1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Pháp luật hiện hành về vận tải hàng hóa bằng đường biển

129 331 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về phương diện quốc tế, quan hệ chuyên chở đượcthiết lập nhằm thỏa mãn nhu cầu di chuyển hàng hóa của thương nhân nước nàycho nước khác đồng thời đáp ứng nhu cầu thu tiền cước của người

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ ANH THƠ

PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ VẬN TẢI HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Mã số: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Yến

HÀ NỘI – NĂM 2017

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VẬN TẢI HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN

VÀ PHÁP LUẬT VỀ VẬN TẢI HÀNG HOÁ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 5

1.1 Khái quát về vận tải hàng hoá bằng đường biển 5

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của vận tải hàng hóa bằng đường biển 5

1.1.2 Vai trò của vận tải hàng hóa bằng đường biển đối với nền kinh tế 7

1.1.3 Một số phương thức vận tải hàng hóa bằng đường biển 9

1.1.4 Vận đơn đường biển 13

1.1.5 Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển 20

1.1.6 Vận tải đa phương thức 24

1.2 Khái quát pháp luật về vận tải hàng hoá bằng đường biển 25

1.2.1 Khái niệm pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đường biển 25

1.2.2 Nội dung pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đường biển 27

1.2.3 Nguồn luật điều chỉnh vận tải hàng hóa bằng đường biển 29

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ VẬN TẢI HÀNG HÓA

BẰNG ĐƯỜNG BIỂN Ở VIỆT NAM 38

2.1 Thực trạng pháp luật về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển 382.1.1 Các bên liên quan đến hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển 402.1.2 Hợp đồng vận chuyển hàng hóa theo chứng từ vận chuyển 41

2.1.3 Hợp đồng vận chuyển hàng hóa theo chuyến 45

2.1.4 Hợp đồng vận tải đa phương thức 49

2.2 Thực trạng pháp luật về vận đơn đường biển 49

2.3 Thực trạng pháp luật về trách nhiệm của người vận chuyển 55

Trang 3

2.3.1 Chế độ trách nhiệm 56

2.3.2 Cơ sở trách nhiệm của người vận chuyển 57

2.3.3 Thời hạn trách nhiệm của người vận chuyển 62

Nguyễn Thị Anh Thơ Luận văn thạc sĩ

2.3.4 Giới hạn trách nhiệm của người vận chuyển 64

2.3.5 Trách nhiệm của người vận chuyển trong một số tình huống đặc biệt 67

2.4 Thực trạng pháp luật về tranh chấp, khiếu nại 68

2.4.1 Thông báo tổn thất 68

2.4.2 Khiếu nại, khởi kiện 69

Chương 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ

VẬN TẢI HÀNG HOÁ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 74

3.1 Yêu cầu và định hướng hoàn thiện pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đường biển 74

3.1.1 Các yếu tố tác động đến sự phát triển của pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đườngbiển 76

3.1.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đường biển 79

3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đường biển 82

3.2.1 Bổ sung, hoàn thiện một số nội dung của Bộ luật hàng hải năm 2015 82

3.2.2 Nghiên cứu để gia nhập các Công ước quốc tế về vận chuyển hàng

hóa bằng đường biển và ký kết các Hiệp định song phương, đa phương 83

3.2.3 Tăng cường nâng cao kiến thức pháp lý của khối doanh nghiệp Việt

Nam về pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đường biển 85

3.2.4 Nâng cao năng lực của các thẩm phán, trọng tài viên Việt Nam trong xét xử tranhchấp hàng hải nói chung và trong hợp đồng vận chuyển hànghóa bằng tàu biển nói riêng 87

KẾT LUẬN 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Vận tải là huyết mạch của nền kinh tế, vận tải phát triển sẽ thúc đẩy các

ngành kinh tế khác phát triển theo Vận tải liên kết các nền kinh tế, rút ngắnkhoảng cách về không gian địa lý, nhằm giảm chi phí, giá thành sản phẩm, thúcđẩy thương mại phát triển, làm lợi cho cả người sản xuất và tiêu dùng

Trong thời kỳ hội nhập ngày nay, tự do hóa thương mại và toàn cầu hóa là

một xu hướng tất yếu và giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Nền kinh tếViệt Nam cũng không nằm ngoài xu thế này, trong đó ngành vận tải hàng hảiđược xem như ngành kinh tế mũi nhọn trong quá trình hội nhập và phát triển.Lĩnh vực này đã và đang được nước ta chú trọng phát triển cả chiều rộng lẫnchiều sâu Sự phát triển của nền kinh tế thế giới và nền kinh tế trong nước đã đặtngành vận tải hàng hải đứng trước những thách thức thật sự cam go

Việt Nam với những lợi thế lớn để phát triển hình thức vận tải biển như vị

trí địa lý có bờ biển trải dài hơn 3.200 km từ Móng Cái đến Hà Tiên, nằm ở vị trímặt tiền của Đông Nam Á, có nhiều hệ thống sông lớn, có nhiều cửa biển sâu vàrộng thích hợp cho việc xây dựng hệ thống cảng biển Từ khi Việt Nam thựchiện chính sách mở cửa, ngành vận tải biển Việt Nam đã phát triển nhanh chóng,thị trường vận tải biển Việt Nam mở rộng theo nhịp độ chung của xu thế thươngmại khu vực và toàn cầu Trong những năm gần đây ngành vận tải biển của ViệtNam không ngừng phát triển và vươn xa, đóng góp không nhỏ vào sự phát triểncủa nền kinh tế đất nước

Về phương diện quốc gia, quan hệ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển

được thiết lập nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng, nhu cầu phát triển

Trang 5

kinh tế của mỗi quốc gia Về phương diện quốc tế, quan hệ chuyên chở đượcthiết lập nhằm thỏa mãn nhu cầu di chuyển hàng hóa của thương nhân nước nàycho nước khác đồng thời đáp ứng nhu cầu thu tiền cước của người vận chuyển.Nếu các quan hệ vận tải đường biển quốc gia, quốc tế không được điều chỉnhbằng pháp luật thì những vướng mắc, tranh chấp phát sinh từ các quan hệ đóphải giải quyết trong thời gian dài hoặc không thể giải quyết được cho nên ảnhhưởng tiêu cực tới sự phát triển quan hệ thương mại quốc gia, quốc tế trong quátrình hội nhập, tự do hóa thương mại.

Vì vậy, bên cạnh việc đầu tư phát triển đội tàu biển, nâng cao năng lực

vận chuyển, mở rộng thị trường, đẩy mạnh buôn bán xuất nhập khẩu, đồng thời,nước ta cần phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đườngbiển phù hợp với các quy định, tập quán pháp luật quốc tế tạo cơ sở pháp lý choquá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Pháp luật hiện hành về vận

tải hàng hóa bằng đường biển” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ luật học của mình.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Xuất phát từ vai trò quan trọng của ngành vận tải biển mà đến nay vấn đề

này đã nhận được không ít sự quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học và đãđược đề cập đến trong nhiều giáo trình và sách chuyên khảo của các trường đạihọc kinh tế, giao thông vận tải trong nước, có thể kể đến đó là Giáo trình vận tải

và giao nhận trong ngoại thương của trường Đại học Ngoại thương do tiến sĩNguyễn Hồng Đàm chủ biên xuất bản năm 2003, Giáo trình vận tải và bảo hiểmtrong ngoại thương của trường Đại học Ngoại thương do tiến sĩ Trịnh Thị ThuHương chủ biên năm 2011

Trang 6

Tuy nhiên, đến nay chưa có một công trình nghiên cứu nào, kể cả giáo

trình giảng dạy ở các trường đại học luật trong nước, nghiên cứu về những vấn

đề lý luận cơ bản của pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đường biển, cũng nhưchưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, bao quát vềhoàn thiện pháp luật Việt Nam về vận tải hàng hóa bằng đường biển Các côngtrình khoa học của các nhà luật học trong nước hiện nay mới chỉ dừng ở việcnghiên cứu các nội dung riêng lẻ của pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đườngbiển như luận văn thạc sĩ của tác giả Trương Thị Thúy Nga với đề tài Hợp đồngvận chuyển hàng hóa bằng đường biển theo pháp luật Việt Nam năm 2009, luậnvăn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Hữu Nam với đề tài Pháp luật về hợp đồng vậnchuyển hàng hóa quốc tế bằng đường biển ở Việt Nam năm 2014, luận văn thạc

sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng với đề tài Trách nhiệm của người vận

chuyển trong hợp đồng vận tải đa phương thức năm 2008 có đề cập đến vận tải

đa phương thức trong đó có một phương thức là vận tải đường biển Do đó đây

sẽ là công trình nghiên cứu khoa học đầu tiên nghiên cứu tổng quát và toàn diệnpháp luật về vận tải hàng hóa bằng đường biển

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là:

- Một số vấn đề lý luận về hoạt động vận tải hàng hóa bằng đường biển và

pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đường biển

- Hệ thống văn bản pháp luật thực định của Việt Nam về vận tải hàng hóa

bằng đường biển

* Phạm vi nghiên cứu

Trang 7

Đề tài tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về vận tải hàng

hóa bằng đường biển và pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đường biển như kháiniệm, đặc trưng của vận tải hàng hóa bằng đường biển, các phương thức vận tảihàng hóa bằng đường biển, khái niệm, nội dung cơ bản của pháp luật về vận tảihàng hóa bằng đường biển Mặt khác, luận văn cũng nghiên cứu thực trạng phápluật về vận tải hàng hóa bằng đường biển tập trung vào các quy định của Bộ luậtHàng hải Việt Nam năm 2015 Qua đó, luận văn đưa ra các đánh giá, quan điểm,phương hướng hoàn thiện pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đường biển

4 Mục đích và nghiệm vụ nghiên cứu

* Mục đích nghiên cứu của luận văn

Bên cạnh việc khái quát những vấn đề lý luận của hoạt động vận tải hàng

hóa bằng đường biển, luận văn đồng thời cũng tiến hành nghiên cứu những chếđịnh pháp luật cơ bản về vận tải hàng hóa bằng đường biển theo quy định củapháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế Trên cơ sở phân tích, so sánh để rút ra

ưu điểm và hạn chế của những chế định pháp luật, hướng tới việc đưa ra một số

ý kiến đóng góp cho việc hoàn thiện pháp luật của Việt Nam về vấn đề này

* Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

- Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn xung quanh nội dung vận tải

hàng hóa bằng đường biển;

- Nghiên cứu, so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với các quy

định của pháp luật quốc tế về vận tải hàng hóa bằng đường biển;

- Đóng góp một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định

pháp luật điều chỉnh hoạt động vận tải hàng hóa bằng đường biển theo pháp luậtViệt Nam

Trang 8

5 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng của chủ

nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời dựa trên nghiên cứu từthực tiễn vận tải hàng hóa bằng đường biển Ngoài ra, luận văn còn sử dụngphương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, đối chiếu để làm rõ những quy địnhcủa pháp luật Việt Nam với các điều ước quốc tế, từ đó phân tích, đánh giá về sựphù hợp của pháp luật Việt Nam điều chỉnh vấn đề vận tải hàng hóa bằng đườngbiển Qua đó, đưa ra những giải pháp nhằm hướng tới việc hoàn thiện các quyđịnh pháp luật về vận tải hàng hoá bằng đường biển

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

- Về lý luận

Luận văn đi sâu nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận, góp phần

giới thiệu và làm rõ những nội dung cơ bản của pháp luật vận tải hàng hóa bằngđường biển và tầm quan trọng của phương thức vận tải này

Luận văn nêu ra vấn đề hiện trạng quy định pháp luật điều chỉnh lĩnh vực

vận tải hàng hóa bằng đường biển, từ đó nêu lên những thiếu sót và bất cập trongnhững quy định pháp luật về vấn đề này trong điều kiện nền kinh tế thị trường ởnước ta hiện nay

Luận văn đề ra một số kiến nghị và giải pháp có căn cứ, khoa học và có

tính khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đường biểncũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trên thực tế

- Về thực tiễn

Kết quả nghiên cứu đề tài có giá trị tham khảo trong việc sửa đổi pháp luật

và có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo ở các cơ sở đào tạo và nghiên cứu

Trang 9

về luật học.

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của

luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về vận tải hàng hóa bằng đường biển và pháp luật về

vận tải hàng hóa bằng đường biển

Chương 2: Thực trạng pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đường biển ở

Việt Nam

Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vận tải hàng hóa

bằng đường biển

Trang 10

Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ VẬN TẢI HÀNG HÓA BẰNG ĐƯỜNG BIỂN VÀ PHÁP LUẬT VỀ VẬN TẢI HÀNG HOÁ BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 1.1 Khái quát về vận tải hàng hoá bằng đường biển

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của vận tải hàng hóa bằng đường biển

Sự di chuyển về không gian và thời gian của công cụ sản xuất, sản phẩm

lao động và bản thân con người là một nhu cầu tất yếu của xã hội Trong nghĩarộng, vận tải là một quy trình kỹ thuật của bất kỳ sự dịch chuyển vị trí nào củavật phẩm và con người Còn với ý nghĩa kinh tế (nghĩa hẹp), vận tải chỉ bao gồmnhững sự di chuyển của vật phẩm và con người khi thỏa mãn đồng thời hai tínhchất: là một hoạt động sản xuất vật chất và là một hoạt động kinh tế độc lập 1 Từlâu, vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm thay đổi vịtrí của vật phẩm và bản thân con người từ nơi này tới nơi khác Nhờ có vận tải,con người đã chinh phục được khoảng cách không gian và đã tạo ra khả năng sửdụng rộng rãi giá trị sử dụng của sản phẩm lao động và thỏa mãn nhu cầu đi lạicủa con người

Trong các phương thức vận tải, vận tải biển ra đời khá sớm so với các

phương thức khác Từ khi khoa học kỹ thuật chưa phát triển tới trình độ cao, conngười đã biết tận dụng những ưu thế của đại dương để chuyên chở hàng hóa giữacác quốc gia trên thế giới bằng các công cụ vận tải thô sơ như tàu, thuyền buồm,tàu biển nhỏ chạy bằng động cơ hơi nước sử dụng khí đốt là than, củi… Khiphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời, quan hệ buôn bán quốc tế giữa cácnước tăng lên, dung lượng hàng hóa lưu chuyển giữa các nước tăng lên và tấtyếu nhu cầu chuyên chở hàng hóa tăng lên thì phương thức vận tải biển mới phát

Trang 11

triển một cách nhanh chóng Cho đến nay vận tải biển đã trở thành ngành vận tảihiện đại trong hệ thống vận tải quốc tế.

Vận tải biển là hoạt động vận tải có liên quan đến việc sử dụng kết cấu hạ

tầng và phương tiện vận tải biển, đó là việc sử dụng những khu đất, khu nước gắnliền với các tuyến đường biển nối liền các quốc gia, các vùng lãnh thổ, hoặc các khuvực trong phạm vi một quốc gia, và việc sử dụng tàu biển, các thiết bị xếp dỡ… đểphục vụ việc dịch chuyển hành khách và hàng hóa trên những tuyến đường biển.Vận tải hàng hóa bằng đường biển là quá trình sử dụng tàu biển vận

chuyển đồ vật theo tuyến đường cố định hoặc không cố định từ nơi này tới nơikhác Theo nghĩa rộng nó là sự tập hợp các yếu tố kinh tế kỹ thuật nhằm khai

thác, chuyên chở bằng tàu biển một cách có hiệu quả hàng hóa Vận tải hàng hóabằng đường biển được tiến hành thông qua các doanh nghiệp, tổ chức chuyên

ngành thực hiện

Hoạt động kinh tế càng phát triển, lưu thông hàng hóa giữa các vùng

miền, các quốc gia càng phát triển Do đó, vai trò của logistic thực hiện chuỗi

các dịch vụ liên quan đến lưu kho, phân phối và vận tải càng trở nên quan trọng.Vận tải là một khâu trọng yếu của dây chuyền này, chất lượng của dịch vụ

logistic phụ thuộc không nhỏ vào chất lượng dịch vụ vận tải, trong đó ngành vậntải biển giữ một vị trí quan trọng

Trên cơ sở khái niệm như phân tích ở trên, vận tải hàng hóa bằng đường

biển có các đặc điểm pháp lý sau:

Về tính chất, vận tải hàng hóa bằng đường biển là một hoạt động thương

mại Đặc điểm này cho phép khẳng định, vận tải hàng hóa bằng đường biển lànhằm mục đích sinh lời và thường do thương nhân thực hiện Vận tải hàng hóa

Trang 12

bằng đường biển là một hoạt động thương mại dịch vụ, không trực tiếp tạo ra sảnphẩm Hoạt động vận tải hàng hóa bằng đường biển có ý nghĩa hỗ trợ cho hoạtđộng mua bán hàng hóa, tạo cơ hội khuyến khích, thúc đẩy các hoạt động nàythực hiện với hiệu quả cao nhất

Về chủ thể, chủ thể của hoạt động vận tải hàng hóa bằng đường biển là

thương nhân Vận tải hàng hóa bằng đường biển cũng là một trong các ngànhkinh doanh có điều kiện Pháp luật Việt Nam có những quy định, điều kiện cụthể đối với kinh doanh vận tải biển Khách hàng, người có nhu cầu gửi hoặcnhận hàng có thể là thương nhân hoặc không

Về cách thức thực hiện, hoạt động dịch vụ vận tải hàng hóa bằng đường

biển được thực hiện bằng cách sử dụng tàu biển, các tuyến đường biển để dịchchuyển hàng hóa từ nơi này sang nơi khác

Về các mối quan hệ phát sinh, hoạt động vận tải hàng hóa bằng đường

biển tồn tại hai quan hệ: quan hệ giữa người thuê vận chuyển và người vận

chuyển, quan hệ giữa người vận chuyển và người nhận hàng Các quan hệ nàyphát sinh trên cơ sở hợp đồng vận chuyển và vận đơn đường biển

1.1.2 Vai trò của vận tải hàng hóa bằng đường biển đối với nền kinh tế Hiện nay vận tải đường biển giữ vị trí rất quan trọng trong chuyên chở

hàng hóa trên thị trường thế giới Vận tải đường biển là ngành vận tải chủ chốt

so với các phương tiện vận tải khác trong chuyên chở hàng hóa xuất nhập khẩu,

nó đảm nhận chuyên chở gần 80% tổng khối lượng hàng hóa trong buôn bánquốc tế Nguyên tắc “tự do đi biển” đã tạo thuận lợi cho ngành vận tải đườngbiển và nhờ đó tàu thuyền mang mọi quốc tịch được tự do hoạt động trên cáctuyến thương mại quốc tế Khối lượng hàng hóa luân chuyển bằng đường biển

Trang 13

quốc tế tăng nhanh qua các giai đoạn.

Vai trò quan trọng của vận tải đường biển đối với nền kinh tế được thể

hiện ở các mặt sau:

Thứ nhất, vận tải đường biển là yếu tố không tách rời thương mại quốc tế.

Thương mại quốc tế và vận tải nói chung, vận tải đường biển nói riêng có

mối quan hệ chặt chẽ và hữu cơ với nhau Vận tải hàng hóa bằng đường biểnđược phát triển trên cơ sở sản xuất và trao đổi hàng hóa giữa các nước với nhau.Ngược lại, vận tải hàng hóa bằng đường biển phát triển sẽ làm giảm giá thànhchuyên chở, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng thị trường tiêu thụ quốc tế,

tự do hóa thương mại, thúc đẩy sản xuất phát triển

Với mối quan hệ chặt chẽ và hữu cơ giữa thương mại và vận tải mà nhiều

nước đặt tên Luật hàng hải là Luật hàng hải thương mại (Merchant Marine

Transport Law) Nhật Bản, một trong những nước có nền thương mại và vận tảiphát triển nhất thế giới còn dành hẳn một quyển trong Bộ Luật Thương mại(quyển 4 bao gồm 7 chương, 151 điều) để điều chỉnh các quan hệ phát sinh từthương mại hàng hải Có thể nói giao nhận vận tải là một yếu tố quan trọng cótác dụng khuyến khích hoặc kìm hãm sự phát triển của buôn bán giữa các nước

Thứ hai, vận tải đường biển thúc đẩy buôn bán quốc tế phát triển.

V.Lênin nói: “Vận tải là phương tiện vật chất của mối liên hệ kinh tế với

nước ngoài” 2 Trước đây, khi vận tải quốc tế chưa phát triển rộng khắp, sức chởcủa phương tiện vận tải biển nhỏ, công cụ vận tải thô sơ đã hạn chế việc mở rộngbuôn bán giữa các quốc gia Ngày nay, hệ thống vận tải trên thế giới đã pháttriển tạo điều kiện mở rộng các thị trường tiêu thụ nên hoạt động xuất nhập khẩuđược thông suốt Các nước xuất khẩu có khả năng tiêu thụ sản phẩm của mình ở

Trang 14

những nước cách xa và các nước nhập khẩu cũng có điều kiện lựa chọn thị

trường cung cấp rộng rãi hơn

Trong buôn bán quốc tế, chi phí vận tải chiếm một tỷ trọng khá lớn trong

giá cả hàng hóa 3 Vận tải đường biển có đặc điểm cước phí rẻ đo đó vận tải hànghóa bằng đường biển sẽ góp phần giảm giá thành sản phẩm do đó làm tăng khảnăng cạnh tranh của hàng hóa đó so với hàng hóa cùng loại của các nước khác.Điều đó kích thích tiêu dùng của khách hàng, làm cho việc tiêu thụ hàng càng

nhanh chóng, thuận lợi với số lượng hàng lớn, kích thích sản xuất và hoạt độngmua bán phát triển Như vậy vận tải hàng hóa bằng đường biển đã đóng vai tròquan trọng trong việc thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa giữa các nước khi mà thị

trường trong nước đã trở nên quá chật hẹp

Thứ ba, vận tải hàng hóa bằng đường biển góp phần làm thay đổi cơ cấu

hàng hóa và cơ cấu thị trường trong buôn bán quốc tế

Trước đây, khi vận tải đường biển chưa phát triển, công cụ vận tải thô sơ,

sức chở của phương tiện vận tải nhỏ, giá thành vận tải cao nên đã hạn chế việc mởrộng buôn bán nhiều mặt hàng, đặc biệt là nguyên liệu và nhiên liệu Sự ra đời củacác công cụ vận tải chuyên dùng có trọng tải lớn, đặc biệt là sự phát triển của vận tảiđường biển, mạng lưới các tuyến đường phát triển đã cho phép hạ giá thành vận tải,điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng mặt hàng trong buôn bán quốc tế

Sự thay đổi cơ cấu trong buôn bán quốc tế được thể hiện rõ nét nhất là phát triểnbuôn bán mặt hàng lỏng, đặc biệt là dầu mỏ và sản phẩm dầu mỏ Năm 1973, nhómhàng lỏng chỉ chiếm 22% tổng khối lượng hàng hóa chuyên chở đường biển quốc

tế Những năm sau đại chiến thế giới lần thứ II, tỷ trọng mặt hàng lỏng trong

chuyên chở đường biển quốc tế tăng lên đều đặn và chiếm tỷ lệ 50% Nguyên nhân

Trang 15

chính của tình hình này, một mặt do phát triển nhanh chóng của ngành công nghiệpdầu mỏ, mặt khác do phát triển mạnh mẽ của ngành vận tải đường biển thế giới 4 Khi vận tải đường biển chưa phát triển, hàng hoá chỉ có thể bán cho các

nước lân cận, ở thị trường gần Ví dụ, Việt Nam bán hàng cho các nước TrungQuốc, Lào, Thái Lan Ngày nay, vận tải đường biển đã phát triển, hàng hoá cóthể được buôn bán ở bất kỳ thị trường nào trên thế giới Vì vậy, vận tải đườngbiển góp phần thay đổi thị trường hàng hoá

Thứ tư, vận tải hàng hóa bằng đường biển có tác động tích cực hoặc làm

xấu đi cán cân thanh toán

Xuất nhập khẩu sản phẩm hàng hải là một hình thức xuất nhập khẩu vô

hình rất quan trọng Thu ngoại tệ trong vận tải đường biển và các dịch vụ liênquan đến vận tải đường biển là một bộ phận quan trọng trong cán cân thanh toánquốc tế Phát triển vận tải đường biển có tác dụng làm tăng thêm nguồn thu

ngoại tệ bằng cách hạn chế nhập khẩu sản phẩm vận tải hàng hải Do đó, vận tảihàng hóa bằng đường biển ảnh hưởng tích cực đến cán cân thanh toán quốc tế.Tuy nhiên, nếu vận tải đường biển của một nước không đáp ứng được nhu

cầu chuyên chở hàng hoá ngoại thương thì phải chi ra một lượng ngoại tệ nhấtđịnh để nhập khẩu sản phẩm vận tải Sự thiếu hụt trong cán cân xuất nhập khẩusản phẩm vận tải sẽ ảnh hưởng xấu tới cán cân thanh toán quốc tế Trái lại, dưthừa trong cán cân thanh toán về vận tải có thể bù đắp một phần thiếu hụt trongcán cân mậu dịch nói riêng và trong cán cân thanh toán quốc tế nói chung

1.1.3 Một số phương thức vận tải hàng hóa bằng đường biển

1.1.3.1 Phương thức thuê tàu chợ

Tàu chợ là tàu chạy thường xuyên trên một tuyến đường nhất định, ghé

Trang 16

qua những cảng nhất định theo một lịch trình định trước Tàu chợ hoạt động trêntuyến đường nhất định nên người ta còn gọi là tàu định tuyến Lịch chạy tàu

thường được các hãng tàu công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng để

phục vụ khách hàng

Tàu chợ thường được sử dụng vận chuyển những lô hàng nhỏ, cảng xếp

cảng dỡ nằm trên tuyến đường kinh doanh của tàu Dung tích của tàu không lớnkhoảng từ 6.000 đến 12.000 GRT

Thuê tàu chợ hay người ta còn gọi là lưu cước tàu chợ, là việc chủ hàng trực

tiếp hay thông qua người môi giới liên hệ với chủ tàu hoặc đại lý của chủ tàu yêu cầudành chỗ trên tàu để chuyên chở hàng hóa từ một cảng này đến một cảng khác.Phương thức thuê tàu chợ có đặc điểm:

14Nguyễn Thị Anh Thơ Luận văn thạc sĩ

Thứ nhất, tàu chạy giữa các cảng theo một lịch trình công bố trước.

Thứ hai, chứng từ điều chỉnh các mối quan hệ trong thuê tàu chợ là vận

đơn đường biển Vận đơn đường biển là bằng chứng của một hợp đồng vận tải

hàng hóa bằng đường biển

Thứ ba, khi thuê tàu chợ, chủ hàng không được tự do thỏa thuận các điều

kiện, điều khoản chuyên chở mà phải tuân thủ các điều kiện in sẵn của vận đơnđường biển

Thứ tư, cước phí trong thuê tàu chợ thường bao gồm cả chi phí xếp dỡ

hàng hóa và được tính toán theo biểu cước của hãng tàu Biểu cước này có hiệulực trong thời gian tương đối dài, chủ tàu đóng vai trò là người vận chuyển

Người vận chuyển là một bên của hợp đồng vận tải và là người phải chịu trách

nhiệm về hàng hóa trong suốt quá trình vận chuyển

Trang 17

Thứ năm, các chủ tàu chợ thường cùng nhau thành lập các Công hội tàu chợhoặc Công hội cước phí để khống chế thị trường và nâng cao khả năng cạnh tranh.

Có thể sử dụng phương thức thuê tàu chợ khi chủ hàng có hàng bách hóa,

số lượng tùy ý và cảng xếp dỡ nằm trong lịch trình của tàu

1.1.3.2 Phương thức thuê tàu chuyến

Tàu chuyến là tàu chuyên chở hàng hóa giữa hai hoặc nhiều cảng theo yêu

cầu của chủ hàng trên cơ sở một hợp đồng thuê tàu Tàu chuyến không chạythường xuyên một tuyến đường nhất định, không ghé qua những cảng nhất định

và không theo một lịch trình định trước

Thuê tàu chuyến là việc chủ hàng liên hệ với chủ tàu hoặc đại diện của

chủ tàu yêu cầu thuê toàn bộ con tàu để chuyên chở hàng hóa từ một hoặc nhiềucảng xếp đến một hoặc nhiều cảng dỡ theo yêu cầu của chủ hàng

Căn cứ vào định nghĩa của tàu chuyến và thuê tàu chuyến, có thể rút ra

những đặc điểm của phương thức thuê tàu chuyến như sau:

Thứ nhất, tàu không chạy theo lịch trình cố định như tàu chợ, mà theo yêu

cầu của chủ hàng

Thứ hai, văn bản điều chỉnh mối quan hệ giữa các bên trong thuê tàu

chuyến là Hợp đồng thuê tàu chuyến và Vận đơn đường biển Hợp đồng thuê tàuchuyến được ký kết giữa người thuê tàu và người vận chuyển (chủ tàu hoặc

người quản lý tàu), trong đó người vận chuyển cam kết chuyên chở hàng hóa đểgiao cho người nhận hàng ở cảng đến, còn người thuê tàu cam kết trả tiền cướcchuyên chở theo mức hai bên đã thỏa thuận

Khi xếp hàng lên tàu hoặc khi nhận hàng để xếp, người vận chuyển sẽ cấp

vận đơn đường biển Vận đơn này điều chỉnh mối quan hệ giữa người vận

Trang 18

chuyển với người gửi hàng, giữa người vận chuyển với người nhận hàng hoặcngười cầm vận đơn.

Thứ ba, người thuê tàu có thể tự do thỏa thuận, mặc cả về các điều kiện

chuyên chở và giá cước trong hợp đồng thuê tàu

Thứ tư, giá cước trong thuê tàu chuyến có thể gồm cả chi phí xếp dỡ hoặc

không là do thỏa thuận của hai bên Giá cước được tính theo trọng lượng hàng,thể tích hàng hoặc theo giá thuê bao cho một chuyến

Thứ năm, chủ tàu có thể đóng vai là người vận chuyển hoặc không.

Thứ sáu, tàu chuyến thường được dùng khi thuê chở dầu và hàng khối

lượng lớn như: than đá, quặng, ngũ cốc, bốc xít, phốt phát, xi măng, phân bón…

và người thuê tàu phải có một khối lượng hàng hóa tương đối lớn đủ xếp một tàu

Có thể thuê tàu chuyến theo các hình thức sau:

- Thuê chuyến một, tức là thuê tàu để chở hàng từ một cảng đến một cảng

khác Ví dụ thuê tàu chở hàng từ cảng Sài Gòn đi cảng Singapore

- Thuê chuyến khứ hồi, tức là thuê tàu chở hàng từ một cảng này đến một

cảng khác, rồi lại chở hàng từ cảng đó về cảng khởi hành

- Thuê chuyến một liên tục, tức là thuê tàu chở hàng từ một cảng này đến

cảng khác nhiều chuyến liên tiếp nhau Ví dụ thuê tàu chở than từ Cẩm Phả điKobe (Nhật), chở xong chuyến này lại chở tiếp chuyến khác

- Thuê tàu theo hợp đồng có khối lượng lớn hàng hóa Các chủ hàng có khối

lượng hàng hóa xuất nhập khẩu lớn, ổn định trên một tuyến đường nhất định,thường ký hợp đồng với chủ tàu để thuê chuyên chở một số chuyến nhất định trongmột năm hay một khối lượng hàng hóa nhất định trên một tuyến đường trong mộtthời gian nhất định Giá cước thuê tàu trong trường hợp này cũng được tính theo

Trang 19

trọng lượng hoặc thể tích, nhưng với mức cước rẻ hơn giá thị trường.

1.1.3.3 Phương thức thuê tàu định hạn

Thuê tàu định hạn hay còn gọi là thuê tàu theo thời hạn là việc chủ tàu cho

người thuê tàu thuê toàn bộ con tàu, có thể gồm cả một thuyền bộ (thuyền trưởng

và tập thể thủy thủ) hoặc không, để kinh doanh chuyên chở hàng hóa trong mộtthời gian nhất định, còn người thuê tàu phải trả tiền thuê tàu và các chi phí hoạtđộng của con tàu

Phương thức thuê tàu này có đặc điểm:

Thứ nhất, người thuê tàu được quyền quản lý và sử dụng con tàu trong

một thời gian nhất định Người thuê tàu phải tìm hàng hóa để chuyên chở trongthời gian thuê

Thứ hai, văn bản điều chỉnh mối quan hệ giữa chủ tàu và người thuê tàu là

hợp đồng thuê tàu định hạn Hợp đồng thuê tàu định hạn mang tính chất là mộthợp đồng thuê tài sản được ký kết giữa chủ tàu và người thuê tàu, quy địnhnhững nội dung: tên chủ tàu, người thuê tàu, tên tàu, trọng tải, dung tích đăng ký,dung tích chứa hàng, khả năng đi biển của tàu, thời gian và địa điểm giao tàu, trảtàu, thời gian thuê, vùng biển được phép kinh doanh, tiền thuê, phân chia một sốchi phí hoạt động của tàu như: nhiên liệu, nước ngọt…

Thứ ba, người thuê tàu phải trả cho chủ tàu tiền thuê, chứ không phải tiền

cước Tiền thuê tàu được tính theo ngày hoặc tháng cho toàn bộ tàu hoặc theomột đơn vị trọng tải hay dung tích của tàu Ngoài tiền thuê tàu, người thuê tàucòn phải chịu các chi phí hoạt động của con tàu như: nhiên liệu, nước ngọt, cảngphí, đại lý phí, hoa hồng môi giới, vật liệu chèn lót…

Thứ tư, chủ tàu không đóng vai trò là người vận chuyển Khi đi chở thuê

Trang 20

theo chuyến thì người thuê tàu sẽ đóng vai trò là người vận chuyển, chứ khôngphải là chủ tàu.

Với những đặc điểm trên, người thuê tàu thường sử dụng phương thức

thuê tàu định hạn khi thị trường thuê tàu nhộn nhịp, giá cước có xu hướng tăng,việc thuê tàu chuyến khó khăn

Có thể thuê tàu định hạn theo các hình thức sau:

- Thuê toàn bộ: tức là thuê toàn bộ con tàu cùng thuyền bộ (thuyền

trưởng, sỹ quan, thủy thủ) Trong hình thức này có hai cách:

Thuê theo thời hạn: tức là thuê tàu trong một thời gian, có thể là sáu

tháng, một năm, nhiều năm…

Thuê định hạn chuyến: tức là thuê kiểu định hạn, nhưng chỉ một chuyến

- Thuê định hạn trơn: Chủ tàu cho người thuê tàu thuê con tàu mà không

có thuyền bộ Trong trường hợp này, người thuê tàu phải biên chế một thuyền bộmới có thể khai thác con tàu được

1.1.4 Vận đơn đường biển

1.1.4.1 Khái niệm vận đơn đường biển

Vận đơn đường biển là chứng từ chuyên chở hàng hóa bằng đường biển

do người vận chuyển hoặc đại diện của người vận chuyển cấp phát cho ngườigửi hàng sau khi hàng hóa đã được xếp lên tàu hoặc sau khi nhận hàng để xếp.Theo từ điển hàng hải của nhà xuất bản Lloyd’s London 1994, trang 17 thìvận đơn là một chứng từ do người vận chuyển cấp cho người gửi hàng Nó làbằng chứng của hợp đồng vận chuyển, là biên lai nhận hàng và là chứng từ sởhữu hàng hóa Với tư cách là biên lai nhận hàng, vận đơn miêu tả đặc điểm lôhàng về số lượng, ký mã hiệu, khi tàu nhận hàng nếu tình trạng bên ngoài không

Trang 21

tốt thì người vận chuyển sẽ có những ghi chú phù hợp về tình trạng đó của hàng.Với tư cách là bằng chứng của hợp đồng vận chuyển, vận đơn chứa đựng cácđiều kiện và điều khoản của hợp đồng đó; trong trường hợp vận đơn được cấptheo hợp đồng thuê tàu chuyến thì vận đơn sẽ dẫn chiếu tới hợp đồng thuê tàu.Với tư cách là chứng từ sở hữu hàng hóa, bên thứ ba sẽ sử dụng nó để nhận hàng

từ tàu khi đến cảng đích

Mục đích chính của vận đơn là cho phép người sở hữu hàng hóa có khả

năng tiêu thụ hàng hóa một cách nhanh chóng mặc dù hàng hóa chưa nằm trongtay của họ mà còn được vận chuyển trên biển Như vậy khi nhận được vận đơn,người mua trở thành chủ sở hữu của hàng hóa 5

Như vậy từ khái niệm vận đơn đường biển nêu trên chúng ta có thể rút ra

những nội dung cụ thể sau:

Người cấp vận đơn: Theo thông lệ hàng hải quốc tế chỉ có người vận

chuyển mới có quyền cấp vận đơn Người vận chuyển có thể là chủ tàu, ngườiđược chủ tàu ủy quyền quản lý và khai thác con tàu, người thuê tàu định hạn,thuê tàu trần Người giao nhận khi đóng vai trò là người vận chuyển cũng cóquyền cấp vận đơn Trong thực tiễn, người vận chuyển có thể tự mình ký phátvận đơn hoặc ủy quyền cho thuyền trưởng hoặc đại lý ký phát Khi vận đơn dothuyền trưởng hoặc đại lý ký phát thì phải hiểu rằng họ luôn luôn hành độngnhân danh và vì quyền lợi của người vận chuyển Điều này có nghĩa, người vậnchuyển bị ràng buộc bở các nội dung, các điều kiện và điều khoản đã ghi trongvận đơn mặc dầu bản thân mình không trực tiếp ký phát

Thời điểm cấp phát vận đơn: Như khái niệm đã nêu, thời điểm để người vận

chuyển hoặc đại diện của người vận chuyển cấp phát vận đơn có thể có hai trường

Trang 22

hợp: sau khi hàng hóa đã được xếp lên tàu hoặc sau khi nhận hàng để xếp.

1.1.4.2 Phân loại vận đơn đường biển

Vận đơn đường biển rất đa dạng và phong phú, trong thương mại và hàng

hải quốc tế, người ta sử dụng vận đơn vào nhiều công việc khác nhau tùy theonội dung mà nó thể hiện Việc nhận biết các loại vận đơn và ý nghĩa của nó trongbuôn bán quốc tế là vấn đề hết sức quan trọng đối với những người sử dụng vậnđơn Dưới đây là một số tiêu chí phổ biến được sử dụng để phân loại vận đơnđường biển:

Thứ nhất, căn cứ vào tình trạng bốc xếp hàng hóa, vận đơn đường biển

được chia làm hai loại:

Vận đơn đã xếp hàng là loại vận đơn được phát hành sau khi hàng hóa đã

được xếp lên tàu Vận đơn đã xếp hàng là bằng chứng chứng minh hàng đã đượcxếp lên tàu để chuyên chở và người bán đã hoàn thành trách nhiệm giao hàngcho người mua theo đúng hợp đồng mua bán Chính vì vậy nếu không có quyđịnh gì khác thì ngân hàng chỉ chấp nhận thanh toán bộ chứng từ có vận đơn đãxếp hàng

Vận đơn nhận hàng để xếp là loại vận đơn được phát hành sau khi người

vận chuyển nhận hàng và cam kết sẽ xếp hàng và vận chuyển hàng hóa bằng contàu ghi trên vận đơn

Khác với vận đơn đã xếp hàng, vận đơn nhận hàng để xếp là loại vận đơn

được phát hành khi hàng hóa chưa được xếp lên tàu mà có thể còn đang ở cầucảng hoặc kho bãi cảng… Ở đây người vận chuyển mới chỉ nhận hàng để xếpchứ chưa xếp lên tàu

Thứ hai, căn cứ vào khả năng chuyển nhượng và lưu thông của vận

Trang 23

đơn, vận đơn đường biển được chia thành ba loại:

Vận đơn theo lệnh là vận đơn trên đó không ghi rõ tên, địa chỉ của người

nhận hàng mà ghi chữ “theo lệnh” (to Order) hoặc có ghi tên người nhận hàngđồng thời ghi thêm chữ “hoặc theo lệnh” (or Order) Trên vận đơn theo lệnh cóthể ghi rõ theo lệnh của người gửi hàng, của người nhận hàng, của Ngân hàng.Nếu không ghi rõ theo lệnh của ai thì hiểu là theo lệnh của người gửi hàng.Vận đơn theo lệnh được sử dụng rộng rãi trong buôn bán và vận tải quốc

tế vì nó là một chứng từ lưu thông được Vận đơn theo lệnh được chuyển

nhượng bằng phương pháp ký hậu Ký hậu là một thủ tục chuyển nhượng quyền

sở hữu hàng hóa ghi trên vận đơn từ người hưởng lợi này sang người hưởng lợikhác Người ký hậu phải ký tên, đóng dấu vào mặt sau tờ vận đơn và trao vậnđơn cho người được chuyển nhượng Về mặt pháp lý, hành vi ký hậu của người

ký tên trên vận đơn thừa nhận từ bỏ quyền sở hữu vận đơn cho người khác đượchưởng Mặt khác, hành vi ký hậu trên vận đơn còn có ý nghĩa xác nhận tráchnhiệm của người ký hậu đối với việc giao hàng ghi trên vận đơn cho ngườihưởng lợi từ vận đơn

Vận đơn đích danh là vận đơn mà trên đó có ghi rõ tên, địa chỉ của người

nhận hàng Người vận chuyển chỉ giao hàng cho ai là người có tên trên vận đơn.Loại vận đơn này ít được sử dụng vì không được chuyển nhượng

Vận đơn vô danh là vận đơn trên đó không ghi tên người nhận hàng và

cũng không ghi theo lệnh Thuyền trưởng sẽ giao hàng cho người nào cầm vậnđơn và xuất trình cho họ Vận đơn này được chuyển nhượng bằng cách trao tay

vì ai cầm vận đơn đều có thể nhận được hàng Vận đơn này có nhiều rủi ro đốivới người gửi hàng vì bất kỳ người nào có vận đơn trong tay đều có thể nhận

Trang 24

được hàng.

Thứ ba, căn cứ vào nhận xét, ghi chú trên vận đơn, vận đơn đường biển

được phân thành hai loại:

Vận đơn sạch hay hoàn hảo là vận đơn mà trên đó không có những điều

khoản nói rõ ràng rằng hàng hóa hoặc bao bì có khuyết tật Hay nói một cáchkhác, trên vận đơn không có những ghi chú, những nhận xét xấu hoặc những bảolưu về tình trạng bên ngoài của hàng hóa

Những ghi chú chung chung như “người gửi hàng xếp và đếm, niêm

phong và kẹp chì”, “không biết về số lượng, phẩm chất, nội dung bên trong”,

“bao bì dùng lại, thùng cũ”… không làm mất tính hoàn hảo của vận đơn Mộtvận đơn mà người vận chuyển hay đại diện của họ không ghi chú gì thì cũng coi

là vận đơn hoàn hảo

Lấy được vận đơn hoàn hảo có ý nghĩa quan trọng trong thương mại quốc

tế Người mua cũng như Ngân hàng đều yêu cầu phải có vận đơn hoàn hảo, vậnđơn hoàn hảo là bằng chứng hiển nhiên của việc xếp hàng tốt Vận đơn hoàn hảocũng là bằng chứng chứng minh người bán đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàngnhư đã cam kết Hơn nữa là một trong những căn cứ để chứng minh về khốilượng, chất lượng bao bì của hàng hóa lúc giao hàng, nói cách khác là người bán

đã hoàn thành tốt trách nhiệm của mình trong việc thực hiện hợp đồng mua bán.Vận đơn không hoàn hảo là vận đơn trên đó có những ghi chú, nhận xét

xấu hoặc những bảo lưu về hàng hóa, tình trạng của hàng hóa và bao bì

Khi nhận hàng để chở, nếu hàng hóa không đảm bảo như vỡ, bẹp, rách, ký

mã hiệu không rõ… hoặc có nghi ngờ về tình trạng của hàng hóa… thì người vậnchuyển sẽ ghi bảo lưu vào vận đơn để tránh bị khiếu nại ở cảng đến lúc giao hàng

Trang 25

Vận đơn không hoàn hảo là chứng cứ để suy đoán rằng người bán giao

hàng cho người mua trong tình trạng không tốt Nếu không có quy định gì khác

ở hợp đồng mua bán tín dụng chứng từ thì loại vận đơn này thường sẽ bị ngânhàng từ chối thanh toán tiền hàng Vì vậy khi giao hàng, cầm vận đơn chủ hàngcần hết sức lưu ý với những nội dung của lời lẽ ghi chú trên vận đơn để tránhnhững tranh chấp phát sinh sau này

Thứ tư, căn cứ vào hành trình vận chuyển, vận đơn đường biển được

phân thành ba loại:

Vận đơn đi thẳng là vận đơn được cấp trong trường hợp hàng hóa được

chuyên chở thẳng từ cảng xếp hàng đến cảng dỡ hàng mà không có chuyển tảicảng dọc đường

Vận đơn đi suốt là là vận đơn được sử dụng trong trường hợp hàng hóa

được chuyên chở từ cảng xếp hàng đến cảng dỡ hàng cuối cùng bằng hai haynhiều con tàu của hai hay nhiều người vận chuyển, tức hàng hóa phải chuyển tải

ở cảng dọc đường

Vận đơn (chứng từ) đa phương thức (hay vận đơn vận tải liên hợp) là vận

đơn được sử dụng trong trường hợp hàng hóa được chuyên chở từ nơi đi đến nơiđến bằng hai hay nhiều phương thức vận tải khác nhau

Ngoài ra trên thực tế còn nhiều loại vận đơn, chứng từ khác:

Vận đơn do người giao nhận cấp: Trong những năm gần đây, người giao

nhận không chỉ làm đại lý, nhận ủy thác giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu mà

họ còn cung cấp dịch vụ vận tải, tức là đóng vai trò người vận chuyển Khi đãđóng vai trò là người vận chuyển thì họ có thể cấp vận đơn Vận đơn mà ngườigiao nhận cấp là các vận đơn do FIATA (Liên đoàn quốc tế các Hiệp hội giao

Trang 26

nhận) phát hành và bao gồm các loại sau: vận đơn vận tải đa phương thức củaFIATA (FBL), Giấy chứng nhận vận tải (FCT), vận đơn gom hàng (House B/L).Vận đơn theo hợp đồng thuê tàu: là vận đơn được phát hành trong trường

hợp hàng hóa được chuyên chở theo một hợp đồng thuê tàu chuyến và trên đó cóghi câu “phụ thuộc vào hợp đồng thuê tàu” hoặc câu “sử dụng với hợp đồng thuêtàu” Ví dụ vận đơn CONGENBILL được phát hành để sử dụng cùng với hợpđồng thuê tàu mẫu “GENCON”

Giấy gửi hàng đường biển (Seawaybill): Do sự tiến bộ về khoa học, kỹ thuật

trong ngành vận tải, nên tốc độ đưa hàng trong thương mại quốc tế rất nhanh chóng.Nhiều trường hợp hàng đến cảng đích, nhưng vận đơn gửi qua Ngân hàng hoặc bưuđiện vẫn chưa tới Người nhận không nhận được hàng Hơn nữa, cuộc cách mạng

về thông tin diễn ra trong những năm qua, việc sử dụng rộng rãi mạng vi tính ở tất

cả các nước trên thế giới tạo ra một khả năng buôn bán thông qua trao đổi dữ liệuđiện tử mà không cần chứng từ (kể cả vận đơn đường biển) Vận đơn đường biểncùng với một loạt giấy tờ, chứng từ khác trong thương mại quốc tế có thể trở thànhtrở ngại và tốn kém Vì vậy, để làm bước đệm cho một nền thương mại quốc tếkhông cần chứng từ trong tương lai, người ta đã đề nghị sử dụng một chứng từkhông lưu thông để thay thế vận đơn truyền thống đó là “Giấy gửi đường biển”.Giấy gửi đường biển này có ưu điểm là người nhận có thể nhận hàng khi xuất trìnhgiấy tờ, chứng từ để nhận dạng, chứ không cần xuất trình bản thân “Giấy gửi hàngđường biển” Nhược điểm của nó là không thể dùng để khống chế hàng hóa, vì vậyhiện tại “Giấy gửi hàng đường biển” chỉ mới được dùng để gửi các dụng cụ giađình, hàng mẫu, hàng triển lãm, hàng phi mậu dịch và trong buôn bán theo phươngthức ghi sổ với bạn hàng tin cậy

Trang 27

1.1.4.3 Chức năng của vận đơn đường biển

Vận đơn đường biển ra đời và được sử dụng khá lâu trong vận tải hàng

hóa bằng đường biển Cho đến nay hầu hết luật pháp các nước đều thừa nhận vậnđơn đường biển có ba chức năng cơ bản sau đây:

Một là biên lai nhận hàng để vận chuyển của người vận chuyển Sau khi

nhận hàng để chở, người vận chuyển sẽ cấp phát vận đơn cho người gửi hàng.Vận đơn được cấp có giá trị như là biên lai nhận hàng của người vận chuyển.Vận đơn là bằng chứng của việc người vận chuyển đã nhận hàng để vận chuyển.Vận đơn chứng minh cho số lượng, khối lượng, tình trạng bên ngoài của hànghóa được giao ở cảng hoặc địa điểm bốc hàng

Vì vậy, khi đã phát hành vận đơn người vận chuyển phải có trách nhiệm

đối với hàng hóa trong suốt quá trình vận chuyển về số lượng cũng như tìnhtrạng hàng hóa Đồng thời phải có nghĩa vụ giao hàng cho ai xuất trình đầu tiênvận đơn mà người vận chuyển đã cấp phát ở cảng đi Người vận chuyển chỉchứng minh rằng mình đã hoàn thành trách nhiệm vận chuyển khi đã giao xonghàng cho người nhận hàng ở cảng đến và thu hồi được vận đơn đường biển gốc.Hai là chứng từ sở hữu những hàng hóa mô tả trên vận đơn Vận đơn

đường biển thể hiện chức năng này ở chỗ người nào cầm vận đơn hợp phápngười đó chính là chủ sở hữu hàng hóa ghi trên vận đơn Và đã là chủ vận đơnthì anh ta có quyền yêu cầu người vận chuyển phải giao hàng cho anh ta khi anh

ta xuất trình vận đơn và anh ta có quyền định đoạt hàng hóa trên vận đơn đó.Ngược lại, người vận chuyển chỉ giao hàng cho ai cầm giữ vận đơn hợp pháp(người có tên trên vận đơn hoặc người được ủy thác nhận hàng…)

Do có tính chất sở hữu nên vận đơn là một chứng từ lưu thông được Người

Trang 28

ta có thể mua bán, chuyển nhượng hàng hóa ghi trên vận đơn bằng cách mua bán,chuyển nhượng vận đơn dưới nhiều hình thức như mua bán trao tay (vận đơn vôdanh) hay ký hậu chuyển nhượng (vận đơn theo lệnh) hoặc mua bán tuân thủ theoluật hoặc tập quán nơi diễn ra hành động chuyển nhượng (vận đơn đích danh)…

Ba là bằng chứng của hợp đồng vận tải hàng hóa bằng đường biển đã

được ký kết giữa các bên Mặc dù bản thân vận đơn đường biển không phải làmột hợp đồng vận tải, vì nó chỉ có chữ ký của một bên, nhưng vận đơn có giá trịnhư một hợp đồng vận tải đường biển Nó không những điều chỉnh mối quan hệgiữa người gửi hàng với người vận chuyển, mà còn điều chỉnh mối quan hệ giữangười vận chuyển và người nhận hàng hoặc người cầm vận đơn Nội dung củavận đơn không chỉ được thể hiện bằng những điều khoản trên đó, mà bị chi phốibởi các Công ước quốc tế về vận đơn và vận tải hàng hóa bằng đường biển

Vận đơn đường biển, dù theo phương thức tàu chợ hay vận đơn theo hợp

đồng thuê tàu đều có ba chức năng cơ bản nêu trên Sự khác biệt chủ yếu của hailoại vận đơn này nằm ở chức năng với tư cách là bằng chứng của hợp đồng Vận23Nguyễn Thị Anh Thơ Luận văn thạc sĩ

đơn tàu chợ chứa đựng hợp đồng nằm duy nhất trong các điều khoản thành vănđược in trên vận đơn Trong khi đó, vận đơn được phát hành theo hợp đồng thuêtàu chuyến chứa đựng điều khoản quy định rằng nó được phát hành cùng với hợpđồng thuê tàu chuyến và hợp đồng này chứa đựng tất cả các điều kiện và điềukhoản trong đó 6

1.1.4.4 Nội dung của vận đơn đường biển

Theo thông lệ quốc tế, vận đơn đường biển thường gồm những nội dung

cơ bản sau:

Trang 29

- Tên và trụ sở chính của người vận chuyển;

- Tên người gửi hàng;

- Tên người nhận hàng hoặc ghi rõ vận đơn được kí phát dưới dạng vận

đơn theo lệnh hoặc vận đơn vô danh;

- Tên tàu biển;

- Mô tả chủng loại, kích thước, thể tích, số lượng đơn vị, trọng lượng hoặc

giá trị hàng hóa nếu xét thấy cần thiết;

- Mô tả tình trạng bên ngoài hoặc bao bì hàng hóa;

- Kí, mã hiệu và đặc điểm nhận biết hàng hóa mà người giao hàng đã

thông báo bằng văn bản trước khi bốc hàng lên tàu biển và được đánh dấu lên

từng đơn vị hàng hóa hoặc bao bì;

- Cước vận chuyển và các khoản thu khác của người vận chuyển, phương

thức thanh toán;

- Nơi bốc hàng và cảng nhận hàng;

- Cảng trả hàng hoặc chỉ dẫn thời gian, địa điểm sẽ chỉ định cảng trả hàng;

- Số lượng bản vận đơn gốc đã ký phát cho người giao hàng;

- Thời điểm và địa điểm ký phát vận đơn;

- Chữ ký của người vận chuyển hoặc người thay mặt người vận chuyển;

- Điều nói về việc áp dụng Công ước;

- Điều nói về việc hàng sẽ hoặc có thể chở trên boong;

- Thỏa thuận tăng thêm giới hạn trách nhiệm (nếu có)

Sở dĩ vận đơn đường biển cần có những điều khoản nêu trên là do vận đơn

đường biển đóng vai trò là biên lai nhận hàng, theo đó vận đơn miêu tả đặc điểm

6 Hà Việt Hưng (2014), “Một số vấn đề pháp lí về vận đơn đường biển trong vận chuyển

Trang 30

hàng hóa quốc tế bằng đường biển”, Tạp chí Luật học, (5), tr 16-22.

24Nguyễn Thị Anh Thơ Luận văn thạc sĩ

lô hàng về số lượng, kí mã hiệu, tình trạng bên ngoài của hàng hóa được giao ởcảng hoặc địa điểm bốc hàng Vận đơn đường biển còn là bằng chứng của hợpđồng vận chuyển, theo đó vận đơn chứa đựng các điều kiện và điều khoản củahợp đồng vận chuyển

Về mặt hình thức, vận đơn của các hãng tàu thường một khuôn mẫu tương

đối giống nhau Các vận đơn đều gồm hai mặt Mặt trước được chia thành từng ô

và có các chi tiết, theo thứ tự từ trên xuống dưới là: tên hãng tàu, người gửihàng, người nhận hàng, bên thông báo, tên tàu, cảng xếp, cảng dỡ, số vận đơn, sốphiếu lưu cước tham chiếu xuất khẩu, đại lý giao nhận, nơi xuất xứ của hànghóa, những chi tiết do người gửi hàng cung cấp (tên hàng, ký mã hiệu, trọnglượng, số lượng, thể tích, số Container…), cước phí, phụ phí, cước trả trước haysau, số lượng bản gốc, ngày phát hành vận đơn, ngày xếp hàng hay ngày nhậnhàng, chữ ký… Mặt sau của vận đơn in sẵn các điều kiện, điều khoản chuyênchở như: các định nghĩa, điều khoản tối cao, cước phí và phụ phí, trách nhiệmcủa người vận chuyển, đi thuê lại, thông báo tổn thất và thời hạn khiếu nại, giaohàng, kiểm tra hàng hóa, Container do người gửi hàng đóng, hàng dễ vỡ, hàngnguy hiểm, cầm giữ hàng, tổn thất chung, giải quyết tranh chấp, điều khoản haitàu đâm va nhau cùng có lỗi, điều khoản New Jason…

1.1.5 Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

1.1.5.1 Khái niệm hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

Vận chuyển hay chuyên chở nói chung là việc di chuyển hay di rời đồ vật

hay động sản hữu hình hoặc người từ nơi này tới một nơi khác theo chiều dọc

Trang 31

hoặc chiều ngang Tuy nhiên, việc di chuyển của các sóng điện từ hay điện năngkhông thuộc lĩnh vực di chuyển đồ vật theo nghĩa thông thường Vì vậy, hiểumột cách đơn giản hợp đồng vận chuyển là sự thống nhất ý chí của người có nhucầu di chuyển với người thực hiện việc di chuyển nhằm chuyển rời một đồ vậthoặc người từ nơi này tới nơi khác Trong hoạt động vận chuyển này, có nhiềuphân loại khác nhau Chung nhất, căn cứ vào đối tượng vận chuyển, người tachia hợp đồng vận chuyển thành hợp đồng vận chuyển hành khách và hợp đồngvận chuyển đồ vật Dĩ nhiên trong hợp đồng vận chuyển hành khách thông

thường kèm theo vận chuyển đồ vật với tích cách là hành lý Tới lượt hợp đồngvận chuyển đồ vật lại có thể được phân loại thành vận chuyển hàng hóa và vậnchuyển đồ vật thông thường Hàng hóa theo quan niệm chung của thế giới là25Nguyễn Thị Anh Thơ Luận văn thạc sĩ

động sản hữu hình Luận văn này đề cập tới việc vận chuyển hàng hóa theonghĩa chung nhất của thế giới là các động sản hữu hình

Theo Quy tắc Hamburg, “Hợp đồng vận chuyển bằng đường biển là bất

kỳ hợp đồng nào mà theo đó người vận chuyển đảm nhận việc vận chuyển hànghóa bằng đường biển từ một cảng này đến một cảng khác để thu tiền cước” Tuynhiên, một hợp đồng bao gồm vận chuyển bằng đường biển và cả phương thứckhác thì hợp đồng đó chỉ được coi là hợp đồng vận chuyển bằng đường biển theonghĩa trong Công ước này, nếu nó liên quan đến vận chuyển bằng đường biển(Điều 1, khoản 6, Quy tắc Hamburg)

Theo Điều 1, khoản b, Quy tắc Hague-Visby năm 1968, Hợp đồng vận

chuyển đó “được điều chỉnh bằng một vận đơn hoặc bất kỳ một chứng từ tương

tự nào về quyền sở hữu liên quan tới vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, kể

Trang 32

cả bất kỳ vận đơn hoặc chứng từ nào nói trên đây được ký phát theo một hợpđồng thuê tàu, kể từ khi vận đơn hoặc chứng từ đó điều chỉnh quan hệ giữa

người vận chuyển và người nắm giữ vận đơn hay chứng từ đó”

Những quy định trong Quy tắc Hamburg và Hague-Visby đều đề cập tới

phạm vi áp dụng có yếu tố quốc tế Cụ thể là: Theo Điều X, Quy tắc Hague-Visbyquy định: những quy định của Quy tắc này áp dụng cho mọi vận đơn liên quan đếnvận chuyển hàng hoá giữa các cảng nằm trong hai quốc gia khác nhau nếu:

- Vận đơn được ký phát ở một quốc gia thành viên Quy tắc này, hoặc

- Việc vận chuyển bắt đầu từ một cảng nằm trong một quốc gia thành viên

Quy tắc này, hoặc

- Hợp đồng trong vận đơn hoặc bằng chứng bởi vận đơn quy định áp dụng

Quy tắc này hoặc luật của bất kỳ nước nào thừa nhận hiệu lực của Quy tắc này

để điều chỉnh hợp đồng đó, bất kể quốc tịch của tàu, người vận chuyển, ngườigửi hàng, người nhận hàng hoặc bất kỳ người nào khác có liên quan

Trong vận tải hàng hải, các học giả dựa vào phương thức vận chuyển chia

vận chuyển hàng hóa bằng đường biển thành vận chuyển theo tàu chợ và vậnchuyển theo tàu chuyến Tuy nhiên, căn cứ vào giấy tờ pháp lý, thì lại phân

thành hai loại: vận chuyển theo chứng từ vận chuyển và vận chuyển hàng hóatheo hợp đồng thuê tàu Trong đó chỉ có vận chuyển theo chứng từ vận chuyểnchính là vận chuyển hàng hóa bằng đường biển Chứng từ vận chuyển này có thểphát hành theo tàu chợ, cũng có thể phát hành dựa trên hợp đồng thuê tàu

26Nguyễn Thị Anh Thơ Luận văn thạc sĩ

chuyến Nhưng dù có phát hành từ đâu (hợp đồng thuê tàu chợ hay hợp đồngthuê tàu chuyến) thì các chứng từ vận chuyển này đều là (i) bằng chứng về

Trang 33

quyền sở hữu hàng hóa dùng để định đoạt, (ii) bằng chứng của hợp đồng vậnchuyển, (iii) là bằng chứng về việc người vận chuyển đã nhận hàng Theo đó, chỉ

có người cầm vận đơn hợp pháp thì mới có quyền kiện, khiếu nại người chuyênchở về tình trạng hàng hóa

Qua đây, có thể rút ra định nghĩa, hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng

đường biển là sự thỏa thuận giữa người thuê vận chuyển và người vận chuyển

mà theo đó, người vận chuyển có nghĩa vụ di chuyển hàng hóa bằng đường biểntới địa điểm đến và giao hàng hóa cho người có quyền nhận, người thuê vậnchuyển có nghĩa vụ thanh toán cho người vận chuyển giá dịch vụ

Hợp đồng vận chuyển hàng hoá thông thường được xác lập dưới hình thức

văn bản, trong đó quy định rõ trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên Trường hợpbên nào không thực hiện hoặc thực hiện không đúng thì sẽ phải bồi thường thiệthại cho bên kia theo quy định của hợp đồng hay luật điều chỉnh Hợp đồng vậnchuyển hàng hóa hay luật điều chỉnh có giá trị pháp lý để giải quyết tất cả cáctranh chấp phát sinh sau này giữa người vận chuyển và người thuê chở

Đối tượng của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là hàng hóadịch chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác và nó mang tính chất quốc tếtrong trường hợp vận chuyển hàng hoá từ nước này qua nước khác, nói cách khác

là hàng hóa xuất nhập khẩu Theo đó, quãng đường vận chuyển phải đi qua lãnhthổ của ít nhất hai quốc gia Vì vậy có thể có hai hoặc nhiều hệ thống pháp luậtđều có thẩm quyền điều tiết hợp đồng vận chuyển đó, bởi hàng hóa được vậnchuyển tới lãnh thổ của quốc gia khác, do vậy bắt buộc phải đi qua vùng biển củamột hoặc một số quốc gia khác, do đó bị ảnh hưởng bởi những quy định pháp luậtnhững quốc gia đó Bởi thế Điều ước quốc tế hay Tập quán hàng hải quốc tế có

Trang 34

vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh quan hệ vận chuyển hàng hóa quốc tế.1.1.5.2 Đặc điểm của hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển mang những đặc điểm sau:Thứ nhất, hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là hợp đồng

dịch vụ, theo đó bên vận chuyển phải thực hiện công việc di chuyển hàng hóa từmột nơi này tới một nơi khác Bên vận chuyển nhận hàng hóa từ bên thuê vận27Nguyễn Thị Anh Thơ Luận văn thạc sĩ

chuyển để vận chuyển hàng hóa từ điểm nhận hàng tới một nơi nhất định theothỏa thuận trong hợp đồng vận chuyển

Thứ hai, hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là hợp đồng vì

lợi ích của người thứ ba Phân tích kết cấu của giao dịch vận chuyển hàng hóa đãđược mô tả khái quát tại các định nghĩa trên có thể thấy giao dịch này có ba loạichủ thể: Chủ thể thứ nhất là người gửi hàng hóa hay người thuê vận chuyển; Chủthể thứ hai là người vận chuyển; và Chủ thể thứ ba là người nhận hàng hóa.Người gửi hàng hóa và người vận chuyển là những người giao kết hợp đồng vậnchuyển hàng hóa Nhưng hợp đồng này không chỉ có hiệu lực đối với riêng họ,

mà còn có hiệu lực với người thứ ba là người nhận hàng hóa

Thứ ba, hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển có thể là hợp

đồng có đền bù hoặc không có đền bù, có nghĩa là người vận chuyển có thể nhậncước phí chuyên chở hoặc không

Thứ tư, hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển có thể là hợp đồnggia nhập hoặc hợp đồng ưng thuận tùy theo tính chất của hoạt động vận chuyển.1.1.5.3 Điều kiện thương mại quốc tế với hợp đồng vận chuyển hàng hóa

bằng đường biển

Trang 35

Điều kiện thương mại quốc tế viết tắt là Incoterms do Phòng thương mại

Quốc tế ICC (International Chember of Commerce) ban hành vào năm 1936

dưới tên gọi Incoterms 1936 Incoterms bao gồm các quy tắc chính thức của

Phòng thương mại Quốc tế về giải thích các điều kiện thương mại, tạo thuận lợi

cho giao dịch thương mại quốc tế diễn ra một cách tốt đẹp 7 Khi môi trường và

điều kiện kinh doanh quốc tế thay đổi, để phù hợp với thực tế thương mại

Incoterms đã được sửa đổi bổ sung 7 lần vào các năm 1953, 1967, 1976, 1980,

1990, 1999 và gần đây nhất là vào năm 2010 ra đời bộ Incoterms 2010

Trên thực tế Incoterms được sử dụng và thỏa thuận giữa các bên trong

hợp đồng mua bán hàng hóa Nhưng khi hợp đồng mua bán hàng hóa sử dụng

dẫn chiếu các điều kiện của Incoterms thì chúng lại có tính quyết định tới hợp

đồng vận chuyển Trong Incoterms, có những điều kiện thương mại được áp

dụng cho các bên có thể lựa chọn phương thức vận tải bằng đường biển nhưng

7 Phòng thương mại quốc tế (2006), Những điều kiện thương mại quốc tế Incoterms 2000,Nxb Tài chính, TP Hồ Chí Minh, tr 183

28Nguyễn Thị Anh Thơ Luận văn thạc sĩ

cũng có những điều kiện thương mại mà nếu các bên đã thỏa thuận, sẽ chỉ sử

dụng phương thức vận tải hàng hóa bằng đường biển mà thôi

Incoterms 2010 gồm 11 điều kiện thương mại chia thành 02 nhóm: các

điều kiện áp dụng cho mọi phương thức vận tải và các điều kiện áp dụng cho vận

tải đường biển và đường thủy nội địa Các điều kiện áp dụng cho mọi phương

thức vận tải (vận tải biển, đường bộ, hàng không, đường sắt, đa phương thức), đó

là EXW: Giao tại xưởng; FCA: Giao cho người chuyên chở; CPT: Cước phí trả

tới; CIP: Cước phí và bảo hiểm trả tới; DAT: Giao tại bến; DAP: Giao tại nơi

Trang 36

đến; DDP: Giao hàng đã nộp thuế Các điều kiện áp dụng cho vận tải đường biển

và đường thủy nội địa là FAS: Giao dọc mạn tàu; FOB: Giao lên tàu; CFR: Tiền

hàng và cước phí; CIF: Tiền hàng, bảo hiểm và cước phí

1.1.6 Vận tải đa phương thức

Vận tải là một khâu hết sức quan trọng giúp con người vận chuyển hàng

hoá lưu thông trong nước cũng như khắp toàn cầu Nghiệp vụ vận tải trong

những thập kỷ gần đây đã tiến những bước dài trên con đường phát triển và hiện

đại hoá Sự ra đời của vận tải đa phương thức chính là mốc đánh dấu bước phát

triển của vận tải hiện đại ngày nay Để tiết kiệm chi phí vận tải hàng hoá, giảm

tối đa các chi phí đầu mối giao dịch, chủ hàng thường uỷ thác cho một người vận

tải duy nhất thu xếp việc vận chuyển từ nơi sản xuất đến thị trường tiêu thụ

(thường được gọi là từ kho đến kho "door to door"), đảm bảo được thời giangiao

hàng, đơn giản hoá thủ tục, tiết kiệm thời gian và tiền bạc

Công ước của Liên hợp quốc về vận chuyển hàng hoá bằng vận tải đa

phương thức quốc tế năm 1980 (gọi tắt là Công ước năm 1980) Theo Điều 1 của

Công ước quy định: "Vận tải đa phương thức là vận chuyển hàng hóa bằng ít nhấthai phương thức vận tải khác nhau trên cơ sở một hợp đồng vận tải đa phương

thức, từ một địa điểm ở một nước nơi người kinh doanh vận tải đa phương thức

nhận hàng hoá đến một địa điểm được chỉ định giao hàng ở một nước khác"

Như vậy, vận tải đa phương thức là một phương pháp vận tải trong đó

hàng hóa được chuyên chở bằng ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau, trên

cơ sở một chứng từ vận tải, một chế độ trách nhiệm và chỉ một người chịu trách

nhiệm về hàng hóa trong suốt hành trình chuyên chở từ một địa điểm nhận hàng

để chở ở nước này đến một địa điểm giao hàng ở nước khác

Trang 37

29Nguyễn Thị Anh Thơ Luận văn thạc sĩ

Quy tắc của Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Thương mại và phát triển

(UNCTAD) và Phòng Thương mại quốc tế (ICC) về chứng từ vận tải đa phươngthức Bản Quy tắc này là một quy phạm pháp luật tuỳ ý nên khi sử dụng các bênphải dẫn chiếu vào hợp đồng

Các văn bản pháp lý trên quy định những vấn đề cơ bản trong vận tải đa

phương thức như định nghĩa về vận tải đa phương thức, người kinh doanh vậntải đa phương thức, người vận chuyển, người gửi hàng, người nhận hàng, việcgiao, nhận hàng, chứng từ vận tải đa phương thức, trách nhiệm của người kinhdoanh vận tải đa phương thức đối với hàng hoá, trách nhiệm của người gửi hàng,khiếu nại và kiện tụng

Các bên và các mối quan hệ trong quan hệ hợp đồng vận tải đa phương

thức thường phức tạp hơn so với một hợp đồng hai bên thông thường Theo đó,chủ hàng sẽ ký hợp đồng vận tải đa phương thức với người kinh doanh vận tải đaphương thức Người kinh doanh vận tải đa phương thức lại có thể ký hợp đồngriêng với những người vận chuyển của từng phương thức vận tải Các hợp đồngriêng này không ảnh hưởng tới trách nhiệm của người kinh doanh vận tải đaphương thức đối với toàn bộ quá trình vận chuyển

1.2 Khái quát pháp luật về vận tải hàng hoá bằng đường biển

1.2.1 Khái niệm pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đường biển

Pháp luật về các lĩnh vực khác nhau hình thành trên cơ sở tập hợp các quy

tắc xử sự do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận để điều chỉnh các quan hệ xãhội có cùng đặc điểm về nội dung, tính chất Trong nền kinh tế chuyển đổi, cácquan hệ kinh tế hình thành, phát triển đa dạng và với tốc độ nhanh Nhiều quan

Trang 38

hệ kinh tế đã trở thành cơ bản, phổ biến cần được pháp luật điều chỉnh Hoạtđộng vận tải hàng hóa bằng đường biển cũng là một trong số đó.

Hoạt động vận tải hàng hóa bằng đường biển là đối tượng điều chỉnh của

pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đường biển Pháp luật về vận tải hàng hóabằng đường biển là hệ thống các quy tắc xử sự, do Nhà nước ban hành hoặc thừanhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động vận chuyển hànghóa bằng đường biển Các quan hệ kinh tế phát sinh trong hoạt động vận chuyểnhàng hóa bằng đường biển bao gồm mối quan hệ giữa người thuê vận chuyển vàngười vận chuyển, những người có quyền lợi liên quan đến hàng hóa và ngườivận chuyển, chủ tàu

30Nguyễn Thị Anh Thơ Luận văn thạc sĩ

Pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đường biển là một bộ phận của pháp

luật hàng hải Do đặc điểm kỹ thuật lập pháp khác nhau nên pháp luật về vận tảihàng hải bằng đường biển quốc gia ở các nước khác nhau thường được kết cấukhông giống nhau Qua tham khảo pháp luật hàng hải của một số nước cho thấy,pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đường biển có thể được xây dựng dưới haihình thức cơ bản, đó là nằm trong một bộ luật hàng hải chung hoặc là một đạoluật riêng lẻ Một số nước xây dựng pháp luật về vận chuyển hàng hóa bằngđường biển thành bộ luật riêng như Luật vận chuyển hàng hóa bằng đường biểncủa Mỹ, Luật vận chuyển hàng hóa bằng đường biển của Úc, Luật vận chuyểnhàng hóa bằng đường biển của Nhật

Theo Giáo trình Luật Hàng hải do Tổ chức Hàng hải quốc tế biên soạn thì,luật hàng hải bao gồm các quy phạm của luật công và luật tư Luật công điềuchỉnh quan hệ quyền lực của Nhà nước, các cơ quan công quyền của Nhà nước

Trang 39

với các cá nhân, pháp nhân tham gia hoạt động hàng hải và với các cơ quan công

quyền khác của Nhà nước Ngược lại, luật tư điều chỉnh quan hệ giữa các bên

tham gia hoạt động vận tải đường biển, thể hiện nguyên tắc bình đẳng và bảo vệ

lợi ích tư của các thành viên tham gia quan hệ hàng hải 8 Pháp luật về vận tải hànghóa bằng đường biển thuộc chế định của lĩnh vực luật tư điều chỉnh các mối quan

hệ thuộc về dân sự và thương mại, các bên tham gia có địa vị pháp lý ngang nhau,

bình đẳng với nhau Quyền và nghĩa vụ giữa họ được xác định dựa trên nguyên

tắc tự do, thỏa thuận theo quy định của pháp luật Tuy nhiên trong lĩnh vực luật tư

này, ngoài hai chủ thể chính là pháp nhân và cá nhân tham gia vào các quan hệ

thương mại thì Nhà nước, chủ thể đặc biệt, ngày càng tham gia tích cực vào các

giao dịch hàng hải với tư cách là chủ thể pháp luật Việc Nhà nước tham gia vào

các quan hệ hàng hải thương mại nhằm mục đích thực hiện chính sách của Nhà

nước, ví dụ như chính sách bảo hộ chủ tàu hay chủ hàng Trong xu hướng chung

của luật hàng hải hiện nay thì có hai cơ chế trách nhiệm trong vận chuyển, đó là

cơ chế bảo hộ quyền lợi chủ tàu (theo Công ước Hague/Hague Visby của CMI),

cơ chế bảo hộ quyền lợi của chủ hàng (Công ước Hamburg của UNCITRAL)

Luật hàng hải của mỗi quốc gia sẽ áp dụng theo Công ước nào là tùy thuộc vào

chính sách của Chính phủ mỗi nước, ví dụ như Canada bảo vệ quyền lợi của chủ

8 IMO (2001), Compendium for Model Course 6.08: Maritime Law (Volume I), Malmo,tr.2-10

31Nguyễn Thị Anh Thơ Luận văn thạc sĩ

hàng nên pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đường biển của Canada áp dụng theo

Công ước Hamburg, còn Việt Nam thiên về xu hướng bảo hộ quyền lợi chủ tàu

nên pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đường biển của Việt Nam thể hiện rõ nét

Trang 40

tinh thần của Công ước Hague/ Hague Visby.

1.2.2 Nội dung pháp luật về vận tải hàng hóa bằng đường biển

Nghiên cứu các công ước quốc tế cũng như pháp luật của một số quốc gia

về vận tải hàng hải, có thể chỉ ra các nội dung cơ bản của pháp luật về vận tảihàng hóa bằng đường biển đó là:

1.2.2.1 Quy định về hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển

Hoạt động vận chuyển hàng hóa bằng đường biển được các hệ thống pháp

luật quốc tế và quốc gia điều chỉnh là hoạt động thương mại Vì vậy, trên thươngtrường, hoạt động thương mại này giữa các bên phải được thể hiện thông quahợp đồng Hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển là cơ sở pháp lý đểcác doanh nghiệp thực hiện việc cung ứng dịch vụ vận chuyển đường biển chokhách hàng Thông qua hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển tronghoạt động thương mại, các doanh nghiệp bước vào một thỏa thuận với những đốitác của mình thể hiện ở các quy định trong hợp đồng để đảm bảo những thỏathuận cung ứng dịch vụ vận chuyển đó sẽ được thực hiện Hợp đồng vận chuyểnhàng hóa bằng đường biển là cơ sở để các bên căn cứ vào xác định quyền vànghĩa vụ của mình, cũng là cơ sở pháp lý các bên căn cứ để bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của mình khi có tranh chấp xảy ra Nhận thức được tầm quan trọngcủa hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, luật pháp quốc tế và phápluật của các quốc gia đều có các quy định cụ thể để điều chỉnh về hợp đồng vậnchuyển hàng hóa bằng đường biển

1.2.2.2 Quy định về vận đơn đường biển

Trong vận tải hàng hóa bằng đường biển, vận đơn là một loại chứng từ

quan trọng Như đã phân tích ở trên, pháp luật và các thông lệ quốc tế đều công

Ngày đăng: 11/08/2017, 21:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w