng và bóng khí, thiết bị Hydrofloat vượt trội như một thiết bị để tuyển vét

Thiết bị này được lắp đặt ở phần cuối khâu gia công để thu hồi các hạt thô và trung bình Các hạt này thường bị mất mát khi sử dụng thiết bị tuyển thông thường Từ các kết quả thử nghiệm và trong công nghiệp cho thấy Hydrofoat có thể thu hồi được các hạt có thể lên đến hoặc vượt quá 3mm đối với kali và 2mm đối với sulfides.Quan trọng nhất Hydrofloat có thể thu hồi được các hạt có tính kị nước kém

Trang 35

Hình 1.12 Thu hồi khoáng vật đồng có kích thước 250 µm không được giải phóng từ một dòng đuôi thải thể hiện tốc độ nổi cao của thiết

bị HydroFloat.

Hình 1.13 Kali thô thu hồi từ vòng tuyển vét với kích thước cấp liệu vượt quá 3mm

Trang 36

CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU, PHƯƠNG PHÁP VÀ MẪU NGHIÊN CỨU 2.1 Mục đích nghiên cứu

Một trong những vấn đề trọng tâm của tuyển apatit là việc tuyển tách giữa apatit

và caxit, đôlômit vì các khoáng vật này có tính chất hoá lý gần giống nhau, có cùng cation Ca++ trên bề mặt cát khai, các ion PO43- và CO32- có kích thước gần như nhau nên chúng có tính nổi giống nhau Việc dùng nhiều phương hướng để tuyển quặng apatit loại II là một vấn đề hết sức cần thiết để ta có thể đạt được chất lượng tinh quặng yêu cầu phục vụ cho những khâu tiếp theo sau đó mà giảm thiểu đáng kể chi phí đập nghiền

Mục đích của công tác thí nghiệm trong đề tài là đánh giá khả năng kết hợp phương pháp tuyển nổi trọng lực và tuyển nổi thông thường để tuyển quặng apatit – carbonat Mỏ Cóc - Lào Cai cụ thể là: MCQ II2 cấp hạt -0,5 mm

2.2 Mẫu nghiên cứu

Mẫu nghiên cứu là mẫu quặng apatit loại 2 vùng Mỏ Cóc

Trang 38

Hình 2.2 Sơ đồ gia công mẫu quặng nguyên khai

Trang 39

Bảng 2.1 Thành phần độ hạt mẫu nghiên cứu

Bảng 2.2 Thành phần hóa học của quặng nguyên khai

Thành phần hóa học Đơn vị Hàm lượng phân tích

Bảng 2.3.Thành phần khoáng vật của quặng nguyên khai

Trang 40

Cấp hạt Thu hoạch (%) Hàm lượng

- Mẫu quặng apatit loại II này là loại hình quặng apatit – carbonat trầm tích biển và do

đó có thể tham khảo các tài liệu liên quan về tuyển đối tượng này để áp dụng

- Quặng apatit này là loại quặng khó tuyển nổi do tính chất tuyển nổi của 2 khoáng vật apatit và dolomit khá giống nhau Điều này cho thấy cần thiết phải có các thuốc tập hợp có tính chọn riêng cao cũng như các chế độ đè chìm đặc thù

- Mẫu quặng nghiên cứu có độ xâm nhiễm thô nên nếu có phương pháp tuyển cấp hạt thô thì không cần thiết phải nghiền mịn như tuyển nổi thông thường

CHƯƠNG 3: THÍ NGHIỆM TUYỂN NỔI

Ngày đăng: 11/08/2017, 22:43

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w