1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quyền sở hữu tài sản của người nước ngoài tại việt nam

119 297 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng 2010,...Các côngtrình, sản phẩm khoa học khác: Luận văn Phó tiến sỹ khoa học luật của ĐoànNăng viết về “Quy chế pháp lý dân sự của công dân nước ngoài ở các nước xãhội chủ nghĩa

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

……….… ……

QuyÒn së h÷u tµi s¶n cña ngêi níc ngoµi t¹i ViÖt Nam

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật

Mã số : 60380101 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ………

HÀ NỘI – NĂM 2017

MỤC LỤC

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN SỞ HỮU CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 6 1.1 Khái niệm người nước ngoài 6

1.2 Nội dung quy chế pháp lý của người nước ngoài trong lĩnh vực sở hữutài sản 9

1.2.1 Quyền năng chủ thể của người nước ngoài trong lĩnh vực sở hữu

tài sản 9

1.2.2 Các biện pháp pháp lý đảm bảo thực hiện quyền sở hữu của ngườinước ngoài 111.3 Đặc điểm và vai trò của việc điều chỉnh pháp lý quyền sở hữu của

người nước ngoài 131.3.1 Đặc điểm của việc điều chỉnh pháp lý quyền sở hữu của người nướcngoài 131.3.2 Vai trò của việc điều chỉnh pháp lý quyền sở hữu của người nước

ngoài 151.4 Quá trình hình thành và phát triển hệ thống các quy định pháp luật vềquyền sở hữu tài sản của người nước ngoài ở Việt Nam 171.4.1 Trong lĩnh vực sở hữu động sản 171.4.2 Trong lĩnh vực sở hữu bất động sản 211.5 Giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực sở hữu tài sản của ngườinước ngoài 251.5.1 Nguyên tắc chung trong việc giải quyết xung đột pháp luật về

quyền sở hữu 251.5.2 Giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước

ngoài theo pháp luật Việt Nam 27

Trang 3

Tiểu kết 28

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ

QUYỀN SỞ HỮU CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM 30

2.1 Thực trạng các quy định hiện hành trong văn bản pháp luật quốc gia về

quyền sở hữu của người nước ngoài ở Việt Nam 302.1.1 Quy định về quyền sở hữu động sản 30

2.1.2 Quy định về quyền sở hữu bất động sản của người nước ngoài 37

2.2 Thực trạng các quy định hiện hành trong các điều ước quốc tế mà Việt

Nam là thành viên về quyền sở hữu của người nước ngoài ở Việt Nam 59Tiểu kết 69

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỀ QUYỀN SỞ HỮU CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 71

3.1 Vấn đề thi hành quy định về quyền sở hữu của người nước ngoài trongpháp luật Việt Nam hiện nay 713.1.1 Những thành tựu đạt được 713.1.2 Những tồn tại hạn chế 73

3.2 Vấn đề thực hiện các cam kết quốc tế về quyền sở hữu của người nướcngoài ở Việt Nam quy định trong các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là

thành viên 813.2.1 Những thành tựu đạt được 813.2.2 Những tồn tại hạn chế 833.3 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quyền sở hữu củangười nước ngoài ở Việt Nam 853.3.1 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quy định về quyền sở hữu của

người nước ngoài trong pháp luật Việt Nam 85

Trang 4

3.3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các cam kết quốc tế về

quyền sở hữu của người nước ngoài ở Việt Nam quy định trong các Điều

ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên 89

Tiểu kết 92

KẾT LUẬN 94

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, hội nhập quốc tế đã trở thành xu thế toàn cầu Là một quốc

gia trong cộng đồng thế giới, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó,chúng ta đã và đang tham gia tích cực vào hoạt động này Trong bối cảnh đó,các quan hệ dân sự nói chung, quan hệ kinh tế, đầu tư thương mại nói riêng phát triển ngày càng mạnh mẽ, phong phú Hệ quả là là lượng người nướcngoài vào Việt Nam gia tăng mạnh mẽ Họ không chỉ sinh sống, học tập, thămthân nhân, du lịch mà còn tiến hành làm ăn, đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam.Người nước ngoài đưa tài sản của mình vào đầu tư kinh doanh, tiến hành cáchoạt động mua bán tài sản, được thừa kế, tặng cho tài sản ở Việt Nam ngàycàng trở nên phổ biến Do đó, vấn đề sở hữu tài sản của người nước ngoài ởViệt Nam phát sinh và cần được quan tâm

Để đảm bảo quyền lợi chính đáng của người nước ngoài cũng như thúc

đẩy mối quan hệ hợp tác cùng phát triển với các quốc gia trên thế giới, ViệtNam đã có nhiều chính sách, cũng như các quy định pháp luật quy định vềvấn đề này Tuy nhiên, các quy định về vấn đề này nằm rải rác trong nhiềuvăn bản khác nhau, gây khó khăn cho việc tìm hiểu

Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề quyền sở hữu tài sản của người nước

ngoài ở Việt Nam một cách tổng hợp trong một sản phẩm khoa học là cầnthiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Từ những lý do trên, trong luận văn của mình, tôi quyết định chọn đề

tài: “Quyền sở hữu tài sản của người nước ngoài tại Việt Nam” làm đề tài

nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan đến vấn đề quyền sở hữu của người nước ngoài, hiện nay có

Trang 6

khá nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước Đó là các bài báo đượcđăng trên các Tạp chí, các cuốn giáo trình, sách chuyên khảo, khóa luận tốtnghiệp, luận văn hay những sản phẩm khoa học khác Chẳng hạn:

Có một số công trình nghiên cứu trong nước như: các cuốn giáo trình

Tư pháp quốc tế: Giáo trình “Tư pháp quốc tế” của Trường Đại học tổng hợp

Hà Nội (1994); Giáo trình “Tư pháp quốc tế” của Khoa luật Đại học quốc gia

Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội (2001); Giáo trình “Tư pháp quốc tế”của Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân(2012) Các cuốn sáchchuyên khảo: PGS.TS Đoàn Năng, “Một số vấn đề lý luận cơ bản về Tư phápquốc tế”, Nxb Chính trị quốc gia (2001); Trần Thị Huệ, “Quyền sở hữu vàquyền năng của chủ sở hữu”, Khoa luật, Trường Đại học Hà Nội (2008);TS.Doãn Hồng Nhung, “Pháp luật về nhà ở cho người Việt Nam định cư ở nướcngoài và người nước ngoài tại Việt Nam”, Nxb Xây dựng (2010), Các côngtrình, sản phẩm khoa học khác: Luận văn Phó tiến sỹ khoa học luật của ĐoànNăng viết về “Quy chế pháp lý dân sự của công dân nước ngoài ở các nước xãhội chủ nghĩa và Việt Nam”, Bacu (1986); Luận văn thạc sỹ luật học củaPhạm Thị Phượng viết về “Hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu của ngườinước ngoài tại Việt Nam”, Hà Nội (2004); Khóa luận tốt nghiệp của PhạmThị Thu Trang, Trường Đại học luật Hà Nội viết về “Quyền sở hữu của ngườinước ngoài ở Việt Nam, một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (2011); Khóaluận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Thanh Huyền, Trường Đại học luật Hà Nộiviết về “Tìm hiểu các quy định về thí điểm cho người nước ngoài được muanhà ở tại Việt Nam” (2010); Khóa luận tốt nghiệp của Vũ Thị Hằng, TrườngĐại học luật Hà Nội viết về “Các biện pháp khuyến khích và bảo đảm đầu tưtheo Luật đầu tư 2005, Lý luận và thực tiễn” (2011)

Bên cạnh đó, quyền sở hữu của người nước ngoài cũng là vấn đề được

Trang 7

các học giả trên thế giới quan tâm Có thể kể ra một số công trình nghiên cứucủa các tác giả nước ngoài như: Business in asia (2016), “Foreigners Buyingand Leasing Property in Southeast Asia - Thailand, Cambodia, Vietnam,Laos, http://www.business-in-asia.com; Loanstreet (2016), “Buying Property

In Malaysia As A Foreigner”, https://loanstreet.com; Internationai living(2016), “To Have Or To Lease: A Global Guide To Property OwnershipRules And Restrictions”, https://internationalliving.com

Các công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập đến một, một vài khía cạnh

của quyền sở hữu của người nước ngoài mà không nghiên cứu một cách tổngthể, có tính khái quát toàn diện hoặc chưa cập nhật được sự biến đổi của tìnhhình mới hiện nay Ngoài ra, cũng có một số công trình nghiên cứu toàn diện

về vấn đề này tuy nhiên lại nghiên cứu dựa trên các văn bản pháp luật đã cũ

và không còn hiệu lực

3 Phạm vi nghiên cứu đề tài:

Về mặt thực tế cũng như pháp lý, tài sản được phân thành nhiều loại

khác nhau Trong đó, cách phân loại tài sản bao gồm động sản và bất độngsản là phổ biến và tạo điều kiện thuận lợi đối việc nghiên cứu do động sản vàbất động sản có những đặc điểm rất khác nhau, chúng cần có những quy chếpháp lý riêng biệt Vì vậy, khi xem xét quyền sở hữu tài sản của người nướcngoài, tôi xin được nghiên cứu phân chia tài sản thành động sản và bất độngsản

Ngoài ra, quyền sở hữu của người nước ngoài là vấn đề có phạm vi và

nội dung rất rộng Do thời gian cũng như kiến thức còn hạn chế, luận văn chỉnghiên cứu quyền sở hữu tài sản của người nước ngoài tại Việt Nam đối vớitài sản hữu hình trong các lĩnh vực dân sự và đầu tư, tập trung vào một số loạiđộng sản và bất động sản như: tài sản đưa vào đầu tư, kinh doanh; nhà ở và

Trang 8

bất động sản đưa vào đầu tư

Đồng thời, luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật

Việt Nam và có sự so sánh đối chiếu với một số quy định trong pháp luậtquốc tế, pháp luật của một số nước

4 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành luận văn, trong quá trình nghiên cứu, tôi dựa vào:

phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Đồng thời, tôi sửdụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: phương pháp phântích, tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê

5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn tập trung nghiên cứu các

vấn đề có liên quan đến quyền sở hữu tài sản của người nước ngoài trong lĩnhvực dân sự và đầu tư và trả lời cho các câu hỏi sau:

- Thứ nhất, người nước ngoài là gì và người nước ngoài được quyền sở

hữu những loại tài sản nào?

- Thứ hai, quy chế pháp lý của người nước ngoài trong lĩnh vực sở hữu

tài sản ra sao?

- Thứ ba, hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành quy định như thế nào

về quyền sở hữu tài sản của người nước ngoài tại Việt Nam?

- Thứ tư, thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật

về quyền sở hữu tài sản của người nước ngoài tại Việt Nam ra sao?

6 Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Bằng việc phân tích và nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt

Nam và pháp luật quốc tế, mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài làlàm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản, một số quy định về quyền sở hữu củangười nước ngoài theo pháp luật Việt Nam cũng như pháp luật quốc tế; phân

Trang 9

tích thực trạng thực thi các quy định về quyền sở hữu của người nước ngoàitrong đó có những vướng mắc còn tồn tại của pháp luật Việt Nam so với cácquy định của pháp luật quốc tế, từ đó đưa ra khuyến nghị cũng như phươnghướng hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi các quy định về quyền

sở hữu của người nước ngoài ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn:

Quyền sở hữu tài sản của người nước ngoài đã được nghiên cứu trong

nhiều công trình khoa học Song, các công trình trước chỉ đề cập đến vấn đềnày một cách không toàn diện hoặc có toàn diện nhưng lại dựa trên những cơ

sở thực tiễn, cơ sở pháp lý đã không còn tính thời sự Do đó, việc nghiên cứu

đề tài quyền sở hữu tài sản của người nước ngoài vẫn có tính mới

So với các công trình trước, luận văn dự kiến có một số ý nghĩa khoa

học và thực tiễn sau:

Thứ nhất, luận văn nghiên cứu một cách tổng hợp, có hệ thống về

quyền sở hữu tài sản của người nước ngoài trong lĩnh vực dân sự và đầu tưbao gồm quyền sở hữu đối với tài sản hữu hình là động sản và bất động sản

Thứ hai, luận văn nghiên cứu làm rõ vấn đề dựa trên các cơ sở lý luận

và thực tiễn có tính thời sự; đồng thời, có sự so sánh, phân tích làm rõ các quyđịnh trong một số văn bản pháp luật mới như: Luật đầu tư 2014, Luật đất đai

2013, Luật nhà ở 2015, Bộ luật dân sự 2015

Thứ ba, luận văn đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực

thi các quy định về quyền sở hữu của người nước ngoài ở Việt Nam trong bốicảnh hội nhập quốc tế Các giải pháp này có tính thực tiễn và khả thi cao

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mục lục, phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu

tham khảo, và một số phụ lục đi kèm; nội dung của luận văn bao gồm ba

Trang 10

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền sở hữu của người

nước ngoài

Chương 2: Thực trạng các quy định hiện hành về quyền sở hữu của

người nước ngoài ở Việt Nam

Chương 3: Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành các quy

định về quyền sở hữu của người nước ngoài ở Việt Nam trong bối cảnh hộinhập quốc tế

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUYỀN SỞ HỮU CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 1.1 Khái niệm người nước ngoài

Hiện nay, thuật ngữ “người nước ngoài” được sử dụng rộng rãi ở các

nước cũng như ở Việt Nam và nó được hiểu rất rộng, bao gồm:

- Người mang một quốc tịch nước ngoài;

- Người mang nhiều quốc tịch nước ngoài;

- Người không mang quốc tịch nước nào (gọi tắt là người không quốc

tịch)

Ngoài ra, thuật ngữ “người nước ngoài” còn được hiểu là công dân

nước ngoài Trong pháp luật của nhiều nước trên thế giới, có một nét đặctrưng chung nhất là đều lấy dấu hiệu quốc tịch để định nghĩa người nướcngoài Người nước ngoài là người không có quốc tịch của nước nơi mà họđang cư trú Bất kỳ một cá nhân nào cư trú trên lãnh thổ một nước nhất định

mà không mang quốc tịch của quốc gia đó đều là người nước ngoài Quốc tịchluôn là căn cứ để xác định người đó là công dân nước nào hoặc là ngườikhông thuộc công dân nước nào (người không quốc tịch) Quốc tịch luôn luôn

là một trong những yếu tố chủ yếu xác định quy chế nhân thân của con người.Khái niệm người nước ngoài hiểu theo nghĩa rộng trong một số văn

bản pháp quy không chỉ dùng để chỉ thể nhân nước ngoài, mà còn dùng để chỉpháp nhân nước ngoài, đôi khi còn để chỉ cả quốc gia nước ngoài nữa Ngườinước ngoài theo nghĩa hẹp chỉ dùng để hiểu đó là công dân nước ngoài (haythể nhân nước ngoài) hoặc thậm chí cả người không quốc tịch Có thể nóicách hiểu như trên chỉ mang tính chất quy ước

Xét riêng trong phạm vi Việt Nam, khái niệm người nước ngoài đã

Trang 12

được quy định trong nhiều văn bản khác nhau Chẳng hạn:

Trước đây, theo Quyết định số 122/CP ngày 25/4/1977 của Hội đồng

Chính phủ về chính sách đối với người nước ngoài cư trú và làm ăn sinh sống

ở Việt Nam, khái niệm người nước ngoài được quy định trong Điều 1 nhưsau: “Người nước ngoài gọi tắt là ngoại kiều là những người cư trú và làm

ăn sinh sống ở Viêt Nam, có quốc tịch nước khác, hoặc không có quốc tich”.Quyết định trên chỉ áp dụng đối với những người nước ngoài cư trú và

làm ăn sinh sống ở Việt Nam Ngoài ra, theo Điều 1, Điều 5 Luật quốc tịchViệt Nam ngày 28/6/1998 và khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh nhập cảnh và xuấtcảnh cư trú, đi lại của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2000; khoản 2Điều 3 Nghị định số 138/2006/NĐ-CP ngày 15/11/2006 quy định chi tiết thihành các quy định của Bộ luật dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước

ngoài, “Người nước ngoài”được hiểu là người không có quốc tịch Việt Nam.Phân tích nội dung khái niệm ở các luật và pháp lệnh trên ta thấy:

- Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam Vậy, họ có

thể là người có quốc tịch một nước khác, một vài nước khác hoặc khôngmang quốc tịch nước nào

- Người nước ngoài có thể cư trú trên lãnh thổ Việt Nam và cũng có

thể cư trú ngoài lãnh thổ Việt Nam

Hiện nay, khái niệm người nước ngoài được quy định trong Luật quốc

tịch năm 2008 và Luật xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú của người nướcngoài tại Việt Nam năm 2014:

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 3 Luật hộ tịch năm 2008 thì “Người

nước ngoài cư trú ở Việt Nam là công dân nước ngoài và người không quốctịch thường trú hoặc tạm trú ở Việt Nam” Quy định này chỉ áp dụng vớingười nước ngoài cư trú ở Việt Nam

Trang 13

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh,

cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam năm 2014 thì “Người nước

ngoài là người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và người khôngquốc tịch nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú tại Việt Nam”.Quy định nàychỉ áp dụng đối với người nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trútại Việt Nam, cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam, cơ quan, tổ chức, cá nhânViệt Nam và nước ngoài có liên quan

Phân tích nội dung khái niệm người nước ngoài ở hai văn bản luật trên

ta thấy:

- Cả 2 khái niệm đều lấy dấu hiệu quốc tịch để định nghĩa người nước

ngoài

- Khái niệm người nước ngoài trong Luật quốc tịch năm 2008 được tiếp

cận với phạm vi hẹp Người nước ngoài ở đây được tiếp cận với tư cách làcông dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nghĩa là người nước ngoàichỉ là cá nhân không bao gồm pháp nhân, quốc gia nước ngoài

- Trong Luật xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước

ngoài tại Việt Nam năm 2014, khi định nghĩa người nước ngoài, luật chỉ nóichung chung là “người mang giấy tờ xác định quốc tịch nước ngoài và ngườikhông quốc tịch ” Như vậy, ta có thể hiểu, người nước ngoài bao gồm:

người có quốc tịch Việt Nam và quốc tịch nước ngoài; người chỉ có quốc tịchnước ngoài; người không có quốc tịch Ngoài ra, người nước ngoài ở đây chỉ

có thể là cá nhân

Từ các khái niệm đã nêu ở trên, tác giả khái quát và đưa ra định nghĩa

về người nước ngoài như sau:

“Người nước ngoài là người không mang quốc tịch của quốc gia sở

tại, bao gồm người có quốc tịch nước khác và người không có quốc tịch”

Trang 14

Như trên đã phân tích, định nghĩa người nước ngoài có thể được tiếp

cận ở nhiều góc độ, phạm vi khác nhau Nếu hiểu theo nghĩa rộng, khái niệmngười nước ngoài bao gồm cả pháp nhân nước ngoài Trong luận văn này, tôixin tiếp cận khái niệm người nước ngoài trong phạm vi: người nước ngoàibao gồm cả cá nhân và pháp nhân nước ngoài, không bao gồm nhà nước nướcngoài Sở dĩ như vậy là bởi vì quốc gia nước ngoài có quy chế pháp lý đặcbiệt đó là được quyền miễn trừ về tư pháp Nếu xếp cá nhân, pháp nhân nướcngoài ngang hàng với quốc gia nước ngoài thì sẽ dẫn đến những sai lầm

nghiêm trọng về lý luận và những hệ quả tai hại về sự chà đạp chủ quyềnquốc gia.1

1.2 Nội dung quy chế pháp lý của người nước ngoài trong lĩnh vực

sở hữu tài sản

Nội dung quy chế pháp lý của người nước ngoài trong lĩnh vực sở hữu

tài sản là các yếu tố cấu thành nên quy chế pháp lý của người nước ngoàitrong lĩnh vực sở hữu tài sản Bao gồm: quyền năng chủ thể; quyền và nghĩa

vụ của người nước ngoài trong lĩnh vực sở hữu tài sản và những biện pháppháp lý đảm bảo thực hiện quyền sở hữu tài sản của người nước ngoài Cụ thểnhư sau:

1.2.1 Quyền năng chủ thể của người nước ngoài trong lĩnh vực sở hữu tài sản

Người nước ngoài là một trong những chủ thể cơ bản của Tư pháp quốc

tế Quyền năng chủ thể của người nước ngoài trong lĩnh vực sở hữu tài sản làkhả năng pháp lý đặc trưng của người nước ngoài được hưởng những quyền

và gánh vác những nghĩa vụ, trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực sở hữu tàisản

Quyền năng chủ thể của người nước ngoài trong lĩnh vực sở hữu tài sản

Trang 15

bao gồm hai phương diện: năng lực pháp luật và năng lực hành vi trong lĩnhvực sở hữu tài sản Trong thực tế pháp luật của các nước hiện nay, các kháiniệm về năng lực pháp luật và năng lực hành vi được hiểu rất khác nhau vàdẫn đến việc quy định trong pháp luật cũng khác nhau Theo hệ thống của cácnước châu Âu lục địa mà tiêu biểu có thể kể đến là Pháp chẳng hạn thì cả haikhái niệm trên được hiểu là “Năng lực pháp luật nói chung” (Capacite

Jouissance) và năng lực thực hiện nghĩa vụ (Capacité d’exercise) Theo hệthống pháp luật Anh –Mỹ (Common Law) thì năng lực chủ thể (Capacity)bao gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi

Hiện nay, trong khoa học pháp lý của Việt Nam cũng như một số nước,năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng người đó được hưởng các quyền

và gánh vác các nghĩa vụ mà pháp luật quy định; còn năng lực hành vi của cánhân là khả năng của chính người đó bằng các hành vi của mình thực hiện cácquyền và gánh vác các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.2

Xét riêng trong phạm vi Việt Nam, theo các quy định của pháp luật hiệnhành, người nước ngoài có những quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực sở hữu tàisản như sau:

Trong bối cảnh đất nước cần thu hút sự đầu tư phát triển của người

nước ngoài, thì các quyền và nghĩa vụ trong nhóm lĩnh vực kinh tế nói chung,quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực sở hữu tài sản nói riêng là lĩnh vực đượcquan tâm chú ý khi người nước ngoài đến Việt Nam Quyền và nghĩa vụ củangười nước ngoài đã được thể chế hóa trong đạo luật có hiệu lực pháp lý caonhất tại Việt Nam đó là Hiến pháp 2013

Ở Hiến pháp 2013, khi xác định quyền và nghĩa vụ của “người nước

ngoài”, bên cạnh tiếp cận theo thuật ngữ “người nước ngoài” như ở các vănbản quy phạm pháp luật: Luật hộ tịch; Luật xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh,

Trang 16

cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam đã đề cập ở trên còn phải tiếp cậnthông qua thuật ngữ “mọi người” Thực chất, nội hàm của khái niệm “mọingười” trong các quy định của Hiến pháp bao trùm tất cả các nhóm chủ thểbao gồm cả công dân và người nước ngoài.

Điều 32 Hiến pháp 2013 khẳng định tại Khoản 1 như sau: “1 Mọi

người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệusinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các

tổ chức kinh tế khác” Như vậy, tương tự như công dân Việt Nam, ngườinước ngoài có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tưliệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trongcác tổ chức kinh tế khác

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Khoản 2 Điều 5 Luật doanh nghiệpnăm 2014 có quy định về bảo đảm của Nhà nước đối với doanh nghiệp vàchủ sở hữu doanh nghiệp như sau: “2 Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền

sở hữu tài sản, vốn đầu tư, thu nhập, các quyền và lợi ích hợp pháp khác củadoanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp”

Luật đầu tư năm 2014 tại Khoản 3 Điều 5 cũng khẳng định: “Nhà nướccông nhận và bảo hộ quyền sở hữu về tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và cácquyền, lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư”

Các quy định trên chính là các quy định mang tính nguyên tắc để điều

chỉnh quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài trong lĩnh vực sở hữu tài sản.Theo đó, quyền sở hữu tài sản của người nước ngoài tại Việt Nam được côngnhận và bảo hộ

Song song với việc thụ hưởng quyền được Nhà nước trao cho thì cá

nhân cũng có nghĩa vụ tương xứng, phù hợp Người nước ngoài cư trú ở ViệtNam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam (Điều 48 Hiến pháp

Trang 17

2013) Khi người nước ngoài được hưởng đãi ngộ như công dân về “quyền sởhữu về thu nhập hợp pháp”, “quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế”, thìtrong phạm vi được trao quyền, người nước ngoài cũng như mọi người cótrách nhiệm thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước Theo đó, liên quan trực tiếpđến các hoạt động kinh doanh phát sinh lợi nhuận hay thu nhập hợp pháp, đó

là nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nước Điều này dẫn đến Điều 47 Hiến phápnăm 2013 quy định: “Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định” để sửađổi, bổ sung cho quy định về “Công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao độngcông ích theo quy định của pháp luật” ở Điều 80 Hiến pháp năm 1992 (sửađổi, bổ sung năm 2001) trước đây

1.2.2 Các biện pháp pháp lý đảm bảo thực hiện quyền sở hữu của người nước ngoài

Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền cơ bản của người nước

ngoài Để đảm bảo quyền sở hữu nói chung; quyền sở hữu của người nướcngoài nói riêng được thực thi trên thực tế, nhà nước ta đã có nhiều quy địnhbảo vệ quyền sở hữu Cụ thể:

Hiến pháp 2013 khẳng định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 32:

“2 Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ

3 Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi

ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai, Nhà nước trưngmua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thịtrường” Đồng thời, Điều 51 Hiến pháp 2015 quy định:“Nhà nước khuyếnkhích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khácđầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp

phần xây dựng đất nước Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sảnxuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa” (Điều 51

Trang 18

Hiến pháp 2013).

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Luật đầu tư 2014 quy định về bảo

đảm quyền sở hữu tại Điều 9 như sau: “1 Tài sản hợp pháp của nhà đầu tưkhông bị quốc hữu hóa hoặc bị tịch thu bằng biện pháp hành chính.2 Trườnghợp Nhà nước trưng mua, trưng dụng tài sản vì lý do quốc phòng, an ninhhoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai thì nhàđầu tư được thanh toán, bồi thường theo quy định của pháp luật về trưngmua, trưng dụng tài sản và quy định khác của pháp luật có liên quan” Chiểutheo hai quy định trên, ta có thể hiểu tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chứcnước ngoài đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bịquốc hữu hóa

Ngoài ra, các ngành luật hành chính, ngành luật dân sự, ngành luật hìnhsự cũng có quy định về việc bảo vệ quyền sở hữu thông qua nhiều biệnpháp khác nhau Đó là các phương thức bảo vệ quyền sở hữu - các biện pháptác động bằng pháp luật đối với các hành vi xử sự của con người, ngăn ngừanhững hành vi xâm hại đến chủ sở hữu khi người này hành xử quyền củamình Tuy nhiên, đối với Tư pháp quốc tế, phương thức bảo vệ quyền sở hữucủa người nước ngoài thường là các biện pháp dân sự Thông qua biện phápdân sự, cá nhân, tổ chức bị xâm phạm quyền sở hữu có thể dùng các phươngthức dân sự để tự bảo vệ quyền sở hữu hoặc yêu cầu cơ quan nhà nước cóthẩm quyền bảo vệ quyền sở hữu cho mình

Điều 255 BLDS 2005 quy định “chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp

pháp có quyền tự bảo vệ tài sản thuộc sở hữu của mình, tài sản đang chiếmhữu hợp pháp bằng các quy định của pháp luật” Quyền tự bảo vệ quyền củachủ sở hữu được hiểu là quyền của chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp cóthể dùng bất kỳ biện pháp mà pháp luật không cấm để bảo vệ tài sản và quyền

Trang 19

sở hữu tài sản của mình như cất giữ, quản lý Ngoài ra, quyền tự bảo vệ củachủ sở hữu còn gắn liền với quyền ngăn cản bất kỳ chủ thể nào khác có hành

vi xâm phạm quyền sở hữu của mình; có quyền truy tìm, đòi lại tài sản bịngười khác chiếm hữu, sử dụng, định đoạt không có căn cứ pháp luật

Bên cạnh quyền tự bảo vệ, pháp luật dân sự còn quy định cho chủ sở

hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền “yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩmquyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữuphải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện

quyền sở hữu, quyền chiếm hữu và yêu cầu bồi thường thiệt hại” Những

phương thức này gọi chung là phương thức kiện dân sự - phương thức được

áp dụng khi chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp không thể tự mình bảo vệđược quyền sở hữu trước hành vi xâm hại của chủ thể khác gây ảnh hưởng tớiviệc thực hiện quyền của chủ sở hữu của mình.3

1.3 Đặc điểm và vai trò của việc điều chỉnh pháp lý quyền sở hữu của người nước ngoài

1.3.1 Đặc điểm của việc điều chỉnh pháp lý quyền sở hữu của người nước ngoài

Việc điều chỉnh quyền sở hữu tài sản của người nước ngoài có liên

quan đến chủ thể người nước ngoài Trong phạm vi luận văn, người viết chỉnghiên cứu cá nhân và pháp nhân nước ngoài Cá nhân nước ngoài, như đãtrình bày ở các mục trên, là người mang quốc tịch nước ngoài hoặc ngườikhông có quốc tịch Tương tự như vậy, pháp nhân nước ngoài là pháp nhânmang quốc tịch của quốc gia nhất định, được tổ chức và hoạt động theo phápluật của quốc gia đó Nói cách khác, năng lực pháp luật dân sự và một số vấn

đề pháp lý khác của cá nhân, pháp nhân nước ngoài (chẳng hạn: điều kiện vàthủ tục thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể pháp nhân, thanh lý

Trang 20

tài sản khi pháp nhân phá sản ) sẽ do pháp luật của nước cá nhân, phápnhân nước ngoài mang quốc tịch quyết định.

Khi cá nhân nước ngoài sang một quốc gia khác thăm quan, du lịch,

thăm thân nhân, học tập, lao động, làm việc, sinh sống ; khi pháp nhân ranước ngoài kinh doanh, đầu tư ; họ sẽ đồng thời phải tuân thủ các quy địnhcủa pháp luật quốc gia sở tại Việc quy định địa vị pháp lý của người nướcngoài tại quốc gia sở tại bao gồm những quyền và nghĩa vụ gì; người nướcngoài chỉ được tiến hành những hoạt động gì, trong lĩnh vực nào, ở phạm vinào, là quyền của quốc gia sở tại Những vấn đề này thường được quy địnhtrong văn bản pháp luật quốc gia (Bộ luật dân sự, Luật đầu tư, Luật nhà ở )

và cả trong các điều ước quốc tế mà nước sở tại ký kết hoặc tham gia (ví dụ:các điều ước quốc tế đa phương trong khuôn khổ các tổ chức quốc tế; cáchiệp định buôn bán và hàng hải, các hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư,các hiệp định thương mại giữa các nước )

Như vậy, đặc điểm quy chế pháp lý dân sự của người nước ngoài nói

chung thể hiện trước hết ở chỗ cùng một lúc người nước ngoài phải tuân theohai hệ thống pháp luật đó là pháp luật quốc gia nơi người nước ngoài mangquốc tịch và pháp luật quốc gia sở tại

Quyền sở hữu của người nước ngoài trong lĩnh vực sở hữu tài sản là

một trong những quyền dân sự của người nước ngoài Do đó, đặc điểm quychế pháp lý của người nước ngoài trong lĩnh vực sở hữu tài sản mang đặcđiểm chung của quy chế pháp lý dân sự của người nước ngoài đó là chịu sựđiều chỉnh của hai hệ thống pháp luật

Ngoài ra, đặc điểm quy chế pháp lý của người nước ngoài trong lĩnh

vực sở hữu tài sản của người nước ngoài còn thể hiện ở chỗ nếu quyền và lợiích hợp pháp của người nước ngoài trong lĩnh vực sở hữu tài sản trên lãnh thổ

Trang 21

quốc gia sở tại bị xâm phạm thì người nước ngoài sẽ được nhà nước của mìnhbảo hộ về mặt ngoại giao.

Nội dung quy chế pháp lý của người nước ngoài trong lĩnh vực sở hữu

tài sản ở các nước không giống nhau Nó tùy thuộc vào thái độ chính trị,chính sách kinh tế đối ngoại của nước sở tại, vai trò của vốn, công nghệ, kỹthuật của nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế xã hội của nước sở tại

Xu thế chung hiện nay trên thế giới là quá trình quốc tế hóa mọi mặt

đời sống, đặc biệt đời sống kinh tế ngày càng được đẩy mạnh; các nước đềuphải thực hiện chính sách mở cửa (đặc biệt là các nước đang phát triển) nhằmtranh thủ vốn, khoa học – kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiêntiến của nước ngoài để thúc đầy phát triển kinh tế - xã hội của mình, hòa nhậpvới các nền kinh tế thế giới Vì vậy, hoạt động của người nước ngoài ở cácnước sẽ ngày càng trở nên sôi động Điều đó sẽ làm cho nội dung quy chếpháp lý của người nước ngoài trong lĩnh vực sở hữu tài sản ngày càng đượcquy định đầy đủ và thoáng hơn

1.3.2 Vai trò của việc điều chỉnh pháp lý quyền sở hữu của người

nước ngoài

Chế định sở hữu nói chung, chế định sở hữu tài sản nói riêng là một

trong những nội dung quan trọng của luật dân sự bất kỳ một quốc gia nào.Việc điều chỉnh pháp lý quyền sở hữu của người nước ngoài không chỉ có vaitrò pháp lý mà còn có vai trò thực tiễn sâu sắc

- Về vai trò pháp lý:

Trong xu thế toàn cầu hóa nói chung, hội nhập kinh tế quốc tế nói

riêng, các giao dịch dân sự; các quan hệ hợp tác về kinh tế, thương mại, đầutư phát triển mạnh mẽ Kéo theo đó, số lượng các vụ việc dân sự gia tăngmột cách đáng kể

Trang 22

Trong điều kiện đó, chế định sở hữu tài sản của người nước ngoài đóng

vai trò chủ chốt và là nền tảng cho việc thực hiện các giao dịch liên quan đếnquyền sở hữu tài sản của người nước ngoài, là cơ sở pháp lý cho việc sở hữutài sản của người nước ngoải Trên cơ sở các quy định của pháp luật, người

nước ngoài sẽ hiểu được mình được sở hữu những loại tài sản gì và phạm vi

sở hữu tài sản của mình ra sao để từ đó tiến hành các giao dịch dân sự; tiếnhành các hoạt động đầu tư kinh doanh vừa đảm bảo quyền sở hữu vừa đem lạihiệu quả tích cực cho bản thân Bên cạnh đó, chế định quyền sở hữu tài sảncủa người nước ngoài cũng giúp người nước ngoài có thể nắm được quyền vànghĩa vụ cụ thể của mình trong lĩnh vực sở hữu tài sản; hình dung được hệthống pháp luật nào sẽ được áp dụng giải quyết trong trường hợp có tranhchấp xảy ra

Ngoài ra, chế định quyền sở hữu tài sản của người nước ngoài cũng có

vai trò đối với hoạt động của tòa án Chế định này là cơ sở pháp lý để các cơquan, cá nhân có thẩm quyền đưa ra các phán quyết, hướng giải quyết cụ thểđối với các vụ việc liên quan đến quyến sở hữu tài sản của người nước ngoài

- Vai trò thực tiễn:

Không chỉ có vai trò pháp lý, chế định quyền sở hữu tài sản của người

nước ngoài còn có vai trò thực tiễn sâu sắc Quyền sở hữu là chế định trungtâm trong bất kỳ hệ thống pháp luật nào Nó có vai trò quan trọng trong đờisống kinh tế - xã hội cũng như trong pháp luật dân sự Nó là một trong nhữngtiền đề vật chất cho sự phát triển kinh tế, vì quyền sở hữu phản ánh mức độ xử

sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện trong quá trình chiếmhữu, sử dụng và định đoạt tài sản Mức độ xử sự ấy quy định giới hạn và khảnăng thực hiện của họ trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia

Trang 23

lao động sản xuất, kinh doanh Điều đó tác động trực tiếp đến nền kinh tế,thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế.

Lý luận và thực tiễn đã cho thấy đối với các tranh chấp có yếu tố nước

ngoài sẽ có nhiều hệ thống pháp luật có thể giải quyết, đặc biệt vấn đề sở hữutài sản của người nước ngoài lại là một vấn đề nhạy cảm vì liên quan đếnquyền lợi dân sự của họ Vì vậy, cần có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh,quy định rõ về quyền sở hữu của người nước ngoài Trên cơ sở các quy địnhpháp luật quốc tế cũng như các quy định pháp luật của quốc gia, việc thựchiện các quyền liên quan đến sở hữu tài sản của người nước ngoài sẽ trở nênquy củ hơn, dễ dàng hơn Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, khicác hoạt động dân sự, kinh tế, thương mại phát triển vô cùng sôi động, sốlượng người nước ngoài vào Việt Nam gia tăng nhanh chóng, vai trò thực tiễncủa việc điều chỉnh pháp lý quyền sở hữu của người nước ngoài càng thể hiện

rõ nét Nhờ có hệ thống các quy định bảo hộ quyền sở hữu tài sản của ngườinước ngoài, những người nước ngoài ngày càng yên tâm tiến hành các giaodịch dân sự và lựa chọn Việt Nam là điểm đến để đầu tư, kinh doanh Do đó,nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều khởi sắc mới và những bước phát triển đángkể

1.4 Quá trình hình thành và phát triển hệ thống các quy định pháp

luật về quyền sở hữu tài sản của người nước ngoài ở Việt Nam

1.4.1 Trong lĩnh vực sở hữu động sản

1.4.1.1 Điều ước quốc tế

Một trong những nguyên tắc xuyên suốt trong các Điều ước quốc tế mà

Việt Nam tham gia ký kết yêu cầu các quốc gia thành viên phải thực hiện lànguyên tắc đối xử quốc gia (National Treatment – NT) Nguyên tắc này quyđịnh nước sở tại dành cho công dân nước ngoài chế độ đối xử như công dân

Trang 24

quốc gia mình về các quyền và lợi ích hợp pháp, trong đó có quyền sở hữu tàisản Ví dụ, trong Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về vấn đề dân sự vàhình sự giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên Bang Nga năm

1999, Điều 38 quy định: “Công dân của bên ký kết này có thể được hưởng tàisản và các quyền khác trên lãnh thổ của nước bên ký kết kia do thừa kế theopháp luật hoặc thừa kế theo di chúc theo cùng những điều kiện như công dâncủa bên ký kết đó”

Bên cạnh nguyên tắc đối xử quốc gia, các nguyên tắc: Tối huệ quốc

(Most the Favoured nation Treatment – MFN), nguyên tắc đãi ngộ đặc biệt,hay nguyên tắc có đi có lại cũng được đề cập đến trong hệ thống pháp luậtquốc tế Việc áp dụng nguyên tắc nào sẽ phụ thuộc vào mối quan hệ giữa cácquốc gia với nhau Đối với Việt Nam, mặc dù phụ thuộc vào mối quan hệgiữa các quốc gia mà Việt Nam sẽ được áp dụng các chế độ khác nhau nhưngnhìn chung, các nguyên tắc này đều yêu cầu pháp luật Việt Nam có nhữngquy định rõ ràng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người nước ngoài,trong đó có quyền sở hữu tài sản

Ví dụ: Hiệp định tương trợ tư pháp về các vấn đề dân sự và hình sự

giữa Việt Nam và Liên Bang Nga (Điều 1), Cộng hòa nhân dân Trung Hoa(Điều 2) ; Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (Điều 1 Điều 2); Hiệpđịnh khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Cộng hòa Trung Hoa (Điều 3, Điều4); Hiệp định đầu tư toàn diện ASEAN (ACA); Hiệp định thương mại hànghóa GATT 1994 (Điều 1, Phần I; Điều 3 Phần II)

1.4.1.2 Pháp luật quốc gia

Trước khi Hiến pháp 2013 ra đời, pháp luật Việt Nam chưa có một vănbản chuyên biệt nào quy định về quyền sở hữu tài sản của người nước ngoàitại Việt Nam Đồng thời, những quy định về quyền sở hữu tài sản của người

Trang 25

nước ngoài cũng không có một điều luật cụ thể nào quy định rõ ràng nhữngloại động sản người nước ngoài được quyền sở hữu Quyền sở hữu của họ chỉđược hiểu qua những quy định chung chung mà thôi.

Trước đây, khi BLDS 1995 chưa được ban hành thì pháp luật Việt Nam

chưa có quy định chung và đầy đủ về quyền sở hữu tài sản của người nước

ngoài Các quy định về vấn đề này nằm rải rác ở rất nhiều văn bản khác nhau.Chẳng hạn, theo Điều 7 Quyết định số 122/CP ngày 25/4/1977 của Hội đồngChính phủ về chính sách đối với đối với người nước ngoài cư trú và làm ănsinh sống tại Việt Nam (chúng ta gọi là người nước ngoài định cư tại Việt

Nam) được hưởng quyền sở hữu cá nhân về thu nhập hợp pháp, về tư liệu

sinh hoạt và những công cụ sản xuất nhất định theo pháp luật Việt Nam

Ngoài ra, để mở rộng hợp tác kinh tế với người nước ngoài, đẩy mạnh

xuất nhập khẩu, phát triển kinh tế trên cơ sở khai thác có hiệu quả tài nguyênlao động và các tiềm năng khác của đất nước, Điều 25 Hiến pháp năm 1992,Điều 1 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã khẳng định việc

thừa nhận và bảo vệ quyền sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đối với vốn đầu

tư do họ đưa vào Việt Nam, đối với các quyền về tài sản và các quyền lợi

khác của họ khi các quyền đó được hình thành trên cơ sở của pháp luật Việt Nam.Cũng trong thời gian trước khi ban hành BLDS năm 1995, pháp luật

nước ta chưa có quy định về quyền sở hữu của người nước ngoài không thuộcdiện định cư hoặc đang đầu tư tại Việt Nam Trên thực tế, những người nàyvẫn có quyền sở hữu đối với tư liệu sinh hoạt, thu nhập hợp pháp và các độngsản khác trên lãnh thổ Việt Nam

Đến khi BLDS 1995 ra đời, nó đã có những quy định chung về quy chế

pháp lý của người nước ngoài trong lĩnh vực sở hữu tài sản Điều 830 Bộ luậtnày quy định “người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam

Trang 26

như công dân Việt Nam”.

Tiếp sau BLDS 1995, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996 ra đời

và được sửa đổi bổ sung năm 2000 tiếp tục khẳng định tại Điều 1: “Nhà nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ quyền sở hữu đối với vốn đầu tưnước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi và quy định thủ tục đơn giản, nhanhchóng cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam” Điều 20 Luật này cũngquy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm đối xửcông bằng và thỏa đáng đối với các nhà đầu tư vào Việt Nam” Trong thờigian đầu tư vào Việt Nam, vốn và tài sản của bên nước ngoài không bị trưngdụng hoặc tịch thu bằng biện pháp hành chính, không bị quốc hữu hóa Nếu

do thay đổi của pháp luật Việt Nam mà làm thiệt hại đến lợi ích của các bêntham gia hoạt động đầu tư thì “ Nhà nước có biện pháp giải quyết thỏa đángđối với quyền lợi của nhà đầu tư” (Điều 21 Luật đầu tư nước ngoài tại ViệtNam 1996, sửa đổi bổ sung năm 2000)

Đối với những người nước ngoài làm việc tại Việt Nam trong các xí

nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc để thực hiện các hợp đồng hợp tác kinhdoanh, sau khi nộp thuế thu nhập do pháp luật Việt Nam quy định đượcchuyển ra nước ngoài thu nhập của mình theo quy định của pháp luật ViệtNam về quản lý ngoại hối (Điều 23 Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

1996 sửa đổi bổ sung năm 2000)

Năm 2001, Hiến pháp 1992 được sửa đổi bổ sung nhưng việc khuyến

khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn, công nghệ vào Việt Nam,bảo đảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, công nghệ vào Việt Nam, bảođảm quyền sở hữu hợp pháp đối với vốn, tài sản và các quyền lợi khác vẫngiữ nguyên

Năm 2005, Bộ luật dân sự ra đời thay thế Bộ luật dân sự năm 1995

Trang 27

BLDS 2005 tiếp tục kế thừa các quy định trong BLDS 1995 Điều 761 BLDS

2005 quy định: “Người nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự như côngdân Việt Nam” Cũng trong năm này, Luật đầu tư 2005 ra đời thay thế Luậtđầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1996 được sửa đổi bổ sung năm 2000 Luậtnày áp dụng chung cho các đối tượng là “nhà đầu tư trong nước và nhà đầu

tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư trên lãnh thổ Việt Nam và đầu tư từViệt Nam ra nước ngoài” (Điều 2 khoản 1 Luật đầu tư 2005) “Nhà nước đối

xử bình đẳng trước pháp luật đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phầnkinh tế, giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài” tạo điều kiện cho cácnhà đầu tư môi trường cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo cho sự công bằng giữacác nhà đầu tư Nhà nước còn đảm bảo: “vốn đầu tư và tài sản hợp pháp củanhà đầu tư không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháp hànhchính”, “Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và lợi íchquốc gia nhà nước trưng mua trưng dụng tài sản của nhà đầu tư nước ngoàithì nhà đầu tư nước ngoài được thanh toán hoặc bồi thường bằng đồng tiền

tự do chuyển đổi” (Điều 6 Luật đầu tư năm 2005)

Năm 2013, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đượcthông qua và có hiệu lực thi hành Hiến pháp 2013 đã lần đầu tiên tiếp cậnquyền của người nước ngoài trong lĩnh vực sở hữu tài sản dưới góc độ làquyền của con người Điều 32 Hiến pháp khẳng định rõ: ““1 Mọi người cóquyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt,

tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chứckinh tế khác” Trong khi đó, như trước đây, chỉ công dân mới có quyền kinhdoanh đồng nghĩa chỉ công dân mới có quyền sở hữu thu nhập hợp pháp vàcác tài sản khác phát sinh từ hoạt động kinh doanh Đến Hiến pháp năm 2013khi mọi người đều được quyền tự do kinh doanh (theo Điều 33 Hiến pháp

Trang 28

2013) thì trên cơ sở quyền được hưởng thù lao thỏa đáng, mọi người đều cóquyền sở hữu những tài sản đó.

Trên cơ sở Hiến pháp 2013, kế thừa và phát triển Luật đầu tư năm

2005, Luật đầu tư 2014 được Quốc hội thông qua vào ngày 26/11/2014 và cóhiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2015 Khoản 3, Khoản 4 Điều 5 về đầu tư kinhdoanh tiếp tục khẳng định: “3 Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền sở hữu

về tài sản, vốn đầu tư, thu nhập và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của nhàđầu tư 4 Nhà nước đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư; có chính sáchkhuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư thực hiện hoạt độngđầu tư kinh doanh, phát triển bền vững các ngành kinh tế” Đến Điều 9 vàĐiều 11 Luật đầu tư 2014, việc bảo đảm quyền sở hữu tài sản; bảo đảmchuyển tài sản của nhà đầu tư nước ngoài ra nước ngoài được làm rõ và quyđịnh tương tự như các văn bản pháp luật về đầu tư trước đó

Ngày 24/11/2015, Bộ luật dân sự năm 2015 được quốc hội thông qua

và sẽ có hiệu lực thi hành trong thời gian sắp tới (kể từ ngày 1/1/2017) Cũngnhư Bộ luật dân sự trước đó, Khoản 2 Điều 673 BLDS 2015 tiếp tục khẳngđịnh: “Người nước ngoài tại Việt Nam có năng lực pháp luật dân sự như côngdân Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác”

Như vậy, có thể thấy, các văn bản pháp luật hiện hành như Hiến pháp

năm 2013; Luật đầu tư 2015 đã quy định rõ các loại động sản mà người nướcngoài tại Việt Nam được quyền sở hữu Đồng thời, Hiến pháp, Luật đầu tư,văn bản pháp luật mới nhất là Bộ luật dân sự 2015 đã đưa ra một số quy định

và chính sách áp dụng đối với người nước ngoài mang tính nguyên tắc vàđịnh hướng

1.4.2 Trong lĩnh vực sở hữu bất động sản

Việc phân định bất động sản hay động sản tùy thuộc vào pháp luật của

Trang 29

các quốc gia Các quốc gia khác nhau có những quan điểm, học thuyết khácnhau về bất động sản Song có một số điểm tương đồng giữa quy định của22

pháp luật Việt Nam với pháp luật của hầu hết các quốc gia là bất động sản baogồm: đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai Ngoài ra, phápluật điều chỉnh đối với bất động sản sẽ theo pháp luật nơi có bất động sản Do

đó, lý luận và thực tiễn không có các Điều ước quốc tế điều chỉnh chung vềbất động sản Vậy quyền sở hữu bất động sản của người nước ngoài tại ViệtNam được quy định và có quá trình phát triển như thế nào trong pháp luậtViệt Nam?

Luật đất đai năm 1987 là văn bản luật có hiệu lực pháp lý cao nhất về

lĩnh vực đất đai đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Vănbản này chưa có quy định về quyền sở hữu nhà ở của người nước ngoài tạiViệt Nam mà mới quy định về hình thức sử dụng đất của người nước ngoài ởViệt Nam Điều 51 Luật đất đai năm 1987 quy định : “Tổ chức, cá nhân nướcngoài, tổ chức quốc tế, tổ chức liên doanh, hợp tác của Việt Nam và nướcngoài được giao đất để sử dụng phải tuân theo các quy định của luật này, trừtrường hợp điều ước quốc tế ký kết giữa nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam với nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế có quy định khác”

Sau Luật đất đai, văn bản pháp luật đầu tiên có quy định về quyền sở

hữu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam đó là Pháp lệnh Nhà ở ngày26/3/1991 Pháp lệnh nhà ở đã hết hiệu lực kể từ ngày 1/7/1996 nhưng từ khi

nó ra đời nó đã đánh dấu một mốc mới thừa nhận quyền sở hữu nhà ở củangười nước ngoài tại Việt Nam Điều 16 của Pháp lệnh ghi nhận: “Ngườinước ngoài có quyền sở hữu nhà ở trong thời gian tiến hành đầu tư hoặctrong thời hạn định cư, thường trú dài hạn tại Việt Nam nếu điều ước quốc tế

Trang 30

mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia không có quy định khác” Điều này thực sựtạo ra cơ hội tốt cho người nước ngoài ở nước ta yên tâm học tập, làm việc vàsinh sống.

Ngày 05/07/1994 Chính phủ đã ban hành Nghị định 61/CP về mua bán

và kinh doanh nhà ở và quyền sở hữu đất đai tại đô thị, vấn đề sở hữu nhà ởcủa người nước ngoài tại Việt Nam đã được cụ thể hóa tại Chương IV Điều

18 của Nghị định khẳng định: “ Cá nhân là người nước ngoài định cư ở Việt23

Nam được sở hữu một nhà ở cho bản thân và các thành viên trong gia đình họtrên đất ở thuê của nhà nước Việt Nam trong thời gian định cư tại Việt Nam,trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết, tham gia có quy địnhkhác” Như vậy cá nhân nước ngoài có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Namnhưng không phải được sở hữu nhiều nhà mà chỉ được sở hữu một nhà duynhất Tuy nhiên, Nghị định 61/CP không được hướng dẫn cụ thể, các quyđịnh này hầu như không được kiểm tra, đánh giá trong thực tiễn

Tiếp đó Luật đất đai năm 1993, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của

luật đất đai năm 1998 và sau đó là năm 2001 cho đến Luật đất đai năm 2003thì việc sở hữu nhà ở của người nước ngoài vẫn không được quy định cụ thểnhưng có một số quy định nhắc đến quyền sở hữu các công trình xây dựngtrên đất đai thuộc quyền sử dụng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.Đến khi Luật nhà ở năm 2005 ra đời, với việc đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh

tế khi Việt Nam gia nhập WTO thì vấn đề sở hữu nhà ở của người nước ngoàitại Việt Nam đã chính thức được ghi nhận tại Điều 125 Luật nhà ở: “ Tổchức, cá nhân nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở để cho thuê tại Việt Namđược cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sở hữuđối với nhà ở đó Thời hạn được sở hữu nhà ở là thời hạn quy định trong giấy

Trang 31

chứng nhận đầu tư và được ghi rõ trong giấy chứng nhận quyền sở hữu nhàở” Với quy định trên cá nhân tổ chức nước ngoài kinh doanh bất động sản tạiViệt Nam được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhưng sở hữu ở đây làdùng để bán hoặc cho thuê chứ không phải là nhu cầu để ở Sở hữu nhà theogiấy phép đầu tư, nếu hết hạn giấy phép đầu tư mà tổ chức cá nhân chưa bánnhà thì sẽ bị thu lại giấy chứng nhận quyền sở hữu Luật nhà ở năm 2005 rađời cũng kéo theo sự ra đời của Nghị định số 71/2010/ NĐ- CP hướng dẫn chitiết Luật nhà ở và Thông tư 16/2010/TT – BXD quy định cụ thể và hướng dẫnthực hiện một số nội dung của Nghị định số 71/2010/NĐ-CP Như vậy, đếnnăm 2005, mặc dù đã có quy định về sở hữu nhà ở của người nước ngoài tạiViệt Nam nhưng các quy định đó vẫn còn rất dè dặt.

Cùng với quá trình hội nhập nền kinh tế quốc tế của Việt Nam cũng

24

như sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới thì ngày càng có nhiềungười nước ngoài đến Việt Nam làm ăn, học tập và sinh sống Nhu cầu về nhà

ở của người nước ngoài tại Việt Nam ngày một tăng cao Để đáp ứng nhu cầu

sở hữu nhà ở của người nước ngoài, góp phần khuyến khích đầu tư, phát triểnkinh tế đất nước, tại kỳ họp thứ 3 Quốc hội thứ XII, ngày 03/06/2008, Quốchội đã ban hành Nghị quyết 19/2008/NQ – QH12 về việc thí điểm cho tổchức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam ( dưới đây gọi làNghị quyết 19/2008/NQ – QH12) Theo đó, Chính phủ cũng ban hành Nghịđịnh số 51/2009/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2009 hướng dẫn thi hành một

số Điều của Nghị quyết số 19/2008/QH12, cho phép tổ chức, cá nhân nướcngoài được phép sở hữu nhà ở tại Việt Nam không nhằm mục đích kinhdoanh Đến thời điểm Nghị quyết ra đời và có hiệu lực, pháp luật về quyền sởhữu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam vừa đảm bảo chính sách vừa có

Trang 32

thể đáp ứng nhu cầu về chỗ ở cho người mua nhà, hạn chế tối đa việc lợi dụngchính sách để đầu cơ, hoặc sử dụng vào các mục đích khác ảnh hưởng đến thịtrường bất động sản và nền kinh tế, xã hội của đất nước.

Ngày 1/7/2014, Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành Tương tự

như các văn bản Luật đất đai trước đó, luật vẫn chưa quy định cụ thể về quyền

sở hữu bất động sản của ngưởi nước ngoài Tuy nhiên, Luật đã thiết lập sựbình đẳng hơn trong việc tiếp cận đất đai giữa nhà đầu tư trong và nước ngoài.Luật đã mở rộng quyền cho doanh nghiệp nước ngoài Các doanh nghiệp cóvốn đầu tư nước ngoài có các quyền và nghĩa vụ chung của người sử dụng đấtnhư đối với các doanh nghiệp, tổ chức trong nước Đồng thời, do có nhữngđiểm đặc thù, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có những quyền vànghĩa vụ riêng được quy định tại Mục 4 Quyền và nghĩa vụ của người ViệtNam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài sử dụng đất được quy định tại Luật đất đai 2013 từ Điều 182 đếnĐiều 187 Một trong những quyền của doanh nghiệp nước ngoài trong lĩnhvực đất đai đó là có quyền sở hữu các tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất

và được nhà nước ta bảo hộ các quyền chính đáng

25

Đến ngày 1/7/2015, Luật nhà ở 2014 có hiệu lực thi hành với nhiều

điểm mới so với Luật Nhà ở 2005 Một trong những điểm mới đó là mở rộngđối tượng và điều kiện tổ chức, cá nhân nước ngoài được mua và sở hữu nhà

ở tại Việt Nam để huy động các nguồn lực về vốn, công nghệ, kinh nghiệm phục vụ cho phát triển đất nước; đồng thời góp phần thúc đẩy thị trường xâydựng trong nước phát triển, giải quyết việc làm cho người lao động, tạo sựtăng trưởng cho nền kinh tế trên nguyên tắc bảo đảm ổn định chính trị, quốcphòng, an ninh, lợi ích quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và phát triển

Trang 33

bền vững.

1.5 Giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực sở hữu tài sản

của người nước ngoài

Xung đột pháp luật trong lĩnh vực sở hữu tài sản của người nước ngoài

là hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật có thể được áp dụng để điềuchỉnh một quan hệ sở hữu tài sản mà người nước ngoài là chủ thể Từ lâu vấn

đề thể thức giải quyết xung đột pháp luật trong lĩnh vực quyền sở hữu đã trởthành một nội dung quan trọng của Tư pháp quốc tế

Thể thức giải quyết xung đột về quyền sở hữu tài sản cụ thể như sau:

1.5.1 Nguyên tắc chung trong việc giải quyết xung đột pháp luật về

quyền sở hữu

Hiện nay, pháp luật của đa số các quốc gia trên thế giới đều thống nhất

áp dụng một nguyên tắc chung nhằm giải quyết xung đột pháp luật về quyền

sở hữu đó là: áp dụng pháp luật của nơi có tài sản (Lex rei sitae hoặc Lex situsobiectus – Luật nơi có tài sản, luật nơi có đối tượng của quyền sở hữu) Phầnlớn pháp luật của các nước châu Âu lục địa (Bỉ, Hà Lan, Italia, Liên bangĐức, Thụy Sỹ, Pháp, Hunggari, Ba Lan, Liên Bang Nga, Hy Lạp ) và phápluật Anh – Mỹ cũng như pháp luật của Australia, Nhật Bản, Việt Nam đều

áp dụng nguyên tắc này

Hệ thuộc Luật nơi có tài sản được sử dụng trong việc giải quyết xung

đột pháp luật liên quan đến các vấn đề: Xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền sởhữu; Xác định nội dung quyền sở hữu; Định danh tài sản; Việc bảo hộ quyền26

lợi của người thủ đắc trung thực (ngay tình); Việc xác định thời điểm chuyểnquyền sở hữu và chuyển dịch rủi ro đối với tài sản

Tuy nhiên, có một số ít hệ thống pháp luật (Áo, Tây Ban Nha,

Trang 34

Achentiana, Braxin và Ai Cập) giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữutài sản bằng cách chia tài sản thành hai loại là: Động sản và bất động sản Đốivới bất động sản thì áp dụng hệ thuộc Lex Rei Sitae còn đối với động sản thì

áp dụng luật nhân thân của người có tài sản.Trong đó, luật nhân thân có thể làluật quốc tịch hoặc luật nơi cư trú

Ngoài ra, hệ thuộc pháp luật của nơi có tài sản không được áp dụng để

điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong một số lĩnh vực như:

- Các quan hệ sở hữu đối với các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ:

Luật được áp dụng là luật ở quốc gia nơi các đối tượng được bảo hộ vì

quyền sở hữu trí tuệ mang tính lãnh thổ

- Các quan hệ về tài sản của pháp nhận nước ngoài khi pháp nhân đó bịgiải thể:

Luật được áp dụng là luật của quốc gia mà pháp nhân mang quốc tịch

- Các quan hệ về tài sản liên quan đến các tài sản của quốc gia đang ở

nước ngoài:

Tài sản của quốc gia được hưởng quyền miễn trừ cho nên về nguyên

tắc, tranh chấp liên quan đến quyền sở hữu của quốc gia được giải quyết bằngcon đường ngoại giao

- Các quan hệ tài sản liên quan đến đối tượng của các đạo luật về quốc

hữu hóa:

Để giải quyết xung đột pháp luật phát sinh trong lĩnh vực quốc hữu

hóa, các nước đã ký kết các hiệp định song phương về cùng công nhận hiệulực của các đạo luật quốc hữu hóa của nhau

- Các quan hệ sở hữu và quan hệ tài sản trong lĩnh vực hàng không dândụng và hàng hải quốc tế:

Chủ yếu áp dụng các hệ thuộc luật quốc kỳ hoặc hệ thuộc luật nơi đăng

Trang 35

ký hoặc hệ thuộc luật nơi ký hợp đồng.

27

1.5.2 Giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước

ngoài theo pháp luật Việt Nam

1.5.2.1 Theo các Điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia

Hiện nay, vấn đề liên quan đến quan hệ sở hữu có yếu tố nước ngoài

được quy định chủ yếu và tập trung nhất trong các Hiệp định tương trợ tưpháp mà Việt Nam đã ký kết với các nước Ngoài ra, vấn đề này cũng được đềcập đến ở một chừng mực nhất định trong các thỏa thuận song phương hoặc

đa phương khác như các Hiệp định thương mại, Hiệp định hợp tác đầu tư,Hiệp định về hàng hải

Nguyên tắc chủ đạo được áp dụng để giải quyết hiện tượng xung đột

pháp luật liên quan đến quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài là nguyên tắc Luậtnơi có tài sản Ví dụ: Trong các Hiệp định tương trợ Tư pháp giữa Việt Namvới Cộng hòa dân chủ Đức (cũ), với Liên xô (cũ) (Khoản 3 Điều 35), TiệpKhắc (cũ) (Khoản 3 Điều 35), với Cu ba (Điều 34), với Hunggari (khoản 3Điều 43), với Bunggari (khoản 3 Điều 33),

Ngoài ra, các nguyên tắc khác vẫn được áp dụng trong những trường

hợp cụ thể như hệ thuộc luật nhân thân, hệ thuộc luật tòa án

1.5.2.2 Theo pháp luật Việt Nam

Việc giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước

ngoài theo pháp luật Việt Nam được đề cập trong Bộ luật dân sự và các vănbản hướng dẫn Cụ thể như sau:

- Tại Phần VII Bộ luật dân sự 2005 và Nghị định số 138/2006 của

Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành các quy định của BLDS 2005:Theo quy định tại Điều 766 – BLDS 2005 và Điều 11 – Nghị định số

Trang 36

138/2006 của Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành các quy địnhcủa BLDS 2005:

+ Việc xác định nội dung quyền sở hữu, xác lập, thay đổi, chấm dứt

quyền sở hữu sẽ được thực hiện theo pháp luật của nước nơi có tài sản (Điều766.1 BLDS 2005 và Điều 11.1 NĐ 38/2006);

+ Việc định danh tài sản cũng được xác định theo pháp luật của nước

nơi có tài sản (Điều 776.3 BLDS 2005);

+ Quyền sở hữu đối với máy bay dân dụng và tàu biển tại Việt Nam

phải tuân theo pháp luật Việt Nam (Điều 766.3 BLDS)

- Tại Phần V Bộ luật dân sự 2015:

+ Việc xác lập, thực hiện, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu và quyền

khác đối với tài sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản(Khoản 1 Điều 678);

Trừ trường hợp: tài sản là động sản trên đường vận chuyển Quyền sởhữu và quyền khác đối với tài sản là động sản trên đường vận chuyển đượcxác định theo pháp luật của nước do các bên thỏa thuận hoặc theo pháp luậtcủa nước nơi động sản được chuyển đến

+ Về định danh tài sản: Việc phân loại tài sản là động sản, bất động sảnđược xác định theo pháp luật của nước nơi có tài sản (Điều 677)

+ Quyền sở hữu trí tuệ: Quyền sở hữu trí tuệ được xác định theo phápluật của nước nơi đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được yêu cầu bảo hộ (Điều

Trang 37

Như vậy, về cơ bản, BLDS 2015 có sự tương đồng với BLDS 2005 về

pháp luật áp dụng đối với quan hệ tài sản Đồng thời có sự bổ sung quy định

về pháp luật áp dụng đối với quan hệ sở hữu trí tuệ

Tiểu kết

Chương 1 là tiền đề để luận văn triển khai các vấn đề cụ thể liên quan

đến đề tài trong các chương sau Trong Chương 1, Luận văn đã trình bàynhững nội dung lý luận cơ bản nhất về quyền sở hữu của người nước ngoàibao gồm 5 nội dung đó là: khái niệm người nước ngoài; nội dung quy chếpháp lý của người nước ngoài trong lĩnh vực sở hữu tài sản; đặc điểm và vaitrò của việc điều chỉnh pháp lý đối với quyền sở hữu của người nước ngoài;quá trình hình thành và phát triển hệ thống các quy định pháp luật về quyền29

sở hữu tài sản của người nước ngoài ở Việt Nam; giải quyết xung đột phápluật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài Theo đó, khái niệm người nướcngoài được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau Trong luận văn này, người nướcngoài được hiểu là người không mang quốc tịch của quốc gia sở tại, bao gồmngười có quốc tịch nước khác và người không có quốc tịch Đồng thời, trongphạm vi luận văn, người viết chỉ nghiên cứu ở phạm vi người nước ngoài baogồm cá nhân nước ngoài và pháp nhân nước ngoài hoạt động đầu tư, kinhdoanh ở Việt Nam

Nội dung quy chế pháp lý của người nước ngoài trong lĩnh vực sở hữu

tài sản bao gồm 2 nội dung cơ bản đó là: quyền năng chủ thể của người nướcngoài và các biện pháp pháp lý đảm bảo quyền sở hữu của người nước ngoài.Việc điều chỉnh pháp lý đối với quyền sở hữu của người nước ngoài cómột đặc điểm nổi bật nhất là cùng một lúc người nước ngoài phải tuân theo

Trang 38

hai hệ thống pháp luật đó là pháp luật quốc gia nơi người nước ngoài mangquốc tịch và pháp luật quốc gia sở tại Đồng thời, quy chế pháp lý có vai tròquan trọng, không chỉ có vai trò pháp lý mà còn có vai trò thực tiễn sâu sắc.Những vai trò đó ngày càng được khẳng định trong bối cảnh toàn cầu hóa.Bên cạnh đó, Chương 1 cũng nêu một cách khái quát quá trình hình

thành và phát triển của các quy định liên quan đến quyền sở hữu đối với độngsản và bất động sản của người nước ngoài trong hệ thống pháp luật Việt Nam;tập trung ở một số giai đoạn cụ thể Đây sẽ là cơ sở pháp lý để luận vănnghiên cứu những vấn đề cụ thể liên quan đến đề tài trong các Chương tiếptheo

Đồng thời, luận văn cũng nêu một cách khái quát về vấn đề giải quyết

xung đột pháp luật về quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài Theo đó, hệ thuộcluật được áp dụng chủ yếu là luật nơi có tài sản

30

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ

QUYỀN SỞ HỮU CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI Ở VIỆT NAM

2.1 Thực trạng các quy định hiện hành trong văn bản pháp luật

quốc gia về quyền sở hữu của người nước ngoài ở Việt Nam

Hiện nay, pháp luật Việt Nam không đưa ra một định nghĩa cụ thể về

động sản Tại Khoản 1 Điều 174 BLDS 2005 (và cả BLDS 2015), các nhàlàm luật liệt kê các loại tài sản là bất động sản Theo tinh thần của Điều luật,bất động sản không chỉ là đất đai, của cải trong lòng đất mà còn là tất cảnhững gì được tạo ra do sức lao động của con người trên mảnh đất, nhưng gắnliền với đất đai như các công trình xây dựng, cây lâu năm

Cũng tại Khoản 2 Điều luật này, BLDS 2005 (và cả BLDS 2015),

Trang 39

khẳng định: “Động sản là những tài sản không phải là bất động sản” Dựa trên

cơ sở lý luận về phân loại tài sản cũng như cách hiểu về động sản trên thực tế,

có thể thấy động sản phân biệt với bất động sản ở một đặc điểm cơ bản đó là

“động sản là tài sản có thể di dời được”

Theo quy định của pháp luật, người nước ngoài có quyền sở hữu cả

động sản và bất động sản Cụ thể như sau:

2.1.1 Quy định về quyền sở hữu động sản

Trước Hiến pháp 2013, pháp luật Việt Nam không có quy định cụ thể

về các loại động sản mà người nước ngoài có thể được sở hữu Pháp luật chỉ

có những quy định chung chung, mang tính chất định hướng Đó là quy địnhngười nước ngoài có năng lực pháp luật dân sự tại Việt Nam như công dânViệt Nam Điều này có nghĩa là người nước ngoài được hưởng chế độ đãi ngộnhư công dân trong lĩnh vực sở hữu động sản Do đó, công dân Việt Namđược hưởng các quyền sở hữu cá nhân về thu nhập hợp pháp, về tư liệu sinhhoạt và những công cụ sản xuất nhất định theo pháp luật Việt Nam thì người31

nước ngoài cũng sẽ được hưởng các quyền sở hữu cá nhân đối với những loạitài sản đó

Đến năm 2013, Hiến pháp 2013 được thông qua và có hiệu lực thi

hành So với những bản Hiến pháp trước đây, Hiến pháp 2013 có nhiều điểmmới, khác biệt lớn, phù hợp với điều kiện hội nhập Hiến pháp 2013 đã lầnđầu tiên tiếp cận quyền của người nước ngoài với tư cách là quyền của conngười và đẩy chương “quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân” lênChương thứ 2, sau Chương “Chế độ chính trị” Điều này, cho thấy chúng tarất coi trọng quyền con người, quyền công dân” Một trong các quyền đượcpháp luật bảo hộ và coi trọng là quyền trong lĩnh vực kinh tế Điều 33 Hiến

Trang 40

pháp 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong nhữngngành nghề mà pháp luật không cấm.” Khái niệm mọi người được Hiến pháp

2013 tiếp cận ở nghĩa rộng, mọi người ở đây bao gồm cả người nước ngoài.Nghĩa là người nước ngoài có quyền tự do kinh doanh trong những ngànhnghề mà pháp luật không cấm Khi người nước ngoài có quyền tự do kinhdoanh thì đồng thời họ cũng sẽ có quyền sở hữu thu nhập hợp pháp và nhữnglợi ích hợp pháp khác do quá trình kinh doanh đem lại Vì vậy, tại Điều 32Hiến pháp 2013 khẳng định: “1 Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợppháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góptrong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác.2 Quyền sở hữu tưnhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ.3 Trường hợp thật cần thiết vì

lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp,phòng, chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thườngtài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường” Điều 48 Hiến pháp 2013cũng khẳng định một cách rõ ràng, cụ thể:“Người nước ngoài cư trú ở ViệtNam phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật Việt Nam; được bảo hộ tínhmạng, tài sản và các quyền, lợi ích chính đáng theo pháp luật Việt Nam”.Chiểu theo các quy định trên của Hiến pháp, có thể thấy người nước ngoàiđược quyền sở hữu các loại động sản như công dân Việt Nam, bao gồm các32

loại động sản đó là: thu nhập hợp pháp, của cải để dành, tư liệu sinh hoạt, tưliệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc các tổ chức khác.Trên cơ sở các quy định mang tính định hướng của Hiến pháp, Bộ luậtdân sự, Luật đầu tư đã có những quy định cụ thể về quyền sở hữu động sảncủa người nước ngoài

Tại Bộ luật dân sự 2005, khi quy định về năng lực pháp luật dân sự

Ngày đăng: 11/08/2017, 21:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w