1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong pháp luật hình sự việt nam

102 386 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 554,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, việc nghiên cứumột cách khoa học, toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về tộivi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ sẽ không chỉgóp phần

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LƯƠNG TUẤN GIANG

TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAOTHÔNG ĐƯỜNG BỘ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAMLUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2016

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LƯƠNG TUẤN GIANG

TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAOTHÔNG ĐƯỜNG BỘ TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAMLUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập củatôi; các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.Tác giả luận văn

Lương Tuấn Giang

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU………

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 Những vấn đề chung về tội vi phạm quy định về điều

khiển phương tiện giao thông đường bộ trong Luật hình sự Việt

Nam ………

1.1 Khái niệm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện

giao thông đường bộ ………

1.2 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội vi phạm

quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ………

1.2.1 Quy định của pháp luật về tội vi phạm quy định về điều khiển

phương tiện giao thông đường bộ từ sau Cách mạng tháng Tám năm

1945 đến trước khi ban hành BLHS 1985 ………

1.2.2 Quy định của BLHS 1985 về tội vi phạm quy định về điều

khiển phương tiện giao thông đường bộ ………

Kết luận Chương 1 ………

Trang 3

Chương 2 Quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển

phương tiện giao thông đường bộ trong BLHS năm 1999 trong sự

so sánh với BLHS năm 2015 ……….…… ………….2.1 Quy định của BLHS năm 1999 về tội vi phạm quy định về

điều khiển phương tiện giao thông đường bộ ………2.1.1 Dấu hiệu định tội của tội vi phạm quy định về điều khiển

phương tiện giao thông đường bộ ………2.1.2 Các dấu hiệu định khung hình phạt của tội vi phạm quy định

về điều kiển phương tiện giao thông đường bộ ……….…2.1.3 Quy định về hình phạt đối với tội vi phạm quy định về điềukiển phương tiện giao thông đường bộ ……….2.2 Những điểm mới trong quy định của BLHS năm 2015 về tội

vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ ………Kết luận Chương 2 ……… 1

Trang 4

Chương 3 Thực tiễn áp dụng quy định về tội vi phạm quy định

về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ và các biện pháp

đảm bảo hiệu quả áp dụng quy định về tội vi phạm quy định về

tham gia giao thông đường bộ ………3.1 Thực tiễn áp dụng quy định về tội vi phạm quy định về điều

kiển phương tiện giao thông đường bộ ………3.2 Các biện pháp đảm bảo hiệu quả áp dụng quy định về tội vi

phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

3.2.1 Biện pháp liên quan đến pháp luật ………3.2.2 Các biện pháp khác nâng cao hiệu quả áp dụng quy định vềtội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Kết luận Chương 3 ………

Trang 5

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sau những năm đổi mới một cách toàn diện và sâu sắc, đất nước ta đã đạt

được những thành tựu vô cùng to lớn và có ý nghĩa lịch sử Quá trình cải cáchchính trị và kinh tế được phát động năm 1986 đã biến Việt Nam từ một trongnhững nước nghèo nhất thế giới với thu nhập bình quân đầu người khoảng 100USD trở thành một nước thu nhập trung bình thấp với thu nhập bình quân đầungười đạt khoảng 2.100 USD năm 2015 Thành tựu đó đã giúp đất nước ta trởthành một trong những nước có nền kinh tế đang phát triển ổn định trong khuvực ASEAN nói riêng cũng như khu vực Châu Á nói chung Có thể coi ViệtNam là một điển hình về phát triển thành công Tuy nhiên, bên cạnh đó, chúng

ta cũng đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức của quá trình hội nhập nền

Trang 6

kinh tế thế giới Ngoài những thách thức về kinh tế, về tình hình tham nhũng,lãng phí và những diễn biến phức tạp, khó lường của tình hình tranh chấp chủquyền tại Biển Đông thì an toàn xã hội trong nước cũng là một thách thức khôngnhỏ đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta hiện nay An toàn giao thông, một

bộ phận của An toàn công cộng nói chung, những năm qua đã bị xâm phạmnghiêm trọng, đang là một trong những vấn đề được xã hội đặc biệt quan tâm.Những năm qua, giao thông vận tải đường bộ đã phát triển nhanh chóng

cả về chất cũng như về lượng và góp phần không nhỏ vào sự phát triển của nềnkinh tế đất nước Tuy nhiên, trong thời gian qua, tình hình vi phạm an toàn giaothông đường bộ nói riêng đang có những diễn biến phức tạp Dù Đảng và Nhànước đã sử dụng rất nhiều biện pháp nhằm đảm bảo an toàn giao thông đường

bộ nhưng các vụ vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ có chiềuhướng gia tăng cả về số lượng và tính chất Nhiều vụ vi phạm quy định về antoàn giao thông đường bộ đã cướp đi sự sống của rất nhiều người và còn gâythiệt hại lớn đến tài sản của Nhà nước và nhân dân Đặc biệt, có những vụ viphạm quy định về an toàn giao thông đã làm chấn động cả nước, gây hoangmang trong dư luận xã hội (như một số vụ án xe khách lao xuống vực làm chết

và bị thương rất nhiều người tại các tỉnh miền núi phía Bắc) đã đánh lên hồichuông cảnh báo về tính nghiêm trọng của những vi phạm quy định về an toàngiao thông đường bộ

Trang 7

Theo số liệu thống kê mới nhất của Ủy ban An toàn giao thông quốc gia,

có tới 50% số người tham gia giao thông không dùng đèn báo khi chuyển

hướng, 85% không dùng còi đúng quy định, 70% không dùng phanh tay, 90%không sử dụng đúng đèn chiếu sáng xa, gần và 72% không đội mũ bảo hiểm khingồi trên mô tô trên những tuyến đường bắt buộc Ngoài ra, tình trạng vượt đèn

đỏ, uống rượu bia say, chở quá tải, quá tốc độ trong thời gian qua vẫn luôn ởmức báo động và rất khó kiểm soát Có thể thấy, những hành vi vi phạm quyđịnh về an toàn giao thông đường bộ đang diễn ra một cách thường xuyên vàphổ biến trong đời sống hàng ngày, nó không chỉ gây thiệt hại về kinh tế, màcòn gây thiệt hại nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, đến tính mạng, sứckhỏe con người Do đó, đấu tranh phòng, chống với loại tội vi phạm quy định về

an toàn giao thông đường bộ hiện nay hơn lúc nào hết đòi hỏi sự nghiêm minh,kịp thời và kiên quyết

Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm 1999 đã có những quy

định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đãgóp phần quan trọng vào công tác đấu tranh và phòng, chống tội phạm này Tuynhiên, xuất phát từ thực tiễn áp dụng hiện nay, các quy định của Bộ luật hình sự

1999 đã bộc lộ những bất cập, chưa được cụ thể, chưa thống nhất, do đó nhậnthức về tội phạm này có nơi, có lúc còn không được nhất quán Trong một sốtrường hợp các cơ quan tiến hành tố tụng còn lúng túng, chưa có quan điểm

Trang 8

thống nhất, hoặc mắc phải thiếu sót trong việc giải quyết các vụ phạm tội viphạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Hiện nay, Bộluật hình sự năm 2015 đã được ban hành và có một số đổi mới trong quy định vềtội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, cần phải được triển khai,thực hiện trong thời gian tới (từ 1 tháng 7 năm 2017) Vì vậy, việc nghiên cứumột cách khoa học, toàn diện, có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về tội

vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ sẽ không chỉgóp phần vào sự thống nhất trong nhận thức mà còn có ý nghĩa cho việc đảmbảo hiệu quả áp dụng quy định của BLHS năm 2015 về tội vi phạm quy định vềtham gia thông đường bộ trong thời gian tới Vì lý do trên, tác giả đã chọn đề tài

“Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trongpháp luật hình sự Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ luật học

2 Tình hình nghiên cứu

Đã có một số công trình nghiên cứu về tội vi phạm quy định về điều kiển

phương tiện giao thông đường bộ, như:

- Luận văn thạc sỹ luật học “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương

tiện giao thông đường bộ theo Bộ luật Hình sự năm 1999 - một số biện pháp đấutranh phòng chống tội phạm này trong giai đoạn hiện nay”, năm 2003 của tácgiả Nguyễn Thị Hồng Hạnh;

- Luận văn thạc sỹ luật học “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương

Trang 9

tiện giao thông đường bộ trong Luật Hình sự Việt Nam”, năm 2008 của tác giảNgọc Duy Thi;

- Khóa luận tốt nghiệp “Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện

giao thông đường bộ trong bộ luật hình sự Việt Nam - Những vấn đề lý luận vàthực tiễn”, năm 2010 của tác giả Bùi Thị Thủy Tiên

Tác giả của các công trình nghiên cứu nêu trên đã khái quát được các dấu

hiệu pháp lý đặc trưng của tội vi phạm quy định về điều kiển phương tiện giaothông đường bộ và kiến nghị hướng hoàn thiện quy định về tội phạm này trongBLHS, Tuy nhiên, trong những năm gần đây chưa có công trình nào nghiên cứumột cách toàn diện cả từ góc độ lý luận và thực tiễn về đề tài: “Tội vi phạm quyđịnh về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong pháp luật hình sựViệt Nam” Do vậy, trong giai đoạn hiện nay thì việc nghiên cứu đề tài này là rấtcần thiết

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu quy định của BLHS về tội

vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; thực tiễn ápdụng quy định và các biện pháp đảm bảo hiệu quả áp dụng quy định về tội loạitội phạm này

- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu quy định về tội vi phạm quy định về

điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo BLHS năm 1999 trong mối

Trang 10

liên hệ với quy định tương ứng trong BLHS năm 2015 và nghiên cứu thực tiễn

áp dụng quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thôngđường bộ theo BLHS năm 1999

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu: Đưa ra được các biện pháp đảm bảo hiệu quả áp

dụng quy định của BLHS về tội vi phạm các quy định về tham gia giao thôngđường bộ

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Phân tích, làm rõ những vấn đề chung về tội vi phạm quy định về điều

khiển phương tiện giao thông đường bộ;

+ Phân tích, đánh giá quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển

phương tiện giao thông đường bộ trong BLHS năm 1999 trong sự so sánh vớiquy định về tội tội vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ trongBLHS năm 2015;

+ Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng quy định về tội vi phạm quy định

về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ;

+ Kiến nghị các biện pháp đảm bảo hiệu quả áp dụng quy định về tội vi

phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

5 Phương pháp nghiên cứu

- Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và

Trang 11

duy vật lịch sử

- Ngoài ra, còn sử dụng các phương pháp: phân tích, tổng hợp, diễn giải,

quy nạp, so sánh, lịch sử, …

6 Những kết quả nghiên cứu của luận văn

Đánh giá được thực trạng quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển

phương tiện giao thông đường bộ và thực tiễn áp dụng quy định về tội phạmnày Đánh giá được những điểm mới của BLHS năm 2015 trong quy định về tội

vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ so với quy định của BLHSnăm 1999 về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường

bộ Từ đó, kiến nghị các biện pháp đảm bảo hiệu quả áp dụng quy định củaBLHS năm 2015 về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn

gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về tội vi phạm quy định về điều khiển

phương tiện giao thông đường bộ trong Luật hình sự Việt Nam

Chương 2: Quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện

giao thông đường bộ trong BLHS năm 1999 trong sự so sánh với BLHS năm2015

Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định về tội vi phạm quy định về điều

Trang 12

khiển phương tiện giao thông đường bộ và các biện pháp đảm bảo hiệu quả ápdụng quy định về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU

KHIỂN PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRONG

LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao

thông đường bộ

Theo khoản 1, Điều 8 BLHS năm 1999 tội phạm được định nghĩa như

sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luậthình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc

vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâmphạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự,

an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sứckhỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác củacông dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ

nghĩa.”

Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

được quy định tại Điều 202 BLHS năm 1999 cũng là một tội phạm nên nó mangđầy đủ các đặc điểm của tội phạm nói chung như: đặc điểm về tính nguy hiểm

Trang 13

cho xã hội; đặc điểm về hành vi; đặc điểm về lỗi và đặc điểm về chủ thể của tộiphạm.

- Đặc điểm về tính nguy hiểm cho xã hội: Đây được coi là dấu hiệu cơ

bản, quan trọng nhất của mọi tội phạm Nguy hiểm cho xã hội ở đây được hiểu

là đã gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình

sự bảo vệ Cụ thể, đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giaothông đường bộ thì tính nguy hiểm cho xã hội thể hiện ở chỗ xâm phạm đến antoàn giao thông đường bộ và qua đó gây thiệt hại cho tính mạng hoặc thiệt hạinghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác hoặc có khả năng thực tế dẫnđến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng (về tính mạng, sức khỏe, tài sản của ngườikhác)

- Đặc điểm về hành vi: Đúng với tên tội danh, dấu hiệu hành vi được thể

hiện trong tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

là hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ.Hành vi này được hiểu là việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng cácquy định về an toàn giao thông đường bộ

- Đặc điểm về lỗi: Lỗi được hiểu là thái độ chủ quan của con người đối

với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả của hành vi đóthể hiện dưới dạng cố ý hoặc vô ý Trong mọi tội phạm thì đều phải có dấu hiệulỗi, nếu không có lỗi thì không bị coi là tội phạm Đối với tội vi phạm quy định

Trang 14

về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ cũng như vậy, người có hành vi

vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây hậu quảcho tính mạng hoặc thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người khác

mà có lỗi thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, điểm đặc biệt ở tội

vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ so với các tộiphạm khác là lỗi trong tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giaothông đường bộ chỉ có thể là lỗi vô ý (vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả) vìnếu thực hiện hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thôngđường bộ với lỗi cố ý mà gây thiệt hại cho tính mạng hoặc thiệt hại nghiêmtrọng cho sức khỏe, tài sản của người khác thì hành vi này sẽ bị coi là tội phạmkhác như giết người, cố ý gây thương tích, hủy hoại tài sản còn phương tiện giaothông được coi là phương tiện thực hiện tội phạm

- Đặc điểm về chủ thể của tội phạm: Chủ thể của tội vi phạm quy định về

điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là người điều khiển phương tiệngiao thông đường bộ và người này phải có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, cónghĩa là đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không ở trong tình trạng không

có năng lực trách nhiệm hình sự

Từ những đặc điểm trên, tác giả xin đưa ra khái niệm về tội vi phạm quy

định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ như sau:

Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là

Trang 15

hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ do người có năng lựctrách nhiệm hình sự mà điều khiển phương tiện giao thông đường bộ thực hiệnvới lỗi vô ý, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sứckhoẻ, tài sản của người khác hoặc có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệtnghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời.

1.2 Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về tội vi phạm quy

định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

1.2.1 Quy định của pháp luật về tội vi phạm quy định về điều khiển

phương tiện giao thông đường bộ từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đếntrước khi ban hành BLHS 1985

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi đã mở ra một thời kỳ mới cho

đất nước ta, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Vào thời điểm đó, chínhquyền nước ta mới được thành lập nên còn rất nhiều bỡ ngỡ, đồng thời các thếlực thù địch vẫn đang âm thầm hoạt động để lật đổ chính quyền non trẻ này Vìthế, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa rất chú trọng đến việc bảo vệ, củng

cố và xây dựng chính quyền, xây dựng bộ máy Nhà nước vững mạnh Song songvới việc dùng vũ trang để chiến đấu chống lại kẻ thù, Chính phủ Việt Nam dânchủ cộng hòa đã ban hành một loạt các Sắc luật, Sắc lệnh quy định việc trừng trịnhững hành động xâm phạm nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế, xã hội, tàichính, trật tự, an ninh xã hội và chính quyền Nhà nước

Trang 16

Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, tội vi phạm quy định về điều

khiển phương tiện giao thông đường bộ được quy định muộn hơn so với các tộikhác Vì thực tế thời gian này phương tiện giao thông đường bộ còn hạn chế vàNhà nước cũng như nhân dân quan tâm đến việc bảo vệ đất nước, bảo vệ chínhquyền hơn; đồng thời nếu có quy định thì quy định về tội vi phạm quy định vềđiều khiển phương tiện giao thông đường bộ phải là các quy phạm viện dẫn nênquy định về tội phạm này chỉ được thực hiện khi đã ban hành các quy định về antoàn giao thông đường bộ

Vào cuối năm 1946, thực dân Pháp quay lại đánh chiếm nước ta, do vậy,

toàn bộ nhân dân Việt Nam cũng như bộ máy chính quyền Việt Nam dân chủcộng hòa đã phải tập trung toàn lực cho cuộc kháng chiến với thực dân Phápxâm lược Chỉ sau chiến thắng lịch sử Điện Biên phủ năm 1954, chúng ta mớihoàn toàn giải phóng được miền Bắc Chính vì vậy, trong gần 10 năm từ 1945 –

1954, Chính phủ Việt nam dân chủ cộng hòa không thể ban hành được hệ thốngcác quy tắc về đảm bảo an toàn giao thông nói chung và an toàn giao thôngđường bộ nói riêng Và thực tế cho thấy việc quy định tội vi phạm quy định vềđiều khiển phương tiện giao thông đường bộ lúc này vẫn chưa phải là đòi hỏicấp thiết Trong giai đoạn này, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiệngiao thông đường bộ nếu có xảy ra thì vẫn được vận dụng và áp dụng các quyđịnh của pháp luật chế độ cũ

Trang 17

Kể từ chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, miền Bắc nước ta hoàn toàn

được giải phóng, Chính phủ Việt Nam đã có thể chú trọng hơn đến việc pháttriển ổn định tình hình chính trị, kinh tế, xã hội cùng với đó là việc tiến hành xâydựng các văn bản pháp luật nhằm quản lý xã hội Cùng với rất nhiều các lĩnhvực được Nhà nước quan tâm điều chỉnh lúc đó là việc đảm bảo an toàn và trật

tự giao thông đường bộ Ngày 03/12/1955, Bộ Giao thông và Bưu điện đã banhành Nghị định số 348-NĐ về việc ban hành luật đi đường bộ kèm theo nghịđịnh này để áp dụng trong toàn quốc, đây được xem là văn bản pháp lý đầu tiêncủa Nhà nước ta quy định về quy tắc đảm bảo an toàn giao thông đường bộ.Tiếp theo văn bản trên, đã có hàng loạt các văn bản pháp luật về đảm bảo antoàn giao thông vận tải được Nhà nước ta ban hành như: Nghị định số 139/NĐngày 19/12/1955 của Bộ Giao thông và Bưu điện sửa đổi Điều 22 và Điều 24Luật đi đường bộ, Nghị định số 44-NĐ ngày 27/5/1958 của Bộ Giao thông vàBưu điện sửa đổi Luật đi đường bộ; Nghị định số 10 ngày 11/01/1968 của Hộiđồng Chính phủ ban hành Điều lệ và kỷ luật an toàn giao thông vận tải trongthời chiến Các văn bản pháp luật chuyên ngành trên đây là cơ sở cho việc xâydựng các quy phạm pháp luật về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiệngiao thông đường bộ trong pháp luật hình sự Việt Nam

Ngày 19/01/1955, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Thông tư số

442/TTg về việc trừng trị một số tội phạm trong đó có tội vi phạm quy định về

Trang 18

điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; đây có thể coi là quy phạm phápluật hình sự đầu tiên quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phươngtiện giao thông đường bộ Tại Điều 4 của Thông tư đã quy định: “Không cẩnthận hay không theo luật đi đường mà gây tai nạn làm người khác bị thương sẽphạt tù từ 3 tháng đến 3 năm, nếu gây tai nạn làm chết người có thể bi phạt tùđến 10 năm”.

Rõ ràng, việc ra đời Thông tư số 442/TTg đã đánh dấu một bước phát

triển lớn trong lịch sử lập pháp hình sự nước ta Cùng với đó, lần đầu tiên tội viphạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đã được quyđịnh Từ quy định của Thông tư số 442/TTg về tội vi phạm quy định về điềukhiển phương tiện giao thông đường bộ, chúng ta có thể rút ra một số nhận xétsau:

- Về quy định về hành vi phạm tội: Theo như quy định của Thông tư số

442/TTg thì những hành vi không cẩn thận hay vi phạm các quy tắc giao thôngđường bộ (luật đi đường) dẫn đến hậu quả làm người khác bị thương hoặc gâychết người thì bị coi là tội phạm và bị xử phạt

- Về quy định về hình phạt: Thông tư số 442/TTg đã quy định hai khung

hình phạt đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thôngđường bộ

+ Khung thứ nhất (khung cơ bản) có hình phạt từ ba tháng đến ba năm,

Trang 19

được áp dụng cho trường hợp hành vi gây hậu quả thương tích cho con người.+ Khung thứ hai (khung tăng nặng) có hình phạt đến mười năm tù được

áp dụng cho trường hợp hành vi dẫn đến hậu quả chết người

Do lần đầu tiên được quy định trong một văn bản quy phạm pháp luật

hình sự nên quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giaothông đường bộ trong Thông tư 442/TTg đã bộ lộ một số điểm hạn chế như: quyđịnh về các dấu hiệu định tội còn đơn giản, chưa có tính pháp lý cao, cụ thể làchưa quy định rõ về chủ thể của tội phạm; do Thông tư 442/TTg không quy địnhtên tội danh nên quy định về hành vi khách quan như “không cẩn thận” hay “gâytai nạn” còn chung chung, hành vi “không cẩn thận” hay “gây tai nạn” ở đây cóthể hiểu là rất nhiều hành vi trong những lĩnh vực khác nhau như không cẩn thẩnnên gây tai nạn trong khi tham gia giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy,trong khi lao động sản xuất, trong lĩnh vực quốc phòng… Thông tư số 442/TTgmới chỉ quy định gây hậu quả làm người khác bị thương thì bị phạt tù từ 3 thángđến 3 năm nên dẫn đến trường hợp dù người bị hại bị thương nặng hay nhẹ thìngười phạm tội vẫn chỉ chịu hình phạt là 3 tháng đến 3 năm; điều này chưa thểhiện sự phân hóa cao trách nhiệm hình sự Thông tư số 442/TTg cũng không quyđịnh hình phạt đối với hậu quả gây chết nhiều người của hành vi Ngoài ra,Thông tư số 442/TTg chỉ quy định gây hậu quả là thương tích, hậu quả chếtngười mới cấu thành tội phạm, còn trường hợp gây hậu quả là thiệt hại cho tài

Trang 20

sản của nhân dân thì không cấu thành tội phạm.

Sau một thời gian thi hành, Thông tư số 442/TTg đã bộc lộ những hạn chế

trong việc áp dụng đối với trường hợp gây tai nạn làm chết nhiều người hoặcgây thiệt hại lớn cho tài sản của công dân Chính vì vậy, ngày 29/6/1955 Thủtướng Chính phủ đã ban hành Thông tư số 556/TTg bổ khuyết Thông tư số442/TTg ngày 19/01/1955 về việc trừng trị một số tội phạm Thông tư số

556/TTg quy định bổ khuyết Điều 4 Thông tư số 442/TTg như sau:

Không cẩn thận hay không theo luật đi đường mà gây tai nạn làm người

khác bị thương sẽ bị phạt tù từ 3 tháng đến 3 năm Nếu gây tai nạn làm

chết người có thể bị phạt tù đến 10 năm

Trường hợp gây ra tai nạn lớn làm chết nhiều người và thiệt hại lớn đến

tài sản nhân dân thì có thể bị phạt đến tù chung thân hoặc tử hình

So với quy định tại Thông tư số 442/TTg, quy định về tội vi phạm quy

định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại Thông tư số 556/TTg đã

bổ sung thêm dấu hiệu gây hậu quả đến tài sản của nhân dân và dấu hiệu làmchết nhiều người vào dấu hiệu định khung tăng nặng Tuy nhiên, Thông tư số556/TTg cũng không quy định dấu hiệu gây thiệt hại đến tài sản của nhân dân làmột dấu hiệu định tội riêng đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phươngtiện giao thông đường bộ mà hậu quả gây thiệt hại lớn đến tài sản nhân dân phải

đi kèm với hậu quả làm chết nhiều người thì mới cấu thành tội phạm tăng nặng

Trang 21

Có thể thấy, Thông tư số 556/TTg vẫn chưa thể khắc phục hoàn toàn những hạnchế của Thông tư số 442/TTg về quy định tội vi phạm quy định về điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ.

Như vậy, trong suốt thời gian dài từ sau ngày giải phóng miền Bắc năm

1954 đến trước ngày giải phóng miền Nam năm 1975, tội vi phạm quy định vềđiều khiển phương tiện giao thông đường bộ vẫn chỉ được xử lý theo Thông tư

số 442/TTg ngày 19/01/1955 và Thông tư số 556/TTg ngày 29/6/1955 của Thủtướng Chính phủ

Chiến thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa xuân năm 1975 đã

giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam khỏi ách xâm lược của Đế quốc Mỹ,đất nước được thống nhất Trong lúc này, song song với việc khắc phục nhữngtàn dư của cuộc chiến bảo vệ chủ quyền đất nước, bộ máy chính quyền Nhànước Việt Nam cũng tập trung vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung

và hệ thống pháp luật hình sự nói tiêng Cùng với việc quy định hoàn chỉnh hơnpháp luật hình sự, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thôngđường bộ cũng được hoàn thiện Ngày 15/3/1976 Hội đồng Chính phủ cáchmạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc luật số 03 –SL/76 quy định các tội phạm và hình phạt Điều 9 của Sắc luật số 03 – SL/76quy định về nhóm tội phạm xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn công cộng

và sức khỏe của nhân dân, trong đó quy định:

Trang 22

Tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn nghiêm trọng với các khung

hình phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm, trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì

phạt tù đến 15 năm Trong mọi trường hợp có thể bị phạt tiền đến 1000

đồng tiền Ngân hàng

Có thể thấy quy định về tội vi phạm luật lệ giao thông trong Sắc luật số 03

- SL/76 có một số điểm khác biệt so với Thông tư số 442/TTg và 556/TTg như:

- Về dấu hiệu định tội: Sắc luật số 03 – SL/76 đã quy định tên tội danh là

“tội vi phạm luật lệ giao thông”, như vậy hành vi khách quan ở đây không chỉ làhành vi vi phạm luật lệ về giao thông đường bộ mà cả hành vi vi phạm luật lệ vềgiao thông đường sắt, đường thủy, đường hàng không Ngoài ra, chủ thể của tội

vi phạm luật lệ giao thông theo Sắc luật số 03 – SL/76 bao gồm cả người đi bộhay những người khác tham gia giao thông mà không chỉ người điều khiểnphương tiện giao thông Điểm khác biệt lớn nhất của quy định trong Sắc luật số

03 – SL/76 so với quy định tại Thông tư số 442/TTg và 556/TTg là đã quy địnhdấu hiệu gây thiệt hại cho tài sản cũng sẽ cấu thành tội phạm (Sắc luật số 03 –SL/76 quy định gây tại nạn nghiêm trọng nên có thể hiểu rằng thiệt hại ở đây làthiệt hại về sức khỏe, tính mạng cũng như tài sản)

- Về khung hình phạt: Sắc luật số 03 – SL/76 đã quy định hai khung hình

phạt chính là:

+ Khung thứ nhất (khung cơ bản) có mức phạt tù từ 3 tháng đến 5 năm áp

Trang 23

dụng cho trường hợp gây tai nạn nghiêm trọng.

+ Khung thứ hai (khung tăng nặng) có mức phạt tù đến 15 năm tù áp dụng

trong trường hợp gây tai nạn đặc biệt nghiêm trọng

Như vậy, Sắc luật số 03 – SL/76 đã không còn quy định khung hình phạt

cao nhất dành cho tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thôngđường bộ nói riêng hay tội vi phạm luật lệ giao thông nói chung là chung thân

và tử hình như quy định tại Thông tư 556/TTg mà thay vào đó khung hình phạtvới mức cao nhất chỉ là 15 năm tù Ngoài ra, Sắc luật số 03 – SL/76 đã quy địnhthêm một hình phạt bổ sung nữa đó là hình phạt tiền dành cho người phạm tội.Sắc luật số 03 – SL/76 đã thể hiện một bước tiến bộ hơn so với Thông tư số442/TTg và 556/TTg trong việc quy định về tội vi phạm quy định về điều khiểnphương tiện giao thông, qua đó góp phần vào việc xử lý tội phạm này trong thời

kỳ đó Tuy nhiên, trong Sắc luật số 03 – SL/76 thì tội vi phạm quy định về điềukhiển phương tiện giao thông đường bộ vẫn được quy định chung với các tội viphạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt, đường thủy,đường hàng không nên chưa thể hiện được sự phân hóa trách nhiệm hình sự cao.1.2.2 Quy định của BLHS 1985 về tội vi phạm quy định về điều khiển

phương tiện giao thông đường bộ

BLHS năm 1985 đã kế thừa và phát triển những tinh hoa trong pháp luật

hình sự của Nhà nước ta đồng thời tổng kết những kinh nghiệm đấu tranh

Trang 24

phòng, chống tội phạm ở nước ta từ sau Cách mạng tháng Tám Có thể nói,BLHS năm 1985 ra đời thể hiện rõ ràng sự tập trung chính sách hình sự củaĐảng và Nhà nước ta, quy định một cách thống nhất, tổng thể và có hệ thốngnhững vấn đề về tội phạm và hình phạt.

Tại thời điểm BLHS năm 1985 mới có hiệu lực, tội vi phạm quy định về

điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được quy định trong Điều 186 “Tội

vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng”thuộc Chương VIII, Mục A “Các tội xâm phạm an toàn công cộng”

Điều 186 BLHS năm 1985 quy định như sau:

1- Người nào điều khiển phương tiện giao thông vận tải mà vi phạm các

quy định về an toàn giao thông vận tải đường bộ, đường sắt, đường thuỷ,

đường không gây thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ người khác hoặc gây

thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản, thuộc một trong các trường hợp sau

đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu

tháng đến năm năm:

a) Đi quá tốc độ, trở quá trọng tải quy định, tránh, vượt trái phép;

b) Không đi đúng tuyến đường, phần đường, luồng lạch, đường bay và độ

cao quy định;

c) Vi phạm các quy định khác về an toàn giao thông

2- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba

Trang 25

năm đến mười năm:

a) Điều khiển phương tiện giao thông vận tải mà không có bằng lái; trong

khi say rượu hoặc say do dùng chất kích thích khác;

b) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp

người bị nạn

3- Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm

đến hai mươi năm

4- Phạm tội trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc

biệt nghiêm trọng nếu được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không

giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm

So với các văn bản trước đây quy định về tội vi phạm quy định về điều

khiển phương tiện giao thông đường bộ, BLHS năm 1985 đã có một bước tiếnmới trong kỹ thuật lập pháp BLHS năm 1985 đã quy định hành vi vi phạm quyđịnh về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong một điều luật về tộidanh “Tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quảnghiêm trọng” Quy định về tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vậntải gây hậu quả nghiêm trọng trong BLHS năm 1985 có một số điểm mới nhưsau:

- Điều luật đã quy định rõ tội danh

- Điều luật đã mô tả cụ thể các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội vi phạm

Trang 26

các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng bao gồm:+ Dấu hiệu về khách thể của tội phạm: khách thể trực tiếp của tội vi phạm

các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều

186 BLHS năm 1985 là an toàn giao thông vận tải nói chung bao gồm: an toàngiao thông vận tải đường bộ, an toàn giao thông vận tải đường sắt, an toàn giaothông vận tải đường thủy và an toàn giao thông vận tải đường hàng không.+ Dấu hiệu về chủ thể của tội phạm: chủ thể của tội vi phạm các quy định

về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng phải là người có nănglực trách nhiệm hình sự tức là người không phải đang mắc bệnh tâm thần hoặcmột bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vicủa mình1 và đang điều khiển phương tiện giao thông vận tải (BLHS năm 1985không quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự)

+ Dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm: hành vi khách quan của tội

vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng làhành vi vi phạm các quy định về an toàn giao vận tải đường bộ, an toàn giao

1 Xem: Điều 12 BLHS năm 1985

thông vận tải đường sắt, an toàn giao thông vận tải đường thủy và an toàn giaothông vận tải đường hàng không, cụ thể là:

a) Đi quá tốc độ, trở quá trọng tải quy định, tránh, vượt trái phép;

b) Không đi đúng tuyến đường, phần đường, luồng lạch, đường bay và độ

Trang 27

cao quy định;

c) Vi phạm các quy định khác về an toàn giao thông

Hậu quả của tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây

hậu quả nghiêm trọng là thiệt hại đến tính mạng, sức khoẻ người khác hoặc gâythiệt hại nghiêm trọng đến tài sản

+ Dấu hiệu về mặt chủ quan của tội phạm: mặt chủ quan của tội phạm bao

gồm lỗi, mục đích và động cơ Trong quy định về tội vi phạm các quy định về

an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng thì dấu hiệu về mục đích vàđộng cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc nên chỉ xét đến dấu hiệu lỗi Lỗi trongquy định về tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quảnghiêm trọng chỉ có thể là lỗi vô ý (vô ý do cẩu thả và vô ý vì quá tự tin) vì nếuthực hiện hành vi với lỗi cố ý thì hành vi sẽ thỏa mãn cấu thành tội phạm của tộiphạm khác

- Bước tiến lớn nhất của BLHS năm 1985 so với các văn bản quy phạm

pháp luật trước đó trong quy định về tội vi phạm các quy định về an toàn giaothông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng được thể hiện trong quy định về các tìnhtiết định khung tăng nặng Điều 186 BLHS năm 1985 đã quy định các tình tiếtđịnh khung tăng nặng tại khoản 2 và 3 của Điều luật Các tình tiết đó bao gồm:+ Điều khiển phương tiện giao thông vận tải mà không có bằng lái; trong

khi say rượu hoặc say do dùng chất kích thích khác;

Trang 28

+ Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp

người bị nạn;

+ Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng (Tuy nhiên tại thời điểm BLHS

năm 1985 có hiệu lực thì lại không có văn bản nào hướng dẫn định lượng tìnhtiết này)

- Về khung hình phạt, điều luật đã quy định một khung hình phạt cơ bản

(cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm)

và hai khung hình phạt tăng nặng (khoản 2, 3 Điều 186 BLHS năm 1985) Điềunày đã khắc phục được hạn chế trong việc xét xử không thống nhất khi sử dụngcác văn bản quy định trước đó

- Về hình phạt, điều luật quy định hình phạt chính là cải tạo không giam

giữ và hình phạt tù Như vậy, khác với các văn bản trước đây, BLHS năm 1985

đã quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các trường hợp phạmtội mà thiệt hại gây ra là ít nghiêm trọng, đây là một tiến bộ lớn của BLHS năm

1985 Ngoài ra, Điều 186 BLHS năm 1985 đã không quy định áp dụng hình phạt

tù chung thân hoặc tử hình đối với tội phạm này và quy định mức hình phạt caonhất của hình phạt tù tăng lên là 20 năm

- Bên cạnh hình phạt chính, BLHS năm 1985 còn quy định người phạm

tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm những chức vụ,làm những nghề hoặc công việc nhất định từ hai năm đến năm năm BLHS

Trang 29

năm 1985 đã qua bốn lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992 và

1997 nhưng chỉ trong lần sửa đổi năm 1991 là Điều 186 được sửa đổi Theo đó,tội danh tại Điều 186 BLHS năm 1985 đã được sửa đổi - bỏ cụm từ “gây hậuquả nghiêm trọng” chỉ còn tên là “Tội vi phạm các quy định về an toàn giaothông vận tải”; còn nội dung của quy định tại Điều 186 BLHS năm 1985 thì vẫngiữ nguyên như khi BLHS năm 1985 mới có hiệu lực Việc sửa đổi tội danh quyđịnh tại Điều 186 BLHS năm 1985 cũng thể hiện sự tiến bộ trong kỹ thuật lậppháp của Nhà nước ta vì thực tế, thuộc về tội danh này không chỉ là hành vi viphạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng mà

cả các hành vi vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quảrất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng

Điều 186 BLHS năm 1985 quy định về tội vi phạm các quy định về an

toàn giao thông vận tải đã phát huy tác dụng to lớn trong đấu tranh phòng, chốngtội phạm này Tuy nhiên, việc quy định chung các hành vi vi phạm quy định vềđiều khiển phương tiện giao thông đường bộ và các hành vi khác là hành vi viphạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường sắt, hành vi vi phạmquy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy, hành vi vi phạm quyđịnh về điều khiển phương tiện giao thông đường không trong cùng một điềuluật đã dẫn đến sự hạn chế trong quy định cũng như khó khăn trong thực hiệnphân hóa trách nhiệm hình sự đối với các hành vi phạm tội xâm phạm đến an

Trang 30

toàn giao thông vận tải Ngoài ra, việc không có văn bản hướng dẫn tình tiết

“gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” dẫn đến việc khó khăn khi áp dụng khoản 3Điều 186 BLHS năm 1985

Kế thừa và phát huy những tiến bộ cũng như từ thực tiễn áp dụng BLHS

năm 1985 trong việc đấu tranh chống và phòng ngừa tội vi phạm quy định về antoàn giao thông vận tải trong nhiều năm, BLHS năm 1999 quy định tách cáchành vi phạm tội được quy định tại Điều 186 BLHS năm 1985 thành bốn tộiphạm khác nhau tại bốn điều luật khác nhau Đó là các tội danh sau:

- Điều 202: Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông

- Điều 216: Tội vi phạm quy định về điều khiển tàu bay

Như vậy, BLHS năm 1999 đã lần đầu tiên quy định tội vi phạm quy định

về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ thành một tội danh riêng Điều

202 BLHS năm 1999 đã quy định cụ thể các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tộiphạm, quy định cụ thể các khung hình phạt, các tình tiết định khung tăng nặng.KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trang 31

Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là

hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ do người có năng lựctrách nhiệm hình sự mà điều khiển phương tiện giao thông đường bộ thực hiệnvới lỗi vô ý, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sứckhoẻ, tài sản của người khác hoặc có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệtnghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời

Quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông

đường bộ trong luật hình sự Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945cho đến nay đã trải qua nhiều giai đoạn với những bước tiến lớn Từ việc chỉđược quy định rất đơn giản trong Thông tư 442/TTg ngày 19/01/1955, đến việclần đầu tiên được quy định chung cùng với ba loại tội khác tại Điều 186 BLHSnăm 1985 thì đến nay, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giaothông đường bộ đã được quy định thành một tội danh riêng biệt tại Điều 202BLHS năm 1999, góp phần không nhỏ trong công cuộc đấu tranh chống vàphòng ngừa tội phạm này tại nước ta hiện nay

Chương 2

QUY ĐỊNH VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KHIỂN

PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRONG BLHS NĂM

1999 TRONG SỰ SO SÁNH VỚI BLHS NĂM 2015

2.1 Quy định của BLHS năm 1999 về tội vi phạm quy định về điều

Trang 32

khiển phương tiện giao thông đường bộ

Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộđược quy định tại Điều 202 BLHS năm 1999 như sau:

1 Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạmquy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặcgây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bịphạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giamgiữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm

2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ banăm đến mười năm:

a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định;

b) Trong khi say rượu hoặc say do dùng các chất kích thích mạnh khác;c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứugiúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiểnhoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng

3 Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy nămđến mười lăm năm

4 Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực

Trang 33

tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp

thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba

tháng đến hai năm

5 Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề

hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

Căn cứ vào quy định này và các quy định có liên quan của BLHS năm

1999 có thể xác định và phân tích các dấu hiệu pháp lý cũng như các khunghình phạt đối với tội phạm này Trên cơ sở đó có thể đánh giá được thực trạngquy định của BLHS năm 1999 về tội vi phạm quy định về điều khiển phươngtiện giao thông đường bộ

2.1.1 Dấu hiệu định tội của tội vi phạm quy định về điều khiển phương

tiện giao thông đường bộ

2.1.1.1 Dấu hiệu về khách thể của tội vi phạm quy định về điều kiển

phương tiện giao thông đường bộ

Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị

tội phạm xâm hại 2

Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

được quy định tại Điều 202 nằm trong chương XIX – Chương các tội xâm phạm

an toàn công cộng, trật tự công cộng của BLHS năm 1999 Tội vi phạm quyđịnh về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ được quy định trong

Trang 34

chương này vì tội phạm này trực tiếp xâm phạm đến an toàn giao thông đường

bộ thuộc an toàn công cộng Điều này cũng được phản ánh qua việc Điều 202BLHS năm 1999 mô tả hành vi phạm tội là hành vi “vi phạm quy định về antoàn giao thông đường bộ” Như vậy, khách thể trực tiếp của tội vi phạm quy

2 Trường đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,

tr 86

định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là an toàn giao thông

đường bộ - bộ phận của an toàn giao thông nói chung và thuộc về an toàn côngcộng Theo đó chỉ những hành vi xâm phạm an toàn giao thông đường bộ mớithỏa mãn dấu hiệu về khách thể trực tiếp của tội vi phạm quy định về điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ

2.1.1.2 Dấu hiệu về chủ thể của tội vi phạm quy định về điều kiển phương

tiện giao thông đường bộ

Chủ thể của tội phạm là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ

tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể.3

Theo quy định của Điều 202 BLHS 1999, chủ thể của tội vi phạm quy

định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là người có năng lực tráchnhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định và là người điều khiển phương tiện giaothông đường bộ đã thực hiện hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thôngđường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức

Trang 35

khỏe, tài sản của người khác Như vậy, chủ thể của tội vi phạm quy định về điềukhiển phương tiện giao thông đường bộ phải là người có đủ ba dấu hiệu sau: cónăng lực trách nhiệm hình sự, đạt độ tuổi luật định và là người điều khiển

phương tiện giao thông đường bộ Trong đó, dấu hiệu thứ nhất và thứ hai là dấuhiệu chung của chủ thể, dấu hiệu thứ ba là dấu hiệu riêng của chủ thể của tội viphạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

- Dấu hiệu về năng lực chịu trách nhiệm hình sự đòi hỏi chủ thể của tội

phạm trước tiên phải là người có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểmcho xã hội của hành vi nguy hiểm cho xã hội khi thực hiện và có khả năng điềukhiển được hành vi ấy Vậy, chủ thể của tội vi phạm quy định về điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ đòi hỏi trước tiên phải là người khi điều khiểnphương tiện giao thông đường bộ nhận thức được tính chất nguy hiểm của hành

3 Trường đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,

Trang 36

cũng có nghĩa là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không trongtình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 13 BLHSnăm 1999 Theo đó, đòi hỏi chủ thể của tội vi phạm các quy định về an toàn giaothông đường bộ là người khi thực hiện hành vi vi phạm quy định về an toàn giaothông đường bộ không trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sựquy định tại Điều 13 BLHS năm 1999.

- Dấu hiệu về đạt độ tuổi luật định:

Điều 12 BLHS năm 1999 quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau:

1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội

phạm

2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách

nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc

biệt nghiêm trọng

Căn cứ vào quy định của Điều 202 BLHS năm 1999, khung hình phạt

nặng nhất của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường

bộ có mức hình phạt cao nhất là 15 năm tù (khoản 3 Điều 202 BLHS năm 1999)nên tội phạm theo khoản này là tội rất nghiêm trọng (căn cứ theo khoản 3 Điều 8BLHS năm 1999) Tuy nhiên, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiệngiao thông đường bộ là tội vô ý Theo đó, chủ thể của tội vi phạm quy định vềđiều khiển phương tiện giao thông đường bộ chỉ là người từ đủ 16 tuổi trở lên

Trang 37

- Về dấu hiệu là người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ:

Về phạm vi người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, trong một

số văn bản pháp lý trước đây, vấn đề này đã được thể hiện khác nhau, khôngthống nhất Ví dụ: Trong thông tư liên ngành số 02/TTLN ngày 07/01/1995 củaTòa án nhân dân Tối Cao, Viện kiểm sát nhân dân Tối Cao, Bộ Nội vụ hướngdẫn áp dụng Điều 186, 188 BLHS năm 1985 có xác định: “Người điều khiểnphương tiện giao thông vận tải là người có quan hệ trực tiếp đến việc bảo đảm

an toàn cho quá trình vận chuyển và sự hoạt động của các loại phương tiện giaothông vận tải, như: người trực tiếp điều khiển phương tiện giao thông vận tải cơgiới hoặc thô sơ, người trực tiếp điều khiển hệ thống tín hiệu giao thông ở sânbay, nhà ga, đường sắt, bến cảng, cầu, phà…” Trong Luật Giao thông đường bộnăm 2001 và Điều 2 Điều lệ trật tự an toàn giao thông đường bộ và trật tự antoàn giao thông đô thị (ban hành kèm theo Nghị định số 36/2001/NĐ-CP ngày10/7/2001 của Chính phủ) chỉ xác định người điều khiển phương tiện giao thôngđường bộ là người điều khiển và sử dụng các loại phương tiện giao thông cơgiới, mà không xác định người dẫn dắt, cưỡi súc vật là người điều khiển phươngtiện giao thông đường bộ Nhưng theo quy định tại khoản 23 Điều 3 Luật giaothông đường bộ 2008 thì người điều khiển phương tiện giao thông đường bộgồm người điều khiển xe cơ giới, xe thô sơ, xe máy chuyên dùng tham gia giaothông đường bộ

Trang 38

Những quy định không thống nhất trong các văn bản pháp luật nêu trên đã

dẫn đến những cách hiểu khác nhau về việc xác định chủ thể của tội vi phạmquy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ

Để thống nhất trong việc xử lý tội vi phạm quy định về điều khiển phương

tiện giao thông đường bộ thì ngày 28/8/2013, Bộ Công an – Bộ quốc phòng –

Bộ Tư pháp – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Tòa án nhân dân Tối cao đã banhành Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BCA- BQP-BTP- VKSNDTC-

TANDTC hướng dẫn áp dụng quy định tại Chương XIX của Bộ luật Hình sự vềcác tội xâm phạm trật tự, an toàn giao thông Theo quy định tại khoản 2 Điều 1Thông tư liên tịch số 09/2013 thì phương tiện giao thông đường bộ gồm:

phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường

bộ và xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, nên có thể hiểu rằng,người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là người điều khiển phươngtiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ và xemáy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ

Tóm lại, chủ thể của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao

thông đường bộ là người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự

và là người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiệngiao thông thô sơ đường bộ và xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đườngbộ

Trang 39

2.1.1.3 Dấu hiệu về mặt khách quan của tội vi phạm quy định về điều

kiển phương tiện giao thông đường bộ

Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm

những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách

quan.4 Những biểu hiện này bao gồm:

- Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội;

- Hậu quả nguy hiểm cho xã hội;

- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả;

- Các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (công cụ,

phương tiện trợ giúp cho việc thực hiện hành vi, phương pháp thực hiện, thủđoạn thực hiện,…)

Cũng giống như các tội phạm khác, tội vi phạm quy định về điều khiển

phương tiện giao thông đường bộ khi xảy ra đều có những biểu hiện ra bên

4 Trường đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập 1, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,

tr 99

ngoài thế giới khách quan, đó là: hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội; Hậuquả nguy hiểm cho xã hội của hành vi, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vàhậu quả; các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội

Theo quy định tại Điều 202 BLHS năm 1999, tội vi phạm quy định về

điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là tội có cấu thành tội phạm vật

Trang 40

chất, do đó, ngoài hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểmcho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả là dấu hiệu bắtbuộc trong cấu thành tội phạm.

Về dấu hiệu hành vi khách quan của tội vi phạm quy định về điều kiển

phương tiện giao thông đường bộ

Hành vi khách quan được hiểu là những biểu hiện của con người ra bên

ngoài thế giới khách quan dưới những hình thức cụ thể nhằm đạt được nhữngmục đích có chủ định và mong muốn.5

Hành vi khách quan của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện

giao thông đường bộ được mô tả là hành vi vi phạm quy định về an toàn giaothông đường bộ khi điều khiển phương tiện giao thông đường bộ Biểu hiện cụthể của hành vi khách quan này có thể là hành vi vi phạm quy định về quy tắcgiao thông đường bộ (không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy tắcgiao thông đường bộ) hoặc là hành vi vi phạm quy định về các hành vi bị

nghiêm cấm được quy định trong luật giao thông đường bộ năm 2008 Ví dụ:Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ không thực hiện đúng quyđịnh về tốc độ và khoảng cách giữa các xe; quy định về sử dụng làn đường; quyđịnh về vượt xe…6; hoặc vi phạm quy định về các hành vi bị nghiêm cấm tronggiao thông đường bộ, như điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà trong

Ngày đăng: 11/08/2017, 21:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w