1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vấn đề xây dựng đảo và công trình, thiết bị nhân tạo theo quy định của công ước luật biển 1982

106 429 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 789,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua phân tích hiện trạng cũng như lịch sử của vấn đề này, đề tàicũng sẽ đưa ra một số dự báo trong tương lai, và đây sẽ là cơ sở quan trọng đểchúng ta có thể đưa ra những kiến nghị, chín

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ ……

Vấn đề xây dựng đảo và công trình, thiết bị nhân tạo

theo quy định của Công ớc Luật Biển 1982

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyờn ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nước và phỏp luật

Mó số : 60380101 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ………

HÀ NỘI – NĂM 2017 LỜI CAM ĐOAN

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số

liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực Tôi xin cam đoan rằng mọi sựgiúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin tríchdẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2017

Người cam đoan

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Trường đại học

Luật Hà Nội; lãnh đạo, cán bộ Khoa Pháp luật Quốc tế, Khoa sau Đại học và cáckhoa, phòng có liên quan của Đại học Luật Hà Nội đã luôn quan tâm, tạo điềukiện thuận lợi nhất cho việc học tập, nghiên cứu của các học viên Lớp Cao họcLuật Quốc tế khóa 22, trong đó có bản thân tác giả Qua chương trình học này

đã giúp tác giả càng củng cố thêm những tình cảm, suy nghĩ hết sức tốt đẹp vềTrường Đại học Luật Hà Nội – một môi trường đào tạo chuyên nghiệp, một địachỉ tin cậy cho những ai thực sự mong muốn tìm kiếm những kiến thức cần thiếtphục vụ nghiên cứu, ứng dụng khoa học pháp lý

Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong và ngoài

Trường Đại học Luật Hà Nội đã giành nhiều thời gian, công sức quý giá đểtruyền đạt cho tác giả, cũng như toàn thể học viên Lớp Cao học Luật Quốc tếkhóa 22 những phương pháp nghiên cứu khoa học vô cùng hữu ích, mở ra chotác giả những chân trời tri thức mới

Xin gửi lời cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè đã hỗ trợ tác giả trong việc

tìm kiếm tài liệu phục vụ nghiên cứu đề tài

Xin cảm ơn gia đình đã luôn động viên, ủng hộ tác giả trong suốt thời gianhọc tập và nghiên cứu đề tài Nếu không có sự động viên, ủng hộ này, tác giả sẽthật khó có thể hoàn thành chương trình học tập của bản thân

Đặc biệt, tác giả xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Toàn

Thắng, người đã vô cùng tâm huyết, tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quátrình nghiên cứu luận văn tốt nghiệp./

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 4

Từ viết tắt Ý nghĩa

COC Bộ Quy tắc ứng xử giữa các bên ở Biển Đông

DOC Tuyên bố ứng xử giữa các bên ở Biển Đông

EEZ Vùng đặc quyền kinh tế

ICJ Tòa án Công lý Quốc tế của Liên Hợp Quốc

LHQ Liên Hợp Quốc

PCA Tòa Trọng tài Thường trực của Liên Hợp Quốc

UNCLOS Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982UAE Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất

Trang 5

1.1 Khái niệm đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo trên biển 8

1.1.1 Khái niệm đảo nhân tạo 8

1.1.2 Khái niệm công trình, thiết bị nhân tạo trên biển 12

1.1.3 Mối liên hệ giữa đảo nhân tạo và công trình thiết bị nhân tạo trên biển 14

1.2 Thực tiễn xây dựng đảo nhân tạo, công trình, nhân tạo trên biển 15

1.3 Phân loại đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo trên biển 17

1.4 Tác động, ảnh hưởng của việc xây dựng đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo trênbiển 24

1.4.1 Tác động, ảnh hưởng tích cực 24

1.4.2 Tác động, ảnh hưởng tiêu cực 24

TIỂU KẾT 26

CHƯƠNG 2: QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA ĐẢO NHÂN TẠO, CÔNG TRÌNH, THIẾT

BỊ NHÂN TẠO THEO CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN NĂM 1982 27

2.1 Quá trình pháp điển hóa Luật Biển quốc tế, hình thành Công ước Luật biển năm 1982 272.2 Thẩm quyền xây dựng đảo nhân tạo, công trình, thiết bị trên các vùng biển 31

2.3 Đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo và việc xác định các đường ranh giới trênbiển 37

2.4 Đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo và việc mở rộng các bãi cạn lúc nổi lúc chìm,đảo và đảo đá 40

TIỂU KẾT 42

Trang 6

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐẢO NHÂN TẠO, CÔNG TRÌNH VÀ THIẾT

BỊ NHÂN TẠO Ở BIỂN ĐÔNG VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM44

3.1 Thực trạng xây dựng đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo ở khu vực Biển Đông3.1.1 Khái quát chung về khu vực Biển Đông

3.1.2 Thực trạng xây dựng đảo nhân tạo, công trình thiết bị nhân tạo tại khu vực biển Đông

3.1.3 Ảnh hưởng từ việc xây dựng đảo nhân tạo, công trình nhân tạo trong khu vực BiểnĐông tới Việt Nam

3.2 Hoạt động xây dựng của Trung Quốc và vấn đề giải quyết tranh chấp ở Biển Đông3.3 Vụ Philippines kiện Trung Quốc và tác động đối với Việt Nam

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Hiện nay, các vấn đề xoay quanh đảo và công trình, thiết bị nhân tạo

chưa được quan tâm, làm rõ trong bối cảnh “đảo nhân tạo” vẫn còn gây nhiềutranh cãi và chưa có bất kỳ định nghĩa nào về đảo nhân tạo được chấp nhậnrộng rãi mặc dù hàng loạt các điều khoản trong Công ước Luật Biển của LiênHợp Quốc năm 1982 có đề cập tới khái niệm này

Trong bối cảnh các quốc gia đang nỗ lực mở rộng lãnh thổ, chiếm giữ

không gian phát triển, đặc biệt là không gian biển thì vấn đề xây dựng cáccông trình, thiết bị nhân tạo, đặc biệt là đảo nhân tạo đã và đang được cácquốc gia ven biển quan tâm và thực hiện Bởi lẽ, các đảo, công trình, thiết bịnhân tạo được xây dựng hợp pháp trên biển sẽ mang lại nhiều lợi ích choquốc gia ven biển trong việc bảo vệ và thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền

và quyền tài phán của quốc gia; gia tăng hiệu quả khai thác tài nguyên biển(như khai thác dầu khí, thủy, hải sản, các mỏ kim loại ); nghiên cứu khoahọc biển; bảo đảm an ninh hàng hải, hàng không, thương mại quốc tế và cáchoạt động tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, đấu tranh phòng, chống tội phạm; điềuchỉnh, cân bằng dòng chảy của thủy triều, chống xói mòn (Balance Islandcủa Hà Lan); thích nghi với tình trạng trái đất nóng lên (Hulhumale củaCộng hòa Maldives)

Từ những lợi ích to lớn nói trên, nhiều quốc gia trên thế giới đã và đangtiến hành xây dựng đảo nhân tạo, điển hình là Hà Lan, các Tiểu Vương quốcArab thống nhất (UAE), Azerbaijan, Maldives, Qatar, Bahrain, Áo, Canada,

Trang 8

Đan Mạch, Hong Kong, Singapore, Nam Phi, Ấn Độ

Tuy nhiên, một thực trạng nguy hiểm hiện nay đó chính là việc bồi đắp,

mở rộng các đảo đá nhỏ, hay các bãi ngầm, rạn san hô, bãi cạn lúc chìm lúcnổi để biến chúng thành đảo nhân tạo đang được một số quốc gia thực hiệnvới mục đích duy trì, củng cố yêu sách về chủ quyền đối với các vùng biển

xung quanh các “đảo” này, đặc biệt ở các quần đảo và vùng biển đang có yêusách tranh chấp hoặc chồng lấn Việc xây dựng, bồi đắp các đảo nhân tạo này

đã từng bước làm thay đổi hiện trạng của các vùng biển, đảo khiến cho mâuthuẫn giữa các quốc gia có lợi ích liên quan ngày càng căng thẳng và phứctạp Thực tiễn đó đã và đang được Trung Quốc tiến hành với quy mô rất lớn ởquần đảo Hoàng Sa và 7 bãi đá ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền củaViệt Nam

Vậy việc nghiên cứu “Vấn đề xây dựng đảo và công trình, thiết bị

nhân tạo theo quy định của Công ước Luật Biển 1982” là rất quan trọng.Với mong muốn làm sáng tỏ các quy chế pháp lý liên quan đến khái niệm,điều kiện, vị trí, thủ tục xây dựng, quy chế pháp lý và quyền tài phán của quốcgia đối với đảo, công trình và thiết bị nhân tạo theo quy định của Công ướcLuật Biển năm 1982 Đồng thời, phân tích cơ sở pháp lý và tác động tiêu cực

từ thực trạng xây dựng đảo nhân tạo bất hợp pháp của Trung Quốc trên các đá

ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam

Tình hình nghiên cứu vấn đề

Việt Nam vốn là một nước đi lên từ hai cuộc kháng chiến chống Pháp

và chống Mỹ, điều kiện kinh tế - xã hội còn ở mức kém phát triển, ngành lậppháp Việt Nam còn tương đối chậm phát triển và có nhiều hạn chế Năm

Trang 9

1994, Quốc hội nước ta thông qua Nghị quyết về việc phê chuẩn Công ướcLuật Biển năm 1982 của Liên Hợp Quốc Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 vàNghị quyết của Quốc hội nước ta về phê chuẩn Công ước Luật Biển năm

1982, Luật Biển Việt Nam ra đời năm 2012 là một yêu cầu tất yếu và cần thiếtđối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta trong tình hìnhhiện nay

Tại quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc tiến hành xây dựng tại một số

điểm, đảo như: xây mới đường băng dài 2.920m thay thế cho đường băng cũdài 2.400m tại đảo Phú Lâm , mở rộng khu vực hậu cần cho máy bay tại đảoPhú Lâm, xây dựng một doanh trại quân đội, đê chắn biển và một số các côngtrình trên đảo Quang Hòa, mở rộng diện tích đảo này lên 50% so với diện tíchvào tháng 01/2014 và xây dựng các tòa nhà trên đảo Duy Mông

Tại quần đảo Trường Sa, từ đầu năm 2014, Trung Quốc tiến hành “đảo

hóa” và mở rộng các đá trên quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của ViệtNam mà họ đã sử dụng vũ lực xâm lược năm 1988 (bao gồm: Gạc Ma, Subi,

Tư Nghĩa, Chữ Thập, Gaven, Châu Viên) và năm 1995 (Vành Khăn) bất chấp

sự phản đối của Việt Nam, Philippines và các cường quốc trên thế giới như

Mỹ, Nhật Bản, Australia, Ấn Độ, khối G7 và Liên minh châu Âu

Hiện nay, một số ít các cơ quan như Bộ Ngoại giao, Tổng cục Biển và

Hải đảo Việt Nam đã xuất bản các ấn phẩm liên quan đến Biển Đông vàcác tranh chấp trên Biển Đông, về việc xây dựng đảo nhân tạo trên BiểnĐông, song, đa phần là những công trình nghiên cứu về Biển Đông nói chung,mang tính chuyển tải nội dung tính chất địa chính trị, lợi ích, chính sách vàhành động của các bên liên quan

Trang 10

Số lượng các công trình nghiên cứu về vấn đề pháp lý liên quan đến

xây dựng đảo và công trình, thiết bị nhân tạo theo quy định của Công ướcLuật Biển năm 1982 còn hạn chế, vì vậy, tác giả chọn đề tài luận văn trênđảm bảo tính “mới” trong nghiên cứu

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu

- Quy chế pháp lý về việc xây dựng đảo và công trình thiết bị nhân tạo;

- Thực tiễn các quốc gia trên thế giới trong giải quyết tranh chấp về

việc xây dựng đảo và công trình thiết bị nhân tạo

- Áp dụng vào trường hợp các yêu sách vùng biển tại Biển Đông

Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi không gian: khu vực Biển Đông, trong vùng biển thuộc chủ

quyền của Trung Quốc và Việt Nam

- Phạm vi thời gian: Từ năm 2014 khi Trung Quốc tiến hành cải tạo,

xây dựng đảo, công trình nhân tạo trên Biển Đông, có sử dụng dẫn chứnglịch sử

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

- Làm sáng tỏ các quy chế pháp lý liên quan đến khái niệm, điều kiện,

vị trí, thủ tục xây dựng, quy chế pháp lý và quyền tài phán của quốc gia đốivới đảo, công trình và thiết bị nhân tạo theo quy định của Công ước Luật Biểnnăm 1982

- Phân tích cơ sở pháp lý và tác động tiêu cực từ thực trạng xây dựng

đảo nhân tạo bất hợp pháp của Trung Quốc trên các đá ở quần đảo Trường Sa

Trang 11

thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Quy chế pháp lý liên quan đến xây dựng đảo và công trình, thiết bị

nhân tạo theo quy định của Công ước Luật Biển năm 1982

- Thực tiễn giải quyết tranh chấp về xây dựng đảo và công trình, thiết bịnhân tạo trên biển của một số quốc gia trên thế giới

- Phân tích bối cảnh tình hình khu vực Biển Đông, những động thái củaTrung Quốc và đánh giá một số tác động của các động thái đó tới thái độ củamột số bên có liên quan tới tranh chấp trên Biển Đông

- Kiến nghị một số giải pháp đối với Việt Nam

Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn

- Đảo nhân tạo là gì? Công trình, thiết bị nhân tạo là gì? Mối liên hệ

giữa hai khái niệm này như thế nào? Phân loại ra sao? Tác động, ảnh hưởngcủa việc xây dựng đảo, thiết bị, công trình nhân tạo trên biển?

- Quy chế pháp lý của đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo theo

Công ước Luật Biển năm 1982? Thẩm quyền xây dựng, lắp đặt như thế nào?Vai trò trong việc xác định các đường ranh giới trên biển ra sao?

- Pháp luật Việt Nam quy định về vấn đề này như thế nào? Những quyđịnh ấy đã tương thích với các điều ước quốc tế hay chưa?

- Cần có giải pháp, kiến nghị như thế nào để hoàn thiện hơn nữa pháp

luật Việt Nam về vấn đề này?

Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn

- Vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, đề tài sử

dụng cạch tiếp cận khoa học, kết hợp phương pháp logic và lịch sử Dùng

Trang 12

những dữ liệu lịch sử để phân tích, khái quát thành lý luận và đưa ra những

dự báo có cơ sở khoa học, kết hợp giữa phân tích và tổng hợp Sử dụngphương pháp hệ thống, xem xét vấn đề trong tổng thể bối cảnh tranh chấptrên Biển Đông

- Phương pháp phân tích, chứng minh, so sánh và tổng hợp là những

phương pháp bổ trợ cần thiết cho phương pháp chủ yếu nêu trên nhằm giảiquyết những vấn đề mà đề tài đã đặt ra

Một số vụ việc tương tự trên thế giới cũng được sử dụng có chọn lọc đểbình luận và các tài liệu, số liệu thống kê của các cơ quan chuyên ngành liênquan đến vấn đề nghiên cứu cũng được tham khảo để việc nghiên cứu đượctoàn diện và sâu sắc hơn

Cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn

- Đề tài vận dụng lý thuyết của chủ nghĩa hiện thực, nhấn mạnh quốc

gia là chủ thể cơ bản và duy lý, “chủ nghĩa quốc gia” chi phối chính sáchđối ngoại của mỗi nước Sự phát triển và quyền lực có ảnh hưởng quyếtđịnh đến sự tồn tại của quốc gia nên nhó trở thành mục tiêu mà quốc giatheo đuổi

Ý nghĩa thực tiễn

Tranh chấp trên Biển Đông hiện đang là một vấn đề “thời sự”, có ảnh

Trang 13

hưởng trực tiếp tới lợi ích và việc bảo vệ an ninh chủ quyền biển đảo của ViệtNam Trong bối cảnh đó, những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phầnlàm rõ một vấn đề quan trọng, xác định tính hợp pháp của các công trình trênBiển Đông Qua phân tích hiện trạng cũng như lịch sử của vấn đề này, đề tàicũng sẽ đưa ra một số dự báo trong tương lai, và đây sẽ là cơ sở quan trọng đểchúng ta có thể đưa ra những kiến nghị, chính sách phù hợp nhằm bảo vệ lợiích của Việt Nam.

Về phương diện nhận thức: Làm sáng tỏ các quy chế pháp lý liên quan

đến khái niệm, điều kiện, vị trí, thủ tục xây dựng, quy chế pháp lý và quyềntài phán của quốc gia đối với đảo, công trình và thiết bị nhân tạo theo quyđịnh của Công ước Luật Biển năm 1982 và đi vào thực tiễn giải quyết cáctranh chấp về các vấn đề này trên thế giới

Về phương diện thực tiễn: Từ việc phân tích những cơ sở pháp lý và tác

động tiêu cực từ thực trạng xây dựng đảo nhân tạo bất hợp pháp của TrungQuốc trên các đá ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam luậnvăn sẽ đưa ra một số kiến nghị, đề xuất đối với Việt Nam Vận dụng trong vấn

đề bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ chủ quyền biển đảo

Luận văn hy vọng sẽ là nguồn thông tin tham khảo thiết thực, có giá trị

phục vụ công tác nghiên cứu khoa học

Cấu trúc của luận văn

Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục chữ viết tắt, danh mục tài liệu tham

khảo và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương với nội dung tóm tắtnhư sau:

Trang 14

CHƯƠNG 1: Nhận thức chung về đảo nhân tạo, công trình thiết bị

nhân tạo trên biển

Chương này nghiên cứu, làm rõ phần lý luận chung về đảo nhân tạo và

công trình, thiết bị nhân tạo trên biển Qua thực tiễn của việc xây dựng đảo,công trình, thiết bị nhân tạo của các quốc gia trên thế giới, đánh giá tác độngtích cực và tiêu cực của việc xây dựng này

CHƯƠNG 2: Quy chế pháp lý của đảo nhân tạo, công trình, thiết bị

nhân tạo theo Công ước Luật Biển năm 1982

Chương 2 tập trung làm rõ quy chế pháp lý của đảo nhân tạo, công

trình, thiết bị nhân tạo trong Công ước Luật Biển năm 1982 Từ thẩm quyềnxây dựng trên các vùng biển, đến việc xác định các đường ranh giới trên biểnxung quanh các đảo nhân tạo và công trình, thiết bị nhân tạo này Chương nàycũng đề cập đến vấn đề mở rộng các bãi cạn lúc nổi lúc chìm, đảo và đảo đátheo Công ước Luật Biển năm 1982 - một vấn đề phức tạp mà luật pháp quốc

tế hiện đại đang cần làm rõ

CHƯƠNG 3: Thực trạng xây dựng đảo nhân tạo, công trình và thiết bị

nhân tạo ở Biển Đông và một số đề xuất, kiến nghị cho Việt Nam

Chương này nêu bật vị trí, vai trò của Biển Đông đối với các nước

trong khu vực, trên thế giới và cả với Việt Nam Đồng thời, khái quát về cáctranh chấp trong khu vực này, trong đó có vấn đề “đảo hóa” các đá, rạn san hôtrong khu vực Biển Đông Trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, đề xuất giảipháp, kiến nghị phương hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam cũng như Côngước Luật Biển năm 1982, đến những vấn đề có liên quan đến việc xác địnhquy chế pháp lý của đảo nhân tạo - những thực thể hiện hữu trên Biển Đông,

Trang 15

làm ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh, hòa bình, ổn định của khu vực.

Trang 16

CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ ĐẢO NHÂN TẠO, CÔNG TRÌNH,

THIẾT BỊ NHÂN TẠO TRÊN BIỂN

1.1 Khái niệm đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo trên biển

1.1.1 Khái niệm đảo nhân tạo

Trong lịch sử nhân loại, xuất phát từ những nhu cầu khác nhau, các

quốc gia luôn tìm cách mở rộng lãnh thổ của mình mà một trong những biệnpháp để thực hiện nhu cầu đó là việc chiếm hữu nhiều hơn không gian biển.Một biểu hiện cụ thể của việc “lấn biển” đó là việc xây dựng những hòn đảonhân tạo Việc xây dựng đảo nhân tạo đã có từ thời xa xưa: Thời La Mã cổ đại

có những ghi chép sơ khai đầu tiên về đảo nhân tạo từ gần 2000 năm trước.Năm 47, Plinius đề cập đến những “gò đất nhân tạo” do cư dân sống tại khuvực mà ngày nay thuộc Đông Bắc Hà Lan, được xây dựng để tránh triều

cường và sóng bão1

Thời Trung Cổ, dân cư Scotland và Iceland đã xây dựng

các nhà chòi tại nhiều vùng hồ làm nơi trú ngụ an toàn để tránh kẻ thù Năm

1634, trong quá trình thi hành chính sách Tỏa Quốc ngăn người nước ngoàivào Nhật Bản, người Nhật đã xây dựng đảo nhân tạo Dejima ngoài khơi

Nagasaki để làm nơi giao thương với người Bồ Đào Nha và sau này với người

Hà Lan2

Ngày nay, vấn đề xây dựng các công trình, thiết bị nhân tạo, đặc biệt là

đảo nhân tạo đã và đang được nhiều quốc gia biển quan tâm thực hiện, điểnhình là Hà Lan, các tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE), Azerbaijan,

Trang 17

Maldives, Qatar, Bahrain, Áo, Canada, Đan Mạch, Hong Kong, Singapore,Panama, Nam Phi, Ấn Độ, quần đảo Slomon, Ba Lan, Anh, Mỹ Ví nhưquần đảo Cây Cọ ở Dubai là quần thể bao gồm ba hòn đảo nhân tạo được xâybởi Nakheel Properties, một nhà phát triển tài sản ở Các Tiểu vương quốcArab thống nhất, đây được đánh giá là kỳ quan thế giới thứ 8 của thế giới và

là quần đảo nhân tạo lớn nhất thế giới hay như Đảo nhân tạo Pampus đượcbiết đến trong lịch sử quân sự Hà Lan

Vậy, cần phải hiểu thế nào là “đảo nhân tạo”? Theo từ điển tiếng Việt,

“đảo” được định nghĩa là “khoảng, vùng đất rộng có nước bao quanh ở sông,

hồ, biển”

Như vậy, về mặt ngôn ngữ, có thể hiểu: “đảo nhân tạo” là “khoảng,

vùng đất rộng có nước bao quanh ở sông, hồ, biển do con người tạo ra,

phỏng theo cái có sẵn trong tự nhiên”

Trong quá trình nghiên cứu về luật biển, các học giả đã đưa ra một số

định nghĩa khác nhau về đảo nhân tạo như:“Đảo nhân tạo là những cấu trúcđược tạo ra bằng cách đặt/đổ lên các vật chất tự nhiên như sỏi, cát và đá;trong khi đó các công trình lắp đặt nhân tạo lại là những cấu trúc bê tông cốđịnh gắn với đáy biển bằng ống dẫn và các cọc” 5

Hay “Đảo nhân tạo là các

thực thể nổi trên biển khi thủy triều lên cao do các hoạt động cải tạo đất hoặccác hoạt động nhân tạo khác” 6

Hay “Đảo nhân tạo là các thực thể nhân tạo

được hình thành từ nguồn tự nhiên trên nền đất cả đáy biển, bao quanh bởinước và nổi trên biển khi thủy triều lên cao” 7

Phân tích các định nghĩa trên

Trang 18

có thể thấy, chúng chưa phản ánh toàn diện các vấn đề kỹ thuật và tính pháp

lý của đảo nhân tạo Sẽ hợp lý hơn khi định nghĩa đảo nhân tạo dựa trên tiêuchí về kỹ thuật, pháp lý và mục đích xây dựng Tiêu chí kỹ thuật để trả lời chocâu hỏi: Đảo nhân tạo được xây dựng như thế nào, bằng vật liệu gì? Tiêu chípháp lý để trả lời cho câu hỏi: Đảo nhân tạo có quy chế pháp lý như thế nào?Tiêu chí mục đích xây dựng, trả lời cho câu hỏi: Đảo nhân tạo được xây dựngnhằm mục đích gì?

Về phương diện pháp luật quốc tế, trong quá trình đàm phán để ký kết

UNCLOS đã có đệ trình của một số quốc gia liên quan tới đảo nhân tạo

nhưng văn bản cuối cùng của UNCLOS chỉ định nghĩa “đảo” tại Điều 121:

“Đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đấtnày vẫn ở trên mặt nước” mà không định nghĩa “đảo nhân tạo” Việc thiếuvắng định nghĩa về đảo nhân tạo trong UNCLOS đã làm cho việc giải thích và

áp dụng quy chế pháp lý của đảo nhân tạo trên thực tế chưa có sự thống nhất.Theo pháp luật Việt Nam, cụ thể là Luật Biển Việt Nam 2012, khái

niệm “đảo nhân tạo, thiết bị, công trình trên biển” được định nghĩa, bao gồm:(i) Các giàn khoan trên biển cùng toàn bộ các bộ phận phụ thuộc khác

đảm bảo hoạt động bình thường và liên tục của các giàn khoan hoặc các thiết

bị chuyên dùng để thăm dò, khai thác và sử dụng biển;

(ii) Các loại báo hiệu hàng hải;

(iii) Các thiết bị, công trình khác được lắp đặt và sử dụng ở biển.8

Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, đảo nhân tạo và thiết bị, công trình

được phân loại căn cứ vào mục đích sử dụng của nó

Qua những phân tích trên đây, có thể rút ra một định nghĩa chung về

Trang 19

đảo nhân tạo như sau: “Đảo nhân tạo là công trình do con người xây dựng cốđịnh, vĩnh viễn trên nền của đáy biển bằng các vật liệu tự nhiên như đất, đá,cát hoặc bê tông, được bao quanh bởi nước biển và nổi trên biển khi thủytriều lên cao nhất”

Xem xét định nghĩa này có thể rút ra một số đặc điểm sau đây về “đảo

nhân tạo”:

(i) Tính cố định, không thể dịch chuyển: Đảo nhân tạo trước hết là một

hòn đảo do đó không thể di dời, dịch chuyển được Đặc điểm này giúp phânbiệt “đảo nhân tạo” với các công trình nhân tạo khác như như giàn khoan dầu,khí; cáp ngầm, ống dẫn ngầm trên biển

(ii) Tính nhân tạo: Thời cổ đại con người có thể phải dựa hoàn toàn vàosức lực chân tay để xây dựng các đảo nhân tạo Tuy nhiên ngày nay, với sựphát triển của khoa học và công nghệ, máy móc đã đóng một vai trò quantrọng trong đời sống của con người nói chung cũng như trong việc xây dựngcác đảo nhân tạo nói riêng Trong nhiều trường hợp, máy móc đã tham giahoàn toàn vào việc xây dựng một hòn đảo nhân tạo (từ khâu thiết kế, thicông ) Như vậy, tính nhân tạo trong việc xây dựng các hòn đảo này thể hiện

ở ý chí của con người khi muốn xây dựng hòn đảo đó chứ không nhất thiếtmang nghĩa là con người phải trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng vậtchất của hòn đảo đó

(iii) Bao bọc bởi nước biển: điều kiện này kéo theo nhận xét, theo đó

việc xây dựng một cây cầu hay đường ngầm nối đảo nhân tạo với lục địakhông làm mất đi đặc điểm nói trên

(iv) Khi thủy triều lên, vẫn ở trên mặt nước: Điều kiện này nhằm loại

Trang 20

bỏ các cấu trúc khi thủy triều xuống thấp thì lộ ra, khi thủy triều lên cao thì bị

ngập nước Tuy nhiên, Công ước Luật Biển năm 1982 không đưa ra khái

niệm và các phương pháp xác định thủy triều10 Trên thực tế, tính toán thủy

10 Về phương diện địa lý, thủy triều là hiện tượng chuyển động thường xuyên và có chu kỳcủa các khối

nước trong các biển và đại dương Sự thay đổi lực hấp dẫn từ Mặt Trăng và từ các thiên thểkhác như Mặt

Trời tại một điểm bất kỳ trên bề mặt Trái Đất trong khi Trái Đất quay đã tạo nên hiện tượngnước lên

(triều lên) và nước rút (triều xuống) vào những khoảng thời gian nhất định trong một ngày.Nguyên nhân

của thủy triều chủ yếu do sức hút của Mặt Trăng và Mặt Trời Một số nơi trên thế giới xuấthiện các loại

thủy triều sau: triều bán nhật nếu như chu kỳ dao động của thủy triều bằng nửa ngày MặtTrăng

(12g25ph), triều toàn nhật - chu kỳ bằng một ngày Mặt Trăng (24g50ph) và triều hỗn hợpvới chu kỳ biến

12

triều là một lĩnh vực phức tạp và nhiều phương pháp tính cũng như phân tích

số liệu mực nước thủy triều đã hình thành Vì vậy, mỗi quốc gia tự lựa chọn

cho mình một phương pháp phù hợp Chỉ tính riêng 31 nước11 có quy định

phương pháp tính toán thủy triều trong hệ thống pháp luật quốc gia, 17 công

thức tính khác nhau đã được sử dụng Việc xảy ra tranh chấp là điều khó

tránh khỏi khi các phương pháp tính thủy triều đưa đến những kết quả không

giống nhau

1.1.2 Khái niệm công trình, thiết bị nhân tạo trên biển

Ngoài đảo nhân tạo, một dạng thực thể khác cũng được con người chú

Trang 21

trọng xây dựng để đáp ứng các nhu cầu khác nhau đó là: công trình, thiết bị

nhân tạo trên biển Các công trình, thiết bị có thể được xây dựng nhằm những

mục đích như nghiên cứu khoa học biển, giám sát thủy triều, các khu nghỉ mát

hoặc khu dân cư, cảng hàng không, trung tâm vận chuyển hàng hóa, trạm

kiểm soát giao thông12 Theo Nghị định thư Barcelona 1994 về Bảo vệ Địa

Trung Hải chống lại ô nhiễm do việc thăm dò và khai thác trên thềm lục địa,

đáy biển và lòng đất dưới thềm lục địa, khái niệm “công trình” (installation)

đổi trong thời gian nửa tháng Mặt Trăng từ bán nhật sang toàn nhật hay ngược lại Nếu sốngày với chu kỳ

toàn nhật chiếm ưu thế thì thủy triều được gọi là triều toàn nhật không đều, nếu số ngày vớichu kỳ bán

nhật chiếm ưu thế - triều bán nhật không đều Những điều kiện địa lý của biển như hình dạngđường bờ,

kích thước hình học của bờ, phân bố độ sâu, sự tồn tại các đảo và các vịnh trong biển có ảnhhưởng quyết

định đến độ lớn và đặc điểm thủy triều trong biển đó và trong các bộ phận của nó Thực tếquan trắc thấy

rằng, trong khi ở một số vùng của đại dương dao động thủy triều có biên độ rất lớn, thì ở một

biển và vấn đề thủy triều, < http://www.shom.fr >

11 Afrique du Sud, Arabie Saoudite, Australie, Bahamas, Belize, Croatie, Danemark,Honduras, Îles Cook,

Îles Marshall, Îles Salomon, Indonésie, Kiribati, Liban, Madagascar, Namibie, Niue,Nouvelle Guinée,

Trang 22

Nouvelle-Zélande, Pays-Bas, Royaume-Uni, Samoa, Soudan, Sri Lanka, Syrie, Tonga,Trinité et Tobago,

Tuvalu, Ukraine, Vanuatu, Venezuela Theo:

được hiểu là bất kỳ cấu trúc cố định hoặc nổi và bất kỳ phần gắn liền nào của

nó được sử dụng vào các hoạt động: (i) các bộ phận thăm dò ngoài khơi cố

định hoặc di động; (ii) các bộ phận sản xuất bao gồm các bộ phận có vị trí

động; (iii) các hệ thống kho bãi ngoài khơi bao gồm các tàu thuyền sử dụng

cho mục đích đó; (iv) các cảng phục vụ việc bốc dỡ và hệ thống vận chuyển

các sản phẩm được chiết xuất như các ống dẫn ngầm; (v) hệ thống máy móc

gắn liền với các thiết bị nhằm mục đích bốc xếp, sản xuất, lưu trữ và tiêu hủy

các chất được lấy lên từ đáy biển và lòng đất dưới đáy biển13 Theo Công ước

Luật Biển năm 198214, thuật ngữ “thiết bị công trình” có được nhắc tới tuy

nhiên thuật ngữ này không được định nghĩa hay làm rõ trong Công ước15

Trong khoa học pháp lý, chúng thường được hiểu là những thiết bị, công trình

nhân tạo được xây dựng và lắp đặt một cách lâu dài trong lãnh hải, vùng đặc

quyền kinh tế và trên thềm lục địa; trong vùng nước quần đảo hoặc những

vùng biển quốc tế được điều chỉnh bằng Công ước Luật Biển năm 1982 và

luôn được sử dụng nhằm mục đích thăm dò và khai thác các nguồn tài nguyên

biển Chúng là các công trình, thiết bị trên biển do con người xây dựng, lắp

Trang 23

đặt và sử dụng trên biển16, vì vậy, chúng phân biệt với các thực thể được tạo

ra trên biển bởi sự kiến tạo thiên nhiên - những thực thể đáp ứng tiêu chuẩn

của đảo tự nhiên bởi yếu tố “một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy

triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước”17 Về vấn đề này, các công trình

và thiết bị trên biển không gặp nhiều rắc rối về mặt định nghĩa bởi lẽ các thiết

bị và công trình là sản phẩm của con người, thông qua kỹ thuật và công nghệ

13 Điều 1 (f) Nghị định thư Barcelona 1994 về Bảo vệ Địa Trung Hải chống lại ô nhiễm doviệc thăm dò và

khai thác trên thềm lục địa, đáy biển và long đất dưới thềm lục địa 1994

14 Điều 56 UNCLOS 1982

15 Alexander Lott, Marine Environmental Protection and Transboundary Popeline Projects:

A Case Study

of the Nord Stream Piperline, Xem: http://dspace.library.uu.nl/handle/1874/208555

16 Trong khoa học pháp lý, các công trình và thiết bị được gọi bằng các thuật ngữ khác nhaunhư “các công

trình và thiết bị ngoài khơi” (offshore installations and strucstures); “các thiết bị nhân tạo”(artificial

installations); “các thiết bị và công trình” (installations and structures)

17 Điều 121 (1) UNCLOS 1982

14

Xem xét khái niệm về thiết bị và công trình nhân tạo có thể rút ra một

số đặc điểm như sau:

Cũng giống như đảo nhân tạo, tính nhân tạo của thiết bị và công trình

nhân tạo trên biển nằm ở ý chí của con người muốn xây dựng các công trình

và thiết bị đó chứ không nhất thiết thể hiện ý nghĩa là con người phải trực

tiếp tham gia vào quá trình xây dựng vật chất của hòn đảo đó Do đó, chúng

Trang 24

phân biệt với các thực thể được tạo ra trên biển bởi sự kiến tạo thiên nhiên.Các thiết bị và công trình là sản phẩm của con người thông qua kỹ thuật vàcông nghệ.

Các công trình và thiết bị tồn tại và hoạt động trên biển và có sự gắn

kết vật chất với đáy biển một cách trực tiếp (như những công trình, thiết bịđược xây dựng, lắp đặt trên hạ tầng đáy biển, chúng có sự gắn bó hữu cơ vớiđáy biển) hoặc thậm chí không gắn liền với đáy biển

Bên cạnh đó, các công trình, thiết bị nhân tạo cũng được bao bọc bởi

nước biển và ở trên mực nước biển khi thủy triều lên cao nhất

1.1.3 Mối liên hệ giữa đảo nhân tạo và công trình, thiết bị nhân tạo

trên biển

Do đặc tính “nhân tạo” của chúng mà các công trình, thiết bị luôn có sựliên hệ mật thiết với các “đảo nhân tạo” Thông thường, khái niệm xây dựngcác đảo nhân tạo sẽ bao hàm việc xây dựng thiết bị và công trình trên đó hoặcngược lại, việc xây dựng các công trình, thiết bị trên một thực thể thườngđược hiểu đồng nghĩa với việc xây dựng đảo nhân tạo theo nghĩa rộng Ở đây

có hai trường hợp đặt ra

Trường hợp thứ nhất, trường hợp bản thân các công trình, thiết bị đó

đóng vai trò như một “đảo nhân tạo” tức là có sự gắn bó vật chất với đáy biển

và có đầy đủ các tiêu chuẩn cần thiết của một đảo như có nước bao quanh,thường xuyên nhô lên khỏi mặt nước khi nước thủy triều lên cao nhất Trongtrường hợp này hai khái niệm là một và có thể dùng thay thế cho nhau

15

Trường hợp thứ hai, trường hợp các công trình, thiết bị được xây dựng

Trang 25

và lắp đặt đồng thời, hoặc sau đó, với một đảo nhân tạo Trong trường hợpnày, hai khái niệm được hiểu không hoàn toàn đồng nhất Vấn đề đặt ra làtrong trường hợp một quốc gia tiến hành hoạt động cải tạo đất và xây dựngnhững công trình trên đó thì điều này có làm thay đổi bản chất pháp lý củacác bãi cạn này không? Trong trường hợp này, thứ nhất, các bãi cạn lúc nổilúc chìm này có thể tiếp tục là một bãi cạn lúc nổi lúc chìm, tuy nhiên theoĐiều 7 (4) UNCLOS, trong trường hợp trên đó có những đèn biển hoặc cácthiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt nước hoặc việc vạch các đường

cơ sở thẳng đó đã được sự thừa nhận chung của quốc tế thì chúng có thể được

sử dụng làm một điểm để xác định đường cơ sở; thứ hai, chúng có thể trởthành một “đảo nhân tạo”, trong trường hợp này, chúng không có quyền thiếtlập các vùng biển riêng

18

1.2 Thực tiễn xây dựng đảo nhân tạo, công trình thiết bị nhân tạo

trên biển

Các quốc gia trên thế giới đã và đang tiến hành xây dựng các đảo nhân

tạo nhằm đáp ứng những nhu cầu khác nhau Cụ thể như:

Là đất nước nằm thấp nhất so với mực nước biển, để cân bằng dòng

chảy của thủy triều, chống xói mòn Hà Lan đã xây dựng đảo nhân tạo

Pampus gần Amsterdam, ngoài ra còn có các đảo Flevoland, Ijburg, Ijsseloog,Neeltje-Jans, REM Island, Maasvlakte, Marker Wadden Đảo nhân tạoPampus được biết đến trong lịch sử quân sự Hà Lan Pampus là một hòn đảonằm trong hệ thống pháo đài phục vụ cho nhiều mục đích quân sự trước vàsau Chiến tranh thế giới thứ Hai của Hà Lan Cùng với những pháo đài khác,

Trang 26

pháo đài Pampus tạo thành tuyến phòng thủ được xây dựng giữa năm 1883

18 Trần Thăng Long (2015), Việc xây dựng và lắp đặt các công trình và thiết bị của TrungQuốc trên các

đảo nhân tạo tại Biển Đông - chiến thuật “một mũi tên nhắm hai mục tiêu”?, Kỷ yếu Hộithảo quốc tế

“Xây dựng công trình nhân tạo trên Biển Đông và tác động đối với hòa bình, an ninh, kinh

tế, thương mại

của khu vực”, tr.42

16

đến 1920 với chiều dài 135 km để bảo vệ thủ đô Hệ thống công trình này có

dạng chiếc nhẫn với pháo đài đập, đê điều, thành lũy xung quanh Amsterdam

Khi thủy triều thấp, Amsterdam có thể chống lại các cuộc xâm lược xung

quanh trong vòng 48 giờ Đó là một trong những cách thức quân sự thông

minh mà quân đội Hà Lan áp dụng

Các tiểu vương quốc Arabia thống nhất (UAE) đã xây dựng The Palm

(Quần đảo cây cọ) được vinh danh là kỳ quan thứ 8 của thế giới, ngoài ra còn

có Al Lulu Island, Burj al-Arab, The World Islands, Dubai Waterfront, The

Universe Azerbaijan xây dựng quần thể đảo nhân tạo Khaza Island với 41

đảo nhỏ, diện tích 3000 ha trên biển Caspian Dự án xây dựng đảo nhân tạo

Hulhumale của Chính quyền Maldives dự kiến hoàn thành năm 2020 và đón

khoảng 45.000 dân đến sinh sống trong 15 năm tới đây cũng cho thấy sự phát

triển và tầm quan trọng của đảo nhân tạo trong tương lai của thế giới

Việc thống kê đầy đủ các công trình đảo nhân tạo trên thế giới gặp rất

nhiều khó khăn, tuy nhiên trong công trình nghiên cứu này, tác giả có thể đưa

ra thêm một vài công trình tiêu biểu để minh họa cho tính phổ biến của đảo

Trang 27

nhân tạo trên thế giới Có thể kể đến đảo nhân tạo Pearl Qatar cách bờ biểnDoha, Qatar khoảng 350m, thuộc vịnh West Bay Lagoon, các đảo nhân tạoDurrat Al Bahrain, Amwai Islands, Reef Island, Bahrain Bay, Diyar Al

Muharraq, Bahrain Lagoon, Passport Island do Bahrain xây dựng Canada xây

dựng các đảo nhân tạo nổi tiếng như: Ile Notre-Dame ở Montreal, Levasseur Island ở Quebec, Ontario Palace East and West Island ở Toronto,Ontario Đan Mạch xây dựng các đảo nhân tạo như: Peberholm, Flakfortet,Copenhagen Harbour, Middelgrundsfortet Copenhagen harbor, TrekronerFort Hong Kong xây dựng các đảo nhân tạo như: Hong Kong Conventionand Exhibition Centre, Hong Kong International Airport, Hong Kong - MacauFerry Terminal, Duplicate Tsing Yi South Bridge Singapore đã xây dựng cácđảo nhân tạo như: Jurong Island, Chinese Garden, Coral Island, ParadiseIsland, Pearl Island, Pulau Punggol Barat, Pulau Punggol Timor, Japanese17

Rene-Garden, Sandy Island, Treasure Island, Pulau Merlion Panama xây dựng đảonhân tạo Panam Gets Its Own Man - Made Island Nam Phi xây dựng đảonhân tạo Kamfers Dam có diện tích 380ha Ấn Độ xây dựng đảo nhân tạoWillington ở thành phố Kochi, Kerala 19

Trong thực tiễn các quốc gia, đã có một vài ví dụ về việc xây dựng đảo

hoặc cấu trúc nhân tạo từ đá tự nhiên và san hô Vào đầu thập kỷ 70 của thế

kỷ trước, Tonga đã dùng xi măng để nâng cao hai bãi cạn, từ đó mở rộng cácvùng biển thuộc quyền tài phán của mình Ví dụ gần hơn là đảo san hô

Okinororishima của Nhật Bản (còn có tên Rạn san hô Doughlas), nằm ở20o

25‟ Bắc và 136o

Trang 28

05‟ Đông, cực Nam lãnh thổ Nhật Bản Do bị nước biển

làm xói mòn, bề mặt của rạn san hô này trên mặt nước khi thủy triều lên đã

dần dần bị rút xuống và hạ thấp đi Khi triều lên chỉ có thể nhìn thấy 16cm

của hòn Bắc (Kitakojima) và 6cm của hòn Đông (Higashikojima) - hai bãi đá

của rạn san hô này - nổi trên mặt nước Dưới tác động của tự nhiên, rạn san

hô này sẽ bị chìm hoàn toàn dưới mực nước biển Kể từ năm 1987, Nhật Bản

đã bắt đầu đầu tư một khoản tiền lớn (khoảng 300 triệu USD) để củng cố và

bồi đắp các rạn san hô nhằm sử dụng các rạn san hô làm cơ sở để đòi hỏi

thêm các vùng nước chủ quyền Nước này dã xây dựng một bức tường xung

quanh và bao bọc rạn san hô để bảo vệ chúng không biến mất dưới tác động

của tự nhiên Theo dự đoán, Nhật Bản rất có thể sẽ nỗ lực xây dựng

Okinororishima thành một đảo nhân tạo lớn

1.3 Phân loại đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo trên biển

Việc phân loại đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo trên biển có ý

nghĩa quan trọng, bởi việc phân loại sẽ giúp góp phần xác định tình trạng

pháp lý của những thực thể trên trong pháp luật quốc tế Trên thế giới hiện

nay, sự phát triển của khoa học công nghệ cùng với ý chí của con người đã

tạo nên sự đa dạng hiện có của các công trình nhân tạo Dựa trên nền tảng

19 Xem thêm: http://wonderlist.com/top-15-artificial-islands-amazing-man-made-islands/(truy cập lúc 8h

ngày 02/7/2016)

18

nghiên cứu của Papadakis20, tác giả phân loại dựa trên những cấu trúc, công

trình nhân tạo thông dụng trên thế giới

Trang 29

(i) Các công trình phục vụ mục đích dân sinh, cộng đồng: So với các

cấu trúc, công trình, thiết bị phục vụ ngành công nghiệp ngày một phát triển

về số lượng và chất lượng, những nền tảng phục vụ cho các mục đích dân sinhdường như không thay đổi, không có nhiều phát triển mới Tuy nhiên, cùngvới sự phát triển của khoa học công nghệ, các đảo nhân tạo, công trình, thiết

bị nhân tạo phục vụ cho mục đích dân sinh ngày càng được mở rộng hơn vàđược đầu tư mạnh mẽ về mặt cơ sở hạ tầng

Tham vọng xây dựng các đảo nhân tạo phục vụ mục đích dân sinh hiện

nay không chỉ dừng lại ở chỗ giải quyết chỗ ở cho cư dân trên biển mà cònbao gồm các cơ sở giải trí, các tòa nhà chính phủ, các cửa hàng và thậm chí làcác khu công nghiệp Cấu trúc thiết kế đặc biệt này có thể đảm bảo cho mộtcuộc sống “vĩnh viễn” trên bề mặt của đại dương

Bên cạnh đó, các quốc gia cũng đặc biệt quan tâm đến vấn đề bảo tồn

biển Ví dụ như Công viên biển Great Barrier Reef ngoài khơi bờ biển

Queensland, Australia Great Barrier Reef bao gồm khoảng 345.000km2, bao

gồm 2.900 rạn san hô và 300 cồn san hô cùng 60 hòn đảo lục địa Hay nhưmột đề xuất dự án nhằm xây dựng một hòn đảo nhân tạo trên Biển Chết - khuvực vốn được coi là điểm nóng chính trị ở khu vực Trung Đông, thành mộttrung tâm phát triển mạnh về du lịch sinh thái và nghiên cứu Hòn đảo nhântạo này được gọi là “No Man‟s Land”, nếu được hoàn thành nơi đây sẽ tạo ranăng lượng tái tạo và nước sạch từ khí quyển Có thể nêu ra vài ví dụ khácnhư những đảo nhân tạo lớn nhất thế giới của UAE (quần đảo cây cọ),

Hulhumalé của Maldives , Rooko Island hay Port Island của Nhật Bản

Trang 30

(ii) Các công trình nhằm mục đích dân sự như: thăm dò và khai thác tài

nguyên biển, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, khảo cổ học, dự báo thời tiết, điều

hòa thủy triều, chống xói mòn

20 Nikos Papadakis (1977), The International Legal Regime of Artificial Island, tr11.19

Các công trình nhằm mục đích thăm dò và khai thác tài nguyên biển là

sự quan tâm của các quốc gia có biển và các quốc gia tìm mọi phương thức để

đẩy mạnh, phát triển, khám phá nguồn tài nguyên này Kể từ khi tìm thấy

lượng lớn dầu ngoài khơi, các công ty dầu mỏ cùng với các kỹ sư đã nghiên

cứu, phát triển công nghệ để thích hợp với các cấu trúc khác nhau của đáy

biển Một giàn khoan dầu ngoài khơi là một cấu trúc lớn đáp ứng đủ các khâu:

từ khoan, khai thác, sản xuất và vận chuyển lên bờ Các giàn khoan dầu này

có thể được cố định hoặc thả nổi trên mặt biển nhưng nhìn chung xem xét dựa

trên khía cạnh kỹ thuật và những ảnh hưởng tới môi trường, những giàn

khoan này trong tương lai sẽ phải tháo gỡ dần và thay vào đó là những công

trình, cấu trúc sử dụng năng lượng tái tạo (như năng lượng mặt trời, năng

lượng gió ) Một số công trình khác như các đảo của Israel xây dựng để nuôi

trồng thủy sản hoặc là các đảo nhân tạo của Hà Lan được xây dựng chủ yếu

nhằm mục đích điều hòa thủy triều, chống xói mòn, hoặc những tua bin gió

của Đan Mạch

(iii) Các công trình phục vụ giao thông vận tải như cảng biển, nhà kho,

sân bay vận tại, thương mại: Những hoạt động mà trước đây chỉ diễn ra trên

đất liền thì ngày nay với sự phát triển của khoa học công nghệ đã vươn ra

ngoài biển khơi Nhật Bản là một quốc gia rất quan tâm đến ô nhiễm môi

Trang 31

trường, ô nhiễm tiếng ồn, thêm vào đó là việc đảm bảo mật độ dân số, vì lý do

đó, Chính phủ Nhật Bản đã khai hoang, tạo lập các đảo nhân tạo nhằm mụcđích xây dựng các sân bay cách xa thành phố Các dự án như sân bay Kansai,Kobe, Nagasaki của Nhật Bản là những ví dụ điển hình Ngoài ra còn có sânbay quốc tế Hong Kong, hoặc Emirate của UAE đây được coi là những giảipháp hữu hiệu cải thiện vấn đề môi trường cho những đảo quốc này

Ngoài các sân bay, các công trình nổi còn được sử dụng như những

cảng biển đảm bảo an toàn neo đậu của tàu thuyền trọng tải lớn, các tàu chởdầu và tàu chở hàng có thể cung cấp khoáng chất và dầu khí khai thác từ đáybiển tại các cơ sở cảng này

20

(iv) Các công trình nhằm mục đích quân sự: Trong bối cảnh các quốc

gia trên thế giới ngày càng gia tăng ảnh hưởng của mình trong quan hệ quốc

tế, việc tăng cường sức mạnh quân sự là một trong những mũi nhọn chính.Việc xây dựng các công trình nhân tạo trên biển nhằm mục đích quân sự gópphần đáp ứng được nhu cầu này Các đảo, công trình nhân tạo phục vụ mụcđích quân sự gồm cảng nước sâu có thể cho tàu ngầm, tàu quân sự lớn neođậu; radar cao tầm; sân bay quân sự

Việc Trung Quốc đang thực hiện phi pháp trên quần đảo Trường Sa

thuộc chủ quyền của Việt Nam là một ví dụ Thời gian qua, Trung Quốc tăngcường bồi lắp, xây dựng những đảo đá trên quần đảo Trường Sa mà TrungQuốc chiếm đóng trái phép Những đảo này được trang bị hệ thống radar và

hệ thống điện tử nghe nhìn nhằm tăng cường khả năng tình báo, theo dõi vàtrinh sát của Trung Quốc Các đường băng mới được xây dựng với chiều dài

Trang 32

10.000 feet trên đảo Chữ thập đủ để đáp các loại máy bay thông thường và dự

kiến sẽ tiếp tục cải tạo để sử dụng cho cả máy bay chiến đấu chiến thuật của

Trung Quốc Từ đây, Trung Quốc có thể sử dụng làm sân bay cho các loại

máy bay giám sát, máy bay không người lái, vận tải, tiếp dầu và chiến đấu

Tùy thuộc vào hạ tầng và trang thiết bị đã được xây dựng trên các đảo, Trung

Quốc có thể giám sát hầu hết hoạt động trên Biển Đông Trung Quốc có thể

đơn phương tuyên bố khu vực nhận dạng phòng không (ADIZ) trên một phần

hoặc toàn bộ khu vực trong phạm vi đường yêu sách lưỡi bò

Hiện tại, đảo nhân tạo đang tồn tại trên Biển Đông chủ yếu bao gồm ba

loại khác nhau và mỗi loại có những đặc điểm pháp lý khác nhau21

Thứ nhất,

chúng bao gồm các thiết lập nhân tạo nổi có tính chất tạm thời (temporary

artificial installations), ví dụ như các dàn khoan dầu khí, những thiết lập này

sẽ được tháo gỡ và loại bỏ Thứ hai, chúng bao gồm các thiết lập và cấu trúc

21 Zou Keyuan, The Impact of Artificial Islands on Territorial Disputes Over The SparatlyIslands, Xem:

http://nghiencuubiendong.vn/en/conferences-and-seminars-/second-international-workshop/597-the-

impact-of-artificial-islands-on-territotial-disputes-over-the-sparatly-islands-by-zou-keyuan.21

nhân tạo gắn kết tạm thời hoặc vĩnh viễn với đảo tự nhiên (artificial

installations and structures appended to natural islands) chẳng hạn như

đường băng, các cảng biển và căn cứ quân sự, hậu cần kỹ thuật Thứ ba, các

đảo nhân tạo được xây dựng dựa trên các thực thể nhỏ và bãi cạn Đây là

những đảo nhân tạo được hình thành từ việc xây dựng trên các loại đá tự

nhiên hoặc các rạn san hô Trong trường hợp này, việc xác định bản chất cũng

Trang 33

như quy chế pháp lý của “đảo nhân tạo” này hết sức phức tạp Đây là một loạithực thể trên biển có sự kết hợp giữa thực thể tự nhiên và thực thể nhân tạo.

Do vậy, chúng có thể được sử dụng để thay đổi bản chất pháp lý của một thựcthể đang tồn tại từ dạng này sang dạng khác nhằm phục vụ các yêu cầu khácnhau, chẳng hạn như phục vụ cho yêu sách về chủ quyền, lãnh thổ22

Nếu như trong hai loại “đảo nhân tạo” được đề cập đầu tiên, về cơ bản

đều được điều chỉnh bằng các quy định tương ứng trong UNCLOS 1982 thìloại “đảo nhân tạo” thứ ba này rất khó xác định quy chế pháp lý bởi việc tácđộng của con người đối với các rạn san hô này thông qua các công trình thiết

bị nhân tạo được xây dựng trên đó, những đảo nhân tạo loại này không thể

được xem như một thực thể tự nhiên bởi trước khi có sự tác động từ phía conngười, chúng là những thực thể nằm dưới mực nước biển và chỉ có thể nổi lênkhi thủy triều xuống thấp Những đảo loại này không thỏa mãn hoàn toàn tiêuchuẩn truyền thống về đảo nhân tạo bởi lẽ cho dù sau khi được bồi đắp, tôntạo thì về bản chất, chúng không có sự gắn kết cố định với đáy biển như

thường thấy ở các công trình nhân tạo khác trên biển Các thực thể này xét vềbản chất là những rạn san hô hoặc gọi chung là các bãi cạn lúc chìm lúc nổi(low-tide elevations)

Loại đảo nhân tạo thứ ba đã được đề cập trong phán quyết của Tòa án

Công lý Quốc tế (ICJ) trong vụ tranh chấp giữa Qatar và Bahrain về phân

22 Ví dụ như Yêu sách “đường đứt khúc 9 đoạn” của Trung Quốc tại Biển Đông.22

định biển và các vấn đề lãnh thổ năm 201123, theo thẩm phán Shigeru Oda, thì

Trang 34

với công nghệ hiện đại, việc phát triển các đảo nhỏ và bãi cạn sẽ có thể làmnền móng cho các công trình trong tương lai, vấn đề đặt ra là những côngtrình này có được luật pháp quốc tế cho phép hay không, chúng sẽ tồn tại ởquy chế pháp lý nào? Vấn đề đặt ra là chưa có điều khoản nào trong luật phápquốc tế điều chỉnh trực tiếp vấn đề này Điều 5 Công ước về Thềm lục địa

1958 có điều khoản liên quan đến việc xây dựng đảo nhân tạo trên thềm lụcđịa, theo đó các quốc gia ven biển được quyền xây dựng và duy trì hoặc hoạtđộng trên các thiết lập trên thềm lục địa và các thiết bị khác cần thiết cho việcthăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên, nhưng những thiết lập nhân tạo

và thiết bị như vậy không có quy chế của đảo UNCLOS cho phép các quốcgia xây dựng các công trình nhân tạo trên biển tuy nhiên hoạt động này phảiđược thực hiện bởi quốc gia có chủ quyền đối với những thực thể ấy hoặcquốc gia khác thực hiện nhưng phải được sự cho phép của quốc gia ven biển,đồng thời chịu sự tài phán của quốc gia ven biển

Có thể thấy, các đảo, công trình, thiết bị nhân tạo được xây dựng nhằm

nhiều mục đích khác nhau Ở thời kỳ đầu, các đảo nhân tạo được xây dựngvới những mục đích dân sinh như: phòng chống thiên tai, đối phó với hoạxâm lăng Theo thời gian, các đảo nhân tạo ngày càng giữ nhiều vai trò hơn,

từ việc là giải pháp cho vấn đề tăng dân số, cho tới việc phục vụ phát triển dulịch, phục vụ ngành hàng không Việc xây dựng các đảo nhân tạo trở nên hếtsức phổ biến, từ những đảo nhỏ chỉ chứa được một công trình xây dựng nhỏgiữa biển, cho tới những đảo khổng lồ là nơi sinh sống của cả một cộng đồngdân cư Một trong những đảo nhân tạo lớn nhất từng được xây dựng là đảoFlevopolder với diện tích 970km2

Trang 35

, do Chính phủ Hà Lan xây dựng năm

23 ICJ Reports (2011), Case Concerning Maritime Delimitation and Territorial Questionsbetween Qatar

and Bahrain (Qatar v Bahrain)

23

196824 Hay như quần đảo cây cọ của UAE - nơi được mệnh danh là kỳ quan

thứ 8 của thế giới25 Hay như đảo nhân tạo Hulhumale - dự án xây dựng đảo

nhân tạo trên Ấn Độ Dương của Maldives - quốc gia chỉ cao hơn 2,3m so với

mực nước biển26 Quốc gia này hiểu rõ điều gì sẽ xảy ra khi mực nước biển

ngày một dâng lên Chính vì vậy, Chính phủ Maldives đã bắt tay vào thực

hiện một dự án xây dựng đảo nhân tạo lớn nhất để giải quyết vấn đề diện tích

đất bị nước biển nhấn chìm, đồng thời đẩy mạnh ngành du lịch - vốn là ngành

mũi nhọn của quốc gia này - và phát triển hơn nữa

Qua những ví dụ nêu trên, có thể khái quát vai trò của đảo nhân tạo

như sau:

(i) Nơi cư trú của cộng đồng dân cư trên biển (các thành phố, làng mạc

trên biển cố định hoặc nổi như các đảo nhân tạo mà UAE, Maldives, Canada,

Singapore, Mỹ, Nhật Bản đã xây dựng);

(ii) Các công trình nhằm mục đích dân sự như: thăm dò và khai thác tài

nguyên biển, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, khảo cổ học, dự báo thời tiết, điều

hòa thủy triều, chống xói mòn (như các đảo của Israel xây dựng để nuôi trồng

thủy sản hoặc là các đảo nhân tạo của Hà Lan được xây dựng chủ yếu là nhằm

mục đích điều hòa thủy triều, chống xói mòn);

(iii) Các công trình phục vụ giao thông vận tải như bến tàu, nhà kho,

Trang 36

sân bay (như sân bay quốc tế Hong Kong, Macau Trung Quốc, các sân bay

Kansai, Kobe, Nagasaki của Nhật Bản hoặc Emirate của UAE);

24 Xem thêm tại:

https://en.wikipedia.org/wiki/

Artificial_island#Largest_artificial_islands_according_to_their_size_.28recla

imed_lands.29 (Tham khảo lúc 7h00‟ ngày 22/6/2016)

25 Xem: 467775.vov

http://vov.vn/di-san/quan-dao-cay-co-dubai-quan-dao-nhan-tao-lon-nhat-the-gioi-26 Khan, T.M.A., and D.A Quadir 2002 Relative sea level changes in Maldives andvulnerability of land

due to abnormal coastal inundation Marine Geodesy 25:133–143

24

(iv) Các công trình nhằm mục đích quân sự (như việc Trung Quốc

đang thực hiện phi pháp trên quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của

Việt Nam).27

1.4 Tác động, ảnh hưởng của việc xây dựng đảo nhân tạo, công

trình thiết bị nhân tạo trên biển

1.4.1 Tác động, ảnh hưởng tích cực

Các đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo được xây dựng hợp pháp

trên biển sẽ mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia ven biển trong việc bảo vệ và

thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia; gia tăng

hiệu quả khai thác tài nguyên biển (như khai thác dầu, khí, thủy hải sản, các

mỏ kim loại ), nghiên cứu khoa học biển và bảo vệ môi trường biển; bảo

đảm an ninh hàng hải, hàng không, thương mại quốc tế và các hoạt động tìm

kiếm cứu nạn cứu hộ, đấu tranh phòng, chống tội phạm; điều chỉnh, cân bằng

dòng chảy của thùy triều, chống xói mòn (như trong trường hợp đảo nhân tạo

Trang 37

Balance Island mà Hà Lan xây dựng); thích nghi với tình trạng trái đất nóng

lên (ví dụ như trường hợp Cộng hòa Maldives xây dựng đảo nhân tạo

Hulhumale); đáp ứng các nhu cầu dân sinh (các thành phố làng mạc trên biển

cố định hoặc nổi như các đảo nhân tạo mà UAE, Maldives, Canada,

Singapore, Mỹ, Nhật Bản đã xây dựng); tăng cường phát triển du lịch

1.4.2 Tác động, ảnh hưởng tiêu cực

Việc xây dựng tự phát những công trình và hệ thống nhân tạo mà

không có cơ sở pháp lý phù hợp có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan

hệ về thương mại và quân sự, đánh bắt hải sản, nghiên cứu khoa học và những

hoạt động truyền thống và phi truyền thống khác của các quốc gia trên thế

giới.28 Có thể tóm gọn lại như sau:

27 Xem thêm cách phân loại đảo nhân tạo của tác giả N Papadakis, trong cuốn Sjithoffpuplication on

ocean development (1977), The International Legal Regime of Artificial Island, trang 11

28 Ceraybekov S (1977)., Problemyopredeleniyastatusaiskustvennyhostrovov, ustanovok Isoorizheniy v

souvemennommezhdunarodnommosrkompr , http://www.law.edu.ru/book/book.asp?bookID=1237438

25

Thứ nhất, ở một số khu vực giàu tài nguyên, các đảo nhân tạo gây ảnh

hưởng tới việc khai thác các nguồn tài nguyên biển Những điều này ảnh

hưởng đến lợi ích của các quốc gia ven biển, có thể xâm phạm đến chủ quyền,

quyền chủ quyền, quyền tài phán của các quốc gia ven biển Từ đó làm nảy

sinh mâu thuẫn, gia tăng căng thẳng, có thể dẫn đến xung đột Ví dụ: Châu Á

có vùng Biển Đông và Biển Hoa Đông, là các vùng biển có trữ lượng dầu mỏ

Trang 38

và khí gas rất lớn Riêng trữ lượng đo được ở vùng Biển Đông là 11 tỉ thùngdầu và 190 nghìn tỉ cf khí gas tự nhiên (1 cf = 28,3 lít) Lợi ích luôn đi kèmvới xung đột Nhiều quốc gia đã tuyên bố chủ quyền và quyền chủ quyền ởnhững khu vực khác nhau trên hai vùng biển này và ít nhiều đã xảy ra xungđột giữa các quốc gia.

Thứ hai, việc xây các đảo nhân tạo có thể cản trở, ảnh hưởng tới dòng

chảy thương mại trên biển, cản trở tự do hàng hải, tự do hàng không Khu vựcBiển Đông giữ vai trò quan trọng trong tự do thương mại quốc tế Hàng nghìntàu, từ tàu đánh bắt cá, tàu chở dầu cho tới tàu chở hàng vẫn đều đặn lưuthông qua khu vực này, với ước tính tổng giá trị thương mại 5,3 nghìn tỉ USD

Mỹ mỗi năm Tới năm 2035, 90% tổng sản lượng dầu mỏ từ khu vực TrungĐông sẽ lưu thông qua đây Theo báo cáo của Viện nghiên cứu Hoà bình quốc

tế Stockholm, chi phí cho quốc phòng, quân sự của các nước ở Châu Á đã liêntiếp tăng mạnh trong 10 năm qua

Thứ ba, việc xây dựng các đảo nhân tạo khiến môi trường biển bị ảnh

hưởng nghiêm trọng Để xây đảo nhân tạo sẽ cần tới một lượng lớn cát, chủyếu lấy từ đáy đại dương Việc xây dựng này cũng gây ảnh hưởng tới các khuvực đánh bắt cá, làm ảnh hưởng tiêu cực tới hệ sinh thái Ngày nay, việc xâydựng đảo có sự hỗ trợ đắc lực từ các công nghệ tiên tiến, các công nghệ này

sẽ lấy hàng triệu tấn đá và cát từ lòng đại dương và làm chết hàng triệu kmsan hô Những việc làm như vậy vi phạm Công ước bảo tồn Đa dạng sinh họccủa Liên hiệp quốc, vi phạm Công ước Luật Biển năm 1982 Cuộc sống củahàng triệu ngư dân sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng

26

Trang 39

TIỂU KẾT

Tính nhân tạo của đảo và công trình, thiết bị trên biển thể hiện ở ý chí

của con người, hai khái niệm này có mối liên hệ mật thiết với nhau Thôngthường, khái niệm xây dựng các đảo nhân tạo sẽ bao hàm việc xây dựng thiết

bị và công trình nhân tạo trên đó hoặc ngược lại, việc xây dựng các côngtrình, thiết bị trên một thực thể thường được hiểu đồng nghĩa với việc xâydựng đảo nhân tạo theo nghĩa rộng Trong thời đại ngày nay, dưới áp lực củaviệc gia tăng dân số chưa từng có và nhờ sự phát triển của khoa học côngnghệ, con người có thể xây dựng ngày càng nhiều các đảo nhân tạo và cáccông trình nhân tạo trên biển để đưa các hoạt động kinh tế ra biển và mở rộngkhông gian sinh tồn Trong tương lai, người ta có thể xây dựng các sân bay,các nhà máy điện, các cơ sở sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản haythậm chí là những thành phố lớn trên biển Bên cạnh mục đích sử dụng biển,một số quốc gia còn tiến hành xây dựng và bồi đắp những đảo nhỏ, đảo đá vàcác bãi san hô tự nhiên nhằm mục đích duy trì và cùng cố những yêu sách vềchủ quyền đối với các đảo đá và bãi san hô này, trên cơ sở đó xác lập nhữngvùng biển tranh chấp rộng lớn Rõ ràng, việc xây dựng tự phát những côngtrình và hệ thống nhân tạo mà không có cơ sở pháp lý phù hợp có thể gây ảnhhưởng tiêu cực đến các quan hệ quốc tế Vì vậy, việc nghiên cứu và nắm vữngphần lý luận chung về đảo nhân tạo và công trình thiết bị nhân tạo trên biểncho phép nhìn nhận tổng quan về vấn đề liên quan, từ đó hiểu những quy địnhcủa luật pháp quốc tế đối với vấn đề này Điều này có ý nghĩa đặc biệt quantrọng trong việc ngăn ngừa và góp phần giải quyết các loại tranh chấp trên thếgiới liên quan đến việc xây dựng đảo nhân tạo, công trình, thiết bị nhân tạo

Trang 40

nói chung và ở khu vực Biển Đông nói riêng.

27

CHƯƠNG 2

QUY CHẾ PHÁP LÝ CỦA ĐẢO NHÂN TẠO, CÔNG TRÌNH, THIẾT

BỊ NHÂN TẠO THEO CÔNG ƯỚC LUẬT BIỂN NĂM 1982

Khó có thể đánh giá hết được tầm quan trọng của đại dương và vai trò

của nó đối với đời sống của con người bởi đại dương là ngôi nhà chung, làcầu nối thông thương giữa các lục địa và các nền văn minh của nhân loại, làhuyết mạch giao thông đường thủy được tạo thành từ các vùng biển với cácchế độ pháp lý khác nhau mà trong đó phần lớn là biển cả, vùng biển sử dụngchung của tất cả các quốc gia có biển và không có biển

Trong thế giới hiện đại, ngành hàng hải quốc tế ngày một trở nên quan

trọng trong hoạt động thông thương giữa các quốc gia Điều đó đã đượckhẳng định khi tỷ trọng hàng hóa vận chuyển bằng đường biển ngày càngtăng Thế giới ngày càng đa cực, nhưng không vì thế mà hòa bình và an ninhquốc tế được trường tồn Do đó, các vấn đề về đại dương, về luật pháp quốc

tế và hẹp hơn là luật biển quốc tế hiện đại luôn được cộng đồng đặc biệtquan tâm

2.1 Quá trình pháp điển hóa Luật Biển quốc tế, hình thành Công

ước Luật Biển năm 1982

Luật Biển quốc tế trước năm 1930

Vào cuối thế kỉ XV, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là hai quốc gia Châu

Âu mạnh nhất với công nghệ hàng hải phát triển vượt trội Hai quốc gia nàybắt đầu tiến hành công cuộc xâm chiếm thuộc địa và xây dựng lãnh thổ của

Ngày đăng: 11/08/2017, 21:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w