Nguyên tắc giải quyết cáctranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình được ghi nhận trong Tuyên bố về các nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh mối quan hệ hữu nghị và hợptác giữa các q
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ ANH THƠ
PH¸P LUËT QUèC TÕ VÒ GI¶I QUYÕT TRANH CHÊP BI£N GIíI L·NH THæ Vµ
THùC TIÔN ¸P DôNG CñA VIÖT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Yến
HÀ NỘI – NĂM 2017 LỜI CAM ĐOAN
Trang 2Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Đây là côngtrình nghiên cứu khoa học hoàn toàn của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của
GS.TS Nguyễn Bá Diến Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đãđược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồngốc rõ ràng và được phép công bố
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN HỌC VIÊN THỰC HIỆN
Trang 3DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ICJ Tòa án công lý quốc tế
PCA Tòa trọng tài thường trực La haye
UNCLOS Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan
Danh mục từ viết tắt
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 2
3 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Mục tiêu nghiên cứu 4
5 Các câu hỏi nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 5
8 Cơ cấu của luận văn 6
Chương 1
TỔNG QUAN PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIÊN GIỚI, LÃNH THỔ 7
1.1 Khái quát tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ 7
1.1.1 Định nghĩa tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ 7
1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ 8
1.1.3 Phân loại tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ 8
1.2 Khái quát giải quyết tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ 9
1.2.1 Định nghĩa giải quyết tranh chấp về biên giới, lãnh thổ 9
1.2.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ 9
1.2.3 Ý nghĩa của giải quyết tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ 10
1.3 Cơ sở pháp lý về giải quyết tranh chấp về biên giới, lãnh thổ 11
Trang 51.3.1 Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế 11
1.3.2 Các nguyên tắc đặc thù trong giải quyết tranh chấp quốc tế 12
1.3.3 Điều ước quốc tế 12
1.3.4 Tập quán quốc tế 14
1.3.5 Phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế 14
1.3.6 Nghị quyết của các tổ chức quốc tế 14
1.3.7 Học thuyết pháp lý của các chuyên gia có chuyên môn cao nhất về luật quốc tế 151.3.8 Pháp luật quốc gia 15
1.4 Vai trò của luật quốc tế trong giải quyết tranh chấp về biên giới, lãnh thổ 16
Kết luận chương 1 16
Chương 2
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ HÒA BÌNH GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP QUỐC TẾ VỀ BIÊN GIỚI, LÃNH THỔ 17
2.1 Các quy định chung của pháp luật quốc tế về hòa bình giải quyết
tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ 17
2.1.1 Công ước La – Hay năm 1899 và năm 1907 17
2.1.2 Hiệp ước Hòa bình Paris năm 1928 (Hiệp ước Briand – Kellogg) 17
2.1.3 Định ước Hội Quốc liên năm 1928 18
2.1.4 Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố của Đại Hội đồng Liên hợp
quốc khóa XXV về các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, trong đó có
nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế 19
2.1.4.1 Nguyên tắc cấm sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ
quốc tế 20
2.1.4.2 Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế 21
Trang 62.1.4.3 Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia 25
2.1.4.4 Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau 25
2.1.4.5 Nguyên tắc tận tâm thiện chí thực hiện cam kết quốc tế (pacta sunt
servanda) 27
2.1.5 Tuyên bố Manila năm 1982 về Hòa bình giải quyết các tranh chấp
quốc tế 28
2.1.6 Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 28
2.1.7 Các nguyên tắc đặc thù trong hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế
về biên giới, lãnh thổ 32
2.1.7.1 Nguyên tắc chiếm hữu thật sự 32
2.1.7.2 Nguyên tắc Uti possidetis 34
2.1.7.3 Nguyên tắc thỏa thuận 36
2.1.7.4 Nguyên tắc đất thống trị biển 36
2.1.7.5 Nguyên tắc công bằng 38
2.2 Hệ thống các phương thức hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế về
biên giới, lãnh thổ 39
2.2.1 Khái niệm phương thức hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế 39
2.2.2 Phân loại các phương thức hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế 40
2.2.3 Các phương thức hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ 422.2.2.1 Phương thức đàm phán 42
2.2.2.2 Phương thức trung gian hòa giải 45
2.2.2.3 Phương thức thành lập ủy ban điều tra và ủy ban hòa giải quốc tế 46
2.2.2.4 Giải quyết tranh chấp thông qua các tổ chức quốc tế 47
Trang 72.2.2.5 Phương thức Tòa án quốc tế 51
2.2.2.6 Phương thức Trọng tài quốc tế 56
Kết luận chương 2 60
Chương 3
THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUỐC TẾ 61 VỀ BIÊN GIỚI, LÃNH THỔ TRÊN THẾ GIỚI, CỦA VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT 61
3.1 Thực trạng giải quyết tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ trên thế giới 61
3.1.1 Tranh chấp vùng Đông Greenland giữa Na Uy và Đan Mạch giai đoạn 1931 – 1933 61
3.1.2 Tranh chấp chủ quyền nhóm đảo Minquies và Ecrehos giữa Anh và Pháp giai đoạn
3.2.3 Với Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa 74
3.3 Các giải pháp đề xuất giải quyết tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ hiện nay 793.3.1 Hoàn thiện các quy định của Hiến chương Liên hợp quốc 1945 79
3.3.2 Hoàn thiện về Điều 297 và Phụ lục VI, VII, VIII của Công ước của Liên hợp quốc vềLuật biển năm 1982 82
3.3.3 Tăng cường vai trò của các tổ chức quốc tế 84
3.3.3.1 Tằng cường vai trò của Liên hợp quốc 84
3.3.3.2 Tăng cường vai trò của ASEAN 85
3.3.4 Hoàn thiện quy chế pháp lý đối với Tòa án Quốc tế 86
3.2.5 Một số kiến nghị trong giải quyết tranh chấp trên biển Đông đối với Việt Nam 86
Trang 8Kết luận chương 3 88
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
LỜI MỞ ĐẦU
Trang 91 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Biên giới lãnh thổ ngày càng khẳng định vị trí quan trọng thiết yếu trongcuộc sống của con người Do tầm quan trọng của biên giới lãnh thổ mà từ lâunhững cuộc tranh chấp trên đất liền và trên biển luôn diễn ra gay gắt Cùngvới sự thay đổi nhận thức của con người về tầm quan trọng về biên giới lãnhthổ, các quy phạm pháp lý điều chỉnh các hoạt động trên đất liền và trên biển,việc giải quyết tranh chấp về biên giới lãnh thổ cũng hình thành và đang pháttriển mạnh mẽ như một sự tất yếu Việt Nam là quốc gia có đường biên giớitrãi dài ca trên bộ lẫn trên biển, nằm cạnh biển Đông, một vùng biển có vị tríđịa lý quan trọng, mang tầm chiến lược trong phát triển kinh tế, an ninh quốcphòng Bởi vậy, việc áp dụng các nguyên tắc cơ bản của luât quốc tế để giảiquyết tranh chấp, đặc biệt là áp dụng nguyên tắc hòa bình giải quyết tranhchấp quốc tế và các phương thức hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế
về biên giới lãnh thổ trở nên có ý nghĩa trong việc duy trì hòa bình, củng cố
cơ sở pháp lý, cung cấp khuôn khổ pháp lý để giải quyết một cách hòa bìnhkhi có tranh chấp về biên giới lãnh thổ phát sinh giữa các quốc gia
Pháp luật quốc tế về hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế là một hệ
thống các quy phạm, nguyên tắc cơ bản, nguyên tắc đặc thù điều chỉnh cácquan hệ phát sinh tranh chấp giữa các quốc gia Nguyên tắc giải quyết cáctranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình được ghi nhận trong Tuyên bố
về các nguyên tắc của luật quốc tế điều chỉnh mối quan hệ hữu nghị và hợptác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc được Đại Hộiđồng thông qua theo Nghị quyết số 2625 năm 1970 Các nước thành viên LiênHợp quốc đều tuân theo nguyên tắc cơ bản để giải quyết các bất đồng xung
Trang 10đột hay tranh chấp có tính chất quốc tế.
Ngày nay, trước xu hướng quốc tế hóa, hợp tác hóa giữa các quốc gia,
tiềm ẩn nhiều nguy cơ nảy sinh mâu thuẫn dẫn đến tranh chấp quốc tế giatăng Để đảm bảo được lợi ích của các bên tranh chấp nói riêng mà không làmphương hại đến hòa bình, an ninh quốc tế nói chung, thì việc áp dung các quyđịnh pháp luật quốc tế về hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế cần được đưavào sử dụng một cách hiệu quả nhất Nghiên cứu việc áp dụng pháp luật quốc
tế về hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế để giải quyết các tranh chấp biêngiới lãnh thổ đang rất căng thẳng và cấp thiết đối với trên thế giới và của ViệtNam với các nước láng giềng; đặc biệt là trong vài năm gần đây khi cả ViệtNam và Philippin đều bị những hành động đơn phương của Trung Quốc đedọa sâu đến chủ quyền biển đảo quốc gia
Mặc dù vậy, xét tính chất phực tạp và rộng lớn của vấn đề cần có thêm
những nghiên cứu dưới nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau và cái nhìn đầy đủ
về lý luận cũng như thực trạng áp dụng giải quyết tranh chấp về biên giới,lãnh thổ trong luật quốc tế nói chung và của Việt Nam nói riêng Đây chính là
lý do tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài “Pháp luật quốc tế về giải quyết
tranh chấp biên giới lãnh thổ và thực tiễn áp dụng của Việt Nam” Từ đó,
tác giả mong muốn cung cấp kiến thức tổng thể và hiểu biết có hệ thống vềnhững quy định và thực tiễn áp dụng giải quyết tranh chấp biên giới lãnh thổtrên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng
2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Việt Nam đã trở thành thành viên của Liên Hợp quốc, chính thức tham
Trang 11gia Công ước Luật biển 1982 Cho đến nay, đã có một số bài viết, công trìnhnghiên cứu liên quan đến các quy định của pháp luật quốc tế về hòa bình giảiquyết tranh chấp quốc tế nói chung và cũng như việc áp dụng các nguyên tắc
cơ bản, các nguyên tắc đặc thù và các phương thức hòa bình giải quyết tranhchấp vào thực tiễn giải quyết các tranh chấp quốc tế nói chung, các tranh chấp
về biên giới lãnh thổ nói riêng
Với những mong muốn tìm hiểu cụ thể về các quy định của pháp luật
quốc tế về giải quyết tranh chấp biên giới, lãnh thổ, thực trạng áp dụng của
Việt Nam, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã tìm hiểu, tiếp cận đượcnhiều công trình, bài viết khoa học do các nhà luật học, chuyên gia trên thếgiới và Việt Nam đã nghiên cứu và công bố
Trên phạm vi quốc tế, các tài liệu liên quan đến pháp luật quốc tế về giải
quyết tranh chấp biên giới, lãnh thổ gồm có: “Office of Legal Affairs,
Condification Division, Handbook on the peaceful settlement of disputes
between states, United Nation, New york 1992”; Shaw (1996), The Principle
of Uti Possidetis Juris, BYIL; Roach & Smith (2000), Sraight baselines, Theneed for a Universally Applied Norm, Ocean Development & InternationalLaw
Đối với ở trong nước, pháp luật quốc tế về giải quyết tranh chấp biên
giới, lãnh thổ là đề tài cấp thiết và phổ biến nhưng số lượng vẫn chỉ đề cập tớimột phần, một vài quan điểm, ở một góc độ tiếp cận vấn đề về các quy địnhcủa pháp luật quốc tế về giải quyết tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ
và thực trang giải quyết tranh chấp về biên giới, lãnh thổ của Việt Nam Cụthể như: luận văn thạc sĩ của Uông Minh Vương (2010) “ Nguyên tắc giải
Trang 12quyết tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ quốc gia trên biển trong luật quốc tếhiện đại – liên hệ với chủ quyền trên biển của Việt Nam ”; luận văn thạc sĩcủa Vũ Thị Minh Thúy (2014) “Áp dụng Điều 33 trong Hiến chương Liênhợp quốc nhằm giải quyết hòa bình tranh chấp quốc tế”; luận văn thạc sĩ củaNgô Hải Hoàn (2014) “Áp dụng nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấpquốc tế và vấn đề tranh chấp ở Biển Đông”; Nguyễn Bá Diến, Nguyễn HùngCường (2009), “Cơ chế giải quyết tranh chấp trên biển theo Công ước Luậtbiển 1982”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học (25), Hà Nội; luận văntiến sĩ của Keo Pheak Kdey (2002) “Phương pháp hòa bình trong việc giảiquyết tranh chấp quốc tế”; Vũ Mai Liên (2005), “Vai trò của Tòa án quốc tếtrong giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế”, Tạp chí luật học (10);Nguyễn Bá Diến, sách chuyên khảo, Nxb Thông tin và Truyền thông, Hà Nội,
2013 “Kinh nghiệm quốc tế về cơ chế giải quyết tranh chấp chủ quyền biển 12đảo” Các tác giả trên đã đưa ra các hướng nghiên cứu và góc nhìn khác nhau
về hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế nhưng chưa đưa ra cụ thể các quyđịnh trong pháp luật quốc tế đối với lĩnh vực giải quyết tranh chấp biên giớilãnh thổ và thực tiễn áp dụng của giải quyết tranh chấp biên giới lãnh thổ đốivới Việt Nam
Do vậy, “Pháp luật quốc tế về giải quyết tranh chấp biên giới lãnh
thổ và thực tiễn áp dụng của Việt Nam” là vấn đề vẫn còn chưa giải quyếtmột cách toàn diện đặc biệt dưới góc độ tổng quan quy định pháp luật quốc tế
và thực trạng áp dụng, trong đó có nhiệm vụ tìm ra giải pháp hòa bình giảiquyết tranh chấp biên giới lãnh thổ của Việt Nam với các nước láng giềng
Trang 133 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi, khuôn khổ một luận văn Thạc sĩ, tác giả xin đề cập đến
các quy định của pháp luật quốc tế điều chỉnh các quan hệ quốc tế về hòa bìnhgiải quyết các tranh chấp quốc tế Từ đó, đi sâu vào phân tích về các quy định
cụ thể của pháp luật quốc tế về biên giới, lãnh thổ Bên cạnh đó, luận văncũng nghiên cứu việc áp dụng phương thức hòa bình giải quyết các tranh chấpquốc tế về biên giới, lãnh thổ trên thế giới và của Việt Nam Phần liên hệ thựctrạng giải quyết tranh chấp biên giới, lãnh thổ của Việt Nam và lập trường, tưtưởng kiên định hòa bình giải quyết tranh chấp biên giới, lãnh thổ của ViệtNam nhằm khẳng định chủ quyền và triển vọng giải quyết tranh chấp chủquyền biển đảo của Việt Nam Đây chính là ý nghĩa liên hệ sâu xa mà luậnvăn hướng đến
4 Mục tiêu nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài luận văn, học viên hướng tới mong muốn làm sáng
tỏ những cơ sở lý luận về hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế về biêngiới, lãnh thổ nói chung và áp dụng phương thức hòa bình giải quyết các tranhchấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ Qua đó, nhận xét, phân tích, hướng đếnviệc áp dụng trên thực tiễn các quy định của pháp luật quốc tế và các phươngthức hòa bình giải quyết các tranh chấp với Việt Nam trong vấn đề giải quyếttranh chấp biên giới lãnh thổ hiện nay cũng như đưa ra một số giải pháp tăngcường sự đảm bảo quốc tế
5 Các câu hỏi nghiên cứu
1 Pháp luật quốc tế về hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế về biêngiới, lãnh thổ được quy định như thế nào?
Trang 142 Các phương thức hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế về biên
giới, lãnh thổ được quy định cụ thể như thế nào?
3 Xu hướng áp dụng các quy định của pháp luật quốc tế và các phương
thức hòa bình giải quyết tranh chấp về biên giới, lãnh thổ trên thế giới?
4 Thực trạng áp dụng các nguyên tắc, các phương thức hòa bình giải
quyết các tranh chấp về biên giới, lãnh thổ của Việt Nam với các nước lánggiềng như thế nào?
6 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ vấn đề trên, Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Thu thập tài liệu để rà soát, phân tích, tham khảo thông tin
- Tổng hợp, kế thừa các nghiên cứu trước đây liên quan đến đề tài nghiêncứu của tác giả
- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng kết hợp với
phương pháp thống kê, phân tích, so sánh và đối chiếu tổng hợp để làm sáng
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Từ những sự kiện và xu hướng quốc tế trong vấn đề tranh chấp và giải
quyết tranh chấp biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia, với mong muốn làm rõhơn về hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế của luật quốc tế và việc áp dụng
Trang 15nguyên tắc và thực thi pháp luật về giải quyết các tranh chấp biên giới lãnh
thổ, luận văn tập trung nghiên cứu đề tài với những giá trị thực tiễn sau:
- Khái quát chung về các quy định pháp luật quốc tế hòa bình giải quyết
tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ;
- Hệ thống hóa các loại nguồn, các phương thức hòa bình giải quyết
tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ;
- Áp dụng nguyên tắc cơ bản, nguyên tắc đặc thù và các phương thức
hòa bình đối với các tranh chấp trên đất liền và trên bộ trên thế giới, của Việt Nam
- Đề xuất các giải pháp tăng cường sự đảm bảo quốc tế về giải quyết
tranh chấp quốc tế nhằm hoàn thiện pháp luật quốc tế về giải quyết tranh chấpbiên giới lãnh thổ trên thế giới và của Việt Nam
8 Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết thúc, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham
khảo, Luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1 Tổng quan pháp luật quốc tế về giải quyết tranh chấp biên
giới, lãnh thổ
Chương 2 Các quy định của pháp luật quốc tế về hòa bình giải quyết
tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ
Chương 3 Thực trạng giải quyết tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh
thổ trên thế giới, của Việt Nam và giải pháp đề xuất
Chương 1
Trang 16TỔNG QUAN PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP BIÊN GIỚI, LÃNH THỔ
1.1 Khái quát tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ
1.1.1 Định nghĩa tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ
Trong thực tiễn quan hệ quốc tế giữa các chủ thể luật quốc tế, sự bất
đồng và xung đột về quyền và lợi ích luôn nảy sinh trong các lĩnh vực đờisống quan hệ quốc tế Sự bất đồng, xung đột bắt nguồn từ việc giải thích vàthực hiện pháp luật quốc tế hoặc các nghĩa vụ pháp lý quốc tế mà các chủ thể
đã cam kết phù hợp với pháp luật quốc tế Bên cạnh đó, bất đồng, xung đột cóthể bắt nguồn từ việc bảy tỏ quan điểm ủng hộ hoặc phản đối của chủ thể luậtquốc tế với một sự kiện pháp lý quốc tế trong thực tiễn Ngoài ra, bất đồng,xung đột cũng có thể bắt nguồn từ việc các quốc gia thực hiện các quyền vềlập pháp, hành pháp và tư pháp nhưng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đếnquyền và lợi ích của các chủ thể khác của luật quốc tế
Tòa pháp viện thường trực quốc tế của Hội quốc liên cho rằng: “tranh
chấp là sự không thỏa thuận được với nhau trong vấn đề luật pháp và sự kiện,
là sự đối lập nhau về quan điểm pháp lý và quyền lợi giữa hai chủ thể vớinhau” Đến Phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế năm 1924 về vụ kiệnMavrommatis case đã giải thích về khái niệm của tranh chấp (dispute) là “Sựbất đồng về mặt pháp lý hay về thực tế, còn gọi là sự xung đột về quan điểmpháp lý hay là sự mâu thuẫn về lợi ích giữa hai người trở đi” Như vậy, tranhchấp quốc tế là sự mâu thuẫn, xung đột về quyền và nghĩa vụ pháp lý hoặcquan điểm pháp lý trong việc giải thích thực hiện luật quốc tế hoặc về một sựkiện pháp lý giữa các chủ thể luật quốc tế với nhau Nhìn chung, tranh chấp
Trang 17quốc tế là những vấn đề phát sinh giữa các chủ thể của luật quốc tế thể hiệnnhững bất đồng xung đột về những vấn đề cơ bản của quan hệ quốc tế cũngnhư các ý kiến quan điểm khác nhau trong việc giải thích và áp dụng luậtquốc tế
1.1.2 Đặc điểm của tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ
* Chủ thể của tranh chấp quốc tế
Điều 2 và 3 của Hiến chương Liên hợp quốc quy định rằng tất cả thành
viên của Liên hợp quốc có nghĩa vụ phải giải quyết các tranh chấp phát sinhgiữa các thành viên bằng biện pháp hòa bình, tức là các quốc gia thành viênLiên hợp quốc là các bên tranh chấp quốc tế Theo Điều 34, Khoản 1 của Quychế Tòa án Công lý quốc tế quy định rằng: chỉ có các nước mới có thể là cácbên trong một vụ việc đang được tòa án phân giải Trong tranh chấp quốc tế,các bên tranh chấp phải là chủ thể luật quốc tế, chính là các quốc gia độc lập
* Đối tượng của tranh chấp quốc tế
Đối tượng của tranh chấp quốc tế rất đa dạng bao gồm biên giới, lãnh
thổ; các vùng lãnh thổ quốc gia có quyền chủ quyền trên; giải thích, thực hiệnđiều ước quốc tế và tập quán quốc tế
* Nội dung của tranh chấp quốc tế
Nội dung của tranh chấp quốc tế là quyền và nghĩa vụ của các chủ thể
liên quan đến chủ quyền quốc gia đối với lãnh thổ, dân cư, quyền tài phánquốc gia Nội dung của tranh chấp quốc tế có thể là cách giải thích và thựchiện điều ước quốc tế, tập quán quốc tế hoặc quan điểm của các chủ thể luậtquốc tế trong một số sự kiện pháp lý quốc tế nhất định
Trang 18* Khách thể của tranh chấp quốc tế
Khách thể của tranh chấp quốc tế là các quyền và lợi ích mà các bên
tranh chấp muốn đạt được liên quan đến biên giới, lãnh thổ
1.1.3 Phân loại tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ
Các tranh chấp biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia có thể dẫn đến việc
xung đột vũ trang ở vùng biên giới Các tranh chấp về biên giới lãnh thổ gồm
có các trường hợp sau:
- Tranh chấp về đường biên giới trên bộ;
- Tranh chấp về chủ quyền quốc gia đối với các vùng lãnh thổ (đặc biệt
1.2 Khái quát giải quyết tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ
1.2.1 Định nghĩa giải quyết tranh chấp về biên giới, lãnh thổ
Giải quyết tranh chấp quốc tế là nghĩa vụ pháp lý của của tất cả các chủthể luật quốc tế, thông qua các phương thức giải quyết tranh chấp, các chủ thểluật quốc tế thỏa thuận ý chí, quan điểm pháp lý để đạt được sự thống nhất,dung hòa lợi ích hợp pháp giữa các chủ thể với nhau Bao gồm các cơ chế,biện pháp hoặc phương thức được các chủ thể luật quốc tế thỏa thuận sử dụng
để giải quyết các tranh chấp quốc tế nhưng không được sử dụng hoặc đe dọa
sử dụng vũ lực
1.2.2 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ
Trang 19Tranh chấp quốc tế phát sinh giữa các chủ thể luật quốc tế mà chủ yếu làgiữa các quốc gia độc lập có chủ quyền Dựa trên nền tảng là các nguyên tắc
cơ bản của luật quốc tế, mà cụ thể là nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa cácquốc gia và nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế
a) Các bên tranh chấp trực tiếp giải quyết
Phần lớn các tranh chấp quốc tế được giải quyết bằng biện pháp đàm
phán trực tiếp vì đàm phán trực tiếp là biện pháp giải quyết tranh chấp phổbiến nhất
b) Các cơ quan tài phán quốc tế giải quyết
Cơ quan tài phán quốc tế xác lập thẩm quyền tố tụng thông qua sự thừa
nhận của các bên tranh chấp Cơ quan tài phán quốc tế được thừa nhận baogồm Tòa án quốc tế và Trọng tài quốc tế, cụ thể là Tòa án công lý quốc tế,Trọng tài quốc tế thường trực La Haye, hoặc các Trọng tài thường trực củacác tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc Ngoài ra, các bên tranh chấp cóthể thỏa thuận thành lập các Trọng tài Ad-hoc và trao thẩm quyền giải quyếttranh chấp quốc tế
Phần lớn các tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ giữa các quốc gia
chủ yếu được giải quyết bằng đàm phán hoặc các bên tranh chấp chấp thuậngiải quyết tại Tòa án công lý quốc tế
c) Các cơ quan có thẩm quyền giải quyét tranh chấp của các tổ chức
quốc tế liên chính phủ
Khi các bên tranh chấp là thành viên của tổ chức quốc tế liên chính phủ
hoặc quốc gia thứ ba thừa nhận cơ chế giải quyết tranh chấp thì sẽ có quyền
Trang 20yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp của các tổ chứcquốc tế liên chính phủ giải quyết tranh chấp của các bên.
1.2.3 Ý nghĩa của giải quyết tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ
Hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế là nghĩa vụ pháp lý của các
chủ thể luật quốc tế mà chủ yếu là các quốc gia Giải quyết tranh chấp quốc tếđóng vai trò rất quan trọng trọng quan hệ quốc tế, đặc biệt là giải quyết tranhchấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ
Giải quyết tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ hiểu quả sẽ làm
chấm dứt các tranh chấp, xung đột, bất đồng giữa các chủ thể hữu quan Đồngthời, nếu có các biện pháp và cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế có hợp lý
sẽ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan trong tranh chấpquốc tế
Tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ được giải quyết bằng biện
pháp hòa bình sẽ góp phần duy trì và thúc đẩy các chủ thể luật quốc tế nghiêmchỉnh tuân chủ và thực hiện luật quốc tế Từ đó, góp phần bảo vệ hòa bình và
an ninh quốc tế, ngăn ngừa và loại bỏ việc sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng
vũ lực giữa các chủ thể luật quốc tế trong quan hệ quốc tế
1.3 Cơ sở pháp lý về giải quyết tranh chấp về biên giới, lãnh thổ
1.3.1 Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế
Các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế là những tư tưởng chính trị, pháp
lý mang tính chỉ đạo, bao trùm, có giá trị bắt buộc chung đối với mọi chủ thểluật quốc tế, nhằm ổn định quan hệ quốc tế và ấn định khuôn khổ xử sự chocác chủ thể, tạo điều kiện phát triển quan hệ quốc tế1
Về phương diện pháp lý quốc tế, các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế
Trang 21được ghi nhận trong Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc ngày 24/10/1945 vàđược làm rõ trong Tuyên bố “Về các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế điềuchỉnh mối quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiếnchương Liên hợp quốc ngày 24/10/1970” Theo Tuyên bố ngày 24/10/1970,các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế gồm bảy nguyên tắc sau đây:
- Nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia;
- Nguyên tắc không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ
quốc tế;
- Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế;
- Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác;
- Nguyên tắc quyền dân tộc tự quyết;
- Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau;
- Nguyên tắc Pacta sunt servanda – tận tâm thiện chí thực hiện cam kết
quốc tế
Tất cả các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế mang tính bắt buộc chung(jus cogens) đối với mọi chủ thể luật quốc tế, định hướng chung cho vấn đềgiải quyết tranh chấp quốc tế Đối với hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế
về biên giới, lãnh thổ, các nguyên tắc trực tiếp được vận dụng bao gồm:Thứ nhất, nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế được vận
dụng trong vấn đề giải quyết tranh chấp chủ quyền lãnh thổ Các bên tranhchấp giải quyết những bất đồng quan điểm và lợi ích hợp pháp trên cơ sở hòabình thông qua các biện pháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp Ngoài ra,các bên tranh chấp có quyền tự do lựa chọn các biện pháp khác để giải quyết
Trang 22tranh chấp.
Thứ hai, nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia Đó là bình
đẳng trong quyền và nghĩa vụ chứng minh, bảo vệ chủ quyền biên giới, lãnhthổ của mối bên tranh chấp Bình đẳng trong việc lựa chọn phương thức hòabình giải quyết tranh chấp quốc tế Và các bên sẽ bình đẳng trong vị thế giảiquyết tranh chấp quốc tế
Thứ ba, nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trongquan hệ quốc tế Đó là cấm hành vi xâm chiếm biên giới, lãnh thổ của quốcgia khác Các bên tranh chấp không được sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng
vũ lực để chiếm đóng hoặc khẳng định chủ quyền đối với vùng lãnh thổ củaquốc gia khác
Nguyên tắc Pacta sunt servanda - tận tâm thiện chí thực hiện cam kết
quốc tế Các quốc gia phải tuân thủ các điều ước quốc tế về biên giới, lãnh thổ
mà không có ngoại lệ nào Và việc thực thi và giải thích các quy định trongđiều ước quốc tế bằng một cách thiện chí
1.3.2 Các nguyên tắc đặc thù trong giải quyết tranh chấp quốc tế
Nguyên tắc đặc thù là những tư tưởng chính trị - pháp lý cơ bản, mang
tính bao trùm đối với các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực cụ thể, đặc thù củađời sống quốc tế Trong lĩnh vực biên giới, lãnh thổ, các nguyên tắc đặc thùđược hình thành và được thừa nhận rộng rãi thông qua thực tiễn quan hệ quốc
tế và được ghi nhận trong các điều ước quốc tế như nguyên tắc chiếm hữuthực sự, nguyên tắc thỏa thuận, nguyên tắc công bằng, nguyên tắc Uti
Possidetis, nguyên tắc “đất thống trị biển”
1.3.3 Điều ước quốc tế
Trang 23Điều ước quốc tế là một thỏa thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản
giữa các quốc gia và được pháp luật quốc tế điều chỉnh, dù được ghi nhậntrong một văn kiện duy nhất hoặc trong hai hay nhiều văn kiện có quan hệ vớinhau và với bất kể tên gọi riêng của nó là gì 2 Điều ước quốc tế là nguồn cơbản, chủ yếu của luật quốc tế Điều ước quốc tế phải được ký kết trên cơ sở tự
2 Điểm a, khoản 2, Điều 2 Công ước Viên về Luật điều ước quốc tế năm 1969.nguyện và bình đẳng giữa các chủ thể luật quốc tế với nhau Và Điều ướcquốc tế phải phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, phù hợp vớithủ tục, thẩm quyền theo quy định của pháp luật của các bên ký kết
Trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp biên giới, lãnh thổ, điều ước quốc tếkhông chỉ chứa đựng các quy phạm trực tiếp điều chỉnh các vấn đề liên quanđến tranh chấp mà điều ước quốc tế còn có thể là mục đích hướng tới của cácbên tranh chấp, là sự cụ thể hóa quá trình thỏa thuận giải quyết tranh chấp củacác bên.Điều ước quốc tế đa phương có vị trí quan trọng trong giải quyếttranh chấp biên giới lãnh thổ trên thế giới Những điều ước quốc tế đa phươngnổi bật như: Công ước La – Hay năm 1899 và năm 1907,Hiệp ước Hòa bìnhParis năm 1928 (Hiệp ước Briand – Kellogg), Định ước Hội Quốc liên năm
1928, Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945, Tuyên bố năm 1970 về cácnguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, Công ước của Liên hợp quốc về Luật biểnnăm 1982 Cụ thể là Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 và Tuyên bố năm
1970 đã pháp điển hóa và ghi nhận các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế vàtạo khuôn khổ pháp lý chung để các bên tranh chấp tuân thủ Tại Điều 33Hiến chương Liên hợp quốc quy định về các biện pháp hòa bình giải quyết
Trang 24tranh chấp; quyền tự do lựa chọn và thỏa thuận lựa chọn biện pháp giải quyếttranh chấp Bên cạnh đó, Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm
1982 cũng có các quy định về các nguyên tắc đặc thù để xác lập, thực thi vàgiải quyết tranh về biển đảo Đó là nguyên tắc “đất thống trị biển”3, nguyêntắc thỏa thuận và nguyên tắc công bằng4, quy định cách thức , biện pháp vàquy trình, thủ tục giải quyết tranh chấp
Các quốc gia ký kết hoặc thừa nhận các điều ước quốc tế nhằm tuân thủ,thực thi các quy định về giải quyết tranh chấp biên giới, lãnh thổ Đồng thời,các quốc gia trực tiếp thỏa thuận các điều ước quốc tế song phương trong giảiquyết tranh chấp biên giới, lãnh thổ Các điều ước quốc tế song phương thểhiện các nguyên tắc chỉ đạo trong giải quyết tranh chấp trên biển giữa cácquốc gia; thể hiện trình tự, kết quả phân định đường biên giới, lãnh thổ; thểhiện các nguyên tắc áp dụng và phương thức giải quyết tranh chấp giữa haibên ký kết
1.3.4 Tập quán quốc tế
Tập quán quốc tế là những quy tắc xử sự hình thành trong thực tiễn quan
hệ quốc tế, được các quốc gia và các chủ thể khác của luật quốc tế thừa nhậnrộng rãi là những quy phạm có tính chất pháp lý bắt buộc để điều chỉnh quan
hệ quốc tế Theo đó, tập quán quốc tế phải được áp dụng một thời gian dàitrong thực tiễ quan hệ quốc tế Tập quán quốc tế phải được thừa nhận rộng rãinhư những quy phạm có tính chất bắt buộc và phải có nội dung phù hợp vớicác nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế
1.3.5 Phán quyết của các cơ quan tài phán quốc tế
Phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế là văn bản thể hiện lập luận và
Trang 25kết luận của các tòa án hoặc trọng tài quốc tế về vụ việc tranh chấp cụ thể màcác bên tranh chấp thừa nhận thẩm quyền tài phán của cơ quan tài phán quốc
tế Nổi bật hơn cả là Tòa án quốc tế với chức năng là cơ quan xét xử chínhcủa Liên hợp quốc5 Tòa án quốc tế được quyền ra hai loại văn bản có giá trịpháp lý khác nhau đó là bản án, quyết định (phán quyết) của Tòa án và các kếtluận tư vấn Các phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế tạo tiền đề pháp lý
để hình thành nên quy phạm pháp luật mới của luật quốc tế
1.3.6 Nghị quyết của các tổ chức quốc tế
Nghị quyết của các tổ chức quốc tế là văn kiện pháp lý tồn tại dưới dạngvăn bản và thể hiện quan điểm chung của tổ chức quốc tế đó về một vấn đềnhất định liên quan đến thành viên của tổ chức hoặc về vấn đề mang tính nội
bộ chung nhằm hiện thực các mục tiêu, chiến lược tổ chức đề ra Trong hệthống các tổ chức quốc tế, Liên hợp quốc là tổ chức nổi bật và có tầm quantrọng rộng rãi nhất Nghị quyết của các cơ quan Đại hội đồng và Hội đồngBảo an Liên hợp quốc chứa đựng các quy phạm mang tầm quan trọng lớn hơn
cả Các nghị quyết này quy định về việc viện dẫn đến nội dung của nghị quyết
để xây dựng luận cứ, luận chứng chứng minh hoặc bác bỏ một vấn đề nhấtđịnh; sử dụng các phương thức khác nhau theo quy định của pháp luật quốc tế
để đạt được một nghị quyết về giải quyết tranh chấp
1.3.7 Học thuyết pháp lý của các chuyên gia có chuyên môn cao nhất về luậtquốc tế
Các học thuyết của các chuyên gia có chuyên môn cao nhất về luật phápcông khai của nhiều dân tộc khác nhau được coi là phương tiện bổ trợ để xác
Trang 26định các tiêu chuẩn pháp lý Các chuyên gia đưa ra những quan điểm, phântích thể hiện trong các công trình nghiên cứu, tác phẩm và kết luận về nhữngvấn đề lý luận cơ bản của luật quốc tế.
Trong giải quyết tranh chấp biên giới, lãnh thổ, một số học thuyết có giátrị lớn như: học thuyết không thừa nhận, học thuyết Estoppel, học thuyết đấtthống trị biển Các học thuyết này không phải là văn bản pháp lý ràng buộccác quốc gia, không thể hiện ý chí lập pháp của các quốc gia Vì vậy, việc ápdụng hay không áp dụng các học thuyết vào giải quyết tranh chấp quốc tế làquyền lựa chọn của các chủ thể luật quốc tế
1.3.8 Pháp luật quốc gia
Pháp luật quốc gia bao gồm các quy phạm pháp luật do chính Nhà nướcban hành theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền do chính pháp luật quốc gia đóquy định Đó là các quy phạm pháp luật thể hiện các quy tắc xử sự bắt buộcchung, tồn tại dưới hình thức bằng văn bản nhằm điều chỉnh các quan hệ xãhội phát sinh Pháp luật quốc gia thể hiện các ý chí lập pháp, quan điểm chínhtrị - pháp lý của quốc gia đó về một vấn đề nhất định, có thể là các tuyên bôđơn phương về chủ quyền lãnh thổ, biên giới Tuyên bố đơn phương của quốcgia là những hành vi thể hiện ý chí độc lập của chủ thể luật quốc tế thể hiệndưới hình thức là tuyên bố, phát biểu của các lãnh đạo Nhà nước, công hàm Ngoài ra, pháp luật quốc gia còn là căn cứ để thể hiện giá trị pháp lý qua cácthời kỳ lịch sử, chứa đựng bằng chứng và pháp lý để chứng minh hoặc bác bỏmột lập luận về vấn đề có liên quan
1.4 Vai trò của luật quốc tế trong giải quyết tranh chấp về biên giới, lãnh thổLuật quốc tế đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong giải quyết tranh chấp
Trang 27quốc tế Luật quốc tế xác định nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể luật quốc tế.
Từ đó, các bên hữu quan có thể thỏa thuận lựa chọn và áp dụng các cơ chế,biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp đó Luật quốc tế quy định cấm cácchủ thể luật quốc tế sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, can thiệpbằng các biện pháp quân sự, chính trị, kinh tế để giải quyết các tranh chấpquốc tế Luật quốc tế quy định rõ ràng về việc bắt buộc các chủ thể luật quốc
tế phải sử dụng các biện pháp hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế Bêncạnh đó, Luật quốc tế đóng vai trò quan trọng trọng việc thành lập các cơquan tài phán quốc tế như Tòa án công lý quốc tế, Tòa án về Luật biển, Tòatrọng tài về Luật biển, Tòa trọng tài thường trực PCA Đồng thời, Luật quốc
tế cũng có các quy định nhằm đảm bảo thực thi các phán quyết của cơ quantài phán quốc tế Từ đó, luật quốc tế đảm bảo các chủ thể luật quốc tế tuân thủ
và thực thi các biện pháp giải quyết tranh chấp nhằm bảo vệ, duy trì hòa bình
và an ninh quốc tế
Kết luận chương 1
Trong Chương 1, luận văn đã tập trung nghiên cứu: khái quát về tranh
chấp quốc tế và giải quyết tranh chấp quốc tế, cơ sở pháp lý quốc tế chung, ýnghĩa và vai trò của giải quyết tranh chấp quốc tế về biên giới, lãnh thỏ Qua
đó, tác giả cố gắng làm nổi bật vị trí, vai trò của pháp luật quốc tế về giảiquyết tranh chấp biên giới, lãnh thổ trong đời sống pháp lý quốc tế nói chung.Những nội dung nghiên cứu trên của luận văn sẽ tạo tiền đề về cơ sở lý luậncho việc nghiên cứu tiếp Chương 2
Chương 2
Trang 28CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ HÒA BÌNH GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP QUỐC TẾ VỀ BIÊN GIỚI, LÃNH THỔ
2.1 Các quy định chung của pháp luật quốc tế về hòa bình giải quyết tranh
chấp quốc tế về biên giới, lãnh thổ
2.1.1 Công ước La – Hay năm 1899 và năm 1907
Giải quyết tranh chấp quốc tế mới được ghi nhận vào cuối thế kỷ XIX
trong các điều ước quốc tế như Công ước La Haye 1899, Công ước La Haye
về giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế ngày 18-7- 1907 Trong Hội nghịđầu tiên tại La Hay năm 1899 do Sa Hoàng Nga Nicolas II khởi xướng,
phương pháp hòa bình giải quyết tranh chấp quốc tế ra đời từ đó Đây là điểm
mới, sự tiến bộ được ghi nhận của Công ước
Cả hai Công ước La hay năm 1899 và năm 1907 đã quy định sơ lược về
trình tự, thủ tục áp dụng các nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp để giải
quyết bất đồng giữa các quốc gia Qua đó, Công ước đã quy định trình tự, thủ
tục áp dụng các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể luậtquốc tế Tuy nhiên, Công ước lại không quy định việc cấm sử dụng chiến
tranh, dùng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp quốc
tế Vì thế, vào thời kỳ đó, hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế chưa
phải là nghĩa vụ pháp lý bắt buộc của các bên khi giải quyết tranh chấp quốc
tế
2.1.2 Hiệp ước Hòa bình Paris năm 1928 (Hiệp ước Briand – Kellogg)
Đây là văn bản đánh dấu quá trình pháp điển hóa nghĩa vụ áp dụng các
biện pháp hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế Hiệp ước được kí do
sang kiến của Ngoại trưởng Pháp A.Briand và Ngoại trưởng Mỹ F.B.Kellogg
Trang 29thời bấy giờ Ban đầu Hiệp ước chỉ mang tính chất như một Hiệp ước songphương về hữu nghị và từ bỏ chiến tranh giữa Pháp và Mỹ nhưng Mỹ đã đềnghị mở rộng thành Hiệp ước đa quốc gia và được Liên Bang Nga cũng nhưnhiều quốc gia khác ủng hộ và gia nhập Sau khi Pháp và Mỹ kí kết, đã cókhoảng 15 quốc gia ra nhập, khoảng 65 quốc gia khác phê chuẩn và tuân thủtheo Hiệp ước này Nội dung cơ bản của Hiệp ước là các nước thành viên thỏathuận từ bỏ chiến tranh như là một chính sách quốc gia trong việc giải quyếtcác tranh chấp quốc tế.
Các bên tham gia kí kết nhân danh dân tộc mà mình là đại diện, trịnh
trọng tuyên bố lên án việc dùng chiến tranh để giải quyết các tranh chấp quốc
tế và từ bỏ việc sử dụng chiến tranh như là chính sách quốc gia trong quan hệgiữa họ với nhau6
Các bên tham gia kí kết công nhận rằng việc điều chỉnh hay giải quyết
mọi tranh chấp hay xung đột phát sinh giữa họ bất kể tính chất hay nguồn gốcnhư thế nào, sẽ chỉ được giải quyết bằng phương pháp hòa bình7 Có thể nói,Hiệp ước là tiền đề, là cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các tranh chấp củacác quốc gia bằng phương pháp hòa bình; cấm sử dụng vũ lực hay dùng chiếntranh trong việc giải quyết tranh chấp
2.1.3 Định ước Hội Quốc liên năm 1928
Hội Quốc Liên đã thông qua một định ước về giải quyết các tranh chấp
quốc tế bằng phương pháp hòa bình vào năm 1928 gồm 4 chương và 47 điều.Điểm tiến bộ của Định ước là đã xuất hiện thủ tục và cơ cấu giải quyết tranhchấp giản đơn, sơ khai gọi là ban Hòa giải Chương I của Định ước tập trung
Trang 30vào việc hòa giải các tranh chấp nếu các bên thỏa thuận sẽ đưa vụ tranh chấp
đó tới ban Hòa giải Chương II đề cập đến hệ thống cơ quan pháp lý để giảiquyết các vụ tranh chấp và cũng đã nêu rõ hai loại tòa án sẽ được chọn để giảiquyết tranh chấp là tòa trọng tài và tòa thường trực nếu như tranh chấp đókhông giải quyết được ở cấp ban Hòa giải Đối với các vụ tranh chấp thôngthường sẽ đưa lên giải quyết tại ban hòa giải; khi không hòa giải được thì phảiđưa các vụ tranh chấp đó ra tòa trọng tài giải quyết theo chương III của Địnhước này
2.1.4 Hiến chương Liên Hợp quốc và Tuyên bố của Đại Hội đồng Liên hợpquốc khóa XXV về các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, trong đó cónguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế
Sau những khốc liệt và đau thương của Chiến tranh Thế giới thứ Hai đểlại, Hiến chương Liên hợp quốc ra đời là dấu mốc quan trọng đánh dấu sựchấm dứt của việc sử dụng chiến tranh như là một quy phạm pháp lý để giảiquyết các tranh chấp giữa các quốc gia Hiến chương đề cao tôn chỉ duy trìhòa bình trên thế giới
“Duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, và để đạt được mục đích đó: dùngnhững biện pháp tập thể có hiệu quả để phòng ngừa và gạt bỏ mọi mối đe dọahòa bình, trừng trị mọi hành động xâm lược hay phá hoại hòa bình khác vàđiều chỉnh hoặc giải quyết bằng phương pháp hòa bình theo đúng nhữngnguyên tắc của công lý và pháp luật quốc tế, những vụ tranh chấp hoặc nhữngtình thế có tính chấp quốc tế, có thể dẫn đến sự phá hoại hòa bình”8
Các bên đương sự trong mọi cuộc tranh chấp mà sự kéo dài các tranh
chấp đó có thể đe dọa việc duy trì hòa bình an ninh quốc tế, trước hết phải cố
Trang 31gắng tìm cách giải quyết tranh chấp bằng con đường đàm phán, điều tra, trunggian, hòa giải, trọng tài, tòa án, sử dụng những tổ chức hoặc những hiệp địnhkhu vực, hoặc bằng các biện pháp hòa bình khác tùy theo sự lựa chọn củamình Như vậy, những điều khoản trên cho thấy Liên hợp quốc đã đặt việcduy trì hòa bình, an ninh thế giới bằng biện pháp hòa bình lên trên hết Là một
tổ chức mang tính toàn cầu rộng lớn về mọi mặt hiện nay, với tôn chỉ mụcđích vai trò rõ ràng hứa hẹn sẽ đem đến những thành quả lớn đem tới hòabình, văn minh cho nhân loại
Tuyên bố năm 1970 của Đại hội đồng Liên Hợp quốc về nguyên tắc giảiquyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình đã được pháp điểnhóa thành nguyên tắc mang tính mệnh lệnh: các quốc gia có nghĩa vụ giảiquyết các tranh chấp và xung đột giữa họ với nhau chỉ bằng những phươngpháp hòa bình
2.1.4.1 Nguyên tắc cấm sử dụng và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệquốc tế
Trước Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, luật quốc tế có quy định
cụ thể về việc có thể sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp quốc tế khi đã ápdụng các biện pháp hòa bình giải quyết trước đó Điều 12 Hiệp ước Hội quốcliên quy định “các nước thành viên không được sử dụng chiến tranh khi chưa
áp dụng các biện pháp hòa bình” Tức là các quốc gia đã sử dụng các biện
8 Điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945
pháp hòa bình mà không giải quyết được tranh chấp quốc tế thì có quyền sửdụng một biện pháp cuối cùng là chiến tranh
Trang 32Đến ngày 27/8/1928, Cộng hòa Pháp và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã ký
kết Hiệp ước Pari về “khước từ chiến tranh với tư cách là công cụ của chínhsách Nhà nước” Sau đó, Hiệp ước này được cộng đồng quốc tế thừa nhậnrộng rãi và trở thành điều ước quốc tế đa phương mang tính phổ biến
Hiệp ước Pari năm 1928 quy định: “Các bên tham gia ký kết, nhân danhcác dân tộc mà mình đại diện, trịnh trọng tuyên bố lên án việc sử dụng chiếntranh để giải quyết các tranh chấp quốc tế, và từ bỏ việc sử dụng chiến tranhnhư chính sách quốc gia trong quan hệ giữa họ với nhau”9 “Các bên tham gia
ký kết công nhận rằng, việc điều chỉnh hay giải quyết mọi tranh chấp hayxung đột phát sinh giữa họ, bất kể tính chất hay nguồn gốc như thế nào, sẽ chỉđược giải quyết bằng biện pháp hòa bình”10
Thời gian đầu nguyên tắc này thể hiện mong muốn của các dân tộc trongviệc thiết lập một trật tự quốc tế công bằng sau chiến tranh Đến Hiến chươngLiên hợp quốc năm 1945, tại khoản 4 Điều 2 đã ghi nhận hòa bình giải quyếtcác tranh chấp quốc cụ thể như sau:
“Trong quan hệ quốc tế, các hội viên Liên hợp quốc không được quyền
bất khả xâm phạm về lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất cứ một nướcnào, hoặc bằng cách này hay cách khác làm trái với những mục đích của Liênhợp quốc” 11
Tiếp tục tinh thần và nội dung của Hiến chương Liên hợp quốc, nguyên
tắc này được ghi nhận lần nữa với tư cách là một nguyên tắc cơ bản của luậtquốc tế tại Tuyên bố ngày 24/10/1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về cácnguyên tắc cơ bản điều chỉnh các quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các quốc giaphù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945
Trang 339 Điều 1 Hiệp ước Pari năm 1928.
10 Điều 2 Hiệp ước Pari năm 1928
11 http://www.letton.ch/lvbriand.htm
29
Việc thụ đắc lãnh thổ bằng việc đe dọa hoặc sử dụng vũ lực không đượcthừa nhận là hợp pháp Cùng với sự phát triển của các mối quan hệ quan hệquốc tế, việc sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc
tế đã bị coi là bất hợp pháp thì nguyên tắc này được hiểu với nội hàm rộnghơn, đó là việc cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong các quan
hệ phi vũ trang Định ước Henxinki ngày 01/8/1975 cũng quy định rằng cácquốc gia tham gia sẽ “khước từ sử dụng mọi biện pháp mang tính cưỡng bứcđối với quốc gia, thành viên khác, khước từ tiến hành hành vi cưỡng bức vềkinh tế”
2.1.4.2 Nguyên tắc hòa bình giải quyết các tranh chấp quốc tế
Trước chiến tranh thế giới lần thứ hai, luật pháp quốc tế cũng ghi nhận
một số biện pháp hòa bình để giải quyết các tranh chấp song vào thời điểm đónguyên tắc này chưa trở thành một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.Điều này được thể hiện rõ trong khoản 2, Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc;Phần XV Giải quyết các tranh chấp ( Điều 279- Điều 299) Công ước Luậtbiển 1982 của Liên Hợp Quốc, và hầu hết các điều ước quốc tế đa phươngcũng như song phương, điều ước quốc tế khu vực cũng như điều ước mangtính toàn cầu
Nguyên tắc này ra đời sau Cách mạng Tháng Mười Nga nhưng được ghi
Trang 34nhận lần đầu tiên trong Hiến chương Liên hợp quốc:
“Hội viên Liên hợp quốc giải quyết các tranh chấp quốc tế của họ bằng
phương pháp hòa bình, làm thế nào khỏi nguy hại đến hòa bình và an ninh
quốc tế cũng như đến công lý” 12
“1 Trong mỗi vụ tranh chấp, nếu kéo dài có thể đe dọa sự duy trì hòa
bình và an ninh quốc tế, các đương sự phải tìm giải pháp, trước hết bằng conđường đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài, bằng con đường tưpháp, bằng việc sử dụng những cơ quan hoặc những hiệp định khu vực, hoặc
12 Khoản 3 Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc 1945
30
bằng các biện pháp hòa bình khác tùy họ lựa chọn; 2 Hội đồng bảo an, nếuthấy cần thiết yêu cầu các đương sự giải quyết tranh chấp của họ bằng các
biện pháp như vậy” 13
Nội dung của nguyên tắc được khẳng định rõ hơn trong Tuyên bố năm
1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc "mỗi quốc gia giải quyết tranh chấpquốc tế của mình với các quốc gia khác bằng phương pháp hòa bình để khôngdẫn đến đe dọa hòa bình, an ninh quốc tế và công bằng" Và các nguyên tắc
cơ bản của Luật quốc tế là căn cứ pháp lý để giải quyết các tranh chấp quốc
tế, các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế thường được viện dẫn trong hệ
thống các cơ quan của Liên Hợp quốc quốc gia phù hợp với Hiến chương
Liên hợp quốc năm 1970; văn kiện bế mạc của Hội nghị an ninh và hợp tácChâu Âu năm 1975; Định ước Henxiki năm 1975…
Trong hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, nguyên tắc hòa
bình giải quyết các tranh chấp quốc tế có mối quan hệ đặc biệt với nguyên tắc
Trang 35cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực Việc tuyên bố nguyên tắc nàytrong Hiến chương Liên hợp quốc đã chứng tỏ mong muốn của cộng đồngquốc tế là việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực cần phải bị nghiêmcấm và loại bỏ trong quan hệ quốc tế Trong khuôn khổ những nỗ lực củaLiên hợp quốc nhằm duy trì ổn định an ninh quốc tế, nguyên tắc cấm sử dụng
vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực đã được từng bước cụ thể hóa qua các vănkiện quốc tế quan trọng như Tuyên bố về các nguyên tắc của luật quốc tế điềuchỉnh mối quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiếnchương Liên hợp quốc được Đại hội đồng Liên hợp quốc
Theo tinh thần của Tuyên bố ngày 24/10/1970, nguyên tắc hòa bình giảiquyết tranh chấp quốc tế bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:
13 Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc 1945
31
“Nguyên tắc tất cả các quốc gia giải quyết các tranh chấp quốc tế của
mình bằng các biện pháp hoà bình mà không làm phương hại đến hòa bình, anninh và công lý quốc tế
Tất cả các quốc gia sẽ giải quyết các tranh chấp quốc tế với những quốc
gia khác bằng các biện pháp hòa bình mà không làm phương hại đến hòabình, an ninh và công lý quốc tế
Mọi quốc gia do vậy sẽ sớm tìm kiếm và chỉ giải quyết các tranh chấp
quốc tế bằng đàm phán, điều tra, trung gian, hòa giải, trọng tài hoặc tòa án; sửdụng trung gian khu vực, thỏa thuận hoặc những biện pháp hòa bình khác docác bên lựa chọn Trong việc tìm kiếm những biện pháp giải quyết tranh chấp,
Trang 36các bên đồng ý rằng những biện pháp hòa bình sẽ là thích hợp đối với nhữnghoàn cảnh cụ thể và bản chất của tranh chấp.
Trong trường hợp không đạt được một giải pháp để giải quyết tranh chấpbằng bất kỳ biện pháp đã nêu ở trên, các bên trong tranh chấp có nghĩa vụ tiếptục tìm kiếm những biện pháp hòa bình khác để giải quyết tranh chấp mà cácbên thỏa thuận
Các quốc gia trong tranh chấp cũng như các quốc gia khác sẽ từ bỏ bất
kỳ hành vi nào có thể sẽ làm trầm trọng thêm tình hình hiện tại gây nguy hiểmcho việc gìn giữ hòa bình và an ninh thế giới, và sẽ hành động phù hợp vớinhững mục đích và nguyên tắc của Liên hợp quốc
Các tranh chấp quốc tế được giải quyết trên cơ sở nguyên tắc bình đẳng
chủ quyền của các quốc gia và phù hợp với nguyên tắc tự do lựa chọn cáccách thức giải quyết tranh chấp Sự đề nghị, hoặc sự chấp nhận về quá trìnhgiải quyết mà các quốc gia tự nguyện đồng ý đối với các tranh chấp đang tồntại hoặc trong tương lai mà các bên liên quan sẽ không được coi là vi phạmnguyên tắc bình đẳng về chủ quyền
32
Không có điều nào được nói ở trên có ảnh hưởng hoặc phương hại đến
những điều khoản có thể áp dụng của Hiến chương, đặc biệt là những điềukhoản liên quan đến việc giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế” 14
Và sự hình thành và phát triển của nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh
chấp quốc tế gắn liền với sự hình thành và phát triển của nguyên tắc cấm đedọa dùng vũ lực và dùng vũ lực trong quan hệ quốc tế và là hệ quả tất yếu củanguyên tắc này Giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia bằng các biện
Trang 37pháp hòa bình có thể hiểu là giải quyết các tranh chấp thông qua đàm phán
hòa bình trên cơ sở luật pháp và thực tiễn quốc tế, bình đẳng và tôn trọng lẫn
nhau nhằm đi tới một giải pháp công bằng cho tất cả các bên hoặc giải quyết
các tranh chấp thông qua trung gian, hòa giải hoặc bằng các cơ chế tài phán
quốc tế như Tòa án Công lý Quốc tế, Tòa án Quốc tế về Luật Biển và các tòa
trọng tài khác…
Mọi tranh chấp quốc tế phải được tiến hành giải quyết trên cơ sở những
cam kết không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tôn trọng độc lập,
chủ quyền cũng như không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Các quốc
gia có nghĩa vụ giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng phương pháp hòa bình
Các quốc gia có quyền lựa chọn bất kỳ phương thức hòa bình nào để giải
quyết tranh chấp giữa họ với nhau Các quốc gia giải quyết tranh chấp trên cơ
sở bình đẳng về chủ quyền, tôn trọng các quyền và lợi ích của các quốc gia
khác
2.1.4.3 Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia
Nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia được ghi nhận
trong Hiến chương Liên hợp quốc Liên hợp quốc đã đặt nguyên tắc này là
nguyên tắc cơ bản đầu tiên, là nền tảng cho tổ chức hoạt động của Liên hợp
quốc Khoản 1 Điều 2 Hiến chương Liên hợp quốc đã khẳng định: “Liên hợp
14 Xem Tuyên bố ngày 24-10- 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về các nguyên tắc cơbản điều chỉnh các
quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc năm1945
33
Trang 38quốc được xây dựng trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền của tất cả cáchội viên”.
Tất cả mọi quốc gia đều bình đẳng về chủ quyền Các quốc gia bình đẳng
về quyền và nghĩa vụ và là những thành viên bình đẳng của cộng đồng quốc
tế, bất chấp sự khác biệt về chế độ kinh tế, chính trị và xã hội
Chủ quyền là thuộc tính chính trị pháp lý không thể tách rời của quốc giabao gồm 2 nội dung chủ yếu: Quyền tối cao của quốc gia trong phạm vi lãnhthổ của mình và quyền độc lập của quốc gia trong các quan hệ đối ngoại.Nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia – cơ sở pháp lý để giải quyết cáctranh chấp quốc tế Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là điều thiêng liêng củamỗi dân tộc, lãnh thổ là biểu hiện của nền độc lập dân tộc và bất khả xâmphạm của mỗi quốc gia Bảo vệ biên giới, lãnh thổ chính là bảo vệ chủ quyềnquốc gia chống lại mọi hình thức ngoại xâm Quyền này đã được pháp luậtquốc tế công nhận Vì vậy, khi giải quyết bất kỳ vấn đề gì liên quan đến biêngiới và lãnh thổ chúng ta phải biết kết hợp các hình thức và biện pháp đấutranh thích hợp đối với từng vụ việc phát sinh trên nguyên tắc tôn trọng luậtpháp quốc tế; bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia; giữ gìn quan hệ hữu nghịvới các nước trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền, góp phần gìn giữ hòabình, ổn định trong khu vực và trên thế giới
2.1.4.4 Nguyên tắc các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với nhau
Nguyên tắc này được ghi nhận lần đầu tiên tại Hiến chương Liên hợp
quốc Thực hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế vềkinh tế, xã hội, văn hoá và nhân đạo và khuyến khích phát triển sự tôn trọngcác quyền của con người và các tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân
Trang 39biệt chủng tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo.
Các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với các quốc gia khác phù hợp với
Hiến chương Mọi quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với các Quốc hội khác trongcác lĩnh vực của quan hệ quốc tế để gìn giữ hòa bình và an ninh quốc tế,34
khuyến khích sự ổn định và tiến bộ, lợi ích chung của các dân tộc và hợp tácquốc tế mà không có sự phân biệt về sự khác nhau về chế độ chính trị, kinh tế
và văn hóa Cụ thể như sau:
a Mọi quốc gia sẽ hợp tác với các quốc gia khác để duy trì hòa bình và
an ninh quốc tế;
b Mọi quốc gia sẽ hợp tác để khuyến khích sự tôn trọng và tuân thủ cácquyền con người và tự do cơ bản trên toàn thế giới và trong việc loại trừ tất cảcác hình thức phân biệt về sắc tộc và tôn giáo;
c Mọi quốc gia sẽ thực hiện các quan hệ quốc tế của mình trong các lĩnhvực kinh tế, văn hóa, kỹ thuật và thương mại phù hợp với nguyên tắc bìnhđẳng về chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ;
Các quốc gia là thành viên của Liên hợp quốc có nghĩa vụ hành động tậpthể hoặc riêng rẽ để hợp tác với Liên hợp quốc phù hợp với những điều khoảntương ứng của Hiến chương Liên hợp quốc;
Các quốc gia nên hợp tác trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội
cũng như khoa học và công nghệ và đối với việc phát triển sự tiến bộ về vănhóa và giáo dục trên thế giới Các quốc gia nên hợp tác để phát triển kinh tếtrên toàn thế giới, đặc biệt đối với các nước đang phát triển 15
Trang 402.1.4.5 Nguyên tắc tận tâm thiện chí thực hiện cam kết quốc tế (pacta sunt
servanda)
Nguyên tắc Pacta sunt servanda là nguyên tắc cơ bản cổ xưa nhất được
hình thành từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ và tồn tại dưới hình thức tập quán quốc
tế Và nguyên tắc này được kế thừa và phát triển đầy đủ nội dung pháp lý cơ
bản trong luật quốc tế hiện đại
Nguyên tắc này được ghi nhận cụ thể trong nhiều văn bản pháp lý quốc
tế như Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước Viên 1969 về Luật điều ước
15 Xem Tuyên bố ngày 24-10- 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc về các nguyên tắc cơbản điều chỉnh các
quan hệ hữu nghị hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc năm1945
35
quốc tế, Tuyên bố ngày 24-10- 1970 của Đại hội đồng Liên hợp quốc, Định
ước Henxinki ngày 01-8- 1975
Nguyên tắc các quốc gia thực hiện vợi sự thiện chí các nghĩa vụ của
mình phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc
Mọi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện với sự thiện chí các nghĩa vụ của
mình phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực
hiện với sự thiện chí những nghĩa vụ của mình theo những nguyên tắc và quy
phạm được luật quốc tế thừa nhận chung
Mỗi quốc gia có nghĩa vụ thực hiện với sự thiện chí những nghĩa vụ của
mình trong những thỏa thuận có hiệu lực theo những nguyên tắc và quy phạm
được luật quốc tế thừa nhận chung Khi mà những nghĩa vụ phát sinh từ các
điều ước quốc tế mâu thuẫn với những nghĩa vụ của các Thành viên Liên hợp