Tôi xin cam đoan luận văn “Tác động tương đối của tăng trưởng kinh tế của Mỹ và Trung Quốc lên các quốc gia trong khu vực châu Á Thái Bình Dương” là công trình nghiên cứu của chính tác
Trang 1VŨ NGỌC BÍCH VÂN
TÁC ĐỘNG TƯƠNG ĐỐI CỦA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA MỸ VÀ TRUNG QUỐC LÊN CÁC QUỐC GIA TRONG KHU
VỰC CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Trang 2VŨ NGỌC BÍCH VÂN
TÁC ĐỘNG TƯƠNG ĐỐI CỦA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA MỸ VÀ TRUNG QUỐC LÊN CÁC QUỐC GIA TRONG KHU
VỰC CHÂU Á THÁI BÌNH DƯƠNG
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Hải Lý
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2016
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn “Tác động tương đối của tăng trưởng kinh tế của Mỹ
và Trung Quốc lên các quốc gia trong khu vực châu Á Thái Bình Dương” là
công trình nghiên cứu của chính tác giả Số liệu và nội dung là hoàn toàn trung thực Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Trần Thị Hải Lý
Tp Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 10 năm 2016
Tác giả
VŨ NGỌC BÍCH VÂN
Trang 4TÓM TẮT 1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 2
1.1 Lý do chọn đề tài 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 4
1.3 Phương pháp nghiên cứu 5
1.4 Ý nghĩa của nghiên cứu 6
1.5 Kết cấu của đề tài 6
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 7
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
3.1 Phương pháp nghiên cứu 16
3.1.1 Mô hình hệ phương trình đồng thời trên dữ liệu bảng PVAR 17
3.1.2 Các dạng mô hình PVAR 18
3.1.2.1 Mô hình PVAR dạng cấu trúc 18
3.1.2.2 Mô hình PVAR dạng rút rọn hay dạng tiêu chuẩn 18
3.1.3 Phân rã Cholesky 19
3.1.4 Ứng dụng của mô hình VAR 19
3.2 Ưu điểm của tiếp cận nghiên cứu trên dữ liệu bảng 20
3.3 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm bài nghiên cúu 22
3.4 Dữ liệu nghiên cứu 23
3.5 Thực trạng vấn đề nghiên cứu 24
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
4.1 Phân tích thống kê mô tả 37
Trang 54.3 Độ trễ tối đa cho mô hình PSVAR 40
4.4 Kiểm định nhân quả Granger test 43
4.5 Kiểm định tính ổn định mô hình 49
4.6 Kết quả ước lượng mô hình SVAR 49
4.6.1 Hàm phản ứng xung (impulse response) 56
4.6.2 Phân rã phương sai (Variance decomposition) 60
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 65
5.1 Kết luận về kết quả nghiên cứu 65
5.2 Gợi ý chính sách 65
5.3 Hạn chế đề tài: 66
5.4 Hướng mở rộng đề tài: 67
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC ĐỊNH LƯỢNG
Trang 6VAR Hệ phương trình đồng thời
(vector autoregression)
PVAR Hệ phương trình đồng thời trên dữ liệu bảng
(Panel vector autoregression) PSVAR Hệ phương trình đồng thời có cấu trúc
(Panel structural vector autoregression)
Trang 7Bảng 3.1: Tổng hợp nguồn dữ liệu 24
Biểu đồ 1: Tăng trưởng kinh tế của các quốc gia và vùng lãnh thổ 25
Biểu đồ 2: Tỷ trọng nền kinh tế của các quốc gia và vùng lãnh thổ 26
Biểu đồ 3: Tăng trưởng kinh tế Hoa Kỳ trong giai đoạn 1991 – 2015 28
Biểu đồ 4: Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc trong giai đoạn 1991 – 2015 32
Bảng 4.1: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình 38
Bảng 4.2: Kiểm định tính dừng bậc gốc dữ liệu Fisher theo tiếp cận ADF 40
Bảng 4.3: Độ trễ tối đa cho mô hình VAR 42
Bảng 4.4: Kiểm định nhân quả GRANGER 44
Bảng 4.5: Kiểm định tính ổn định mô hình 49
Bảng 4.6: Kết quả ước lượng PSVAR 51
Biểu đồ 5: Hàm phản ứng đẩy IRF của GDP US 57
Biểu đồ 6: Hàm phản ứng đẩy IRF của GDP CHINA 58
Bảng 4.7 Kết quả phân rã phương sai mức giải thích của các biến đến sự thay đổi của GDP 61
Bảng 4.8: Kết quả phân rã phương sai mức giải thích của các biến đến sự thay đổi của INFLATION 62
Bảng 4.9: Kết quả phân rã phương sai mức giải thích của các biến đến sự thay đổi của T_Bill 63
Bảng 4.10: Kết quả phân rã phương sai mức giải thích của các biến đến sự thay đổi của REX 64
Trang 8TÓM TẮT
Bài nghiên cứu với mục tiêu so sánh tác động của tăng trưởng kinh tế của
Mỹ và Trung Quốc lên các quốc gia trong khu vực châu Á Thái Bình Dương Sử
dụng phương pháp hệ phương trình đồng thời có cấu trúc trên dữ liệu bảng (Panel
structural vector autoregression) với khối đại diện nền kinh tế toàn cầu là ngoại
sinh bao gồm tăng trưởng GDP của hai nền kinh tế quốc tế là Mỹ và Trung Quốc
và lạm phát giá cả hàng hóa thế giới; trong khi các yếu tố vĩ mô đại diện cho khối
nền kinh tế nội địa bao gồm tăng trưởng kinh tế GDP, lạm phát, lãi suất và tỷ giá
hối đoái thực Sử dụng mẫu trong thời kỳ 1991-2015 theo quý, tác giả thấy rằng,
tác động từ biến động nền kinh tế Mỹ lan tỏa đến tăng trưởng đến GDP, lạm phát
của các quốc gia nghiên cứu là cao hơn đáng kể so với Trung Quốc Bên cạnh đó,
tăng trưởng nền kinh tế của Mỹ càng biến động mạnh, lãi suất tại các quốc gia này
càng tăng Phản ứng đối với cú sốc Trung Quốc có vẻ như ngược lại, không rõ ràng
trong thời gian đầu và âm trong những thời kỳ còn lại Cuối cùng, tỷ giá hối đoái
phản ứng không rõ ràng trước tác động của hai cú sốc từ hai nền kinh tế nghiên cứu
trên
Từ khóa: Ảnh hưởng nền kinh tế Mỹ, ảnh hưởng nền kinh tế Trung Quốc, các yếu
tố vĩ mô, các quốc gia khu vực Châu Á Thái Bình Dương, mô hình PSVAR
Trang 9CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI 1.1 Lý do chọn đề tài
Trong báo cáo công bố đầu tháng 4/2016 về “Triển vọng kinh tế thế giới”, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã tính toán tác động của các yếu tố bên ngoài (cầu tăng, thắt chặt tài chính và tiền tệ, giá nguyên liệu) đối với tăng trưởng của 16 nền kinh tế mới nổi lớn nhất thế giới IMF chính thức kết luận, những yếu tố bên ngoài này quyết định 50% biến động tăng trưởng của các nền kinh tế mới nổi
Theo IMF, GDP của Trung Quốc tăng thêm 1% sẽ giúp tốc độ tăng trưởng trung bình của 16 nền kinh tế mới nổi lớn nhất thế giới tăng thêm 0,1% (cũng theo tính toán của IMF, tầm ảnh hưởng của Mỹ đối với 16 nền kinh tế mới nổi của thế giới là 1% và 0,3%) Theo nhận định của các chuyên gia, tác động này không chỉ dừng lại ở ngắn hạn
Trong khi các quốc gia phát triển đang chìm trong “đại khủng hoảng”, nhu cầu của Trung Quốc và Mỹ về các sản phẩm tới từ châu Á Thái Bình Dương hoặc các nguyên liệu và các nguồn tài nguyên thiên nhiên của châu Phi hay Nam Mỹ, cho phép các quốc gia mới nổi hạn chế được tác động từ khủng hoảng Trong năm 2010-2011, tăng trưởng hàng quý của các nước mới nổi đã tăng trung bình 3,75%
so với năm 2008-2009 Riêng Trung Quốc đã giúp các nước mới nổi có thêm 0,5% tăng trưởng trong số 3,75% này
Trong những năm vừa qua, Trung Quốc chiếm ưu thế về thương mại khi đang giữ vị trí đối tác thương mại lớn nhất với các nước châu Á Thái Bình Dương, chứ không phải là Mỹ Tuy nhiên Mỹ lại chiếm ưu thế tuyệt đối về đầu tư, xét riêng một khu vực nhỏ như ASEAN là khu vực nhận được nhiều đầu tư nhất của các tập đoàn và doanh nghiệp Mỹ trên khắp thế giới, với tổng giá trị khoảng 226 tỉ USD Trong khi đó, mức đầu tư của Trung Quốc vào khu vực Thái Bình Dương thì thấp
Trang 10hơn rất nhiều so với mức đầu tư của các doanh nghiệp nước này vào các thị trường trọng điểm như Mỹ hay châu Âu
Tuy nhiên, theo báo cáo của Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF về các nền kinh tế
2015 (Outlook IMF), về lâu dài thì tình trạng hiện tại sẽ thay đổi theo hướng tăng ảnh hưởng kinh tế của Mỹ, trong khi ảnh hưởng của Trung Quốc sẽ giảm đi Việc Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của các nước châu Á Thái Bình Dương trong vài năm trở lại đây là kết quả của việc nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng nóng, dẫn đến tăng cường nhập khẩu rất nhiều năng lượng, vật liệu và hàng hóa từ các nước trên thế giới, trong đó các quốc gia Thái Bình Dương chiếm một tỷ
lệ quan trọng Từ khi tăng trưởng của Trung Quốc chậm lại, tăng trưởng của các nước mới nổi đã giảm trung bình 2% kể từ năm 2012 so với thời gian đầu của những năm 2010 Một phần tư trong số tụt giảm này là do ảnh hưởng từ sự suy giảm tăng trưởng của Trung Quốc Sự suy giảm này liên quan tới chủ ý của chính phủ muốn đưa đất nước đi theo hướng tăng trưởng bền vững hơn
Các nghiên cứu trước đây thường chỉ lưu ý tới tác động của Mỹ tới các quốc gia, khi sử dụng Mỹ như là yếu tố biến động toàn cầu Hoặc nghiên cứu ảnh hưởng của thị trường chứng chứng khoán Mỹ với các quốc gia khác như là Karolyi, G A.,
và Stulz, R M (1996), Humpe, A., và Macmillan, P (2009) Có ít nghiên cứu về ảnh hưởng của nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc ảnh hưởng đến các biến vĩ mô Đến năm 2014, Osborn và Vehbi nghiên cứu mối quan hệ giữa ảnh hưởng sự tăng trưởng nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc đến quốc gia New Zealand Trong khía cạnh của bài nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa ảnh hưởng Mỹ và Trung Quốc đến một số quốc gia ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương theo phân loại khu vực của Ngân hàng thế giới Worldbank tiếp cận được dữ liệu
Sự suy giảm tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc và sự ảnh hưởng ngày càng gia tăng của Mỹ buộc các nước mới nổi phải đa dạng hóa nền kinh tế để tăng
Trang 11cường tính bền vững của tăng trưởng Vì vậy, để nghiên cứu sâu hơn, tác giả quyết
định chọn đề tài “Tác động tương đối của tăng trưởng kinh tế của Mỹ và Trung Quốc lên các quốc gia trong khu vực châu Á Thái Bình Dương”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Bài viết làm rõ tác động tương đối của tăng trưởng kinh tế của Mỹ và Trung Quốc lên các quốc gia trong khu vực châu Á Thái Bình Dương dựa trên cơ sở lý
luận từ tổng hợp kết quả các bài nghiên cứu trước đây
Nội dung nghiên cứu chính nhằm giải quyết hai vấn đề:
(1) Liệu các quốc gia trong khu vực châu Á Thái Bình Dương có phản ứng thay đổi trong GDP, lạm phát, lãi suất và tỷ giá hối đoái thực trước các cú sốc từ hai quốc gia Trung Quốc và Mỹ?
(2) Nếu có ảnh hưởng thì mức độ phản ứng của các biến số vĩ mô của các quốc gia trong khu vực châu Á Thái Bình Dương giữa cú sốc của Trung Quốc và của Mỹ khác nhau như thế nào?
1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
1 Nguồn: country-and-lending-groups
https://datahelpdesk.worldbank.org/knowledgebase/articles/906519-world-bank-2 Nguồn: Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF, bộ dữ liệu thống kê International Financial Statistics (IFS)
Trang 12Thời gian:
Bài nghiên cứu tiến hành phân tích các biến số vĩ mô trong giai đoạn từ
1991 tới 2015 nhằm tối đa hóa số lượng quan sát nhằm đạt kết quả tin cậy hơn trong định lượng
1.3 Phương pha ́ p nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng trên dữ liệu bảng với dữ liệu thu thập từ Ngân hàng Thế giới (Worldbank) Sử dụng mô hình định lượng hệ phương trình đồng thời có cấu trúc SVAR để phân tích tác động của cú sốc của nên kinh tế Trung Quốc và Mỹ lên các quốc gia khác trong khu vực châu Á Thái Bình Dương trên dữ liệu bảng Lý do sử dụng mô hình SVAR là do các biến (các yếu tố
đo lường) có khuynh hướng về mặt lý thuyết tác động qua lại lẫn nhau Điều này đã tìm thấy ở nhiều lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm trước đây
Bài nghiên cứu lần lượt thực hiện thống kê mô tả: Cung cấp cái nhìn tổng quan dữ liệu Lọc dữ liệu nếu cần thiết (quan sát những bất thường của mẫu) Sau
đó thực hiện các kiểm định: tính dừng, kiểm định đồng liên kết, kiểm định lựa chọn
độ trễ và kiểm định nhân quả Granger, lựa chọn độ trễ phù hợp với dữ liệu mẫu trong hệ phương trình đồng thời và xác định quan hệ nhân quả giữa các biến theo quan điểm Granger Tiếp theo Hồi quy SVAR và phân tích hàm phản ứng đẩy IRF (Impulse Response Function) và phân tích phân rã phương sai để đánh giá ảnh hưởng lẫn nhau của các cú sốc, các biến thành phần và xác định trọng số mối quan
hệ nhân quả giữa các biến
Bài nghiên cứu sử dụng phần mềm thống kê Eviews 8 và Stata 12 trong phân tích định lượng
Trang 131.4 Ý nghĩa của nghiên cứu
Về mặt lý luận, đề tài sẽ hệ thống hóa các nghiên cứu về tác động của cú sốc tăng trưởng các quốc gia lớn tới các biến số vĩ mô của các quốc gia trong khu vực châu Á Thái Bình Dương Đồng thời, nghiên cứu cũng đã góp phần giải thích tầm ảnh hưởng của các quốc gia lớn đối với các quốc gia trong khu vực châu Á Thái Bình Dương, điều mà các nghiên cứu trước đây chưa có
Về mặt thực tiễn, đề tài tiến hành xây dựng một mô hình định lượng để xác định các tác động này Từ đó cung cấp những cơ sở để đưa ra các chính sách phù hợp phát triển kinh tế trong bối cảnh hội nhập toàn cầu
1.5 Kết cấu của đề tài
Ngoài danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, phần tóm tắt, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung đề tài này bao gồm 5 chương được trình bày như sau:
Chương 1 - Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Trong chương này tác giả trình bày
lý do chọn đề tài, xác định mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của đề tài
Chương 2 - Tổng quan các nghiên cứu trước đây Trong chương này tác giả
trình bày tổng quan các nghiên cứu trước đây
Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu Trong chương này tác giả sẽ làm rõ mô
hình thực nghiệm, hàm hồi quy, danh sách các biến, nguồn dữ liệu và phương pháp ước lượng
Chương 4 - Nội dung và kết quả nghiên cứu Trong chương này tác giả phân
tích thống kê mô tả, kiểm định tính dừng, đa cộng tuyến, phương sai thay đổi, tự tương quan và phân tích hồi quy.
Chương 5 - Kết luận Chương này sẽ tổng kết các kết quả mà đề tài đạt được và
rút ra các hạn chế của đề tài, những gợi ý và hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 15CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Có vẻ như đã đến lúc, cuộc cạnh tranh giành vị trí có ảnh hưởng quyết định
về kinh tế tại các nước Châu Á Thái Bình Dương đang đi đến hồi kết Nếu thông qua các chỉ số về quan hệ kinh tế, đầu tư và thương mại giữa các quốc gia trong khu vực với hai nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ và Trung Quốc, thì cũng có thể
có một khái niệm cơ bản về tầm ảnh hưởng của hai cường quốc kinh tế này tại châu
Á Thái Bình Dương
Theo đó, Trung Quốc chiếm ưu thế về thương mại khi đang giữ vị trí đối tác thương mại lớn nhất đặc biệt là đối với các quốc gia xuất khẩu nhỏ Tuy nhiên Mỹ lại chiếm ưu thế tuyệt đối về đầu tư, khi châu Á Thái Bình Dương là khu vực nhận được nhiều đầu tư nhất của các tập đoàn và doanh nghiệp Mỹ trên khắp thế giới Trong khi đó, mức đầu tư của Trung Quốc vào khu vực thì thấp hơn rất nhiều so với mức đầu tư của các doanh nghiệp nước này vào các thị trường trọng điểm như
Mỹ hay châu Âu
Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng, về lâu dài thì tình trạng hiện tại sẽ thay đổi theo hướng tăng ảnh hưởng kinh tế của Mỹ tại các nước này, trong khi ảnh hưởng của Trung Quốc sẽ giảm đi Việc Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của các nước nhỏ trong vài năm trở lại đây là kết quả của việc nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng nóng, dẫn đến tăng cường nhập khẩu rất nhiều năng lượng, vật liệu và hàng hóa từ các nước trên thế giới, trong đó các quốc gia ASEAN chiếm một tỷ lệ quan trọng
Ngoài việc xuất khẩu năng lượng và nguyên vật liệu thô sang Trung Quốc thì khá nhiều các nước này cũng điều chỉnh lại xuất khẩu của mình để tận dụng tối
đa sự tăng trưởng nóng của kinh tế Trung Quốc Nó dẫn đến kết quả lượng trao đổi thương mại với Trung Quốc tăng vọt trong một thời gian ngắn Vì thế, khi mà kinh
tế Trung Quốc bắt đầu tăng trưởng chậm lại và nhu cầu nhập khẩu giảm hẳn, thì
Trang 16điều tất yếu là tỷ trọng trao đổi thương mại cũng giảm đi Việc một loạt các quốc gia Đông Nam Á như Thái Lan, Philippines hay Malaysia tăng trưởng chậm hẳn trong năm 2015 là một dẫn chứng, khi hầu hết các nước này rơi vào tình trạng giảm xuất khẩu trầm trọng do bị tác động từ sự giảm tốc của kinh tế Trung Quốc
Nói cách khác, sự tăng vọt trong trao đổi thương mại giữa Trung Quốc và các quốc gia xuất khẩu nhỏ chỉ mang tính ngắn hạn, và xuất phát từ nhu cầu bộc phát về phát triển của Trung Quốc thay vì một quan hệ kinh tế vững chắc và ổn định lâu dài
So sánh về mức độ đầu tư có quy mô lớn, bài bản và lâu dài tại các nước này, thì rõ ràng Trung Quốc không thể so sánh với Mỹ Nhưng với một loạt các hiệp định thương mại vừa ký kết trong khu vực, cùng với dự báo trong tương lai châu Á Thái Bình Dương sẽ là khu vực có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới, thì điều này chắc chắn sẽ có sự thay đổi lớn
Nhưng, quan trọng hơn, điều mà chính phủ Mỹ hướng tới trong mối quan hệ kinh tế không phải là các con số thương mại như Trung Quốc, mà Washington quan tâm đến việc đặt ra luật chơi về kinh tế tại khu vực này, một điều sẽ nâng cao ảnh hưởng về kinh tế của Mỹ tại Châu Á Thái Bình Dương lên mức lớn nhất có thể, đồng thời làm giảm ảnh hưởng của kinh tế Trung Quốc tại khu vực này nhất có thể
Dễ dàng nhận ra điều này khi quan sát các quy định quan trọng nhất mà Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đặt ra Ngoài việc thúc đẩy hơn nữa quy mô trao đổi thương mại giữa các nước thành viên thì vấn đề quan trọng nhất của TPP là thiết lập một loạt các tiêu chuẩn về sản xuất và thương mại, và các tiêu chuẩn này được đánh giá là ở một mức rất cao mà các doanh nghiệp Trung Quốc khó có thể đạt tới
Điều này có nghĩa, khi TPP đi vào hoạt động, thì các nền kinh tế trong khu vực Thái Bình Dương sẽ vận hành với các tiêu chuẩn cao hơn Trung Quốc rất
Trang 17nhiều, và có tính tương tác tốt hơn với nền kinh tế Mỹ vốn rất phát triển thay vì với nền kinh tế Trung Quốc vẫn được đánh giá là lạc hậu và vẫn sử dụng các tiêu chuẩn tương đối thấp
Trong bối cảnh đó, hội nghị cấp cao đặc biệt Mỹ - ASEAN diễn ra vào giữa tháng 2.2016 tại Sunnylands (Mỹ) sẽ tạo điều kiện tối đa cho ba nền kinh tế Thái Lan, Indonesia và Philippines gia nhập TPP trong thời gian sớm nhất khi mà các nước này cũng tỏ ý muốn gia nhập Một khi Thái Lan, Indonesia và Philippines cũng gia nhập TPP, thì câu chuyện ảnh hưởng của Mỹ hay Trung Quốc đối với các quốc gia ở khu vực châu Á Thái Bình Dương lớn hơn cũng sáng tỏ
Trong quá trình nghiên cứu các học thuyết có liên quan, tác giả nhận thấy không có các học thuyết trước tác đông của nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc đến các yếu tố vĩ mô của các quốc gia châu Á Thái Bình Dương Lý do là việc nghiên cứu tầm ảnh hưởng của quốc gia này đến quốc gia khác trong điều kiện nền kinh tế thế giới không ngừng mở rộng là một đề tài khá mới và chỉ mới được nghiên cứu trong những năm gần đây, khác với các học thuyết tăng trưởng chủ yếu xem xét đến các yếu tố trong cùng một quốc gia Một số bài nghiên cứu có liên quan cũng không đề cập đến các học thuyết kinh tế Do đó, tác giả chủ yếu trình bày các nghiên cứu dưới dạng bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của các yếu tố này ảnh hưởng đến các quốc gia khác
Các bài nghiên cứu trước đây nghiên cứu ảnh hưởng của Mỹ hoặc Trung Quốc ảnh hưởng tới một số quốc gia/khu vực như Úc, New Zealand, OCED, các khu vực trên thế giới trong nhiều giai đoạn Các nghiên cứu trên thế giới cho ra các kết quả đa chiều vì mẫu dữ liệu và biến số vĩ mô cũng như việc lựa chọn các cú sốc tác động khác nhau
Malory Greene, Nora Dihel, Przemyslaw Kowalski và Douglas Lippoldt (2006) định lượng tác động của Trung Quốc vào nền kinh tế thế giới Ước tính dựa
Trang 18trên mô hình cân bằng tổng thể, FTAP Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động khá hạn chế lên các quốc gia thuộc nền kinh tế OECD Cơ cấu thương mại song phương giữa Trung Quốc và cá nhân của nền kinh tế OECD phản ánh các hình thức khác nhau của lợi thế so sánh cũng như sự khác biệt về cấu trúc của các rào cản thương mại và vị trí địa lý Việc Trung Quốc gia nhập WTO cùng các cam kết được dự đoán sẽ dẫn đến các tác động không đồng nhất vào các thành viên OECD Tác động trực tiếp nhất là hiệu suất xuất khẩu của các nước OECD đã được giao dịch hoặc đầu tư mạnh mẽ ở Trung Quốc nhưng vẫn phải đối mặt rào cản thị trường Mô hình thương mại quan sát cho thấy rằng tác động có thể quan trọng hơn đối với Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia và New Zealand
Paul Conway (1998), sử dụng mô hình SVAR đối với dữ liệu theo quý từ
1985 tới 1996 nhằm phân tích tác động biến đổi trong kinh tế vĩ mô New Zealand với các cú sốc đầu tư nước ngoài Các cú sốc này đã làm thay đổi nền kinh tế của New Zealand, nền kinh tế trở nên cởi mở hơn sau năm 1985, gia tăng việc thuê mướn nhân công lao động và thay đổi chu kỳ kinh tế Lãi suất thực trong nước phản ứng không rõ trong dài hạn, tuy nhiên sau khi bãi bỏ quy định tài chính vào giữa những năm 1980, lãi suất thực trong nước phản ứng với tác động từ các cú sốc lãi suất toàn cầu
Trong nghiên cứu của Ben Hunt (2010), mô hình kinh tế toàn cầu của IMF (GEM) được sử dụng để ước tính ảnh hưởng khác biệt giữa tốc độ tăng trưởng của các quốc gia mới nổi châu Á lên Úc Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng khoảng 25% tăng trưởng của Australia trong thập kỷ qua đã được giải thích từ tăng trưởng của các quốc gia châu Á mới nổi trong giai đoạn nghiên cứu
Sun (2011) sử dụng phương pháp vector tự hồi quy (VAR) và thấy rằng, trong một thập kỷ qua, những cú sốc từ các quốc gia mới nổi châu Á vượt qua Hoa
Kỳ thông qua việc nghiên cứu các yếu tố ngoại sinh quan trọng nhất ảnh hưởng đến
Trang 19chu kỳ kinh tế của Úc Đối với thời kỳ mẫu toàn bộ 1991-2010, cú sốc 1 phần trăm trong GDP của Mỹ được tìm thấy tác động tới tăng trưởng Úc khoảng 0,4 phần trăm Ngược lại, những cú sốc từ các nước Châu Á mới nổi có tác động gần như không đáng kể lên tăng trưởng Úc Kết quả này thay đổi đáng kể khi giới hạn kích thước mẫu để 2000-10 Một phần trăm cú sốc đối với tăng trưởng của các quốc gia mới nổi châu Á tác động tới tăng trưởng Úc ⅓ phần trăm, trong khi các tác động của các cú sốc của Hoa Kỳ vào Úc không có ý nghĩa thống kê
Ngược lại, những cú sốc từ các quốc gia này được tìm thấy không có nhiều ảnh hưởng trên chu kỳ kinh tế của New Zealand mặc dù điều này có thể là do xuất khẩu sang Trung Quốc đã tăng tốc nhanh chóng chỉ từ năm 2008 Thay vào đó, GDP của New Zealand là giải thích tốt nhất cho những cú sốc từ Úc, đối tác thương mại và tài chính quan trọng nhất của mình Tác động gần như là một trong mẫu dữ liệu mười năm trở lại đây Điều này cho thấy trong thập kỷ qua New Zealand đã nhận được những lợi ích gián tiếp từ các quốc gia châu Á mới nổi (chủ yếu là Trung Quốc) thông qua Úc
Sự hội nhập của Trung Quốc vào nền kinh tế toàn cầu là một trong những sự kiện ngoạn mục nhất trong lịch sử kinh tế Điều này đã thúc đẩy Christian Dreger
và Yanqun Zhang (2011) nghiên cứu quá trình này ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng sản lượng và lạm phát ở các nước tiên tiến như thế nào Bằng mô hình GVAR khám phá phụ thuộc lẫn nhau giữa các chu kỳ kinh tế ở Trung Quốc và các nước công nghiệp, trong đó có Mỹ, khu vực đồng Euro và Nhật Bản Bên cạnh đó các kết quả được so sánh với những tác giả khác thu được từ mô hình cấu trúc hàng đầu, như NiGEM và OEF Bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng tác động đến tăng trưởng sản lượng trong nền kinh tế tiên tiến có thể khác biệt đáng kể, đặc biệt
là đối với khu vực châu Á Các phản ứng khu vực đồng euro và Mỹ là thấp hơn bởi liên kết thương mại ít chuyên sâu hơn
Trang 20Valery Charnavoki, Juan J Dolado (2012) sử dụng mô hình các nhân tố năng động cấu trúc, với dữ liệu theo quý trong giai đoạn 1875-2010 Tác giả xem Canada như là đại diện của một nước xuất khẩu hàng hóa nhỏ và phân tích tác động của các cú sốc toàn cầu tới các biến số vĩ mô Kết quả phân tích cho thấy rằng sự biến động của giá cả hàng hóa chịu tác động âm từ cú sốc giá của các hàng hóa đặc biệt mang tính toàn cầu Ngược lại một cú sốc cầu lại mang tác động tích cực tới biến động giá Đặc biệt, các cú sốc đều mang ý nghĩa tới sự thay đổi của giá cả hàng hóa đáng kể nhất là trong giai đoạn 1975 trở đi
Shaun K Roache (2012) sử dụng mô hình VAR với dữ liệu trong giai đoạn 2000-2011 Tác giả thấy rằng những cú sốc hoạt động toàn thể ở Trung Quốc có tác động mang ý nghĩa trong ngắn hạn đối với sự biến động trong giá dầu và các vật liệu cơ bản Ngược lại, cú sốc về lượng hàng tiêu thụ, phản ánh nhu cầu tồn kho không có tác động nào tới giá cả hàng hóa Tác động của Trung Quốc lên thị trường hàng hóa toàn cầu ngày càng gia tăng nhưng vẫn ít hơn so với Mỹ Điều này chủ yếu từ sự cơ động của các cú sốc tăng trưởng thực tiễn ở Mỹ có xu hướng kéo dài và tác động mạnh tới phần còn lại của thị trường thế giới
Denise R Osborn, Tugrul Vehbi (2015) nghiên cứu cung cấp một phân tích định lượng so sánh tác động tương đối của tăng trưởng kinh tế của Mỹ và Trung Quốc lên các quốc gia xuất khẩu hàng hóa nhỏ, cụ thể là New Zealand Mô hình SVAR với khối toàn cầu là ngoại sinh bao gồm tăng trưởng GDP của hai nền kinh
tế quốc tế và lạm phát giá cả hàng hóa thế giới mang tính trọng yếu; ảnh hưởng trong khu vực được kiểm soát thông qua việc đưa tăng trưởng GDP của Úc, trong khi khối nội địa bao gồm tăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất và những thay đổi trong tỷ giá hối đoái thực Sử dụng mẫu trong thời kỳ 1986-2011, tác giả thấy rằng, mặc dù tác động lan tỏa tăng trưởng đến GDP New Zealand là cao hơn đáng kể với
Trang 21tác động từ Mỹ so với Trung Quốc, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng ở Trung Quốc gây
ra phản ứng lớn hơn trong tỷ giá hối đoái thực so với Mỹ
Trong báo cáo tăng trưởng châu Á của các tác giả thuộc ngân hàng Standard Chartered (2015) Trong khi kết quả phản ứng xung của cho thấy rằng một cú sốc tăng trưởng của Mỹ sẽ có ảnh hưởng lớn nhất đối với tăng trưởng của châu Á, tầm quan trọng của Trung Quốc tăng trong gần đây khung thời gian nghiên cứu (2005-15) Cụ thể, đối với toàn bộ giai đoạn 2000-15, tác động của một cú sốc tăng trưởng Mỹ lớn hơn đối với các nền kinh tế châu Á trong mẫu so với một cú sốc tương tự như với các nền kinh tế khác Tuy nhiên, tính đến tốc độ tăng trưởng tương đối, Trung Quốc là động lực chi phối nhiều hơn cho tốc độ tăng trưởng nhanh hơn của nó Các tác giả cũng thấy rằng, các nền kinh tế mở cửa giao dịch ngoại thương trong mẫu của (Singapore, Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan và Malaysia) bị ảnh hưởng nhiều bởi sự tăng trưởng trong các ngành lớn hơn so với các nền kinh tế khép kín (Ấn Độ, Philippines, Australia và Indonesia) Cụ thể, một
sự suy giảm tăng trưởng ở Mỹ hoặc Trung Quốc có thể làm GDP Singapore sẽ giảm tổng cộng 1,65% hay 1,63% so với một năm, tương ứng Hay, Malaysia 0,53% hay 0,26%, tương ứng
Tóm lại, nghiên cứu trực tiếp về mối quan hệ giữa tác động kinh tế của Mỹ
và Trung Quốc đến các quốc gia và vùng lãnh thổ là không nhiều, các nghiên cứu tập trung vào đối tượng một nền kinh tế quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ
Đối với vùng nhóm quốc gia:
Các tác giả tìm thấy tác động hạn chế lên các quốc gia thuộc nền kinh tế OECD Cơ cấu thương mại song phương giữa Trung Quốc và cá nhân của nền kinh
tế OECD phản ánh các hình thức khác nhau của lợi thế so sánh cũng như sự khác biệt về cấu trúc của các rào cản thương mại và vị trí địa lý Tuy nhiên khi gia nhập WTO cùng các cam kết được dự đoán sẽ dẫn đến các tác động không đồng nhất
Trang 22vào các thành viên OECD Tác động trực tiếp nhất là hiệu suất xuất khẩu của các nước OECD đã được giao dịch hoặc đầu tư mạnh mẽ ở Trung Quốc nhưng vẫn phải đối mặt rào cản thị trường Tuy nhiên các tác giả này cũng tìm thấy tác động
có thể quan trọng hơn đối với Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia và New Zealand; Malory Greene, Nora Dihel, Przemyslaw Kowalski và Douglas Lippoldt (2006)
Đối với khu vực châu Á, có những nghiên cứu đã tìm thấy tác động đáng kể của Trung Quốc lên các quốc gia này, Christian Dreger và Yanqun Zhang (2011) Trong khi Trung quốc ít tác động lên các quốc gia khu vực đồng EURO bởi lý do liên kết thương mại không chuyên sau bằng Ngoài ra, cũng là thực nghiệm Châu
Á, tác giả thuộc ngân hàng Standard Chartered (2015) báo cáo thường niên, cho thấy một cú sốc tăng trưởng của Mỹ sẽ có ảnh hưởng lớn nhất đối với tăng trưởng của châu Á, tầm quan trọng của Trung Quốc tăng trong gần đây khung thời gian nghiên cứu (2005-15) Cụ thể, đối với toàn bộ giai đoạn 2000-15, tác động của một
cú sốc tăng trưởng Mỹ lớn hơn đối với các nền kinh tế châu Á trong mẫu so với một cú sốc tương tự như với các nền kinh tế khác Tuy nhiên, tính đến tốc độ tăng trưởng tương đối, Trung Quốc là động lực chi phối nhiều hơn cho tốc độ tăng trưởng nhanh hơn của nó Các tác giả cũng thấy rằng, các nền kinh tế mở cửa giao dịch ngoại thương trong mẫu của (Singapore, Đài Loan, Hồng Kông, Thái Lan và Malaysia – các quốc gia Châu Á Thái Bình Dương) bị ảnh hưởng nhiều bởi sự tăng trưởng trong các ngành lớn hơn so với các nền kinh tế khép kín (Ấn Độ, Philippines, Australia và Indonesia)
Trong so sánh tác động nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc, cú sốc hoạt động toàn thể ở Trung Quốc có tác động mang ý nghĩa trong ngắn hạn đối với sự biến động trong giá dầu và các vật liệu cơ bản Trong khi tác động thị trường hàng hóa toàn cầu mặc dù ngày càng gia tăng nhưng vẫn ít hơn so với Mỹ So với các cú sốc
Trang 23do Trung Quốc, các cú sốc tăng trưởng thực tiễn ở Mỹ có xu hướng kéo dài và tác động mạnh tới phần còn lại của thị trường thế giới
Đối với một quốc gia:
Các nghiên cứu cho thấy các quốc gia chịu tác động từ tác động của các biến động nền kinh tế, trên cả các yếu tố vĩ mô và đặc biệt là giải thích nhiều cho sự tăng trưởng quốc gia đó, như:
Các nền kinh tế bên ngoài và tác động toàn cầu có tác động làm cởi mở hơn đối với kinh tế New Zealand, gia tăng việc thuê mướn nhân công lao động và thay đổi chu kỳ kinh tế, lãi suất thực trong nước phản ứng không rõ trong dài hạn, tuy nhiên sau khi bãi bỏ quy định tài chính vào giữa những năm 1980, lãi suất thực trong nước phản ứng với tác động từ các cú sốc lãi suất toàn cầu, Paul Conway (1998)
Các quốc gia châu Á giải thích cho sự tăng trưởng nền kinh tế Úc được tác giả Hunt (2010) tìm thấy, khoảng 25% tăng trưởng của Australia trong thập kỷ qua
đã được giải thích từ tăng trưởng của các quốc gia châu Á mới nổi Và sự tăng trưởng của các quốc gia mới nổi châu Á ảnh hưởng tới Úc ghi nhận này còn vượt qua ảnh hưởng của cả Hoa Kỳ trong giai đoạn 2000-2010, Sun (2011)
Đối với các yếu tố vĩ mô, tác động của nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc tới New Zealand, tác giả thấy rằng, mặc dù tác động lan tỏa tăng trưởng đến GDP New Zealand là cao hơn đáng kể với tác động từ Mỹ so với Trung Quốc, tuy nhiên tốc
độ tăng trưởng ở Trung Quốc gây ra phản ứng lớn hơn trong tỷ giá hối đoái thực so
với Mỹ Denise R Osborn, Tugrul Vehbi (2015)
Trang 24CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong chương này tác giả trình bày phương pháp nghiên cứu, đầu tiên là phương pháp tiếp cận phân tích hệ phương trình đồng thời trên dữ liệu bảng, sau đó là danh sách quốc gia và khoảng thời gian nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu bao gồm định nghĩa biến và nguồn dữ liệu Tiếp theo tác giả trình bày mô hình thực nghiệm và cuối cùng tác giả trình bày thực trạng biến động kinh tế Hoa Kỳ, Trung Quốc và khu vực Châu Á Thái Bình Dương
3.1 Phương pháp nghiên cứu
Trong phần này tác giả trình bày căn cứ phương pháp nghiên cứu dựa trên nghiên cứu trước đây, cũng như ưu điểm và lý do lựa chọn mô hình
Như đã trình bày trong chương 2, có hai phương pháp thường được dùng ở một số bài nghiên cứu khi nghiên cứu về ảnh hưởng của tác động của nền kinh tế
Mỹ và Trung Quốc đến các biến vĩ mô Phương pháp đầu tiên là phương trình hồi quy tiêu chuẩn đơn, các tác giả áp dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS
để đo lường mức tác động, với đa thức phân phối có độ trễ để nắm bắt những phản ứng của các yếu tố vĩ mô trước biến động của nền kinh tế Mỹ và Trung Quốc Nhưng hạn chế của phương pháp này là bỏ qua tính chất chuỗi thời gian của dữ liệu
vĩ mô Do đó những giả thiết trong đo lường OLS bị vi phạm, dẫn đến những vấn
đề của hồi quy giả mạo Hơn nữa, đo lường có thể bị thất bại từ những vấn đề không nhất quán do việc xác định biến nội sinh tác động qua lại giữa các biến vĩ
mô
Phương pháp thứ hai có tên là PSVAR dựa trên phương pháp VAR véc tơ tự hồi quy (Vector Auto-regressive) được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1980 bởi Chrishtopher H Sims, người vừa đạt được giải Nobel kinh tế 2011 Trong bài viết này, tác giả sử dụng phương pháp phân tích định lượng: mô hình PSVAR – (Panel
Trang 25Structral Vector autoregression model) được sử dụng và ứng dụng chức năng hàm phản ứng xung IRF (Impulse Response Function), phân rã phương sai (Variance decomposition) để đo lường và phân tích sự truyền dẫn cú sốc về sản lượng và giá
cả trên thế giới đến các biến số vĩ mô, phân tích vai trò của các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến khu vực châu Á Thái Bình Dương Đồng thời thông qua chức năng phân rã phương sai, tác giả phân tích vai trò của các yếu tố ảnh hưởng đến các biến
vĩ mô tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương
Bài nghiên cứu sử dụng mô hình PSVAR trên khung cơ sở mô hình VAR kế thừa cách tiếp cận của tác giả Denise R Osborn và Tugrul Vehbi (2015) Phương pháp này, cùng các bước thực hiện, thu thập và xử lý dữ liệu sẽ được trình bày cụ thể sau đây
3.1.1 Mô hình hệ phương trình đồng thời trên dữ liệu bảng PVAR
Trong mô hình PVAR, một biến không những chịu ảnh hưởng từ tác động hiện tại của các biến khác mà còn chịu ảnh hưởng bởi độ trễ của chính nó và độ trễ của các biến khác trong quá khứ Mô hình PVAR về cấu trúc gồm nhiều phương trình (mô hình hệ phương trình) và có các độ trễ của các biến số PVAR là mô hình động của một số biến thời gian Mô hình VAR tổng quát đối với hai biến số Y1, Y2
1
Trang 26Với Y1t , Y2t là các chuỗi dừng và là biến nội sinh, U1t và U2t là các nhiễu trắng Vai trò các biến số Y1t , Y2t hoàn toàn tương đương nhau trong mô hình
3.1.3 Phân rã Cholesky
Mô hình VAR dạng cấu trúc được xếp là mô hình không định dạng được
Để xử lý vấn đề này chúng ta đưa ra thêm ràng buộc lên các tham số của mô hình Một trong những cách tiếp cận dạng này là phân rã Cholesky Để minh họa phân rã Cholesky cho mô hình đơn giản hai biến và một trễ, phân rã này giả sử, chẳng hạn rằng a11=0, nghĩa là y2 không có tác động tức thời lên y1 (tuy nhiên nó vẫn có tác động trong các thời kì sau, thông qua cơ chế trễ của mô hình)
Sắp xếp thứ tự (Cholesky ordering)
Các biến sắp xếp theo một thứ tự giả định, khi đó biến đứng trước được giả định sẽ gây ra tác động cho những biến ở sau nó, trong khi các biến sau không gây ra tác động tới biến đứng trước nó
Với thứ tự sắp xếp khác nhau sẽ cho ra kết quả khác nhau Do đó thông thường người ta thường vận dụng đến lý thuyết kinh tế để đưa ra các cách sắp xếp
lý thuyết phù hợp
3.1.4 Ứng dụng của mô hình VAR
Về bản chất VAR là sự kết hợp của 2 phương pháp: tự hồi quy đơn chiều (univariate autoregression - AR) và hệ phương trình ngẫu nhiên (simultanous equations - SEs) VAR hay ở chỗ có được ưu điểm của AR là dễ ước lượng bằng phương pháp tối thiểu hóa phần dư (OLS) và ưu điểm của SEs là ước lượng nhiều biến trong cùng một hệ thống Đồng thời khắc phục nhược điểm của SEs là không cần lưu tâm đến tính nội sinh của các biến kinh tế Tức là các biến kinh tế vĩ mô thường mang tính nội sinh khi chúng tác động qua lại lẫn nhau Thuộc tính này làm cho phương pháp cổ điển hồi quy bội dùng một phương trình hồi quy nhiều khi bị
Trang 27sai lệch khi ước lượng Đây là những lý do cơ bản khiến VAR trở nên phổ biến trong nghiên cứu kinh tế vĩ mô
Mô hình Var thường được dùng trong các bài toán liên quan đến các biến
kinh tế vĩ mô như:
Dự báo, đặc biệt là dự báo trung hạn và dài hạn
Phân tích cơ chế truyền tải sốc, nghĩa là xem xét tác động của một cú sốc trên một biến phụ thuộc lên các biến phụ thuộc khác trong hệ thống qua hàm phản ứng xung (Impulse response)
Phân tích mức tác động của cú sốc mỗi biến trong việc giải thích biến động của một biến trong mô hình qua chức năng phân rã phương sai (Variance decomposition)
3.2 Ưu điểm của tiếp cận nghiên cứu trên dữ liệu bảng
So với các tiếp cận trên chuỗi thời gian, lợi thế của dữ liệu bảng so với dữ liệu theo chuỗi thời gian và không gian, theo Baltagi (2008):
1 Bởi vì dữ liệu bảng liên hệ đến các cá nhân, các doanh nghiệp, các tiểu bang, các quốc gia, theo thời gian, nên chắc chắn có tính không đồng nhất trong các đơn vị này Các kỹ thuật ước lượng dựa trên dữ liệu bảng có thể tính đến tính không đồng nhất đó một cách rõ ràng bằng cách bao gồm các biến chuyên biệt theo cá nhân, quốc gia
2 Bằng cách kết hợp chuỗi thời gian của các quan sát chéo, dữ liệu bảng cho tác giả “dữ liệu chứa nhiều thông tin hữu ích hơn, tính biến thiên nhiều hơn, ít hiện tượng
đa cộng tuyến giữa các biến hơn, nhiều bậc tự do hơn và hiệu quả cao hơn.”
Trang 283 Bằng cách nghiên cứu quan sát lập đi lập lại của các đơn vị chéo, dữ liệu bảng phù hợp hơn cho việc nghiên cứu sự động thái thay đổi theo thời gian của các đơn
vị chéo này
4 Dữ liệu bảng có thể phát hiện và đo lường tốt hơn các tác động mà tác giả không thể quan sát được trong dữ liệu chuỗi thời gian hay dữ liệu chéo thuần túy Có thể là văn hóa, dân số, vị trí địa lý, … các quốc gia Phương pháp ước lượng trên dữ liệu bảng đo lường và kiểm soát và loại bỏ được tác động này
5 Dữ liệu bảng làm cho tác giả có thể nghiên cứu các mô hình hành vi phức tạp hơn Thí dụ, tác giả có thể xử lý tốt hơn bằng dữ liệu bảng các hiện tượng như lợi thế kinh tế theo qui mô và thay đổi công nghệ so với dữ liệu chéo hay dữ liệu chuỗi thời gian
6 Bằng cách cung cấp dữ liệu đối với vài nghìn đơn vị, dữ liệu bảng có thể giảm đến mức thấp nhất hiện tượng chệch có thể xảy ra nếu tôi gộp các quốc gia hay các doanh nghiệp theo những biến số có mức tổng hợp cao
Trường hợp bài tác giả, mô hình VAR là cách tiếp cận với hệ số hồi quy rất lớn
so với các mô hình hồi quy đơn do hệ phương trình đồng thời này dùng nhiều phương trình và cả độ trễ trong hàm hồi quy Các tiếp cận trước đây thường sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian với cỡ mẫu không quá lớn hơn nhiều so với số hệ số làm bậc tự do giảm, ảnh hưởng đến tin cậy của kiểm định Phương pháp trên dữ liệu bảng cho phép tăng nhiều số lượng quan sát
Hơn nữa, nghiên cứu trên dữ liệu bảng với phương pháp ước lượng loại trừ tác động riêng biệt của từng quốc gia Quan sát được các yếu tố nội tại trong từng quốc gia
mà dữ liệu chuỗi thời gian và dữ liệu chéo không quan sát được như văn hóa, vị trí địa
lý, chính trị, đặc thù quốc gia, và loại bỏ được các yếu tố sai biệt này trong đo lường mối quan hệ giữa các biến Do đó, bằng chứng có ý nghĩa thống kê trên dữ liệu bảng
Trang 29thể hiện xu hướng thống nhất trong quan sát của tất cả các quốc gia trong cỡ mẫu nghiên cứu
Căn cứ trên nhiều nghiên cứu thực nghiệm khác về ảnh hưởng tốc độ tăng trưởng mang tính toàn cầu từ các nền kinh tế hàng đầu (Bayoumi và Swiston, 2009; Sato et al, 2011; Dungey et al, 2014, nghiên cứu của tác giả sử dụng một mô hình PSVAR, điều này có thể được thể hiện là hệ thống phương trình ước lượng như sau:
B (L)y t =u t (1)
Trong đó, yt là một vec-tơ n x 1 bao gồm các biến của mô hình, trong khi
B(L)= B0 – B1L - … - BpLp là một ma trận đa thức với toán tử trễ L Ma trận n x n
B0 nắm bắt các tương tác đồng thời mà vec-tơ nhiễu ut bằng 0 và ma trận chéo hiệp phương sai Mặc dù bỏ qua các đại diện trong phương trình (1), trong thực tế tất cả các phương trình trong mô hình đều bao gồm hệ số chặn
Các vec-tơ quan sát được phân chia như yt= , trong đó là các vec-tơ bổ sung cho các biến số nội địa, khu vực và toàn cầu và tương ứng, bao gồm các nhân tố nG, nR và nD mà n=nG + n R + nD Ma trận hệ số trong phương trình (1) có dạng:
Trong đó Bi (i=0,1,2,…p) được phân chia một cách thông dụng với yt Trong đướng chéo khóa của phương trình (2), việc nhận diện các hạn chế đồng thời với mỗi khối khi i=0 là phần tam giác thấp với các biến đơn vị dưới các nhân tố đường
Trang 30chéo Trong tổng số các mô hình đặc biệt có n= 7 biến, với ký hiệu biến toàn cầu
nG = 2, biến khu vực nR= 1 , biến nội địa nD=4
Các phương pháp nghiên cứu cứu không sử dụng cấu trúc chưa loại bỏ được tác động ngược chiều của các biến phụ thuộc lên biến độc lập, dẫn tới vẫn chưa loại bỏ được hiện tượng nội sinh còn tồn tại trong mô hình Ước lượng OLS để xác định các hệ
số trong phương trình VAR và VECM bị thiên lệch (bias) khi mô hình tồn tại hiện tượng nội sinh
Lý do lựa chọn cách tiếp cận ràng buộc ma trận chặn chiều tác động ngược của các biến loại bỏ hiện tượng nội sinh của bài nghiên cứu dựa trên nghiên cứu Cushman
và Zha (1997) và Ülkü, N (2015), phương pháp kiểm soát nội sinh này cho phép đống góp bằng chứng thực nghiệm tin cậy hơn Đồng thời cũng chặn các chiều tác động của các biến số kinh tế nội địa nhỏ tới các biến khu vực hay toàn cầu, theo Denise R Osborn và Tugrul Vehbi (2015)
3.4 Dữ liệu nghiên cứu
Bài nghiên cứu tiến hành chạy định lượng dựa trên 7 quốc gia thuộc khu vực châu Á Thái Bình Dương bao gồm: Úc, Hồng Kong, Nhật, New Zealand, Philipins, Singapor, Malaysia Đây là toàn bộ các quốc gia có đầy đủ dữ liệu các biến trong giai đoạn nghiên cứu được tác giả lọc từ danh sách các quốc gia Châu Á Thái Bình Dương theo tiêu chuẩn phân vùng Ngân hàng thế giới Worldbank.3
Các chỉ số vĩ mô như GDP, lạm phát (INF), lãi suất (T-BILL), tỷ giá thực (REX), Chỉ số giá thể giới (WCI), GDPi (i: Mỹ US, Trung Quốc China) được lấy từ
dữ liệu của IMF, Ngân hàng ANZ từ 1991-2015 Chuỗi dữ liệu được lựa chọn theo
https://datahelpdesk.worldbank.org/knowledgebase/articles/906519-world-bank-country-and-lending-groups
Trang 31quý nhằm tối đa hóa số lượng quan sát nhằm tăng độ tin cậy của phân tích định lượng dữ liệu
Bảng 3.1: Tổng hợp nguồn dữ liệu:
Lãi suất dài hạn T-bill Quỹ tiền tệ thế giới - IMF
GDP thực Trung Quốc Quỹ tiền tệ thế giới - IMF
Ghi chú: Các chuỗi dữ liệu trên đều là các chuỗi dữ liệu thứ cấp được tải từ nguồn dữ liệu đã được Quỹ tiền tệ thế giới và Ngân hàng ANZ tính toán sẵn
Về biến thế giới và biến khu vực: WCI đại diện cho giá cả hàng hóa thế giới GDP US thể hiện sản lượng đầu ra của một nền kinh tế lớn nhất thế giới GDP China thể hiện sản lượng đầu ra của một nền kinh tế lớn nhất trong khu vực
Về biến nội địa: GDP China thể hiện sản lượng đầu ra của các quốc gia trong khu vực nghiên cứu Lạm phát thể hiện giá cả của thị trường và thông qua chỉ
số CPI, Tbill đại diện cho lãi suất và chính sách tiền tệ của các quốc gia Tỷ giá hối đoái thể hiện giá thương mại giữa các quốc gia
Trang 32Đồng thời, việc sử dụng các biến đại diện trên cũng được tác giả tham khảo
từ bài nghiên cứu của Denise R Osborn, Tugrul Vehbi (2015)
Như vậy, nhìn chung các nhóm biến trên đã phản ánh khá rõ rét các thông tin về nền kinh tế thế giới và nền kinh tế nội địa khu vực nghiên cứu, phù hợp với mục tiêu nghiên cứu
cơ cấu sẽ có thể kìm hãm tăng trưởng
Trang 33Biểu đồ 1: Tăng trưởng kinh tế của các quốc gia và vùng lãnh thổ
(Nguồn: Dựa trên tính toán tác giả từ dữ liệu đã dẫn) Khu vực Châu Á Thái Bình Dương có tốc độ tăng trưởng cao hầu như mọi năm so với thế giới, chỉ duy nhất giai đoạn khủng hoảng kinh tế Châu Á Thái Bình Dương bắt đầu từ Thái Lan năm 1997 ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng khu vực này trong năm tiếp theo 1998 So với Hoa Kỳ, nền kinh tế khu vực này cũng có tốc
độ tăng trưởng cao hơn Tăng trưởng nền kinh tế thế giới có xu hướng mức tăng trưởng dao động quanh sự tăng trưởng của Hoa Kỳ Trong khi nền kinh tế Trung Quốc có tốc độ tăng trưởng cao hơn tất cả, cao hơn Hoa Kỳ, Thế giới và cả khu vực Châu Á Thái Bình Dương tính chung
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (%)
Hoa Kỳ Trung Quốc Thế giới Châu Á Thái Bình Dương
Trang 34Biểu đồ 2: Tỷ trọng nền kinh tế của các quốc gia và vùng lãnh thổ
(Nguồn: Dựa trên tính toán tác giả từ dữ liệu đã dẫn) Theo thời gian từ 1991-2015, nền kinh tế Mỹ mặc dù có giảm xuống về tỷ trọng trong nền kinh tế toàn cầu, tuy nhiên vẫn chiếm trên 20% ở mọi năm Trung Quốc từ nền kinh tế chỉ chiếm 2.4% vào năm 1991 đã tăng lên đến 11.8% vào năm
2015, chiếm vai trò ngày càng quan trọng trong đóng góp nền kinh tế thế giới Đối với các quốc gia khu vực Châu Á Thái Bình Dương còn lại không tính Trung Quốc, chiếm 18.2% vào năm 1991 đã duy trì đến năm 1997, từ sau khủng hoảng bắt nguồn từ Thái Lan, nền kinh tế các quốc gia khu vực này (không tính Trung Quốc)
đã bắt đầu giảm dần còn mức 15.8% vào năm 2015
Nền kinh tế Mỹ trong giai đoạn nghiên cứu:
Trang 35Mỹ là một cộng hòa lập hiến liên bang gồm có 50 tiểu bang và một đặc khu liên bang Quốc gia này nằm gần hoàn toàn trong tây bán cầu: 48 tiểu bang lục địa
và thủ đô Washington, D.C., nằm giữa Bắc Mỹ Với 9,83 triệu km² và 316 triệu dân, Mỹ là quốc gia lớn thứ 3 về tổng diện tích và thứ 3 về dân số trên thế giới Nền kinh tế quốc dân của Mỹ lớn nhất trên thế giới (tính trên giá trị thực tế, với tổng sản phẩm nội địa (GDP) được ước tính cho năm 2015 là trên 18,1 ngàn tỉ đô la (khoảng 23% tổng sản lượng thế giới dựa trên GDP danh định, và gần 21% sức mua tương đương GDP bình quân đầu người của Mỹ là 56.421 đô la, đứng hạng 5 thế giới theo giá trị thực và hạng 10 theo sức mua tương đương Từ một tiểu bang nhỏ, đến cuối thế kỷ 19, Mỹ đã mở rộng đến Thái Bình Dương, và trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới Đệ nhị Thế chiến đã xác định vị thế siêu cường toàn cầu của Mỹ, là quốc gia đầu tiên có vũ khí hạt nhân, và là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc Là siêu cường duy nhất còn lại sau Chiến tranh Lạnh, Mỹ được nhiều quốc gia nhìn nhận như là một thế lực quân
sự, văn hóa, và kinh tế có ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới.4
4 Nguồn: Wikipedia
Trang 36Biểu đồ 3: Tăng trưởng kinh tế Hoa Kỳ trong giai đoạn 1991 – 2015
(Nguồn: Dựa trên tính toán tác giả từ dữ liệu đã dẫn) Thập kỷ 1990 đưa đến một vị tổng thống mới, Bill Clinton (1993-2001) Là một người Dân chủ ôn hòa và thận trọng, Clinton đưa ra một số chủ trương giống như những người tiền nhiệm của ông Dù Clinton đã cắt giảm quy mô bộ máy làm việc của liên bang, chính phủ vẫn tiếp tục đóng vai trò chủ chốt trong nền kinh tế quốc gia Hầu hết những sáng kiến quan trọng trong thời Chính sách mới và rất nhiều chương trình của giai đoạn Xã hội vĩ đại vẫn được duy trì Và hệ thống Dự trữ liên bang tiếp tục điều tiết nhịp độ chung của hoạt động kinh tế, với sự cảnh giác cao độ trước bất kỳ dấu hiệu mới nào của lạm phát
Đồng thời, trong suốt những năm 1990, nền kinh tế vận hành ngày càng lành mạnh Với sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô và Đông Âu vào cuối thập
kỷ 1980, các cơ hội buôn bán mở ra rất lớn Nền kinh tế tăng trưởng nhanh chóng
và lợi nhuận của các tập đoàn cũng tăng mạnh Cùng với lạm phát và thất nghiệp ở mức thấp, những khoản lợi nhuận lớn được đưa vào thị trường chứng khoán đang dấy lên sôi động; chỉ số bình quân công nghiệp Dow Jones chỉ ở mức 1.000 điểm
Trang 37vào cuối thập kỷ 1970 thì năm 1999 đã lên đến 11.000 điểm, góp phần đáng kể vào
sự giàu có của nhiều người Mỹ - tuy không phải là tất cả
Sau khi đạt tới đỉnh cao với 290 tỷ USD vào năm 1992, ngân sách liên bang liên tục thu hẹp lại do tăng trưởng kinh tế và mức tăng thu nhập từ thuế Năm 1998, chính phủ công bố thặng dư ngân sách lần đầu tiên trong vòng 30 năm qua, mặc dù một khoản nợ khổng lồ - chủ yếu dưới dạng các khoản thanh toán trong tương lai của chương trình An sinh xã hội dành cho thế hệ sinh ra trong thời kỳ bùng nổ dân
số - vẫn còn đó Các nhà kinh tế, ngạc nhiên trước sự kết hợp giữa tăng trưởng kinh
tế nhanh và lạm phát thấp kéo dài, đã tranh luận về việc liệu nước Mỹ có một “nền kinh tế mới” có khả năng duy trì được tỷ lệ tăng trưởng nhanh hơn so với khả năng
có thể dựa vào kinh nghiệm của 40 năm trước hay không
Tuy vậy, người Mỹ đã khôi phục được lòng tin khi kết thúc thập kỷ 1990 Đến cuối năm 1999, nền kinh tế Mỹ đã tăng trưởng liên tục tính từ tháng Ba 1991, đây là thời kỳ phát triển kinh tế trong thời bình dài nhất trong lịch sử nước Mỹ Tháng Mười một 1999, tổng số người thất nghiệp chỉ chiếm 4,1% lực lượng lao động, một tỷ lệ thấp nhất trong gần 30 năm qua Và giá cả hàng hóa tiêu dùng, chỉ tăng 1,6% trong năm 1998 (tỷ lệ tăng thấp nhất ngoại trừ một năm kể từ 1964), chỉ tăng lên chút ít trong năm 1999 (2,4% tính đến tháng Mười)
Bước qua kỷ nguyên mới, sau đợt suy thoái nhẹ từ tháng 3 đến tháng 11 năm 2001, kinh tế Mỹ bắt đầu tăng trưởng với tốc độ trung bình là 2,9% trong giai đoạn từ 2002 đến 2006 Trong khi đó, lạm phát về giá cả, tỷ lệ thất nghiệp và lãi suất vẫn duy trì ở mức tương đối thấp
Trong nửa cuối năm 2003, kinh tế Mỹ tăng trưởng 6,1%, mức cao nhất trong vòng 20 năm trở lại Hàng loạt các chỉ số như cạnh tranh, sản xuất công nghiệp, tiêu dùng… tại Mỹ đã được cải thiện Chỉ số lạm phát dừng lại ở 1,6% (năm 2002
là 1,7), trong tầm kiểm soát của Chính phủ
Trang 38Năm 2004, kinh tế Mỹ đạt mức tăng trưởng cao, khoảng từ 4,2% (theo niesr), đến 4,4%, (theo OECD, Oxford Economics) Tăng trưởng kinh tế toàn cầu đạt mức 5,1% trong năm 2004, con số khá cao trong vòng 30 năm qua, và các nhà phân tích đã dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới sẽ hơi chậm lại trong năm 2005 Tuy nhiên, IMF lại dự báo kinh tế toàn cầu tăng 4,3% trong 2 năm 2005-2006 Kinh tế Mỹ đạt mức tăng trưởng tương đối mặc dù nước này chịu ảnh hưởng của giá dầu tăng cao và thiên tai như các cơn bão Katrina, Rita… Theo phân tích, nền kinh tế Mỹ đã tăng khoảng 3,8%
Giai đoạn 2007-2009, đối với Mỹ cuộc khủng hoảng đã đưa nước Mỹ bước vào thời kì tồi tệ nhất trong lịch sử từ sau cuộc đại suy thoái thập niên 1930 Hàng loạt các ngân hàng hàng đầu thế giới như Lehman, Merrill Lynch tuyên bố phá sản hoặc bị bán rẻ cho nước ngoài Năm 2008, Mỹ nợ 10000 tỷ đô-la, một món nợ lứn nhất mà chưa quốc gia nào có Năm 2009, kinh tế mỹ tăng trưởng âm 2,4%, thấp nhất từ 1946 Tỉ lệ thất nghiệp tăng ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và qua đó tiêu dùng của các hộ gia đình giảm làm cho các doanh nghiệp khó bán được hàng hóa Hàng hóa ế thừa, mức giá chung của nền kinh tế giảm liên tục, dẫn đến lạm phát cao
Bước qua năm 2010, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của nền kinh tế số 1 thế giới tăng 2,9%, trái với mức sụt giảm 2,6% trong năm 2009 và mức 0% của năm
2008, đồng thời là mức tăng trưởng mạnh nhất từ sau năm 2005, khi đó GDP tăng 3,1% Tính cả năm 2011, kinh tế Mỹ tăng trưởng 1,7%, thấp hơn nhiều so với con
số của năm 2010
Theo báo cáo của Bộ Thương mại Mỹ, GDP của nước này trong quý 4/2012 tăng trưởng -0,1% Đây là quý đầu tiên GDP của Mỹ tăng trưởng âm kể từ mức tăng trưởng -2,8% trong quý 2/2009 do hậu quả của cuộc đại khủng hoảng 2007-
2009 Tốc độ tăng trưởng âm trong quý 4/2012 là sự sụt giảm rất đáng kể so với tỷ
Trang 39lệ tăng trưởng 3,1% trong quý 3, 1,3% trong quý 2 và 2% trong quý 1 của năm
2012 và là một bất ngờ so với mức dự báo 1,2% của nhiều chuyên gia kinh tế.Tính chung cả năm 2012, tốc độ tăng GDP của Mỹ đạt 2,2%
Năm 2013 kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng ở mức 2% hoặc thấp hơn trong năm và
tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn cao Qua 2014, Nền kinh tế Mỹ được coi là điểm sáng, có nhiều dấu hiệu tích cực, nhất là vào quý III và quý IV Mức tăng trưởng cả năm đạt khoảng 3,5%, FED đã rút toàn bộ gói QE (Nới lỏng định lượng) khỏi thị trường Theo thống kê cho thấy, số lượng người Mỹ đăng ký hưởng chế độ trợ cấp thất nghiệp liên tục giảm; tốc độ tăng trưởng GDP hai quý liên tiếp của năm 2014 đạt mức cao
Vừa năm 2015, Bộ Thương mại Mỹ cho biết, trong quý vừa qua, tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế nước này đạt 3,7%, cao hơn nhiều so với mức tăng 0,6% trong quý I/2015 Nguyên nhân chính khiến GDP của Mỹ tăng mạnh hơn trong quý II là chi tiêu của người tiêu dùng, yếu tố đóng góp 2/3 vào guồng máy hoạt động của nền kinh tế, tăng 3,1% so với mức tăng 2,9% đưa ra hồi tháng trước
Dù vậy, trong quý IV/2015 nền kinh tế lớn nhất thế giới chỉ tăng trưởng 0,7%, sau các mức tăng lần lượt 2% của quý III/2015 và 3,9% trong quý II/2015, khiến GDP trong cả năm 2015 chỉ tăng 2,4%, tương đương mức tăng của năm 2014
Xu hướng giảm tốc của kinh tế Mỹ ở quý cuối cùng của năm 2015 diễn ra trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế toàn cầu chậm lại và sự biến động mạnh trên các thị trường tài chính tác động tiêu cực đến hoạt động đầu tư kinh doanh cũng như chi tiêu tiêu dùng tại Mỹ
Nền kinh tế Trung Quốc trong giai đoạn nghiên cứu:
Trang 40Trung Quốc là một quốc gia có chủ quyền nằm tại Đông Á Đây là quốc gia đông dân nhất trên thế giới, với số dân trên 1,35 tỷ người Với diện tích xấp xỉ 9,6 triệu Trong hầu hết thời gian trong hai nghìn năm qua, kinh tế Trung Quốc được xem là nền kinh tế lớn và phức tạp nhất trên thế giới, với những lúc thì hưng thịnh, khi thì suy thoái Kể từ khi tiến hành cuộc cải cách kinh tế vào năm 1978, Trung Quốc trở thành một trong các nền kinh kế lớn có mức tăng trưởng nhanh nhất Năm
2013, nền kinh tế Trung Quốc đứng thứ hai theo tổng GDP danh nghĩa và sức mua tương đương (PPP), và cũng là quốc gia xuất và nhập khẩu hàng hóa lớn nhất thế giới Đến năm 2014, nền kinh tế Trung Quốc đạt vị trí số một thế giới tính theo sức mua tương đương (PPP) và duy trì ở vị trí thứ hai tính theo giá trị thực tế Trung Quốc cũng là thành viên của nhiều tổ chức đa phương chính thức và phi chính thức, trong đó có WTO, APEC, BRICS, SCO, và G-20 Trung Quốc là một cường quốc khu vực châu Á và được một số nhà kinh tế học xem là một siêu cường tiềm năng.5
Biểu đồ 4: Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc trong giai đoạn 1991 – 2015
(Nguồn: Dựa trên tính toán tác giả từ dữ liệu đã dẫn)