1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xung đột trong việc bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý đối với những dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý

117 506 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này có thể dẫn đến các xung đột quyền trong bảo hộ nhãn hiệu và CDĐL đối với các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý, cụ thể là có khả năng nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa của chủ sở hữu n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ ……

Xác định cha, mẹ, con và thực tiễn giải quyết tại Tòa án

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyờn ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nước và phỏp luật

Mó số : 60380101 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ………

HÀ NỘI – NĂM 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số

liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực

Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công

trình nào khác

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương I

KHÁI QUÁT VỀ XUNG ĐỘT TRONG BẢO HỘ NHÃN HIỆU VÀ CHỈ DẪN

ĐỊA LÝ ĐỐI VỚI DẤU HIỆU CHỈ NGUỒN GỐC ĐỊA LÝ 6

1.1 Khái quát về bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý đối với những dấu hiệu chỉ

nguồn gốc địa lý ………6

1.1.1 Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý 6

1.1.1.1 Định nghĩa dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý 6

1.1.1.2 Phân biệt dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý với tên gọi xuất xứ và chỉ dẫn địa lý 111.1.2 Bảo hộ nhãn hiệu đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý 14

1.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại nhãn hiệu 15

1.1.2.2 Bảo hộ nhãn hiệu đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý trên thế giới 19

1.1.3 Bảo hộ chỉ dẫn địa lý đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý 23

1.1.3.1 Khái niệm và đặc điểm của chỉ dẫn địa lý 23

1.1.3.2 Bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo hệ thống riêng trên thế giới 26

1.2 Xung đột trong bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý đối với những dấu hiệu

chỉ nguồn gốc địa lý 28

1.2.1 Khái niệm xung đột quyền sở hữu trí tuệ 28

1.2.2 Nguyên nhân xung đột trong bảo hộ nhãn hiệu – chỉ dẫn địa lý đối với các

dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý 30

Chương II

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG XUNG ĐỘT TRONG BẢO

HỘ NHÃN HIỆU VÀ CHỈ DẪN ĐỊA LÝ ĐỐI VỚI NHỮNG DẤU HIỆU CHỈ

Trang 4

NGUỒN GỐC ĐỊA LÝ Ở VIỆT NAM 34

2.1 Pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý đối với dấu hiệu chỉ

nguồn gốc địa lý 34

2.1.1 Pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý

……… 342.1.2 Pháp luật Việt Nam về bảo hộ chỉ dẫn địa lý đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc

địa lý ……… ……… 40

5

2.2 Thực trạng xung đột trong bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý đối với dấu

hiệu chỉ nguồn gốc địa lý 43

2.2.1 Xung đột trong đăng ký, xác lập quyền đối với những dấu hiệu chỉ nguồn gốc

địa lý ……… ……… 43

2.2.1.1 Thực trạng pháp luật điều chỉnh xung đột giữa nhãn hiệu và CDĐL

trong đăng ký, xác lập quyền đối với những dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý 44

2.2.1.2 Thực tiễn giải quyết xung đột giữa nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý trong

đăng ký, xác lập quyền đối với những dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý 52

2.2.2 Xung đột trong bảo vệ quyền đối với nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý đối với những

dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý 59

Chương III

THÁCH THỨC TRONG BẢO HỘ NHÃN HIỆU, CHỈ DẪN ĐỊA LÝ VÀ CÁC

GIẢI PHÁP NHẰM GIẢM THIỂU XUNG ĐỘT TRONG BẢO HỘ CÁC ĐỐI

TƯỢNG NÀY TẠI VIỆT NAM 65

3.1 Thách thức liên quan đến xung đột giữa bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý

Trang 5

trong bối cảnh Việt Nam ký kết Hiệp định TPP 65

3.2 Định hướng trong việc giảm thiểu xung đột trong bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn

địa lý đối với các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý 74

3.2.1 Tạo sự phù hợp giữa pháp luật trong nước với các cam kết quốc tế mà Việt

Nam là thành viên 76

3.2.2 Quy định bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý phù hợp với thực tế của Việt

Nam ……… ………77

3.2.3 Đảm bảo cân bằng lợi ích cộng đồng và lợi ích tư (lợi ích cá thể) 79

3.2.4 Đảm bảo sự phối hợp tham gia của Nhà nước, bộ ngành liên quan, các hiệp

hội và người sản xuất địa phương trong quá trình bảo hộ nhãn hiệu và CDĐL đối

với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý 80

3.3 Một số giải pháp nhằm giảm thiểu xung đột trong bảo hộ nhãn hiệu và chỉ

dẫn địa lý đối với những dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý 81

3.3.1 Giải pháp pháp lý về đăng ký xác lập quyền đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa

lý ………813.3.1.1 Quy định quyền tư hữu đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý nhưng

dưới sự giám sát của tập thể và cộng đồng 81

3.3.1.2 Xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm đặc thù dựa trên các bộ

tiêu chuẩn quốc tế đối với các sản phẩm gắn liền với chỉ dẫn nguồn gốc địa lý 83

3.3.1.3 Bổ sung các hình thức công báo đăng ký nhãn hiệu đối với dấu hiệu chỉ

nguồn gốc địa lý 84

3.3.2 Tăng cường chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình thẩm

định đăng ký bảo hộ nhãn hiệu chứa dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý 85

3.3.3 Tăng cường các chương trình hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu

Trang 6

chứng nhận hoặc CDĐL đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý 86

3.3.4 Nâng cao ý thức của cộng đồng sản xuất về ý nghĩa và lợi ích của bảo hộ dấu

hiệu chỉ nguồn gốc địa lý 87

KẾT LUẬN 88

DANH SÁCH CÁC CDĐL ĐÃ ĐƯỢC ĐĂNG BẠ 90

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển với rất nhiều nông sản có chất lượng

và tính chất đặc thù cao như gạo Hải Hậu, nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều Thanh

Hà, bưởi Đoan Hùng, v.v Ngoài nông sản, rất nhiều địa phương của Việt Nam còn

có các đặc sản nổi tiếng khác như nước mắm Phú Quốc, bánh đậu xanh Hải Dương,

lụa Hà Đông, v.v Những thương hiệu này có một giá trị thương mại rất lớn, là

công cụ marketing hữu hiệu trong nền kinh tế hội nhập toàn cầu Bảo hộ pháp lý

hiệu quả các thương hiệu này không chỉ góp phần nâng cao giá trị thương mại của

hàng hóa Việt Nam trên thị trường thế giới mà còn góp phần bảo tồn các giá trị văn

hóa và tri thức truyền thống của dân tộc kết tinh trong những sản phẩm hàng hóa

này Bên cạnh đó, nhãn hiệu cũng là một tài sản đáng lưu tâm của các doanh nghiệp

trong quá trình hội nhập và kinh doanh Không ít các doanh nghiệp muốn sử dụng

các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý trong nhãn hiệu của mình để tận dụng được uy tín

và danh tiếng từ khu vực địa lý được chỉ dẫn và tạo được sự tin tưởng đối với người

tiêu dùng

Mặc dù nhãn hiệu và CDĐL là hai đối tượng SHCN độc lập, tuy nhiên, ở một

số khía cạnh, hai đối tượng này cũng có thành phần cấu tạo, chức năng và cách thức

sử dụng tương tự nhau Điều này có thể dẫn đến các xung đột quyền trong bảo hộ

nhãn hiệu và CDĐL đối với các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý, cụ thể là có khả

năng nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa của chủ sở hữu nhãn hiệu và hàng hóa gắn

chỉ dẫn địa lý trong trường hợp sử dụng dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây

nhầm lẫn Như vậy, trong vấn đề xác lập và bảo vệ quyền giữa nhãn hiệu và CDĐL,

Trang 9

nếu có tranh chấp xảy ra thì quyền ưu tiên sẽ thuộc về ai?

Đặc biệt, vừa qua Việt Nam đã tham gia ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái

Bình Dương (Trans-Pacific Partnership - TPP), đây được xem như một bước đi

quan trọng của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế; là cơ hội lớn để

nước ta đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, cải cách thể chế, nâng cao năng lực

cạnh tranh của nền kinh tế cũng như của cộng đồng doanh nghiệp Tuy nhiên, trong

lĩnh vực SHTT, Hiệp định TPP với một số quy định mới về bảo hộ CDĐL đã đặt

chúng ta đứng trước nhiều thách thức mới về việc xung đột giữa bảo hộ nhãn hiệu

và CDĐL đối với các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý

Vậy, thực tiễn quan hệ xung đột giữa bảo hộ nhãn hiệu và CDĐL đối với

những dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý như thế nào, thực trạng giải quyết vấn đề này

ra sao và đã có phương án giải quyết triệt để hoặc hạn chế quan hệ xung đột này

trong quy định pháp luật hiện hành hay chưa là những vấn đề cần được giải đáp một

cách đầy đủ và hệ thống Chính vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Xung đột trong việc

bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý đối với những dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý”

làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Liên quan đến việc nghiên cứu các quy định pháp luật về việc bảo hộ chỉ dẫn

địa lý và nhãn hiệu nói riêng đã có nhiều đề tài nghiên cứu như: “Bảo hộ quyền sở

hữu công nghiệp đối với CDĐL theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật

học - Ninh Thị Thanh Thủy, người hướng dẫn - TS Nguyễn Thị Quế Anh - năm

2009; “Bảo hộ CDĐL ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận

án tiến sỹ luật học – Vũ Thị Hải Yến - năm 2008; “Bảohộ nhãn hiệu theo quy định

của hiệp định Trips và pháp luật Việt Nam”, Khoá luận tốt nghiệp - Lương Thị

Trang 10

Thanh Lan, người hướng dẫn - ThS Nguyễn Thái Mai – năm 2010; “Điều kiện bảo

hộ nhãn hiệu theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam”, Khoá luận tốt

nghiệp - Nguyễn Thị Hà, người hướng dẫn - ThS Nguyễn Thị Tuyết - năm 2011;

“Khắc phục những bất đồng về bảo hộ chỉ dẫn địa lý” – Trần Văn Hải, Tạp chí

Nghiên cứu lập pháp, số 04/2016 Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu trên nhằm

hướng tới đối tượng nghiên cứu là CDĐL hoặc nhãn hiệu một cách riêng lẻ

Đề cập tới mối quan hệ giữa bảo hộ CDĐL và nhãn hiệu, đã có các đề tài

nghiên cứu, bài viết trên các tạp chí luật pháp như: “Bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn

địa lý theo quy định của Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương” – Vũ Thị Hải

Yến, Nhà nước và Pháp luật, Số 2/2016 “Mối quan hệ giữa bảo hộ CDĐL và bảo

hộ nhãn hiệu theo quy định của Luật SHTT Việt Nam” – Vũ Thị Hải Yến, Tạp chí

Luật học số 10/2007 Các công trình trên đây đã phần nào nghiên cứu cơ sở lý luận

và những vấn đề pháp lý xung quanh quan hệ xung đột trong bảo hộ nhãn hiệu và

chỉ dẫn địa lý Tuy nhiên chưa đề tài nào đi sâu vào phần thực trạng xung đột Bên

cạnh đó, đã có các đề tài nghiên cứu về xung đột trong bảo hộ quyền SHCN, tuy

nhiên chỉ đề cập tới xung đột quyền SHCN nói chung hoặc quan hệ xung đột giữa

các đối tượng SHTT khác như tên thương mại và nhãn hiệu hoặc nhãn hiệu và bản

quyền tác giả Đặc biệt, chưa có đề tài nào nghiên cứu về quan hệ xung đột giữa

bảo hộ nhãn hiệu và CDĐL đối với các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý trong bối

cảnh Việt Nam vừa mới ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương với các

quy định mới về bảo hộ CDĐL

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các xung đột về quy định pháp

Trang 11

luật và thực tiễn thực thi trong việc bảo hộ nhãn hiệu và CDĐL đối với các dấu hiệu

chỉ nguồn gốc địa lý tại Việt Nam Bên cạnh quy định của pháp luật Việt Nam, luận

văn cũng nghiên cứu các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật của các nước

trên thế giới để so sánh đối chiếu với pháp luật Việt Nam, đặc biệt có đề cập tới

quan hệ xung đột giữa hai đối tượng SHCN này trong bối cảnh Việt Nam vừa mới

ký kết Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương vào đầu năm 2016 Ngoài ra, luận

văn cũng nghiên cứu vụ việc điển hình trong thực trạng xung đột quyền giữa nhãn

hiệu và CDĐL, tìm ra những điểm còn hạn chế trong quy định của pháp luật cũng

như trong thực tế thực hiện quyền để đưa ra phương hướng, đề xuất giải pháp hạn

chế và giảm thiểu xung đột

Phạm vi nghiên cứu: Trong giới hạn cho phép của luận văn thạc sĩ, đề tài tập

trung nghiên cứu trong phạm vi các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về

quan hệ xung đột giữa bảo hộ nhãn hiệu và CDĐL đối với các dấu hiệu chỉ nguồn

gốc địa lý Đề tài chủ yếu đi sâu vào việc phân tích, nhận định, so sánh và đánh giá

các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành cũng như thực tiễn giải quyết xung

đột giữa bảo hộ nhãn hiệu và CDĐL Đồng thời tìm hiểu quy định pháp luật quốc tế

và một số quốc gia về giải quyết xung đột quyền giữa hai đối tượng SHCN này Từ

đó đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế, giảm thiểu các xung đột giữa bảo hộ nhãn

hiệu và CDĐL, đồng thời đảm bảo phù hợp với thực tiễn và các điều ước quốc tế

mà Việt Nam đã ký kết

4 Mục đích nghiên cứu của đề tài

- Làm sáng tỏ khái niệm về dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý và xung đột trong

bảo hộ nhãn hiệu và CDĐL đối với các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý

- Nêu và phân tích các trường hợp xung đột pháp luật trong bảo hộ nhãn hiệu

Trang 12

và CDĐL đối với các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý tại Việt Nam.

- Nêu ra thực trạng về xung đột trong bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý đối

với các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý và cách giải quyết các xung đột tại Việt Nam

- Thách thức về xung đột trong bảo hộ nhãn hiệu và CDĐL đối với các dấu

hiệu chỉ nguồn gốc địa lý trong bối cảnh Việt Nam vừa ký kết Hiệp định đối tác

xuyên Thái Bình Dương

- Đưa ra một số kiến nghị nhằm giảm thiểu, hạn chế các xung đột trong bảo hộ

nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý đối với các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý

5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng trong luận văn này là phương

pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

trong vấn đề bảo hộ nhãn hiệu và CDĐL đối với các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý

để đưa ra một cái nhìn tổng thể về quan hệ xung đột quyền trong bảo hộ hai đối

tượng SHCN này Với việc sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp này, luận văn

chỉ ra một số điểm hạn chế, bất cập của pháp luật Việt Nam về bảo hộ nhãn hiệu và

CDĐL từ đó đưa ra một số giải pháp giảm thiểu, hạn chế các xung đột trong bảo hộ

hai đối tượng SHCN này

Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp luật học so sánh, lịch sử,

thống kê để làm rõ quá trình phát triển của vấn đề được nghiên cứu, để đánh giá sự

tương thích của pháp luật Việt Nam so với pháp luật quốc tế

Các phương pháp nói trên đều dựa trên nền tảng là chủ nghĩa duy vật biện

chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trang 13

- Nêu ra được khái niệm về về dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý cũng như xung

đột trong bảo hộ nhãn hiệu và CDĐL đối với các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý

- Nêu và phân tích, đánh giá xung đột trong bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý

đối với các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý từ góc độ lí luận và thực tiễn

- Nêu và đánh giá các thách thức về xung đột trong bảo hộ nhãn hiệu và CDĐL

đối với các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý trong bối cảnh Việt Nam vừa ký kết Hiệp

định đối tác xuyên Thái Bình Dương

- Trên cơ sở khoa học và thực tiễn đưa ra những kiến nghị cũng như các giải

pháp nhằm giảm thiểu, hạn chế các xung đột trong bảo hộ nhãn hiệu và CDĐL đối

với các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần lời mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội

dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về xung đột trong bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý đối

với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý

Chương 2: Quy định của pháp luật và thực trạng xung đột trong bảo hộ nhãn

hiệu và chỉ dẫn địa lý đối với những dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý ở Việt Nam

Chương 3: Một số giải pháp nhằm giảm thiểu xung đột trong bảo hộ nhãn hiệu

và chỉ dẫn địa lý đối với những dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý

Trang 14

Chương I KHÁI QUÁT VỀ XUNG ĐỘT TRONG BẢO HỘ NHÃN HIỆU VÀ

CHỈ DẪN ĐỊA LÝ ĐỐI VỚI DẤU HIỆU CHỈ NGUỒN GỐC ĐỊA LÝ

1.1 Khái quát về bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý đối với những dấu hiệu chỉ nguồn gốcđịa lý

1.1.1 Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý

1.1.1.1 Định nghĩa dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý

Trước khi tìm hiểu về vấn đề bảo hộ nhãn hiệu và CDĐL đối với những dấu

hiệu chỉ nguồn gốc địa lý, chúng ta cần làm rõ nội dung: Dấu hiệu chỉ nguồn gốc

địa lý là gì? Theo từ điển Tiếng Việt thì “dấu hiệu” có nghĩa là “dấu dùng để làm

hiệu cho biết điều gì” 1… hay là “những điều, những biểu hiện để cho biết, chứng

tỏ điều gì” 2 Các dấu hiệu biểu thị sự vật, hiện tượng rất đa dạng, như hình ảnh,

màu sắc, từ ngữ, ký tự, âm thanh, tiếng động, mùi vị Có dấu hiệu có thể cảm nhận

trực tiếp bằng các giác quan như thị giác, thính xác, vị giác hay xúc giác, nhưng

cũng có dấu hiệu cần phải chuẩn đoán hoặc xét nghiệm qua các phương tiện hỗ trợ

như thiết bị điện tử Tuy nhiên, dù được biểu thị dưới hình thức nào hoặc cảm nhận

bằng phương tiện gì đi nữa, mục đích của dấu hiệu vẫn là biểu hiện, chứng tỏ một

nội dung nhất định Về thuật ngữ“địa lý”, có thể hiểu đó là toàn bộ hoặc một phần

bề mặt tự nhiên của Trái Đất với các hiện tượng tự nhiên, kinh tế, dân cư cùng tình

hình phân bố của chúng trên bề mặt đó Nói đến “nguồn gốc địa lý” là nói đến yếu

tố lãnh thổ - nơi phát sinh một sự vật, sự việc nhất định từ các yếu tố về tự nhiên, xã

hội hoặc kinh tế tại khu vực địa lý đó, khu vực địa lý này có thể là một quốc gia,

vùng lãnh thổ, một địa phương hoặc một khu vực như thôn, xóm, làng, bản Vậy,

hiểu một cách đơn giản thì dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý là bất kỳ sự diễn đạt, ký

Trang 15

hiệu hoặc biểu hiện nào đó cho biết một người hoặc sự vật được bắt nguồn từ một

khu vực địa lý nhất định

Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, việc sử dụng các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý

nhằm mục đích phân biệt hàng hóa trên thị trường đã xuất hiện từ rất lâu đời Từ

thời Trung cổ, người ta đã biết dùng những dấu hiệu liên quan đến địa lý như là

phương tiện để phân biệt những sản phẩm được sản xuất ở những địa phương khác

nhau Ban đầu, các nhà sản xuất gắn các dấu hiệu liên quan đến địa lý lên hàng hóa

của mình chỉ để phân biệt với hàng hóa của các chủ thể khác khi đưa ra thị trường

Về sau, ngoài chức năng phân biệt hàng hóa giữa các nhà sản xuất khác nhau, họ

còn muốn sử dụng các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý nhằm mục đích giới thiệu nơi

hàng hóa được sản xuất ra Chức năng này đòi hỏi thêm điều kiện hàng hóa phải có

xuất xứ từ khu vực địa lý mà dấu hiệu chỉ dẫn tới Việc sử dụng dấu hiệu chỉ nguồn

gốc địa lý trong trường hợp này đã thu hút hơn sự chú ý của khách hàng bởi gắn với

địa phương nơi hàng hóa được sản xuất ra

Mặc dù các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý có vai trò quan trọng trong giao lưu

thương mại, được các nhà sản xuất sử dụng từ hàng trăm năm nay, nhưng cho đến

đầu thế kỷ XIX, vẫn chưa có một điều ước quốc tế nào đưa ra khái niệm thống nhất

về đối tượng này Đến năm 1883, việc bảo hộ các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý ở

mức độ quốc tế lần đầu tiên được đề cập đến trong Công ước Paris về bảo hộ quyền

sở hữu công nghiệp Tại Công ước Paris, các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý được

gọi là “Chỉ dẫn nguồn gốc” (Indication of source) Điều 1 Công ước Paris đã quy

định chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ hàng hóa là đối tượng của quyền sở hữu

công nghiệp được bảo hộ tại các quốc gia thành viên Tuy nhiên, Công ước chưa

đưa ra khái niệm cũng như các dấu hiệu của chỉ dẫn nguồn gốc Kế thừa và phát

Trang 16

triển công ước Paris, Hiệp định Madrid về việc chống các chỉ dẫn sai lệch hoặc

nhầm lẫn về nguồn gốc (1891) đã quy định cụ thể và rõ ràng hơn về chỉ dẫn nguồn

gốc: “Bất kì sản phẩm nào mang chỉ dẫn sai lệch và lừa dối mà qua đó, một trong

số các quốc gia thành viên của thoả ước Madrid hoặc một địa diểm tại nước đó

được chỉ dẫn trực tiếp hoặc gián tiếp là nước hoặc địa điểm xuất xứ hàng nhập

khẩu vào bất kì quốc gia thành viên nào của thảo ước đều bị tịch thu”3 Mặc dù

Hiệp định Madrid chưa đưa ra khái niệm hoàn chỉnh về chỉ dẫn nguồn gốc nhưng

đã quy định các dấu hiệu đặc trưng để xác định thế nào là một chỉ dẫn nguồn gốc

Theo đó, một chỉ dẫn nguồn gốc gồm hai dấu hiệu như sau: (1) Chỉ dẫn nguồn gốc

có thể được thể hiện dưới bất kỳ dấu hiệu nào để chỉ dẫn về nguồn gốc địa lý của

hàng hóa như từ ngữ, tên gọi, hình ảnh, biểu tượng… hay nói cách khác là không

giới hạn các dấu hiệu được coi là chỉ dẫn nguồn gốc; (2) hàng hóa gắn chỉ dẫn

nguồn gốc phải được sản xuất tại khu vực địa lý được chỉ dẫn Theo đó, chỉ dẫn

nguồn gốc được quy định trong thoả ước Madrid phải là dấu hiệu chỉ dẫn chính xác

về một quốc gia hoặc một địa điểm trong một quốc gia mà tại đó, hàng hoá được tạo ra.Một câu hỏi được đặt ra ở đây là việc xác định địa điểm, khu vực địa lý hay

khu vực lãnh thổ được chỉ dẫn đến như thế nào? Đây cũng là yếu tố quan trọng

trong việc bảo hộ dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý Bởi vì một sản phẩm muốn được

mang chỉ dẫn nguồn gốc từ khu vực địa lý nào đó thi bắt buộc phải tồn tại khu vực

địa lý đó trên thực tế Đối với trường hợp bảo hộ “chỉ dẫn nguồn gốc”, hàng hóa tại

khu vực địa lý được chỉ dẫn không nhất thiết phải có chất lượng, uy tín và đặc tính

đặc trưng được quyết định bởi các yếu tố tự nhiên của khu vực địa lý tương ứng

Tuy nhiên, với trường hợp bảo hộ chỉ dẫn địa lý, khu vực địa lý tương ứng với chỉ

Trang 17

dẫn địa lý phải là khu vực mang các yếu tố tự nhiên có tính quyết định đến chất

lượng, đặc tính và uy tín của sản phẩm Khu vực này có thể bao gồm một hoặc

nhiều khu vực hành chính khác nhau, trong khi khu vực hành chính được tạo nên

bởi ý chí chủ quan của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Vậy dựa vào đâu để xác

định khu vực địa lý? Khu vực địa lý ở đây không thể chỉ xác định dựa trên khu vực

hành chính theo sự phân chia của cơ quan nhà nước mà được phân chia dựa trên yếu

tố hội đủ các điều kiện tự nhiên tạo nên tính chất, chất lượng đặc thù, danh tiếng của

sản phẩm

Từ các phân tích nêu trên có thể hiểu dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý (hay còn

được gọi là chỉ dẫn nguồn gốc) là bất kỳ diễn đạt, ký hiệu nào được sử dụng trên

hàng hóa có xuất xứ từ khu vực địa lý được chỉ dẫn nhằm cung cấp thông tin về

nguồn gốc địa lý của sản phẩm Các loại dấu hiệu chỉ dẫn nguồn gốc rất đa dạng và

phong phú, trên thực tế sử dụng có thể phân nhóm các loại dấu hiệu này dựa trên

các tiêu chí phân biệt như sau:

Căn cứ vào tính chất mô tả: Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý gồm 02 nhóm là

dấu hiệu mô tả trực tiếp về nguồn gốc địa lý và dấu hiệu mô tả gián tiếp nguồn gốc

địa lý (1) Dấu hiệu mô tả trực tiếp nguồn gốc địa lý là loại dấu hiệu phổ biến nhất,

trực tiếp cung cấp thông tin về nguồn gốc địa lý của sản phẩm Các dấu hiệu này có

thể là tên gọi của một quốc gia như “Hàn Quốc”, “Japan”… tên gọi một vùng lãnh

thổ, một thành phố hoặc một khu vực như Bến Tre, Buôn Mê Thuật… tên gọi một

hòn đảo, thung lung như Phú Quốc…và rất nhiều tên gọi khác Dấu hiệu này cũng

có thể là các ký hiệu, biểu tượng, hình ảnh chỉ dẫn đến khu vực địa lý Các dấu hiệu

này có thể là yếu tố gắn liền trong tâm trí người tiêu dùng về quốc gia tương ứng

như quốc kỳ, quốc huy những hình ảnh mô tả một địa danh quen thuộc nào đó

Trang 18

(ngọn núi, sông hồ ) hay biểu tượng đặc trưng của một khu vực địa lý như tượng

nữ thần tự do biểu tượng cho sản phẩm từ Mỹ, kim tự tháp biểu tượng cho sản phẩm

từ Ai Cập (2) Dấu hiệu mô tả gián tiếp nguồn gốc địa lý, đó có thể những phương

thức khác chỉ dẫn mối liên hệ về địa lý như ngôn ngữ nước ngoài có thể khiến

người tiêu dùng có cảm nhận sản phẩm, dịch vụ có nguồn gốc từ đất nước sử dụng

ngôn ngữ đó và quyết định lựa chọn sản phẩm, dịch vụ Đồng thời có quan điểm

cho rằng ngay cả tên của những nhân vật nổi tiếng cũng sử dụng để chỉ dẫn về một

địa danh gắn với họ như rượu Napoleon chỉ dẫn đến Pháp

Căn cứ vào cách thức trình bày: Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý gồm dấu hiệu

từ ngữ chỉ nguồn gốc địa lý, dấu hiệu hình chỉ nguồn gốc địa lý hoặc dấu hiệu kết

hợp chỉ nguồn gốc địa lý

Thứ nhất, dấu hiệu từ ngữ chỉ nguồn gốc địa lý: Dấu hiệu từ ngữ là sự kết hợp

giữa các chữ cái tạo thành từ ngữ có thể đọc được, có thể là từ đơn hoặc từ ghép, từ

có nghĩa hoặc không có nghĩa Dấu hiệu từ ngữ chỉ nguồn gốc địa lý cũng mang đặc

thù riêng so với những dấu hiệu từ ngữ khác bởi nó thường là tên riêng của quốc

gia, vùng lãnh thổ hoặc một khu vực, địa phương nhất định Các tên riêng này gồm

có cả địa danh hành chính và những địa danh không phải địa giới hành chính nhưng

có tên gọi quen thuộc từ lâu đời Ngoài ra, như đã nêu ở trên, dấu hiệu từ ngữ có thể

là tên những nhân vật nổi tiếng cũng sử dụng để chỉ dẫn về một địa danh gắn với họ

như rượu Napoleon chỉ dẫn đến Pháp

Thứ hai, dấu hiệu hình chỉ nguồn gốc địa lý: Dấu hiệu hình có thể bao gồm

hình vẽ hoặc hình ảnh, đây là những dấu hiệu mang tính chất nghệ thuật và chủ yếu

hướng tới những cảm nhận về thị giác của người tiêu dùng Trong đó, dấu hiệu hình

Trang 19

vẽ được hiểu là tập hợp các đường nét, mảng màu theo những nguyên tắc hội họa

nhất định trên mặt phẳng, phản ánh hình ảnh một vật thể nào đó trong tự nhiên

Những đặc trưng cơ bản của các dấu hiệu này là việc sử dụng các yếu tố đồ họa,

xây dựng các biểu tượng theo các nguyên tắc bố cục mỹ thuật, màu sắc Đây là loại

dấu hiệu bao gồm các hình vẽ trang trí, các nét vẽ, hình họa thể hiện nguồn gốc địa

lý, như hình vẽ áo dài và nón lá thể hiện sản phẩm từ Việt Nam, hình vẽ tháp Eiffel

thể hiện sản phẩm từ Pháp Dấu hiệu hình ảnh là ảnh chụp hình người, vật, cảnh

tượng thu được bằng khí cụ quang học (máy chụp ảnh) hoặc để lại ấn tượng nhất

định và tái hiện được trong trí nhớ Dấu hiệu hình ảnh được hiểu là cả dấu hiệu hai

chiều và dấu hiệu ba chiều Dấu hiệu hình vẽ hay hình ảnh chỉ nguồn gốc địa lý đều

có điểm chung là thể hiện biểu tượng đặc trưng của một quốc gia, khu vực, lãnh thổ

hoặc địa điểm nhất định

Thứ ba, dấu hiệu kết hợp chỉ nguồn gốc địa lý: Dấu hiệu kết hợp là sự kết hợp

của hai hay nhiều dấu hiệu, kết hợp giữa dấu hiệu từ ngữ và dấu hiệu hình nhằm thể

hiện nguồn gốc địa lý của sản phẩm hoặc dịch vụ, ví dụ như sự kết hợp giữa tên địa

lý Made in France và hình vẽ tháp Eiffel thể hiện sản phẩm nước hoa có nguồn gốc

từ Pháp Thông thường, dấu hiệu kết hợp được cấu tạo từ phần từ ngữ và phần hình

ảnh, trong đó phần hình ảnh và phần từ ngữ thường minh họa lẫn cho nhau Những

dấu hiệu kết hợp giữa các yếu tố từ ngữ và hình ảnh, hình vẽ chỉ nguồn gốc địa lý

được coi là có sức biểu cảm và mô tả cao hơn so với các dấu hiệu đơn thuần chỉ

gồm hình hoặc từ ngữ

Hàng hóa muốn gắn dấu hiệu chỉ dẫn nguồn gốc địa lý phải được sản xuất từ

khu vực địa lý được chỉ dẫn tới Bởi những hàng hóa có gắn chỉ dẫn nguồn gốc

được hưởng lợi từ danh tiếng của khu vực địa lý đó thông qua việc thu hút sự chú ý

Trang 20

của khách hàng Vì vậy, để đảm bảo nguyên tắc trung thực về xuất xứ hàng hóa,

hàng hóa đó phải thực sự có nguồn gốc từ khu vực địa lý được chỉ dẫn Tuy nhiên,

với cách giải thích này, chỉ dẫn nguồn gốc chỉ thuần túy nói lên nguồn gốc địa lý

của hàng hóa, là nơi hàng hóa đó được sản xuất mà không đòi hỏi hàng hóa đó phải

có chất lượng hoặc danh tính nhất định và không cần có sự liên quan nào giữa chất

lượng của hàng hóa và nơi sản xuất ra hàng hóa đó

1.1.1.2 Phân biệt dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý với tên gọi xuất xứ và chỉ dẫn

địa lý

Bên cạnh thuật ngữ “chỉ dẫn nguồn gốc”, tồn tại hai thuật ngữ thường được

dùng trong khuôn khổ pháp lý quốc tế cũng như pháp luật quốc gia để nói lên

nguồn gốc của sản phẩm là: “tên gọi xuất xứ” và “chỉ dẫn địa lý” Các thuật ngữ đó

có những điểm tương đồng nhưng cũng có những điểm khác biệt, cụ thể như sau:

Tên gọi xuất xứ hàng hóa (Appellation of Origin) là thuật ngữ xuất hiện lần

đầu tiên trong Công ước Paris 1883 và Hiệp định Lisbon về bảo hộ tên gọi xuất xứ

và đăng ký quốc tế tên gọi xuất xứ (1958) Hiệp định Lisbon quy định tên gọi xuất

xứ có ba đặc điểm: Là tên của một khu vực địa lý, địa danh nhất định như tên nước,

khu vực, địa phương cụ thể “Tên địa lý” phải là những tên gọi được sử dụng chính

thức trên bản đồ địa lý để chỉ một khu vực địa lý nhất định; hàng hóa có sử dụng tên

gọi xuất xứ phải bắt nguồn, được sản xuất từ khu vự địa lý mà nó chỉ dẫn; phải có

mối liên hệ giữa chất lượng và các tính chất đặc thù của hàng hóa với các yếu tố đặc

biệt của môi trường địa lý, bao gồm các yếu tố tự nhiên và con người

Chỉ dẫn địa lý (Geographical Indications): Khái niệm chỉ dẫn địa lý trong Hiệp

định về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp địnhTRIPS) là sự

Trang 21

kết hợp có chọn lọc giữa hai khái niệm chỉ dẫn nguồn gốc và tên gọi xuất xứ Cụ thể

hơn, các quy định về bảo hộ chỉ dẫn địa lý trong Hiệp đinh TRIPS không áp dụng

đối với chỉ dẫn nguồn gốc thông thường, mà chỉ được áp dụng đối với những sản

phẩm mà chất lượng và những đặc tính của nó là do nguồn gốc địa lý tạo nên Mặt

khác, tiêu chí để bảo hộ chỉ dẫn địa lý không quá khắt khe như tiêu chí của tên gọi

xuất xứ (tên gọi xuất xứ phải là tên địa danh và phải có mối liên hệ chặt chẽ giữa

đặc điểm, chất lượng của sản phẩm với các yếu tố địa lý bao gồm cả yếu tố tự nhiên

và con người), đối với chỉ dẫn địa lý cần sản phẩm có chất lượng, đặc tính hoặc uy

tín do yếu tố xuất xứ tạo nên

Có thể thấy ba thuật ngữ này có điểm chung đều nhằm chỉ dẫn về nguồn gốc

xuất xứ của sản phẩm, nghĩa là hàng hóa gắn chỉ dẫn bắt buộc phải được bắt nguồn,

sản xuất tại khu vực địa lý được chỉ dẫn tới Bên cạnh điểm tương đồng, các thuật

ngữ này tồn tại nhiều điểm khác biệt cơ bản được thể hiện qua bảng so sánh dưới

đây4:

Nội dung

so sánh Chỉ dẫn nguồn gốc Tên gọi xuất xứ Chỉ dẫn địa lý

Hiệp ước quốc tế

- Công ước Paris

Trang 22

Yêu cầu về chất lượng, danh tiếng sản phẩm gắn chỉ dẫn

Không yêu cầu về chất lượng, danh tiếng của sản phẩm

Sản phẩm phải có chất lượng, đặc tính đặc thù Sản phẩm phải có chất lượng, đặc tính đặc thùMối liên hệ giữa chất lượng và nguồn gốc địa lý

Không yêu cầu mối liên hệ giữa chất lượng, đặc tính và nguồn gốc địa lý của hàng hóa

Có mối liên hệ giữa chất lượng, đặc tính sản phẩm và địa danh sản xuất ra sản phẩm đó (cảyếu tố địa lý và con người)

Có mối liên hệ giữa chất lượng, đặc tính sả phẩm và địa danh sản xuất ra sản phẩm đó

Chỉ dẫn nguồn gốc, tên gọi xuất xứ và chỉ dẫn địa lý có mối liên hệ với nhau,

chỉ dẫn nguồn gốc là đối tượng có nghĩa rộng nhất bao hàm cả hai đối tượng còn lại

Còn tên gọi xuất xứ là đối tượng có nghĩa hẹp nhất, thuộc cả hai đối tượng còn lại

Nói cách khác, tên gọi xuất xứ là một dạng đặc biệt của chỉ dẫn địa lý, chỉ dẫn địa

lý là một dạng đặc biệt của chỉ dẫn nguồn gốc Cụ thể hơn, chỉ dẫn nguồn gốc đơn

thuần chỉ đề cập tới nguồn gốc địa lý của sản phẩm trong khi đó chỉ dẫn địa lý và

tên gọi xuất xứ đề cập đến cả đặc tính của sản phẩm do xuất xứ địa lý đem lại Yêu

cầu về mối quan hệ giữa sản phẩm với xuất xứ địa lý đối với tên gọi xuất xứ chặt

chẽ hơn so với chỉ dẫn địa lý Đối với tên gọi xuất xứ, sản phẩm phải có chất lượng

Trang 23

và tính chất đặc thù do điều kiện địa lý tự nhiên và con người tạo nên trong khi đó

đối với chỉ dẫn địa lý, sản phẩm chỉ có một đặc tính nào đó do nguồn gốc địa lý

đem lại, bất kể đó là đặc tính về chất lượng, danh tiếng hay đặc tính nào khác Đối

với tên gọi xuất xứ, toàn bộ quy trình sản xuất (từ sản xuất nguyên liệu thô đến chế

biến, tinh chế sản phẩm) nhất thiết phải diễn ra tại khu vực địa lý tương ứng còn đối

với chỉ dẫn địa lý, chỉ cần một hoặc một số công đoạn sản xuất diễn ra tại địa

phương đã đủ tạo nên đặc tính của sản phẩm

Trong bảo hộ quyền SHCN, dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý có thể được bảo hộ

cho nhiều đối tượng khác nhau như nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý

Những sản phẩm, dịch vụ mang dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý vốn không xa lạ gì

với các nhà sản xuất, kinh doanh trên thị trường, bởi sẽ dễ dàng hơn trong việc tạo

được danh tiếng cho cá nhân, nhà sản xuất hay doanh nghiệp vì dấu hiệu chỉ nguồn

gốc địa lý vốn đã được nhiều người biết đến rộng rãi từ lâu đời, dễ đi sâu vào tiềm

thức của người tiêu dùng Tuy nhiên, do có thể được bảo hộ cho nhiều đối tượng

SHCN khác nhau, vì vậy có thể sẽ phát sinh xung đột quyền trong quá trình đăng

ký, bảo hộ các đối tượng này, đặc biệt là giữa nhãn hiệu và CDĐL Vậy thế nào là

bảo hộ nhãn hiệu và CDĐL đối với các dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý? Vấn đề này

sẽ được làm rõ ở nội dung tiếp theo đây của luận văn

1.1.2 Bảo hộ nhãn hiệu đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý

1.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại nhãn hiệu

Thuật ngữ nhãn hiệu được sử dụng lần đầu tiên trong Công ước Paris về bảo

hộ quyền sở hữu công nghiệp năm 1883, tuy nhiên Công ước Paris chưa đưa ra khái

niệm nhãn hiệu mà chỉ quy định các điều kiện liên quan đến việc bảo hộ đối tượng

Trang 24

sở hữu công nghiệp Theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới WIPO,

nhãn hiệu là “dấu hiệu dùng để phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp

công nghiệp hoặc thương mại hoặc một nhóm doanh nghiệp đó Dấu hiệu này có

thể là một hoặc nhiều từ ngữ, chữ, số, hình, hình ảnh, biểu tượng, màu sắc hoặc sự

trình bày đặc biệt trên bao bì, bao gói sản phẩm Dấu hiệu này có thể la sự kết hợp

nhiều yếu tố nói trên Nhãn hiệu hàng hóa chỉ được chấp nhận bảo hộ nếu nó chưa

được cá nhân hoặc doanh nghiệp nào khác ngoài chủ sở hữu nhãn hiệu đó sử dụng

hoặc nhãn hiệu đó không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với một nhãn

hiệu khác được đăng ký trước đó cho cùng loại sản phẩm” Định nghĩa nhãn hiệu

của WIPO đã xác định các yếu tố về bản chất của nhãn hiệu và điều này đã được kế

thừa trong Hiệp định TRIPS Khái niệm và đặc điểm của nhãn hiệu được quy định

một cách thống nhất và mang tính quy chuẩn tại Hiệp định TRIPS Cụ thể, khoản 1

Điều 15b Hiệp định TRIPS quy định “Bất kỳ một dấu hiệu hoặc một tổ hợp các dấu

hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với

hàng hóa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thể là nhãn hiệu Các

dấu hiệu đó, đặc biệt là các từ, kể cả tên riêng, các chữ cái, chữ số, các yếu tố hình

họa và tổ hợp các màu sắc cũng như tổ hợp bất kì của các dấu hiệu đó phải có khả

năng được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa” Qua các khái niệm nêu trên, việc xác

định một nhãn hiệu cần xem xét các yếu tố: (1) Bản chất nhãn hiệu thể hiện thông

qua dấu hiệu dùng làm nhãn hiệu, dấu hiệu này có thể là một hoặc tổ hợp các dấu

hiệu nào đó có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các doanh nghiệp khác

nhau (2) Các loại dấu hiệu có khả năng dùng làm nhãn hiệu bao gồm: chữ cái, chữ

số, từ ngữ, yếu tố hình học, tổ hợp màu sắc (3) Dấu hiệu đăng ký nhãn hiệu phải

có khả năng được đăng ký nhãn hiệu

Trang 25

Dựa trên tinh thần các Điều ước quốc tế đã ký kết, Pháp luật về sở hữu trí tuệ

Việt Nam cũng có cách tiếp cận về nhãn hiệu tương tự, cụ thể Luật Sở hữu trí tuệ

Việt Nam năm 2005 đã đưa ra khái niệm về nhãn hiệu như sau: “Nhãn hiệu là dấu

hiệu dùng để phân biệt hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau”

Nhãn hiệu là dấu hiệu tức là đề cập đến cấu tạo của nhãn hiệu, và dấu hiệu này dùng

để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau tức là đề cập đến

chức năng và mục đích của nhãn hiệu Như vậy, nhãn hiệu, theo luật sở hữu trí tuệ

Việt Nam, được xác định trên cơ sở cấu tạo và chức năng của nhãn hiệu Đây là

khái niệm mang tính khái quát, phù hợp với thực tiễn cũng như quy định của các

điều ước quốc tế Khái niệm sử dụng thuật ngữ “nhãn hiệu” thay cho “nhãn hiệu

hàng hóa” dùng để chỉ những dấu hiệu phân biệt hàng hóa và dịch vụ Điều này tạo

nên sự thống nhất, phù hợp với các thuật ngữ được sử dụng cho các loại nhãn hiệu

khác như nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu liên kết, nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu

nổi tiếng

Tóm lại, nhãn hiệu là dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hóa, dịch vụ của

doanh nghiệp này với doanh nghiệp khác Nhãn hiệu thường là các yếu tố như một

từ ngữ hoặc một cụm từ, hình ảnh, logo hoặc sự kết hợp giữa các yếu tố này được

sử dụng trên hàng hóa hoặc dịch vụ giúp người tiêu dùng có thể phân biệt được các

sản phẩm, dịch vụ khác nhau trên thị trường

Về phân loại nhãn hiệu, có nhiều dạng nhãn hiệu khác nhau dựa trên các tiêu

chí phân loại khác nhau như: Theo tiêu chí hình thức gồm nhãn hiệu từ ngữ, nhãn

hiệu chữ cái, chữ số, nhãn hiệu hình, nhãn hiệu kết hợp hoặc nhãn hiệu đặc biệt như

âm thanh, mùi vị, ánh sáng Theo số lượng chủ thể, nhãn hiệu gồm nhãn hiệu cá

Trang 26

nhân và nhãn hiệu tập thể Theo tính chất của nhãn hiệu bao gồm nhãn hiệu thường,

nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu liên kết Trong bài viết này tác giả xin đề cập tới

việc phân tích đặc trưng của các loại nhãn hiệu khác nhau dựa trên tiêu chí về tính

chất, chức năng của nhãn hiệu Căn cứ vào tính chất, chức năng của nhãn hiệu, gồm

có sáu loại nhãn hiệu như sau:

Thứ nhất, nhãn hiệu hàng hóa (trademarks): Là dấu hiệu dùng để phân biệt

hàng hóa của những nhà sản xuất khác nhau Thông thường nhãn hiệu hàng hóa chỉ

dùng cho những hàng hóa là sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên hoặc sản phẩm do con

người sản xuất ra Nhãn hiệu hàng hóa có thể dán ngay trên hàng hóa hoặc thể hiện

trên bao bì, sản phẩm để giúp người tiêu dùng có thể dễ dàng nhận biết đề phân biệt

hàng hóa của các cơ sở sản xuất khác nhau

Thứ hai, nhãn hiệu dịch vụ (service marks): Là dấu hiệu để phân biệt các

dịch vụ do các chủ thể kinh doanh khác nhau cung cấp Sản phẩm gắn nhãn hiệu

dịch vụ là những sản phẩm vô hình do một người hay một doanh nghiệp đứng ra

thực hiện nhằm phục vụ nhu cầu trong xã hội Dịch vụ có thể là bất kỳ loại hình nào

như du lịch, vận tải, tài chính ngân hàng

Thứ ba, nhãn hiệu tập thể (collective marks): "Là nhãn hiệu dùng để phân

biệt hàng hóa, dịch vụ của các thành viên của tổ chức là chủ sở hữu nhãn hiệu đó

với hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân không phải là thành viên của tổ chức

đó” 5 Dạng nhãn hiệu này là nhãn hiệu của một tập thể các nhà sản xuất, thường là

hiệp hội, hợp tác xã, tổng công ty trong đó tổ chức xây dựng các quy chế chung

về việc sử dụng nhãn hiệu tập thể như các chỉ tiêu chung về chất lượng, nguồn gốc,

phương pháp sản xuất Mỗi thành viên trong tổ chức được sử dụng nhãn hiệu đó

một cách độc lập theo quy chế do tổ chức đó quy định Một điều đáng chú ý đối với

Trang 27

nhãn hiệu tập thể là khi tập thể sử dụng nhãn hiệu đã đăng ký này với tư cách nhân

danh tập thể thì lúc này nhãn hiệu sẽ được xem như một nhãn hiệu thông thường mà

không phải là nhãn hiệu tập thể, vì nhãn hiệu chỉ do một chủ thể duy nhất, nhân

danh chính bản thân mình sử dụng

Thứ tư, nhãn hiệu liên kết (integrated marks): “Là các nhãn hiệu do cùng

một chủ thể đăng ký, trùng hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng

loại hoặc tương tự nhau hoặc có liên quan với nhau” 6 Như vậy nhãn hiệu liên kết

gồm có hai loại: Thứ nhất, nhãn hiệu liên kết bao gồm một loạt các nhãn hiệu tương

tự nhau được một chủ sở hữu đăng ký dùng cho các hàng hóa cùng loại hoặc tương

tự nhau Ví dụ PEPSI, PEPSI MAX, PEPSI ICE Thứ hai, nhãn hiệu liên kết bao

gồm các nhãn hiệu giống hệt nhau nhưng đăng ký cho nhiều sản phẩm tương tự

nhau hoặc có liên quan tới nhau Ví dụ như nhãn hiệu Toshiba của công ty Toshiba

được dùng cho tất cả các mặt hàng như tủ lạnh, tivi, điều hòa, máy tính xách tay

Thứ năm, nhãn hiệu chứng nhận (certification marks): “Là nhãn hiệu mà

chủ sở hữu nhãn hiệu cho phép tổ chức, cá nhân khác sử dụng trên hàng hóa, dịch

vụ của tổ chức, cá nhân đó để chứng nhận các đặc tính về xuât xứ, nguyên liệu, vật

liệu, cách thức sản xuất hàng hóa, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính

xác, độ an toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hóa, dịch vụ mang nhãn hiệu” 7

Đây là nhãn hiệu do các tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng,

đặc tính của hàng hóa, dịch vụ đăng ký sau đó tổ chức này có quyền cấp phép sử

dụng cho bât kỳ chủ thể sản xuất, kinh doanh nào nếu hàng hóa, dịch vụ của họ đáp

ứng đủ các tiêu chuẩn do chủ sở hữu nhãn hiệu chứng nhận đặt ra

Thứ sáu, nhãn hiệu nổi tiếng (famous marks): Là nhãn hiệu được người tiêu

Trang 28

dùng biết đến rộng rãi trên toàn lãnh thổ Việt Nam Một nhãn hiệu hàng hóa chỉ có

thể trở thành nhãn hiệu nổi tiếng nếu nó thỏa mãn những yêu cầu hay những tiêu chí

nhất định do chủ sở hữu nhãn hiệu chứng minh hay do quy định của pháp luật Bất

kể sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật của các quốc gia trong lĩnh vực lập pháp

cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật Có thể khái quát trong một trường hợp

chung nhất để một nhãn hiệu được coi là nhãn hiệu nổi tiếng Đó là sự lặp đi lặp lại

của nhãn hiệu trong một bộ phận công chúng liên quan; mức độ được biết đến của

nhãn hiệu trong công chúng, quy mô và khoảng thời gian sử dụng nhãn hiệu, thời

gian và phạm vi địa lý cho sự quảng cáo hay quy mô của nhãn hiệu; mức độ của

tính phân biệt vốn có hay được yêu cầu của nhãn hiệu nổi tiếng; bản chất của những

loại hàng hóa, dịch vụ và những kênh lưu thông hàng hoa, dịch vụ mà nhãn hiệu

được sử dụng; bản chất và mức độ sử dụng của những nhãn hiệu giống hoặc tương

tự bởi bên thứ ba, lịch sử quá trình thực thi quyền trong việc bảo hộ thương hiệu,

nhãn hiệu hàng hóa; những nước mà nhãn hiệu đã đăng ký bảo hộ nhãn hiệu

1.1.2.2 Bảo hộ nhãn hiệu đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý trên thế giới

Luật pháp liên quan đến bảo hộ dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý có khuynh

hướng phát triển không theo một hướng chung mà theo các hướng khác biệt Do

không có một hệ thống luật thương mại quốc tế chung nên việc cấp bảo hộ pháp lý

cho đối tượng này phụ thuộc vào quyền tài phán và các quy định pháp lý của mỗi

quốc gia Hiện nay, các quan điểm bảo hộ dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý có thể phân

thành ba nhóm: (1) Các quốc gia bảo hộ thông qua các luật riêng về CDĐL; (2) Các

quốc gia bảo hộ thông qua một hệ thống nhãn hiệu hoặc các biện pháp hành chính

hoặc pháp lý khác; (3) Các quốc gia không chính thức thừa nhận hoặc bảo hộ dấu

hiệu chỉ nguồn gốc địa lý Các hiệp ước quốc tế như Hiệp định TRIPS nhằm mục

Trang 29

đích bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, bao gồm chỉ dẫn địa lý, trong đó cung cấp khuôn

khổ pháp lý quốc tế cơ bản cho dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý, với các tiêu chuẩn

bảo hộ cũng như các cách thức tiếp cận một cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế

Tuy nhiên, các quốc gia riêng biệt mới chính là bên quy định các nguyên tắc bảo hộ

cụ thể và lựa chọn thời gian, cách thức sử dụng các nguồn lực để thực thi

Nhãn hiệu là một đối tượng của quyền SHTT, vì vậy bảo hộ nhãn hiệu là một

bộ phận của bảo hộ quyền SHTT nói chung Khái niệm bảo hộ quyền SHTT đã có

từ trước khi Hiệp định TRIPS ra đời, tuy nhiên khi đó bảo hộ quyền SHTT được

hiểu theo nghĩa hẹp, tức là bao gồm việc xác định đối tượng được bảo hộ, quy định

về xác lập quyền, thời hạn bảo hộ và các quyền chủ thể mà không bao gồm các vấn

đề thực thi quyền Từ khi Hiệp định TRIPS ra đời, khái niệm bảo hộ quyền SHTT

được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ bao gồm việc xác lập quyền SHTT cho chủ sở

hữu thông qua các quy phạm pháp luật mà còn chú trọng đến các biện pháp thực thi

quyền trên thực tế Như vậy, dựa trên tinh thần của Hiệp định TRIPS thì bảo hộ

nhãn hiệu là việc Nhà nước ban hành các quy định pháp luật về quyền sở hữu nhãn

hiệu nhằm xác lập quyền sở hữu đối với nhãn hiệu và bảo vệ quyền, lợi ích hợp

pháp của chủ sở hữu nhãn hiệu, đồng thời bảo đảm quyền này được thực thi trên

thực tế

Trên thế giới, nhiều quốc gia không có luật riêng quy định về bảo hộ chỉ dẫn

địa lý mà bảo hộ chúng như những nhãn hiệu chứng nhận, nhãn hiệu tập thể hoặc

đơn giản chỉ là những nhãn hiệu thương mại thông thường Trong số các quốc gia

này có Mỹ, Canada, Australia, Nhật Bản, phần lớn các quốc gia châu Phi và nhiều

quốc gia Ả- rập Sau đây là cơ chế bảo hộ CDĐL thông qua hệ thống nhãn hiệu của

Trang 30

một số quốc gia điển hình:

Pháp luật Hoa Kỳ 8: Theo quan điểm của Hoa Kỳ, CDĐL có thể được coi

như một dạng của nhãn hiệu vì có cùng chức năng như nhãn hiệu, đó là: (1) dấu

hiệu chỉ nguồn gốc; (2) bảo đảm chất lượng; (3) là phương tiện có giá trị trong kinh

doanh Bên cạnh bảo hộ theo hệ thống án lệ, bảo hộ CDĐL của Hoa Kỳ sử dụng cấu

trúc bảo hộ nhãn hiệu đã có sẵn trước đó của mình và cho phép bất kỳ ai cũng có

thể phản đối hoặc hủy bỏ một CDĐL đã đăng ký nếu cho rằng họ sẽ bị thiệt hại do

việc đăng ký và bảo hộ chỉ dẫn địa lý đó Chủ nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý có

quyền độc quyền để chống lại việc người khác sử dụng trái phép nhãn hiệu/chỉ dẫn

địa lý gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng hoặc lừa dối về nguồn gốc của sản phẩm,

dịch vụ Bằng cách đó, một chủ thể nắm quyền trước sẽ được quyền ưu tiên và độc

quyền đối với những người sử dụng sau các dấu hiệu trùng hoặc tương tự cho hàng

hóa, dịch vụ trùng, tương tự, liên quan, thậm chí không liên quan (trong một số

trường hợp) nếu sẽ làm người tiêu dùng nhầm lẫn về nguồn gốc hàng hóa, dịch vụ

Theo quan điểm của Hoa Kỳ, dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý có thể được đăng

ký bảo hộ dưới dạng nhãn hiệu thông thường, nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu

chứng nhận Nhãn hiệu chứng nhận được sử dụng để chỉ (1) nguồn gốc của vùng

địa lý hay nguồn gốc khác; (2) nguyên liệu, cách thức sản xuất, chất lượng, độ

chính xác hoặc các đặc tính khác của sản phẩm, dịch vụ; (3) việc thực hiện sản

phẩm, dịch vụ được tiến hành bởi một thành viên của một hiệp hội hoặc một tổ

chức khác Trong khi đó, nhãn hiệu tập thể bao gồm: (i) nhãn hiệu hàng hóa tập thể

và nhãn hiệu dịch vụ tập thể; (ii) nhãn hiệu thành viên tập thể Nhãn hiệu hàng hóa

tập thể và nhãn hiệu dịch vụ tập thể chỉ nguồn gốc thương mại của hàng hóa hoặc

dịch vụ như chính các nhãn hiệu “thông thường” thực hiện, nhưng vì là nhãn hiệu

Trang 31

tập thể, nên chúng chỉ nguồn gốc của một tập thể hơn là nguồn gốc của một thành

viên riêng biệt Như vậy, tất cả các thành viên của tập thể này đều sử dụng nhãn

hiệu nên không một thành viên nào có thể sở hữu riêng nhãn hiệu, chỉ có tổ chức

tập thể được giữ quyền quản lý nhãn hiệu nhằm phục vụ lợi ích chúng của tất cả các

thành viên Ngoài ra, theo hệ thống Luật của Mỹ, một chỉ dẫn địa lý cũng có thể

được bảo hộ như một nhãn hiệu thông thường Luật Nhãn hiệu Mỹ quy định, một

tên địa danh hay một dấu hiệu mang tính địa lý thì không được chấp nhận bảo hộ

làm nhãn hiệu nếu chúng mang tính mô tả về vùng địa lý hoặc làm hiểu sai lệch về

xuất xứ của sản phẩm hoặc dịch vụ Tuy nhiên trường hợp dấu hiệu đã được sử

dụng rộng rãi trên thực tế đến mức đã mất đi ý nghĩa mô tả nơi hàng hóa được sản

xuất mà chỉ đơn thuần là dấu hiệu phân biệt sản phẩm thì vẫn có khả năng được bảo

hộ

Theo quan điểm của Hoa Kỳ, việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý như một nhãn hiệu

chứng nhận hoặc nhãn hiệu tập thể cho phép sử dụng hệ thống nhãn hiệu sẵn có và

đã quen thuộc với các doanh nghiệp trong và ngoài Hoa Kỳ Ngoài ra, hệ thống

cũng dễ thích nghi cho tất cả các chỉ dẫn địa lý, không chỉ cho các tên địa danh mà

còn cho các từ, khẩu hiệu, hình ảnh, dấu hiệu ba chiều, màu sắc hoặc thậm chí cả

âm thanh và mùi vị Bên cạnh đó, để thực hiện các yêu cầu bảo hộ một cách thực

chất chỉ dẫn địa lý và nhãn hiệu theo quy định của TRIPS, hệ thống này cũng đáp

ứng các yêu cầu về quy chế đối xử quốc gia và thực thi quyền Hệ thống cũng tạo ra

cơ chế tự điều chỉnh: các doanh nghiệp cạnh tranh, hoặc các chủ nhãn hiệu trong

vùng địa lý luôn không ngần ngại đưa ra để yêu cầu xử lý các vụ việc về xâm phạm

quyền hoặc không đảm bảo các tiêu chuẩn chứng nhận… Do vậy, chính quyền

Trang 32

không phải tạo một nguồn lực thực thi bổ sung để giải quyết vấn đề đó Hơn nữa,

các chủ tư nhân cũng không bắt buộc phải đợi chính quyền thực thi các biện pháp

chống lại hành vi xâm phạm quyền hoặc gửi thông báo về việc sử dụng trái phép

Chủ nhãn hiệu có thể quyết định khi nào thì hành động và có thể thực hiện ngay lập

tức, tại thời điểm có dấu hiệu đầu tiên về sự xâm phạm, do đó giữ được ưu thế trước

khi họ hướng vào đối thủ cạnh tranh cụ thể

Pháp luật Canada9: Tương tự như Hoa Kỳ, mức độ bảo hộ tối thiểu cho các

chỉ dẫn địa lý của hàng hóa nói chung tại Canada được áp dụng theo Luật Nhãn

hiệu Luật Nhãn hiệu quy định cơ chế bảo hộ thực tế cho các CDĐL bằng cách ngăn

cấm bất kỳ sự miêu tả sai lệch nào về xuất xứ của sản phẩm dẫn đến sự nhầm lẫn

của công chúng về nguồn gốc địa lý của sản phẩm đó Đến năm 1996, Luật Nhãn

hiệu của Canada được bổ sung thêm một phần mới về mức độ bảo hộ thêm cho

rượu vang và rượu mạnh theo Điều 23 của Hiệp định TRIPS nhằm đảm bảo việc

tuân thủ nghĩa vụ quốc tế Mặc dù chỉ giới hạn dành cho các chỉ dẫn địa lý đối với

sản phẩm rượu vang và rượu mạnh, nhưng lần đầu tiên khái niệm chỉ dẫn địa lý đã

được quy định trong Luật Nhãn hiệu Canada Các chỉ dẫn dành cho các sản phẩm

khác vẫn được bảo hộ theo hệ thống đăng ký nhãn hiệu Thủ tục đăng ký bảo hộ các

chỉ dẫn địa lý này được tiến hành bởi cơ quan đăng ký của Canada

Lý do các quốc gia kể trên lựa chọn bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo hệ thống nhãn

hiệu có thể được giải thích như sau: Thứ nhất, các quốc gia theo hệ thống Luật Anh

– Mỹ đều có hệ thống bảo hộ nhãn hiệu khá lâu đời với những quy định tương đối

đầy đủ, hơn nữa theo quan điểm của các quốc gia này thì với chức năng dùng để

“phân biệt nguồn gốc”, các dấu hiệu chỉ dẫn địa lý hoàn toàn có thể được bảo hộ

theo hệ thống nhãn hiệu Thứ hai, các quốc gia như Mỹ và Canada quan tâm nhiều

Trang 33

hơn đến sáng chế và nhãn hiệu, những đối tượng có giá trị kinh tế to lớn thuộc thế

mạnh của các quốc gia này, vì vậy họ không quan tâm nhiều tới việc phát triển bảo

hộ CDĐL Hơn nữa, do yếu tố lịch sử mà những người dân Châu Âu di cư đến vùng

đất này mang theo kỹ thuật sản xuất các sản phẩm gắn liền với khu vực địa lý trước

đây họ đã sinh sống Vì vậy, nếu bảo hộ CDĐL ở mức độ cao hơn có thể tạo ra

những rào cản thương mại, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của các nhà sản

xuất

Tại Việt Nam, dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý có thể được bảo hộ dưới dạng

nhãn hiệu thông thường (trường hợp ngoại lệ qua quá trình sử dụng rộng rãi), nhãn

hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận Tuy nhiên, việc bảo hộ dấu hiệu chỉ nguồn

gốc địa lý theo hệ thống nhãn hiệu chỉ bổ trợ cho việc bảo hộ các chỉ dẫn địa lý Các

nhà sản xuất thường coi việc bảo hộ qua cơ chế nhãn hiệu là một giải pháp tình thế

trong thời gian chuẩn bị các điều kiện để được bảo hộ chỉ dẫn địa lý

1.1.3 Bảo hộ chỉ dẫn địa lý đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý

1.1.3.1 Khái niệm và đặc điểm của chỉ dẫn địa lý

Trước khi thuật ngữ chỉ dẫn địa lý ra đời, dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý

thường được bảo hộ dưới dạng “tên gọi xuất xứ hàng hóa” - một dạng đặc biệt của

chỉ dẫn địa lý “Tên gọi xuất xứ hàng hoá" xuất hiện lần đầu tiên trong Công ước

Paris nhưng mãi đến Thoả ước Lisbon 1958 mới đưa ra khái niệm thế nào là tên gọi

xuất xứ hàng hoá, cụ thể “Tên gọi xuất xứ hàng hoá là tên địa lý của nước, khu vực

hoặc vùng lảnh thổ dùng để chỉ dẫn cho sản phẩm bắt nguồn từ khu vực đó, có chất

lượng hoặc những tính chất đặc thù riêng biệt xuất phát từ môi trường địa lý, bao

gồm yếu tố tự nhiên và con người” 10 Theo Thoả ước Lisbon thì tên gọi xuất xứ

hàng hoá cần có 4 điều kiện: Thứ nhất là tên gọi xuất xứ hàng hoá là tên gọi của

Trang 34

một khu vực địa lý hoặc một quốc gia cụ thể Thứ hai là tên gọi xuất xứ hàng hoá

phải có chức năng chỉ dẫn về nguồn gốc của hàng hoá Hay nói ngược lại thì hàng

hoá phải được sản xuất ra từ khu vực địa lý hay nước mà nó mang chỉ dẫn xuất xứ

Thứ ba, hàng hoá mang tên gọi xuất xứ hàng hoá phải có chất lượng, tích chất đặc

thù riêng biệt Thứ tư, chất lượng và tính chất đặc thù phải có mối liên hệ với môi

trường địa lý

Đến năm 1994, thuật ngữ Chỉ dẫn địa lý (Geographical indications) được đưa

ra bởi Hiệp định TRIPS, một hiệp định tương đối toàn diện về bảo hộ quyền SHTT

Theo đó, chỉ dẫn địa lý được hiểu là “một chỉ dẫn nhằm xác định một sản phẩm có

xuất xứ từ lãnh thổ của một nước thành viên hoặc từ một vùng, một khu vực địa lý

của nước đó, mà chất lượng, danh tiếng hay các đặc tính khác của sản phẩm chủ

yếu có được do nguồn gốc địa lý này mang lại” 11 Điều khoản này không chỉ định

nghĩa CDĐL mà còn xác định các điều kiện gắn với quy trình hay thủ tục bảo hộ

CDĐL, trong đó các chỉ dẫn này có thể là dấu hiệu bất kì như từ ngữ, hình ảnh

miễn là qua đó có thể chỉ ra được hàng hoá mang chỉ dẫn địa lý được bảo hộ bắt

nguồn từ lãnh thổ của quốc gia nào hoặc thuộc khu vực địa phương nào của lãnh

thổ quốc gia đó Thứ hai, hàng hoá mang chỉ dẫn địa lý phải có nguồn gốc từ quốc

gia hoặc từ khu vực, địa phương mà hàng hoá đó được xác định mang chỉ dẫn địa

lý Thứ ba hàng hoá mang chỉ dẫn địa lý phải có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính

nhất định chủ yếu do quốc gia hay khu vực địa phương đã được chỉ dẫn là nơi hàng

hoá bắt nguồn quy định

Ở Việt Nam tên gọi xuất xứ hàng hoá lần đầu tiên được xác định theo pháp

lệnh bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp (1989) và sau đó được đưa vào Điều 786 Bộ

Trang 35

luật dân sự 1995: “Tên gọi xuất xứ hàng hoá là tên địa lý của nước, địa phương

dùng để chỉ xuất xứ của hàng hoá từ nước, địa phương đó với điều kiện mặt hàng

này có tính chất, chất lượng đặc thù dựa trên các điều kiện địa lý độc đáo và ưu

việt, bao gồm yếu tố tự nhiên, con người hoặc kết hợp cả hai yếu tố đó” Đến khi

Nghị định 54/2000/CP-NĐ về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh

doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh

liên quan tới sở hữu công nghiệp ra đời, thuật ngữ “Chỉ dẫn địa lý” được quy định

lần đầu tiên tại khoản 1, khoản 2 Điều 10 của Nghị định:

a) Thể hiện dưới dạng một từ ngữ, dấu hiệu, biểu tượng hoặc hình ảnh, dùng

để chỉ một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, địa phương thuộc một quốc gia;

b) Thể hiện trên hàng hoá, bao bì hàng hoá hay giấy tờ giao dịch liên quan tới

việc mua bán hàng hoá nhằm chỉ dẫn rằng hàng hoá nói trên có nguồn gốc tại quốc

gia, vùng lãnh thổ hoặc địa phương mà đặc trưng về chất lượng, uy tín, danh tiếng

hoặc các đặc tính khác của loại hàng hoá này có được chủ yếu là do nguồn gốc địa

lý tạo nên

2 Nếu chỉ dẫn địa lý là tên gọi xuất xứ hàng hoá thì việc bảo hộ được thực

hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về tên gọi xuất xứ hàng hoá”

Nghị định này không định nghĩa thế nào là chỉ dẫn địa lý, chỉ quy định khá cụ

thể về điều kiện bảo hộ CDĐL Cùng với chủ trương xây dựng và cải cách hệ thống

pháp luật đáp ứng yêu cầu gia nhập WTO, nhiều văn bản pháp luật thuộc các lĩnh

vực khác nhau đã được ban hành ở Việt Nam, trong đó có Luật SHTT ngày

29/11/2005 Luật SHTT năm 2005 định nghĩa CDĐL rất ngắn gọn và dễ hiểu tại

Điều 22.4, theo đó “CDĐL là dấu hiệu dùng để chỉ sản phẩm có nguồn gốc từ khu

vực, địa phương, vùng lãnh thổ hay quốc gia cụ thể” Theo khái niệm này, CDĐL

Trang 36

trước hết phải là những dấu hiệu được sử dụng trên sản phẩm, hàng hóa, không bao

gồm dấu hiệu sử dụng cho các loại dịch vụ Thứ hai, CDĐL là dấu hiệu dùng để

thông tin, chỉ dẫn sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ

hay quốc gia cụ thể Nguồn gốc địa lý của sản phẩm được quy định trong Luật

SHTT rất đa dạng, có thể là một khu vực, một địa phương, một vùng lãnh thổ hay

một quốc gia, phụ thuộc vào điều kiện địa lý bao gồm yếu tố tự nhiên và yếu tố con

người nơi sản phẩm được sản xuất ra quyết định

Chỉ dẫn địa lý theo quy định của pháp luật Việt Nam mang các đặc điểm cơ

bản như sau: CDĐL là chỉ dẫn về nguồn gốc hàng hóa, và hơn thế hữa mang một

chức năng quan trọng là cung cấp thông tin về danh tiếng, chất lượng, đặc tính của

sản phẩm Về đối tượng được bảo hộ bởi CDĐL, chỉ dẫn địa lý là dấu hiệu được

dùng cho sản phẩm hàng hóa Khác với nhãn hiệu được sử dụng cho cả sản phẩm và

dịch vụ thì CDĐL chỉ được sử dụng cho sản phẩm Chủ sở hữu của CDĐL Việt

Nam được xác định đặc biệt hơn so với các chủ sở hữu của các tài sản trí tuệ khác,

nếu như các đối tượng sở hữu trí tuệ khác như sáng chế, phát minh, nhãn hiệu, kiểu

dáng công nghiệp… thường là tài sản tư của cá nhân hoặc tổ chức thì CDĐL là một

loại tài sản đặc biệt, tài sản công thuộc sở hữu của Nhà nước Điều này là hợp lý bởi

chất lượng, danh tiếng, đặc tính của sản phẩm mang CDĐL được hình thành từ

những đặc thù của điều kiện tự nhiên và kinh nghiệm sản xuất của nhiều thế hệ

người dân địa phương nên CDĐL không thể là tài sản tư của cá nhân, tổ chức mà

phải thuộc về chủ sở hữu là Nhà nước Người sử dụng CDĐL không có quyền

chiếm hữu, định đoạt mà chỉ có quyền sử dụng, tức là quyền gắn chỉ dẫn lên hàng

hóa của mình Thời hạn bảo CDĐL không bị giới hạn một khoảng thời gian nhất

Trang 37

định như các đối tượng SHCN khác Giấy chứng nhận đăng ký CDĐL chỉ bị chấm

dứt hiệu lực nếu các điều kiện tạo nên danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản

phẩm mang chỉ dẫn địa lý bị thay đổi làm mất danh tiếng, chất lượng, đặc tính của

sản phẩm đó

1.1.3.2 Bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo hệ thống riêng trên thế giới

Pháp là nước đầu tiên và điển hình trong việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý bằng một

luật riêng Đây là nơi mà luật đầu tiên về bảo hộ chỉ dẫn địa lý được thông qua

trong đó quy định về một hình thức SHCN đặc biệt đó là tên gọi xuất xứ hàng hóa

Đạo luật của Pháp ban hành ngày 06/05/1919 ghi nhận sự tồn tại của các tên gọi

xuất xứ và quy định các tiêu chuẩn bảo hộ tên gọi xuất xứ Theo luật này, một tên

gọi xuất xứ bao gồm tên gọi của một nước, vùng hoặc địa phương dùng để chỉ xuất

xứ của sản phẩm từ khu vực tương ứng, khi chất lượng và tính chất đặc thù của sản

phẩm do môi trường địa lý (kể cả yếu tố tự nhiên và con người) của khu vực địa lý

đó quyết định Như vậy, chỉ có các sản phẩm xuất xứ từ một khu vực địa lý đặc biệt

và có những phẩm chất đặc thù do môi trường địa lý của khu vực địa lý đó mang lại

mới được bảo hộ bằng một tên gọi xuất xứ ở Pháp Để đảm bảo rằng các sản phẩm

có những phẩm chất đặc thù, các cơ quan có thẩm quyền đã xây dựng một cơ chế

34

kiểm tra chất lượng chặt chẽ và thường xuyên tiến hành kiểm tra chất lượng sản

phẩm được bảo hộ Ban đầu, tên gọi xuất xứ chỉ bảo hộ cho rượu vang và rượu

mạnh và sau đó được mở rộng cho các sản phẩm khác như bơ, pho mát, thịt gia

cầm, các chế phẩm từ thực vật

Hệ thống đăng ký và một loạt khái niệm trong luật của Pháp đã có ảnh hưởng

lớn và lan rộng trong các nước có truyền thống luật La mã ở Châu Âu và Châu Mỹ

Trang 38

La tinh Theo hệ thống riêng về bảo hộ chỉ dẫn địa lý, các chỉ tiêu của một chỉ dẫn

địa lý được bảo hộ (bản mô tả sản phẩm - tên sản phẩm, các đặc tính chủ yếu của

sản phẩm; giới hạn khu vực địa lý; quy trình sản xuất sản phẩm; và mối quan hệ với

nguồn gốc địa lý) được xây dựng bằng một thủ tục hành chính với sự tham gia của

các nhà sản xuất và các cơ quan quản lý nhà nước, sau đó được chính thức công

nhận bằng thủ tục đăng ký quyền sở hữu công nghiệp (ví dụ như ở Bồ Đào Nha),

bằng quyết định hành chính (chẳng hạn như ở Pháp) hoặc thậm chí bằng văn bản

quy phạm pháp luật - đạo luật, pháp lệnh … về một sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý

cụ thể (như ở Anh) Các chỉ tiêu đã xác lập đó là chỉ tiêu pháp lý và được các cơ

quan nhà nước thi hành và bảo đảm thực thi theo luật dân sự, hình sự hoặc hành

chính Nội dung bảo hộ một chỉ dẫn địa lý là chống việc sử dụng các chỉ dẫn thương

mại trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đó cho sản phẩm không đạt các chỉ tiêu

pháp lý (không có nguồn gốc từ khu vực địa lý tương ứng, không đạt các chỉ tiêu về

sản phẩm hoặc các chỉ tiêu về quy trình sản xuất sản phẩm)

Trung Quốc, một quốc gia đang phát triển nhanh chóng ở khu vực Châu Á,

trước đây lựa chọn bảo hộ CDĐL dựa trên hệ thống luật nhãn hiệu Dấu hiệu chỉ

nguồn gốc địa lý được bảo hộ dưới các dạng nhãn hiệu như nhãn hiệu thông thường,

nhãn hiệu dịch vụ, nhãn hiệu chứng nhận và nhãn hiệu tập thể Bên cạnh đó, Trung

Quốc vẫn xây dựng hệ thống bảo hộ đặc biệt cho chỉ dẫn địa lý Để đáp ứng yêu cầu

trở thành thành viên chính thức của WTO, cũng như yêu cầu bảo hộ chỉ dẫn địa lý

trong nước, Trung Quốc đã xây dựng hệ thống đăng ký cho chỉ dẫn địa lý, theo đó

một sản phẩm có gắn chỉ dẫn về xuất xứ chỉ ra rằng sản phẩm này sử dụng nguyên

35

Trang 39

liệu và được sản xuất ở một khu vực địa lý đặc biệt, sử dụng kỹ thuật truyền thống,

có chất lượng và đặc tính riêng biệt, đồng thời danh tiếng của sản phẩm được tạo

nên bởi các yếu tố của khu vực địa lý

Có thể thấy xu thế phổ biến hiện nay là các quốc gia lựa chọn bảo hộ chỉ dẫn

địa lý theo cơ chế riêng với các lý do như sau: Thứ nhất, nhằm đáp ứng yêu cầu của

Hiệp định TRIPS đặt ra đối với các quốc gia thành viên của WTO, theo đó các quốc

gia chưa có quy định bảo hộ CDĐL thì có thể lựa chọn giữa xây dựng hệ thống bảo

hộ riêng hoặc sửa đổi, bổ sung quy định hiện hành Nhiều quốc gia đã lựa chọn việc

xây dựng một cơ chế bảo hộ riêng để tránh những sửa chữa khiên cưỡng, chắp vá

Thứ hai, nhiều quốc gia với các lợi thế về sản phẩm nông nghiệp, thủ công mỹ nghệ

như Trung Quốc, Việt Nam… đã lựa chọn việc bảo hộ CDĐL Với các ưu thế của

bảo hộ CDĐL theo hệ thống riêng như không phụ thuộc nguyên tắc “nộp đơn đầu

tiên”, bảo hộ vô thời hạn, sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được ghi nhận là có chất

lượng cao… các quốc gia kể trên đã lựa chọn cơ chế bảo hộ riêng nhằm nâng cao

hiệu quả và tính cạnh tranh cho sản phẩm mang CDĐL

1.2 Xung đột trong bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý đối với những dấu

hiệu chỉ nguồn gốc địa lý

1.2.1 Khái niệm xung đột quyền sở hữu trí tuệ

Liên quan đến mối quan hệ trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tồn tại hai khái

niệm là chồng lấn (hay còn gọi là giao thoa) quyền SHTT và xung đột quyền SHTT

Hiện tượng “chồng lấn” trong bảo hộ quyền SHTT xảy ra khi cùng một đối tượng

nhưng được một chủ sở hữu đăng ký bảo hộ dưới các đối tượng khác nhau của

quyền SHTT Trong trường hợp này, các dấu hiệu dù được bảo hộ theo các đối

tượng khác nhau của quyền SHTT nhưng thuộc quyền sở hữu của một chủ thể duy

Trang 40

nhất nên đều được pháp luật SHTT bảo hộ mà không xảy ra hiện tượng xung đột về

quyền và lợi ích trong bảo hộ đồng thời các đối tượng trên

Đối với trường hợp các dấu hiệu được bảo hộ theo các đối tượng khác nhau

của quyền SHTT và thuộc quyền sở hữu các chủ thể khác nhau sẽ xảy ra hiện tượng

36

xung đột quyền Vì trong suốt thời hạn bảo hộ quyền SHTT, chủ sở hữu các đối

tượng SHTT được pháp luật trao cho và bảo vệ các quyền mang tính độc quyền

trong việc sử dụng, định đoạt các đối tượng này Mặc dù trong các trường hợp trên

việc bảo hộ quyền SHTT cho các đối tượng độc lập với nhau nhưng việc bảo hộ đối

tượng SHTT mà có thể trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với các đối

tượng SHTT đã tồn tại trước đó sẽ làm ảnh hưởng đến các độc quyền của chủ thể

quyền SHTT Việc xung đột trong bảo hộ nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý đối với các

dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý được thể hiện trên hai khía cạnh chính như sau:

Về quyền lợi, quyền lợi đối với chủ nhãn hiệu, là quyền sử dụng và ngăn cấm

người khác sử dụng nhãn hiệu của mình Trong khi đó quyền sử dụng chỉ dẫn địa lý

thuộc về tất cả các nhà sản xuất ra sản phẩm trong khu vực địa lý đó Xung đột về

quyền lợi xảy ra khi quyền gắn chỉ dẫn địa lý lên sản phẩm đó thuộc về chủ sở hữu

nhãn hiệu hay chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý? Điều này sẽ ảnh hưởng đến khả năng cạnh

tranh của sản phẩm trên thị trường và hơn hết là chất lượng của sản phẩm trong mối

liên hệ với địa danh đó

Về mặt pháp lý, xung đột xảy ra giữa tính chất độc quyền của nhãn hiệu với

tính chất tập thể của chỉ dẫn địa lý Sự xung đột chỉ xảy ra khi cả nhãn hiệu và chỉ

dẫn địa lý đều cùng tồn tại (cùng được đăng ký, cùng được bảo hộ) Tình trạng

Ngày đăng: 11/08/2017, 21:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w