Ở những làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm, yếu tố ô nhiễm đặc trưng nhất là mùi hôi thối do sự phân hủy của các hợp chất hữu cơ có trong chất thải rắn, nước thải từ các cống rãnh, k
Trang 1BỘ Y TẾ VIỆN Y HỌC LAO ĐỘNG VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỨC KHỎE HỌC SINH
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN
Chủ nhiệm đề tài: ThS Đặng Anh Ngọc
Hà Nội – 2008
Trang 2BỘ Y TẾ VIỆN Y HỌC LAO ĐỘNG VÀ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
VÀ SỰ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỨC KHỎE HỌC SINH
ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN
Chủ nhiệm đề tài: ThS Đặng Anh Ngọc
Danh sách những người thực hiện chính:
- TS Nguyễn Quốc Thức Viện YHLĐ-VSMT
- ThS Đinh Xuân Ngôn Viện YHLĐ-VSMT
- ThS Từ Hải Bằng Viện YHLĐ-VSMT
- BS Lỗ Văn Tùng Viện YHLĐ-VSMT
- BS Trần Thị Dung Viện YHLĐ-VSMT
- BS Chu Thị Vân Ngọc Viện YHLĐ-VSMT
- BS Lương Thị Tích Huyền Viện YHLĐ-VSMT
- KTV Tạ Thị Thuý Viện YHLĐ-VSMT
- BS Nguyễn Đình Thuận Trung tâm YTDP- Hưng Yên
Hà Nội – 2008
Trang 3BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
ASTN-TB: Ánh sáng tán xạ tự nhiên trung bình
ASTX-N: Ánh sáng tán xạ ngoài trời
ATSDR: Agency for Toxic Substances and Disease Registry
TCCP Tiêu chuẩn cho phép
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
TCVS Tiêu chuẩn vệ sinh
THCS Trung học cơ sở
UBND Uỷ ban nhân dân
VPQ Viêm phế quản
Trang 4MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước: 3
1.2 Các nghiên cứu trong nước 10
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu: 16
2.2 Phương pháp nghiên cứu: 16
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu: 16
2.2.2 Đối tượng nghiên cứu: 17
2.2.3 Y đức trong nghiên cứu: 20
2.2.4 Cỡ mẫu cho nghiên cứu ngang 20
2.3 Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu: 21
2.4 Đánh giá và phân tích, xử lý số liệu: 23
2.4.1 Các tiêu chuẩn dựa vào để đánh giá: 23
2.4.2 Phân tích và xử lý số liệu 23
2.5 Những hạn chế của đề tài: 23
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đặc điểm của các vùng nghiên cứu 25
3.2 Điều kiện vệ sinh môi trường 30
3.2.1 Điều kiện vi khí hậu 30
3.2.2 Thực trạng tiếng ồn 32
3.2.3 Tình hình ô nhiễm bụi 33
3.2.4 Thực trạng ô nhiễm một số chỉ số hoá học trong không khí 35
3.2.5 Thực trạng hàm lượng chì trong bụi nhà và đất bề mặt, 38
3.2.6 Thực trạng vệ sinh nguồn nước 39
3.2.7 Hàm lượng chì trong một số loại rau và cá 43
3.2.8 Điều kiện vệ sinh chiếu sáng 44
3.3 Điều kiện vệ sinh môi trường làng nghề theo nhận xét của học sinh 48
3.4 Tình hình sức khoẻ của học sinh làng nghề 50
3.4.1 Tình hình thể lực học sinh 50
Trang 5Chương 4 BÀN LUẬN 62
4.1 Đặc điểm của các vùng nghiên cứu 62
4.1.1 Huyện Văn Lâm 62
4.1.2 Huyện Khoái Châu: 63
4.2 Điều kiện vệ sinh môi trường 64
4.2.1 Điều kiện vi khí hậu 64
4.2.2 Thực trạng tiếng ồn 65
4.2.3 Tình hình ô nhiễm bụi 67
4.2.4 Thực trạng ô nhiễm một số chỉ số hoá học trong không khí 68
4.2.5 Hàm lượng chì trong bụi nhà và đất bề mặt 71
4.2.6 Thực trạng vệ sinh nguồn nước 74
4.2.7 Hàm lượng chì trong một số loại rau và cá 76
4.2.8 Điều kiện vệ sinh chiếu sáng 77
4.3 Điều kiện vệ sinh môi trường làng nghề theo nhận xét của học sinh .79
4.4 Tình hình sức khoẻ của học sinh làng nghề 80
4.4.1 Tình hình thể lực học sinh 81
4.4.2 Tình hình bệnh tật của học sinh 83
4.5 Kết quả một số thử nghiệm trí tuệ của học sinh 2 làng 89
4.6 Tóm tắt nguy cơ ô nhiễm môi trường đặc thù theo hoạt động sản xuất làng nghề và ảnh hưởng liên quan tới sức khỏe học sinh .90
4.6.1 Nguy cơ ô nhiễm môi trường 90
4.6.2 Tình hình sức khoẻ của học sinh 2 làng 95
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
5.1 Kết luận 98
5.1.1 Điều kiện vệ sinh môi trường trường học và điều kiện học tập ở làng nghề 98
5.1.2 Ảnh hưởng của điều kiện vệ sinh môi trường, điều kiện học tập đến sức khỏe học sinh .98
5.2 Kiến nghị giải pháp cải thiện 99
5.2.1 Tại làng nghề tái chế chì (xã Chỉ Đạo)- Huyện Văn Lâm-Tỉnh Hưng Yên 99
5.2.2 Tại làng nghề chế biến nông sản thực phẩm (xã Tứ Dân) – Huyện Khoái Châu – Tỉnh Hưng Yên .101
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện cả nước có khoảng 1439 làng nghề với hơn 4 triệu lao động phân bổ trên cả 3 miền Bắc Trung Nam, trong đó miền Bắc chiếm tới 70% tổng số làng nghề cả nước
Đa số những cơ sở sản xuất trong các làng nghề có quy mô hộ gia đình (chiếm tới 80,1%) Trung bình hàng năm, các làng nghề đóng góp cho xuất khẩu tới 600 triệu USD Nhìn chung các làng nghề đã đóng góp cho xã hội một lượng hàng hoá phong phú, góp phần giải quyết việc làm và tạo thu nhập cho người lao động Tuy nhiên, do việc phát triển các làng nghề ở nước ta mang tính tự phát, công nghệ thủ công lạc hậu, thiết bị chắp vá, thiếu đồng bộ, ý thức bảo vệ môi trường rất thấp nên ở nhiều làng nghề, vấn đề ô nhiễm môi trường đang ngày càng nghiêm trọng Việc này đã và đang ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ cộng đồng, đặc biệt là trẻ em do còn trong giai đoạn phát triển và hoàn chỉnh các chức năng cơ thể
Ở những làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm, yếu tố ô nhiễm đặc trưng nhất là mùi hôi thối do sự phân hủy của các hợp chất hữu cơ có trong chất thải rắn, nước thải từ các cống rãnh, kênh mương gây ảnh hưởng đến sức khỏe người dân Ngoài ra, đây cũng là môi trường thuận lợi cho các vi khuẩn có hại phát triển Nước thải này tồn đọng ở cống rãnh thường bị phân hủy yếm khí gây
ô nhiễm không khí rồi ngấm xuống gây ô nhiễm đất và suy giảm chất lượng nước ngầm Vì vậy, chất lượng nước ngầm tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm phần lớn đều có dấu hiệu bị ô nhiễm Kết quả điều tra y tế tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm cho thấy: 8 - 30% người dân có bệnh về đường tiêu hóa, 4,5 - 23% bệnh viêm da, 6 - 18% bệnh đường hô hấp, 13 - 38% phụ nữ làng nghề mắc bệnh phụ khoa
Ở các làng nghề tái chế kim loại như Làng Đông Mai (xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên), do ô nhiễm môi trường, nhiều năm nay người dân phải sống với bụi chì ngày cũng như đêm Mỗi ngày, từ 25 lò tái chế cho ra 10 tấn chì
và cũng thải vào không khí hơn 500 kilôgam bụi chì (gấp 4.600 lần so với tiêu chuẩn cho phép), 30% người trong làng bị bệnh đau mắt, bệnh đường hô hấp
Theo các tác giả nước ngoài, trong các chất ô nhiễm môi trường thì chì là một trong những kim loại nặng, có độc tính cao và rất nguy hiểm đối với cơ thể con người Lượng chì được hấp thu ở trẻ cao gấp 4-5 lần so với người lớn, theo
Trang 7ước tính qua dạ dày - ruột của trẻ lượng chì được hấp thu theo đường tiêu hóa từ đất và bụi lên tới 30% [25] Chu kỳ phân rã sinh học của chì có thể được xem như dài hơn ở trẻ em so với người trưởng thành [72] Chì được các tổ chức quốc
tế đặc biệt quan tâm Tại nhiều nước trên thế giới như Đức, Mỹ, Đan Mạch, Áo, Mexico, Thái Lan , chương trình quốc gia giảm thiểu ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng sức khỏe của chì đến sức khỏe trẻ em đã được triển khai Các số liệu dịch tễ hiện nay đã chứng minh rằng chì vô cơ có ảnh hưởng bất lợi lên sức khỏe trẻ em biểu hiện bởi các ảnh hưởng đến phát triển thể lực, sinh lý, giảm cường độ tổng hợp hem, gây thiếu máu, tăng ngưỡng tiếp nhận âm thanh và giảm hàm lượng vitamin D trong máu , đặc biệt là gây rối loạn phát triển trí não, thiểu năng về nhận thức, hành vi, kém linh hoạt, khả năng chú ý, khả năng thích ứng
và khả năng học tập
Ở nước ta hiện nay, tuy đã có nhiều công trình đề cập đến vấn đề làng nghề nhưng chưa có đề tài nào đánh giá ảnh hưởng của ô nhiễm tới sức khỏe của học sinh trong các làng nghề Vì vậy, nghiên cứu này được tiến hành nhằm bước đầu tìm hiểu một số ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất và tinh thần của học sinh, làm cơ sở khoa học cho việc cảnh báo các tác hại do ô nhiễm tại các làng nghề và
đề xuất kiến nghị góp phần bảo vệ sức khoẻ học sinh
Mục tiêu của đề tài
o Đánh giá điều kiện vệ sinh môi trường trường học và điều kiện học tập ở làng nghề
o Đánh giá ảnh hưởng của điều kiện vệ sinh môi trường, điều kiện học tập đến sức khỏe học sinh
Đề xuất một số giải pháp cải thiện
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN
1.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
Môi trường bị ô nhiễm: khi xuất hiện các yếu tố lý học, hoá học hoặc sinh học mới nào đó không đặc trưng cho môi trường hoặc vượt quá giá trị tự nhiên trung bình của nhiều năm Đối tượng gián tiếp của ô nhiễm (chuỗi các chất ô nhiễm) là các thành phần cơ bản của sinh quyển (vị trí tồn tại của quần thể sinh học) như: đất, nước, không khí Đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp của ô nhiễm (vật hy sinh của ô nhiễm) là các sinh thể (thực vật, động vật, vi sinh vật)
Nguồn gây ô nhiễm rất đa dạng Trong số đó, ngoài các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp, các tổ hợp nhiệt điện còn có các chất thải từ sinh hoạt, chất thải trong chăn nuôi gia súc, giao thông cũng như các chất hoá học được con người sử dụng vào mục đích chế biến, bảo quản thực phẩm, điều trị bệnh tật Bất
kỳ một yếu tố lý học, hoá học hoặc sinh học nào (chủ yếu là vi sinh vật) đều có thể là tác nhân gây ô nhiễm khi nó rơi vào hoặc sinh ra trong môi trường với hàm lượng vượt mức bình thường (mức này có dao động hoặc trữ lượng tự nhiên trung bình ở thời điểm xem xét)
Thông thường, việc sử dụng nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm không khí
do thải ra các chất như carbon monoxit, sulfur dioxit và các ô xít nitơ Ô nhiễm nước có thể xảy ra trên một diện rộng do các hóa chất (như kim loại nặng, dầu - mỡ, dung môi) và vi khuẩn Ô nhiễm nước cũng có thể do nhiệt và
sự tiêu hủy ô xy Nhiễm bẩn đất là một vấn đề quan trọng trong nghiên cứu môi trường, hiện tượng này thường xảy ra khi có các sự cố gây đổ hoặc rò rỉ hóa chất Trong ô nhiễm đất, các yếu tố đáng quan tâm nhất là nhóm hydrocarbon, kim loại nặng, methyl tert-butyl ether (MTBE), thuốc diệt cỏ, diệt sâu bọ và các dung môi clo hữu cơ) Mỹ, Nga, Trung Quốc và Nhật Bản là những nước có thải lượng không khí lớn nhất.Trong khi đó, Canada là nước đứng thứ 2 về ô nhiễm tính trên đầu người
Những yếu tố gây ô nhiễm nước nghiêm trọng là hàng loạt các hóa chất, mầm bệnh gây biến đổi tính chất hóa lý hoặc cảm nhận về nước Sự biết đổi tính chất hóa lý của nước gồm tính axit, độ dẫn và nhiệt độ, sự tăng quá mức về các chất hữu cơ Nhiều hóa chất có độc tính cao, thậm chí có thể gây ung thư Các mầm bệnh có nguy cơ gây bệnh không những đối với con người mà còn cả trên các động vật chủ Ngay ở nhiều nước phát triển, nguồn nước cung cấp cho các
Trang 9thành phố vẫn có thể có các nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe con người Năm
1972, Mỹ đã ban hành các luật liên bang quy định chặt chẽ các giới hạn cụ thể cho nước thải [78] Những cơ sở chế biến thực phẩm có lượng chất thải hữu cơ lớn hay gây ra sự thiếu hụt oxy, gây đục (các chất rắn lơ lửng), và đôi khi làm thay đổi pH của nước thải Những nhà máy sản xuất dầu thực vật hay thải ra các chất xơ và chất thải có đường Các hoạt động xay sát hay thải ra cám, trấu, và các mảnh vỡ ngũ cốc Tương tự, nhà máy chế biến sắn, khoai lang, chuối thường sinh
ra một số lượng lớn các chất thải rắn
Công nghiệp dầu thực vật thường gây ra tình trạng ô nhiễm nước và không khí nghiêm trọng trong khu vực Chất thải của công nghiệp dầu thực vật hầu hết là các chất hữu cơ bị sinh vật phân hủy, vì thế người ta thường giám sát
pH, BOD5, COD, và các chất rắn lơ lửng trong nước thải Nghiên cứu nước thải trong ngành công nghiệp chế biến thực phẩm ở Nigeria cho thấy: hầu hết các giá trị đo được vượt quá tiêu chuẩn quy định về chất thải Điều đó cho thấy nguy cơ
ô nhiễm nước do ngành công nghiệp phổ biến này
Các chất gây ô nhiễm là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh như: ung thư, luput, các bệnh miễn dịch, các bệnh dị ứng và hen Mức phóng xạ nền cao liên quan đến hiện tượng tăng tỷ lệ ung thư và tỷ lệ tử vong Một vài bệnh được gọi tên theo địa điểm xảy ra thảm kịch, nơi phát hiện các chất gây ô nhiễm đặc trưng đầu tiên liên quan đến bệnh Ví dụ như bệnh Minamata, do các hợp chất thủy ngân gây ra
Ô nhiễm tiếng ồn có thể gây ra huyết áp cao, stress và rối loạn giấc ngủ Ô nhiễm ôzôn có thể gây ra các bệnh về họng, chứng viêm, đau ngực và dấu hiện tắc nghẽn Các kích thích da và chứng phát ban có thể tăng khi xảy ra ô nhiễm dầu trên diện rộng trong khu vực [78]
Trang 10Ở các nước đang phát triển, các bệnh tật có liên quan đến chất bài tiết là rất phổ biến Nước thải sinh hoạt có hàm lượng các tác nhân gây bệnh cao như vi khuẩn, virus, sinh vật đơn bào và ký sinh trùng (các loại giun) có thể gây ra các bệnh nhiễm khuẩn đường ruột (GI) ở người Trong Y tế công cộng, có khoảng 30 bệnh nhiễm trùng do chất bài tiết Nhiều trong số chúng là rất quan trọng, thường được dùng cảnh báo về chất bài tiết và nước thải [47]
Theo các tác giả nước ngoài, trong các chất ô nhiễm môi trường thì chì là một trong những kim loại nặng, có độc tính cao và rất nguy hiểm đối với cơ thể con người Nguy hiểm nhất là chì tích lũy trong cơ thể (đặc biệt là ở trẻ em dưới
6 tuổi) Bào thai và phụ nữ có thai là những đối tượng nhạy cảm nhất với những ảnh hưởng có hại tới sức khỏe này Các ảnh hưởng của chì lên hệ thống thần kinh trung ương có thể gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng
Chì thường thâm nhập vào cơ thể từ: 1- Chì chứa trong bụi từ không khí hoặc qua tay và các vật có dính chì; 2 - chì từ không khí; 3 - nước ăn uống; 4 - thức ăn, đặc biệt là hoa quả và đồ hộp Về mặt sinh thái, sự nhiễm bẩn các phương tiện và sản phẩm này tùy thuộc vào sự thay đổi thành phần vật chất của môi trường bên ngoài liên quan đến các chất thải chì do các phương tiện di động (giao thông), các nguồn bất động (xí nghiệp công nghiệp khai thác khoáng, luyện kim, thủy tinh và công nghiệp chế biến sơn), sử dụng chì và các hợp chất của chì trong thành phần màu, đường ống dẫn nước, chất liệu polime, lớp phủ trong đồ hộp [78,82]
Các biểu hiện nhiễm độc chì cấp tính được thể hiện là uể oải, khó ngủ, dễ
bị kích thích, giảm thời gian chú ý, đau đầu, run cơ, cơ bụng cứng, gây tổn hại cho thận, ảo giác, và mất trí nhớ Nếu chì máu lên đến mức 100 – 200 μg/dl ở người trưởng thành và 80 – 100 μg/dl ở trẻ em thì con người có thể mắc bệnh về não Các dấu hiệu nhiễm độc chì mạn tính bao gồm mệt mỏi, khó ngủ, kích thích, đau đầu, đau khớp và các triệu chứng của tiêu hóa, có thể xuất hiện ở người lớn tại mức chì máu 50 – 80 μg/dl Sau 1 – 2 lần tiếp xúc, ở các cộng đồng tiếp xúc nghề nghiệp tại mức chì máu 40 – 60 μg/dl có thể thấy biểu hiện yếu cơ, các triệu chứng dạ dày ruột, thử nghiệm tâm lý với các điểm số thấp, tâm trạng lo âu, và các triệu chứng thần kinh ngoại biên [74]
Các số liệu về dịch tễ hiện nay đã chứng minh rằng chì vô cơ có trong các liều lượng quy định về sinh thái có ảnh hưởng bất lợi lên sức khỏe cộng đồng trẻ
em Điều đó được biểu hiện trong các rối loạn phát triển trí tuệ và thể lực, hàng loạt các rối loạn thần kinh, sinh lý, làm giảm tổng hem và gây thiếu máu, tăng ngưỡng tiếp nhận âm thanh, giảm hàm lượng Vitamin D trong máu (Xintaras C,
Trang 111999, Xlakin B.B., 1999, Rozanov B.A., 1999) [83] Người ta đặc biệt chú ý tới tác động độc hại lên thần kinh ở cơ thể đang phát triển vì nhận thấy các rối loạn tinh thần kinh vẫn còn tiếp tục khi giảm mức chì trong máu (Needleman N.L et al)[36], (1990, Grandjean P., 1993) [30]
Chì gây trở ngại đến các hoạt động của một vài enzyme chính liên quan đến sự sinh tổng hợp hem [74] Về lâm sàng, chỉ có các triệu chứng được xác định rõ có liên quan đến sự ức chế quá trình sinh tổng hợp hem là gây ra thiếu máu [49] Các triệu chứng này chỉ xảy ra khi hàm lượng chì trong máu vượt quá
40 μg/dl ở trẻ em và 50 μg/dl ở người lớn [37] Thiếu máu do chì là kết quả của 2 quá trình riêng biệt: sự ngăn cản tổng hợp hem và sự tăng nhanh quá trình phá hủy hồng cầu [49] Các emzyme liên quan đến tổng hợp hem bao gồm sự tổng hợp aminolaevulinate (các hoạt động của chúng được tạo ra do sự ức chế đáp ứng dẫn đến sự tích tụ của δ-aminolaevulinate, một độc tố thần kinh), δ-aminolaevulinic axít dehydratase (δ-ALAD), copropor- phyrinogen oxidase và ferrochelatase Tất cả các hoạt động này của chúng đều bị ức chế [49,74] Hoạt tính của δ-ALAD là một dự báo tốt cho cả 2 mức độ tiếp xúc với chì trong môi trường và trong công nghiệp Sự ức chế hoạt tính của nó ở trẻ em đã được lưu ý tại mức chì máu dưới 5 μg/dl; tuy nhiên, không có những ảnh hưởng bất lợi cho sức khỏe liên quan đến sự ức chế của nó tại mức này.[32]
Sự ức chế của ferrochelatase do chì dẫn đến tích lũy protoporphyrin hồng cầu (EP) Việc tích lũy này cho thấy sự tổn thương của ty lạp thể [50] Chưa thấy tác hại (NOAELs - no observed adverse effect level) khi lượng protoporphyrin hồng cầu tăng lên ở trẻ nhỏ và trẻ em tại mức 15 – 17 μg/dl [57,60,65] Ở người trưởng thành, không thấy ảnh hưởng có hại do tăng các mức protoporphyrin hồng cầu trong khoảng 25 - 30 μg/dl [31] Riêng đối với phụ nữ, không thấy mức độ ảnh hưởng có hại trong khoảng từ 20-25μg/dl Khoảng này gần hơn đối với trẻ
em [65,73,81] Các thay đổi trong mô hình phát triển của trẻ em dưới 42 tháng tuổi có mối tương quan với các mức tăng của protoporphyrin hồng cầu Sự tăng trưởng kéo dài trong giai đoạn đầu dẫn đến tốc độ tăng nhanh về cân nặng nhưng sau đó lại làm chậm quá trình phát triển [17] Việc phân tích các số liệu NHANES II cho thấy mối tương quan âm tính có ý nghĩa cao giữa mức độ phát triển của trẻ < 7 tuổi và lượng chì máu trong khoảng 5-35 μg/dl [67]
Chì cũng có khả năng gây cản trở chuyển hóa canxi theo cả hai cách: cách trực tiếp và cách tác động tới thế hệ hem trung gian của điểm gắn vitamin D 1,25-dihdroxy- cholecalciferol Hiện tượng giảm đáng kể mức chuyển giao 1,25-dihydroxycholecal- ciferol đã được mô tả ở trẻ em có mức chì máu trong khoảng
Trang 1212 – 120 μg/dl, mà không có bằng chứng của ngưỡng [45,66] Mặt khác, chì tích lũy trong tổ chức còn làm tăng tính nhạy cảm của người tiếp xúc với chì, có thể
do tình trạng thiếu hụt canxi, nhất là ở phụ nữ có thai Hiện tượng này cũng đã được giải thích bằng sự tương tác giữa canxi và chì có vai trò khác nhau đối với các điểm số ước lượng sự thông minh thông thường [43] Trong khi đó, protein não điều tiết enzyme kinase C được kích thích trong ống nghiệm ở nồng độ chì 10-12 pmol (picomolar- 10-9mol) tương tự ảnh hưởng đối với việc sinh ra bởi nồng độ canxi ở mức μmol-micromolar, các mức độ này có thể gặp khi tiếp xúc với chì trong môi trường [46]
Nghiên cứu trên động vật linh trưởng còn non đã chứng minh rằng: tiếp xúc với chì dẫn đến sự thiểu năng về nhận thức và hành vi có ý nghĩa, chẳng hạn, như sự sút kém về tính linh hoạt, khả năng chú ý, khả năng thích ứng, khả năng học tập, trí nhớ cũng như khả năng tập trung Các ảnh hưởng này đã được biết đến trên khỉ mới đẻ tiếp xúc với chì trong 29 tuần ở mức dẫn đến lượng chì huyết lên đến 10,9 - 33 μg/dl [62] Các ảnh hưởng này còn tồn tại đến tận giai đoạn đầu của lứa tuổi trưởng thành, thậm chí sau đó lượng chì trở lại mức 11 -
13 μg/dl, và được duy trì tới sau 8 - 9 tuổi [29] Các nghiên cứu ở những nhóm khỉ với liều liên tục từ khi sinh tới 50 hoặc 100 μg/kg của trọng lượng cơ thể/ngày cho thấy rằng: từ 7-8 tuổi, vẫn còn biểu hiện thiểu năng có ý nghĩa ở cả hai chỉ số: trí nhớ ngắn hạn và nhận biết không gian [61]
Hàng loạt các nghiên cứu có sử dụng các nhóm chứng một cách thận trọng
đã chứng minh có mối liên hệ giữa sự tích lũy chì trong cơ thể trẻ em và hiện tượng giảm hệ số phát triển trí tuệ (IQ) (Ernhart C.B et al, 1987, Needleman H.L.et al, 1979, Wasserman G., et al., 1992) [26,52,75] Cùng với giảm chỉ số
IQ, người ta nhận thấy có sự giảm khả năng chú ý (phân tán), rối loạn chức năng ngôn ngữ, rối loạn khả năng tiếp nhận các chương trình giáo dục và khả năng thích nghi với môi trường nhà trường (Needleman H L et al, 1979) [52]
Một nghiên cứu (Dietrich K.N., 1993) [24] về các chỉ số khách quan đánh giá rối loạn thần kinh vận động (trên 245 trẻ em 6 tuổi) được tiến hành ở Cincinnati đã chỉ ra mối liên hệ giữa sự tích lũy chì trong cơ thể với sự giảm phản
xạ chi trên và sự chính xác của các vận động nhỏ 109 trẻ em thuộc nhóm này (5,8 ± 0,78 tuổi) có rối loạn cân bằng-tùy theo mức độ tích lũy chì (Byattacharya A et al, 1993) [21] Trong một nghiên cứu (của Shukla R et al, 1991) [69], các bằng chứng về mối liên hệ giữa tích lũy chì và hiện tượng chậm phát triển thể lực ở trẻ nhỏ đã được công bố Nghiên cứu của Laraque D et al, 1990; Koo W.W et al, 1991) [40,42] cũng
Trang 13lũy chì Những trẻ sơ sinh ở thành phố Belovo và Karabas có chỉ số phát triển thể lực thấp hơn so với vùng chứng[82]
Tuy nhiên cần lưu ý rằng, vấn đề thấm nhiễm chì đôi khi nằm ngoài sự chú ý của các bác sĩ Do vậy, phải đến lúc phát hiện trẻ học tập kém, có các vấn
đề về khả năng chú ý và sự chính xác (đặc trưng cho tác động lên thần kinh của chì với hàm lượng thấp) thì cha mẹ học sinh mới đưa trẻ đến với bác sĩ Việc các bậc cha mẹ đánh giá hành vi và khả năng trí tuệ của trẻ còn phụ thuộc vào các yếu tố di truyền, giáo dục, tình trạng văn hóa, xã hội của gia đình và nhiều tình huống khác Chính vì vậy, sự tiếp cận chuyên ngành đối với vần đề này cần phải tính đến các yếu tố y tế và sinh thái[82]
Một số nghiên cứu dịch tễ học cắt ngang và dọc đã được thiết kế để điều tra những ảnh hưởng của việc tiếp xúc với chì đến trí tuệ và hành vi ở trẻ em Các nghiên cứu này đã quan tâm đến những ảnh hưởng hay xuất hiện ở mức tiếp xúc với chì liều “thấp” (ví dụ chì máu < 40 μg/dl), mà tại đó không có các triệu chứng lâm sàng rõ rệt[71] Một vài ranh giới của sự thể hiện được giải thích rằng:
ở cả hai hệ thống thần kinh trung ương và ngoại biên của trẻ tại mức chì máu hợp
lý dưới 30 μg/dl, tỷ lệ trẻ với điện não đồ bất thường có liên quan (có ý nghĩa) với mức chì huyết xuống tới 15 - 30 μg/dl [55,56] Người ta đã quan sát thấy những thay đổi (có ý nghĩa) về tốc độ dẫn truyền thần kinh vận động tối đa (MNCV) ở trẻ 5-9 tuổi sống gần lò nấu kim loại, với giới hạn đầu xảy ra tại mức chì máu khoảng 20 μg/dl Ngoài ra, người ta còn thấy tốc độ dẫn truyền thần kinh vận động tối đa tiếp tục giảm 2% mỗi khi mức chì máu tăng thêm 10 μg/dl [70] Trong một số báo cáo về sự giảm sức nghe của trẻ, thần kinh thính giác cũng được đề cập như một điểm đích gây độc của chì [64] Trong điều tra NHANES II
ở Hoa Kỳ, người ta tìm thấy chì máu có mối tương quan (có ý nghĩa) với sức nghe tại tất cả các mức từ 5 tới 45 μg/dl ở trẻ 4-19 tuổi Trong đó ngưỡng nghe (của những người có mức chì máu là 20 μg/dl) tăng từ 10 – 20% (so với những người có mức chì máu là 4 μg/dl) Số liệu của NHANES II cũng cho thấy rằng mức chì máu có mối tương quan có ý nghĩa ở lứa tuổi trẻ em bắt đầu biết đi Các giới hạn ngưỡng tồn tại tại ở mức phần trăm 29 và 28 của mức chì theo lứa tuổi tập ngồi và tập nói [68]
Trong một nghiên cứu tương tự ở Mỹ, một nhóm 58 trẻ em từ 6-7 tuổi có hàm lượng chì cao trong răng (tương ứng với hàm lượng chì máu khoảng 30-50 μg/dl), người ta thấy xuất hiện sự khác nhau có ý nghĩa của 4 mức độ giảm đồng
bộ của tỷ số IQ Điều này được khẳng định trong một báo cáo năm 1986 rằng:
Trang 14ảnh hưởng của chì đến IQ chỉ có ý nghĩa thống kê ở nhóm trẻ có hàm lượng chì trong răng cao (tương đương với chì huyết > 40 μg/dl) [74]
Bệnh thận có mối liên quan lâu dài với nhiễm độc chì; tuy nhiên, chưa khẳng định được mối liên quan giữa bệnh thận mạn tính ở người trưởng thành và trẻ em có mức chì máu dưới 40 μg/dl[22,44] Chì có thể gây ảnh hưởng cấp tính ở ống lượn gần, do tạo ra các hình thể tròn nhô lên (là phức hợp protein – chì) ở các tế bào biểu mô của ống lượn gần khi hàm lượng chì máu ở mức 40-80 μg/dl[63]
Các tác giả đưa ra các phân mức về tác động của chì máu: [27]
Tại các mức chì máu lớn hơn 37 μg/dl, các biểu hiệu của chứng tăng huyết
áp rõ hơn [59] Có mối tương quan tỉ lệ thuận rõ rệt giữa hàm lượng chì máu (trong khoảng 7 – 34 μg/dl) và huyết áp tâm trương ở những người có độ tuổi 21 – 55 (số liệu từ điều tra dinh dưỡng và sức khỏe quốc gia Mỹ - NHANES II) [33,58] Có mối tương quan giữa chì máu (ở mức 40-50 μg/dl) với sự hoạt động
Trang 15bất thường ở chức năng sinh dục nam như giảm số lượng tinh trùng
[18,23,41,80] Sự bất thường này cũng có thể xảy ra với bộ máy sinh sản nữ khi
có tiếp xúc nghề nghiệp với chì [36,74]
Các nghiên cứu dịch tễ học đã cho thấy nguy cơ đẻ non tăng lên ở những phụ nữ
mang thai có tiếp xúc với chì Nghiên cứu trên 774 phụ nữ có thai ở Port Pirie (được
theo dõi thai đầy đủ) cho thấy: nguy cơ đẻ non tăng gấp 4 lần ở những phụ nữ có mức
chì máu trên 14 μg/dl, so với những người có mức 8 μg/dl hoặc thấp hơn [48]
Trong một thành phố khác có nhà máy luyện kim - Vladicapkas- số lượng phụ
nữ vô sinh, sảy thai, nhiễm độc, thai chết lưu, trẻ em sinh ra dị dạng, biến dạng hệ cơ
xương, tật tim bẩm sinh , tỉ lệ mắc tật bẩm sinh ở trẻ em có cha mẹ làm việc trong các
nhà máy luyện kim cao hơn Trong thành phố này, phát hiện thấy số lượng biến đổi
nhiễm sắc thể tăng ở những công nhân làm trong các nhà máy luyện chì [82]
1.2 Các nghiên cứu trong nước
Theo thống kê vùng châu thổ sông hồng có 731 làng nghề chiếm trên 50%
tổng số các làng nghề ở Việt Nam (Duong Ba Phuong, 2001) Lao động hàng
năm với những người làm việc toàn bộ thời gian trong mỗi làng nghề là 813
người, số lượng này không bao hàm số lượng lớn những lao động được thuê theo
mùa vụ Trong số 731 làng nghề, chỉ có khoảng 29,4% là làng nghề truyền thống,
số còn lại là những làng nghề mới chiếm khoảng 70,6% [54]
Các làng nghề và nhân công ở vùng châu thổ sông Hồng (1998):
Số lượng làng nghề Tỉnh
Tổng số Truyền thống Làng nghề mới
Nhân công (người)
Trang 16Qua nghiên cứu của Đặng Kim Chi nhận thấy phần lớn các làng nghề hình thành và phát triển do tự phát, thiết bị đơn giản thủ công, công nghệ lạc hậu, hiệu quả sử dụng nguyên nhiên liệu thấp, mặt bằng sản xuất hạn chế, việc đầu tư cho xây dựng các hệ thống xử lý nước, khí thải hầu như không được quan tâm Ý thức bảo vệ môi trường sinh thái và bảo vệ sức khỏe cho chính gia đình mình của người lao động còn rất hạn chế Vì vậy, vấn đề ô nhiễm môi trường các làng nghề ở nông thôn là vấn đề đang được quan tâm và cần thiết phải có những nghiên cứu điều tra cụ thể Ô nhiễm môi trường tại các làng nghề ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng, đến môi trường sinh thái, hạn chế sự đầu tư phát triển ngành nghề nông thôn, ảnh hưởng đến việc khôi phục, bảo tồn và phát triển các làng nghề một cách bền vững [2]
Vũ Mạnh Hùng [2005] nghiên cứu 611 hộ gia đình và phỏng vấn 1672 công nhân thấy: làng nghề là nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình (91,8%) 57,9% làm kiêm nông nghiệp Nhìn chung chưa nhận thức đầy đủ về tác hại của các yếu tố nguy cơ tại nơi làm việc; 98,4% hộ sản xuất có phát sinh các yếu tố độc hại gồm ồn, nóng, bụi, sinh vật học, sử dụng lao động trẻ em, tư thế làm việc bất lợi v.v.; nhìn chung các làng nghề đều bị ô nhiễm nghiêm trọng môi trường không khí, nước đất và chất thải rắn do hoạt động sản xuất phi nông nghiệp
* Chất thải rắn được đổ mọi nơi hoặc có đổ ra bãi rác riêng nhưng đều không được xử lý trước
* Chất thải lỏng: phần lớn không được xử lý, đổ trực tiếp ra cống chung, ao, hồ của làng
* Chất thải khí: Không được xử lý theo ống khói ra ngoài [6]
Các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, nhất là các làng nghề sản xuất tinh bột, rượu, nuôi và giết mổ gia súc có độ ô nhiễm rất cao Định mức nước thải và các chất ô nhiễm chính cho 1 tấn sản phẩm là 60 – 100 m3, với tải lượng BOD5 = 380 – 400 kg; COD = 600 – 650 kg) Chất lượng nước ngầm ở các làng nghề CBNSTP đã có dấu hiệu bị ô nhiễm, hàm lượng COD,TS, NH4+
trong nước giếng cao Nước giếng của làng Tân Độ và Ninh Vân có nhiễm coliform rất cao (172-542 MPN/100ml) đặc biệt là nước giếng của làng nghề sản xuất nước mắm Hải Thanh (Thanh Hóa) bị ô nhiễm nghiêm trọng (COD= 186 mg/lit, TS= 510 mg/l) [2]
Chế biến nông sản thực phẩm là một ngành có nhu cầu nước rất lớn và thải ra một lượng nước thải không nhỏ, giàu chất hữu cơ gây ô nhiễm môi
Trang 17thể có BOD5 lên tới 5.500-12.500 mg/l, COD: 13.300 – 20.000 mg/l (nước tách bột đen trong sản xuất tinh bột sắn) Nước thải cống chung của các làng nghề chế biến thực phẩm đều vượt TCVN 5945-1995 từ 5-32 lần Không ngoài quy luật trên, nước thải các làng nghề sản xuất bún, bánh, đều có BOD vượt quá TCCP 12,8 – 140 lần; COD vượt quá: 9,7 - 87 lần Hầu hết nước thải có pH thấp, thể
hiện chất thải hữu cơ đã bị phân giải yếm khí) [6]
Xã Tam Đa (huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh) có 900 hộ tham gia nấu rượu Hàng năm, xã tiêu thụ khoảng 12.000 – 13.000 tấn lát sắn và 22.000 – 23.000m3 nước để sản xuất 1,2 – 1,3 triệu lít rượu Nước thải từ việc sản xuất rượu và chăn nuôi là nguyên nhân làm cho nước bề mặt trở thành mầu đen và bốc mùi, gây ảnh hưởng đến cuộc sống dân làng và vùng xung quanh.[54]
Lê Đình Minh nghiên cứu ở làng nghề sản xuất đay nhận thấy: Nước ngâm đay và nước không ngâm đay có các chỉ số vi sinh vật đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 2,4 lần TCCP Nước ngâm đay có các chỉ số COD, BOD5 đều cao hơn từ 1,5 đến 3 lần TCCP Số lượng vi khuẩn hiếu khí trên 1m3không khí đều cao hơn từ 2 đến 20 lần TCCP Số nấm mốc/m3 không khí của xã Kim Ngưu đều thấp hơn xã Đại Tập Cả 2 xã Kim Ngưu và Đại Tập có chỉ số
CO2 và H2S trong không khí cao hơn TCCP[9]
Ô nhiễm nước có liên quan chặt chẽ đến ô nhiễm không khí và đất Do đó các yếu tố gây ô nhiễm không khí và gây ô nhiễm đất thì cũng trực tiếp hay gián tiếp gây ô nhiễm nước Khi nước bề mặt bị ô nhiễm thì sau đó nước ngầm cũng dần dần bị ô nhiễm
Lê Văn Trình và Cs tại một số làng nghề cho thấy môi trường không khí tại các làng nghề sản xuất thực phẩm như làng rượu Vân Hà (Bắc Giang) cũng bị
ô nhiễm nặng do khói từ các lò nấu, đun thủ công tỏa ra các khí độc như CO2, NO2, SO2, và hơi khí từ phân gia súc, gia cầm, bã sản phẩm để chất đống như
H2S, NH3, [6] Theo nghiên cứu của Đan Thị Lan Hương tại làng nghề chế biến thuốc nam Thiết Trụ (Khoái Châu – Hưng Yên) cho thấy loại tác nhân gây ô nhiễm chủ yếu ở làng nghề này là các khí độc hại CO, CO2, SO2 phát sinh từ quá trình đốt cháy bột diêm sinh và từ các lò tiểu thủ công Các chỉ số này đều vượt TCCP từ 2 – 4 lần Ngoài ra nước thải từ các hộ sản xuất mứt táo, quất được thải trực tiếp ra ao hồ trong làng gây mùi hôi thối khó chịu Kết quả nghiên cứu cho thấy 99,5% hộ gia đình thấy không khí có mùi khó chịu và 98,3% số hộ cho là do mùi hơi diêm sinh, 75,5% do hơi than và 71,5% do nước thải [7]
Trang 18Nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí đặc trưng nhất của các làng nghề chế biến NSTP là mùi hôi do sự phân hủy yếm khí các chất hữu cơ dạng rắn
và chất hữu cơ tồn đọng trong nước thải sinh ra, các khí ô nhiễm gồm: H2S, CH4,
NH3, Đặc biệt làng nghề sản xuất nước mắm do phơi cá ngoài trời nên mùi hôi, mùi tanh bốc lên rất khó chịu, làm giảm chất lượng môi trường không khí và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân làng nghề, giảm hiệu suất lao động Ngoài ra các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm còn sử dụng một lượng nhiên liệu không nhỏ là than, củi, khí thải do đốt nhiên liệu có chứa bụi và các khí ô nhiễm như: SO2, CO2, CO, NO2
Kết quả khảo sát cho thấy môi trường không khí của làng nghề chế biến nông sản thực phẩm cho thấy: Do khí thải được phát tán nên các chỉ tiêu về bụi,
SO2,CO, NO2 trong khu vực sản xuất đều nhỏ hơn TCCP, có hàm lượng bụi của
hộ sản xuất miến ở làng nghề Yên Ninh và làng nghề Tương Chao vượt TCCP, Hàm lượng SO2 của hộ sản xuất bún ở làng nghề Phú Đô (0,6048 mg/m3), do quá trình đốt than chất lượng thấp Hàm lượng THC và NH3 rất cao ở các làng nghề nước mắm và tương (NH3=1,025mg/m3 không khí làng nghề sản xuất nước mắm, THC=1,32mg/m3 làng nghề sản xuất tương) Nồng độ NH3 trong không khí ở làng nghề bún Phú Đô và miến Yên Ninh gấp ~ 2,5 lần TCCP (0,47 mg/m3) Hàm lượng H2S ở tất cả các làng nghề khảo sát rất cao, tại làng nghề sản xuất tinh bột Tân Hòa, rượu sắn Tân Độ, miến Yên Ninh nồng độ H2S gấp 25 – 33 lần TCCP [2]
Tái chế kim loại ở các làng nghề gồm tái chế kim loại mầu và tái chế sắt thép, Tuy nhiên do các công đoạn và việc sử dụng nhiên liệu, năng lượng trong sản xuất tương đối giống nhau nên có thể đánh giá chung cho cả hai loại hình này
Nước sử dụng trong tái chế kim loại từ phế liệu gồm: Nước làm mát (chứa nhiều bụi bẩn, rỉ sắt và dầu mỡ); Nước thải từ làng nghề tái chế kim loại (kim loại đen và kim loại màu) thường chứa bụi kim loại, bụi silicat, rỉ sắt, dầu mỡ Nước thải quá trình tẩy rửa và mạ kim loại chứa hóa chất (axit, xút, các kim loại như: CN-, Cr2+, Zn2+, Pb2+, Cu2+, ) gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước; hàm lượng Pb gấp 4,4 lần, Cu gấp 3,25 lần, [2]
Công nghệ tái chế kim loại phát sinh một lượng lớn bụi kim loại, khí thải
từ lò than và hơi hóa chất từ các quá trình gia công và hoàn thiện sản phẩm Bụi, khí ô nhiễm phát sinh chủ yếu từ khâu nấu chảy kim loại, ủ và tháo dỡ các khuôn đúc Hơi kiềm, hơi axít sinh ra từ khâu tẩy rửa, làm sạch bề mặt kim loại và mạ điện [2]
Làng nghề đúc nhôm, kẽm và chì ở xã Vân Môn (Yên Phong, Bắc Ninh)
Trang 19phủ lên các cây, và các mái nhà làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân trong làng Một số lượng lớn mẫu chì trong vùng vượt tiêu chuẩn 87,2 lần.[54]
Trong khi đó thì ô nhiễm môi trường đất làng nghề là do các loại hóa chất
và kim loại nặng trong các làng nghề đúc đồng, nhôm, chì, các ngành sản xuất đồ gốm, ngói, gạch lát, dệt, Các chất thải rắn và lỏng từ các làng này đều có thể thấm sâu xuống lòng đất, chảy ra đồng ruộng làm cho nguồn đất và khả năng sinh lợi của đất như năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi, sinh vật thủy sinh
bị suy giảm và hủy diệt [13]
Các chất thải phát sinh từ hoạt động sản xuất ở các làng nghề đã và đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường, làm suy thoái môi trường và tác động trực tiếp tới sức khỏe của người lao động
Các bệnh hay gặp của người lao động làng nghề là tai mũi họng 56,3%; răng hàm mặt 50,4%, các bệnh ở mắt 24,8%; các bệnh thần kinh 22,2%; các bệnh ngoài da 18,3%; bệnh cơ xương khớp 16%; các bệnh tiêu hoá 11,1%
- Làng nghề chế biến thực phẩm đặc biệt có tỷ lệ da cao 37,3% như viêm quanh móng, nấm kẽ, dày sừng
- Làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ La Xuyên: gần 50% người lao động mắc bệnh xương khớp và thần kinh
- Làng nghề cơ khí Vân Tràng: trên 50% người lao động mắc bệnh liên quan đến thần kinh (60,3%) 19,2% người dân mắc bệnh ngoài da, tỷ lệ bệnh tim mạch và tiết niệu cao 15,4%
Các bệnh hay gặp của người dân trong các hộ thuần nông là răng hàm mặt 60%; tai mũi họng 33,3%; các bệnh ngoài da 16,3%; các bệnh thần kinh 14,8%; các bệnh đường hô hấp 14,1% [12]
Tại các làng nghề CBNSTP, các bệnh phổ biến thường gặp trong đó bệnh phụ khoa chiếm tỷ lệ chủ yếu (13-38%), bệnh về đường tiêu hóa chiếm (8-30%), bệnh viêm da (4,5-23%),bệnh về đường hô hấp (6-18%), bệnh đau mắt (9-15%)
Nguyên nhân gây bệnh ở các làng nghề chủ yếu là do vệ sinh môi trường không đảm bảo vệ sinh, nguồn nước sạch khan hiếm Tỷ lệ mắc bệnh do sản xuất nghề ở làng nghề Dương Liễu-Hà Tây, làng nghề bún bánh Vũ Hội-Thái Bình là 70%, làng nghề bún Phú Đô, làng nghề rượu Tân Độ là 50%, làng nghề bún bánh Yên Ninh, nước mắm Hải Thanh là 15% Tỷ lệ người già tại các làng nghề rất thấp, trên 90 tuổi hoàn toàn không có Tỷ lệ trẻ em ở các làng nghề mắc bệnh
Trang 20cao, chủ yếu là suy dinh dưỡng, mắc bệnh về đường tiêu hóa Phụ nữ mắc bệnh phụ khoa do nước sinh hoạt không sạch[2]
Nguyễn Thị Minh Châu (2005) nghiên cứu về tình hình sức khỏe và bệnh tật cho thấy:
+ Tỷ lệ mắc các bệnh của thợ gốm sứ Bát Tràng cao hơn rõ rệt ( p<0,05 ) so với nhóm chứng Các bệnh có tỷ lệ cao là suy nhược thần kinh (65,58%), bệnh đường hô hấp (46,18%), rối loạn thần kinh thực vật (25,58%), bệnh về dạ dày tá tràng (37,05%), bệnh về khớp (18,82%), bệnh răng miệng (8,52%),bệnh da liễu (8,52%) và thiếu máu (7,35%) Cơ cấu bệnh phù hợp với tình trạng ô nhiễm bụi, các khí thải lò nung và chì trong môi trường lao động và môi trường sống tại làng nghề Bát Tràng
+ Tỷ lệ mắc các bệnh của nhóm thợ có tuổi nghề >5 năm tăng lên rõ rệt so với nhóm có tuổi nghề ≤ 5 năm (p < 0,05) Nhóm thợ gốm sứ tiếp xúc trực tiếp với men màu bị mắc các bệnh suy nhược thần kinh, rối loạn thần kinh thực vật, thiếu máu, bệnh răng miệng và bệnh da liễu nhiều hơn nhóm không tiếp xúc men màu (p<0,05) với chỉ số chênh OR là 3,04; 7,8; 5,5; 2,16 và 2,84 (theo thứ tư)
+ Nhóm thợ nữ gốm sứ có tỷ lệ mắc các bệnh cao hơn so với nhóm nữ đối chứng,
so với thợ nam giới cùng nghề, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05 Thợ
nữ phải tiếp xúc trực tiếp với men màu cũng có tỷ lệ mắc bệnh nhiều hơn nhóm không tiếp xúc men màu, chỉ số chênh OR là 7,8 đối với rối loạn thần kinh thực vật; 6,7 đối với bệnh lý rối loạn kinh nguyệt; 5,5 với thiếu máu; 3,04 đối với suy nhược thần kinh và 2,84 với bệnh da liễu
+ 28,1% thợ gốm sứ được kiểm tra (23/82) có thâm nhiễm chì; lượng trung bình enzym ∂-ALA niệu cao hơn so với chuẩn lý thuyết, tăng cao ở nhóm tiếp xúc với men màu gốm sứ, ở nhóm có tuổi nghề >5 năm và tăng cao tỷ lệ thuận tại các vị trí có nồng độ chì không khí cao 10 người trong số 86 thợ gốm sứ (12,5%) có hình ảnh bụi phổi silic từ 0/1p đến 1/0p trên phim chụp phổi và 25% số thợ có rối loạn thông khí phổi Tỷ lệ trung bình bạch cầu ái toan tăng cao (p<0,05) ở thợ gốm sứ so với chứng và tăng chủ yếu ở nhóm thợ tiếp xúc trực tiếp với men màu (số người có bạch cầu ái toan tăng >0,05G/l là 28,84%)[1]
Trang 21Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu:
Qua các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước thấy một trong những loại làng nghề mang đặc thù của Việt nam là các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, đồng thời làng nghề có nguy cơ cao với sức khoẻ của cộng đồng, đặc biệt
là trẻ em nói chung và học sinh nói riêng như các làng nghề tái chế kim loại mầu… Với tính chất các trường tiểu học, Trung học cơ sở được đóng trên địa phận và thu nhận các học sinh của xã Vì vậy chúng tôi lựa chọn đối tượng nghiên cứu là học sinh tiểu học và trung học cơ sở tại 1 xã làng nghề chế biến nông sản thực phẩm (Xã Tứ Dân-Khoái Châu – Hưng Yên) và 1 xã có làng nghề tái chế kim loại mầu (Xã Chỉ Đạo – Văn Lâm – Hưng Yên)
2.2 Phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp phân tích so sánh tình hình bệnh tật của học sinh và các điều kiện vệ sinh môi trường, trường học theo đặc điểm các
xã làng nghề
Mô hình các yếu tố tác động tới sức khỏe trẻ em
Trang 222.2.2 Đối tượng nghiên cứu:
) Học sinh tại trường tiểu học và trung học cơ sở của các xã nghiên cứu ) Môi trường, trường học ở xã làng nghề
SƠ ĐỒ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Trang 23BIẾN SỐ VÀ CHỈ SỐ NGHIÊN CỨU
Nội dung Biến số Chỉ số Phương pháp thu thập Công cụ
- máy lấy mẫu SKC(Mỹ) và Kimoto (Nhật Bản), ống hấp thụ Gelman, filter loại MCE (45μm, d =37mm)
- phân tích trên máy
so màu UV-VIS (Anh), máy cực phổ xung vi phân 757 VA (Thuỵ Sỹ)
Đo nồng độ
bụi trong
không khí
Nồng độ bụi trong không khí
Lấy mẫu và phân tích theo TCVN 1995 và Thường quy
Kỹ thuật của Viện YHLĐ-VSMT
bề mặt và ở độ sâu
20 cm
theo phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử
máy Perkin Elmer, AAS 3300 - Mỹ
- Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử
đo trên máy Quang phổ hấp thụ nguyên
tử (AA800-Perkin Elmer Mỹ)
NO2-,NO3-, SO42-,
NH4+,Cl-, Fe,
Mn2+, Pb, Asen,
H2S Coliform, F.Coliform
theo TCVN
5954,
5945-1995 và thường quy kỹ thuật của Viện YHLĐ-VSMT (Bộ Y tế, 2002)
thiết bị pH meter, máy CECIL- CE
1021, máy quang phổhấp thụ nguyên tử-AAnalayst 700 …
Trang 24Đánh giá vệ sinh học đường theo Quyết định 1221/2000/QĐ-BYT ngày 18/4/2000 và thường quy kỹ thuật của Viện YHLĐ-VSMT (Bộ Y tế, 2002)
Thước đo và máy đo ánh sáng Testo 545-Đức
Mục tiêu 2
Đánh giá phát
triển thể lực - Chiều cao - Cân nặng
Theo thường quy kỹ thuật của Viện YHLĐ-VSMT (Bộ Y tế, 2002)
- Thước dây
- Cân bàn Khám sức
cơ xương khớp, TMH, Mắt, RHM
Khám theo các quy định khám lâm sàng
Các dụng cụ chuyên môn: Ống nghe, huyết áp, bảng thị lực, đèn soi đáy mắt, đèn khám tai mũi họng…
- Bộ test hình Raven
- Bộ test trí nhớ hình (18 tam giác)
Trang 252.2.3 Y đức trong nghiên cứu:
Các học sinh tham gia nghiên cứu đều tự nguyện và được sự chấp thuận của nhà trường, cha mẹ
2.2.4 Cỡ mẫu cho nghiên cứu ngang
2.2.4.1 Cỡ mẫu khảo sát và khám sức khỏe cho học sinh: sử dụng công thức tính
cỡ mẫu cho việc ước tính một tỷ lệ trong quần thể:
n0 = 2 2
2 / 1
)1(Δ
−
−
p p x
Trong đó:
- n0 Cỡ mẫu nghiên cứu cần có tính theo công thức (n0 = 1068)
- α Mức ý nghĩa thống kê (được quy ước bởi người nghiên cứu) với α = 0,05 tương ứng với mức tin cậy 95%
- Z21 – α/2 giá trị được tra trong bảng theo mức tin cậy (95%)
- p Tỷ lệ bệnh ước tính trong trong quần thể (trong trường hợp chưa có tỷ
n x N
+
Trong đó:
- n1 Cỡ mẫu nghiên cứu cần có được điều chỉnh theo quần thể hữu hạn
- N Quần thể hữu hạn của nghiên cứu
Sau khi tính toán cỡ mẫu và dựa vào thực tế số lượng học sinh tại các xã làng nghề chúng tôi dự kiến số lượng điều tra sức khỏe học sinh tại mỗi xã là 1000 học sinh Thực tế đề tài khảo sát được 2356 học sinh tiểu học và trung học cơ sở
ở cả 2 xã được lựa chọn nghiên cứu
2.2.4.2 Cỡ mẫu khảo sát và khám sức khỏe cho học sinh: sử dụng công thức tính
cỡ mẫu cho việc ước tính một tỷ lệ trong quần thể:
2 / 1
)1(Δ
−
−
p p x
Trang 26Trong đó:
- n Cỡ mẫu nghiên cứu cần có tính theo công thức (n = 385)
- α Mức ý nghĩa thống kê (được quy ước bởi người nghiên cứu) với α = 0,05 tương ứng với mức tin cậy 95%
- Z21 – α/2 giá trị được tra trong bảng theo mức tin cậy (95%)
- p Tỷ lệ bệnh ước tính trong trong quần thể (trong trường hợp chưa có tỷ
2.3 Các kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu:
+ Khám sức khoẻ học sinh: Khám nội chung và các chuyên khoa lẻ theo phương pháp khám thông thường và các triệu chứng của tiếp xúc nghề nghiệp theo thường quy kỹ thuật của Viện YHLĐ-VSMT
+ Đánh giá các thông số tâm sinh lý: theo thường quy kỹ thuật của Viện VSMT
YHLĐ Đo chỉ số phát triển thể lực (chiều cao, cân nặng)
- Đánh giá khả năng trí tuệ
- Đánh giá trí nhớ hình
+ Xét nghiệm hoá sinh:
- Đo hàm lượng chì niệu
- Đo lượng δ-ALA niệu
Theo thường quy kỹ thuật của Viện YHLĐ-VSMT, sử dụng các kỹ thuật Quang phổ hấp thụ nguyên tử (AA)
+ Đánh giá ô nhiễm môi trường:
• Đo vi khí hậu: sử dụng máy Thermohydrometer (Model SK90 TRH, hãng SATO, Nhật Bản)
• Đánh giá ô nhiễm không khí: lấy mẫu không khí, bảo quản mẫu và phân tích theo TCVN 1995 và thường quy kỹ thuật của Viện YHLĐ-VSMT(Bộ
Trang 27thụ Gelman, filter loại MCE (45μm, d =37mm) Phân tích mẫu hơi khí độc bằng máy so màu UV-VIS (Anh), máy cực phổ xung vi phân 757 VA (Thuỵ Sỹ) Lấy mẫu bụi bằng máy SKC-Mỹ
• Đánh giá ô nhiễm nước lấy mẫu, bảo quản, phân tích mẫu theo TCVN
5954, 5945-1995 và thường quy kỹ thuật của Viện YHLĐ-VSMT (Bộ Y
tế, 2002) Sử dụng các thiết bị pH meter, máy CECIL- CE 1021, máy quang phổ hấp thụ nguyên tử-AAnalayst 700…
• Định lượng chì trong đất theo phương pháp quang phổ hấp thụ nguyên tử, (máy Perkin Elmer, AAS 3300 - Mỹ)
+ Đo lượng chì trong mẫu thực phẩm theo phương pháp Quang phổ hấp thụ nguyên tử (AA), von ampe (VA) cho độ nhậy và độ chính xác cao khi phân tích các kim loại mầu, kim loại nặng
• Mẫu rau lấy về được rửa sạch bằng nước máy sau đó rửa bằng nước cất 2 lần Để ráo nước, sấy ở nhiệt độ 450C, đến khi trọng lượng không đổi Nghiền nhỏ và đồng nhất mẫu
• Mẫu cá được rửa sạch bằng nước máy, sau đó rửa bằng nước cất 2 lần, để khô Nghiền nhỏ và đồng nhất mẫu
• Phá mẫu bằng phương pháp ướt, dùng nước cường thuỷ để phá mẫu: Cân 2 gam mẫu (đã được nghiền nhỏ và đồng nhất mẫu) cho vào bình phá mẫu kendan (Lấy nước cất tráng nhẹ để cho mẫu xuống hết đáy bình) Cho lần lượt 5ml axit HNO3 đặc và 15 ml axit HCl đặc vào bình chứa mẫu, lắc đều Lắp bình kendan vào bộ phá mẫu và đun khoảng 4h, để mẫu nguội đến nhiệt độ phòng rồi định mức thành 100ml (nếu vẩn đục thì lọc trước khi định mức) Mẫu sau khi định mức được đo trên máy Quang phổ hấp thụ nguyên tử (AA800-Perkin Elmer Mỹ) Kết quả đo được có giá trị là C= mg/l
• Kết quả trên mẫu là : M (mg/kg) = [C(mg/l) 0,1 (l)] / 0,002 (kg)
• Phương pháp đo: TCVN 6193:1996 Xác định Coban, Niken, Đồng, Kẽm, Cadimi và Chì - Phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử
+ Đánh giá vệ sinh học đường theo Quyết định 1221/2000/QĐ-BYT ngày 18/4/2000 và thường quy kỹ thuật của Viện YHLĐ-VSMT (Bộ Y tế, 2002)
Trang 282.4 Đánh giá và phân tích, xử lý số liệu:
2.4.1 Các tiêu chuẩn dựa vào để đánh giá:
- Đánh giá tiếng ồn, điều kiện vệ sinh trường học: theo Quyết định 1221/2000/QĐ-BYT ngày 18/4/2000 và thường quy kỹ thuật của Viện YHLĐ-VSMT (Bộ Y tế, 2002) TCVN 7114: 2002 (về chiếu sáng cho hệ thống làm việc trong nhà)
- Đánh giá bụi: TCVN 5937-2005 với ngưỡng giới hạn cho phép 0,3 mg/m3
- Đánh giá các chỉ số hoá học trong không khí: TCVN 5937:2005
- Đánh giá các chỉ số lý hoá và vi sinh trong nước:
+ Với nước sinh hoạt: Tiêu chuẩn 1329/2002/BYT/ QĐ ngày 18/4/2002 và QCVN 01/2009/BYT ngày 17/6/2009 về hoá học, vi sinh đối với nước ăn uống + Với nước thải: TCVN 5945-1995, cột B
+ Với nước bề mặt: TCVN 7382:2004, mức II.và TCVN 6772-2000
- Đánh giá chì trong thực phẩm: Giới hạn tối đa cho phép theo quyết định 867/QĐ-BYT/1998 (với sản phẩm rau, quả và với sản phẩm là cá)
Vì vậy, việc đề xuất giải pháp cải thiện sẽ bị hạn chế
Thời gian tiếp cận với học sinh bị hạn chế do thời gian học tập của học sinh chỉ diễn ra trong 9 tháng, một số tháng (khai giảng, thi cử, tổng kết …) là khoảng thời gian khó tiếp cận Khi tiếp cận với học sinh bị hạn chế về thời gian
để tránh không làm ảnh hưởng tới chương trình, thời gian biểu học tập, sinh hoạt của học sinh
Các chỉ số phát triển thể lực của học sinh Việt Nam theo các lứa tuổi chỉ
có ở thập kỷ 90 Theo các nhà khoa học các chỉ số này cứ sau 5 – 10 năm cần nên xây dựng lại Vì vậy, không có các chỉ số chuẩn phù hợp để so sánh
Trang 29Xét nghiệm máu không được thực hiện do những khó khăn trong việc lấy máu trên học sinh
Các công cụ thử nghiệm trí tuệ còn thiếu và chưa có nhiều thông tin để tra cứu và áp dụng từ các nghiên cứu trước, nên một số thử nghiệm mới chỉ dừng lại
ở việc đánh giá áp dụng thử
Trong thời gian đoàn đánh giá, hầu hết các lò nấu chì ở khu tập trung không hoạt động vào thời điểm nghiên cứu sau đã bị phá bỏ
Trang 30Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm của các vùng nghiên cứu
Huyện Văn Lâm
Huyện Văn Lâm nằm ở phía Bắc tỉnh, phía bắc giáp tỉnh Bắc Ninh và
thành phố Hà Nội, phía nam giáp huyện Mỹ Hào và huyện Yên Mỹ, phía đông giáp tỉnh Hải Dương, phía tây giáp thành phố Hà Nội và huyện Văn Giang Có
11 đơn vị hành chính, gồm 10 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích 74,42 km2 Huyện Văn Lâm, trong đó xã Chỉ Đạo có diện tích hành chính là 5,97 km2
Khu lò tái chế chì
Trang 31Trường tiểu học Chỉ Đạo có 1 khối nhà kiên có 2 tầng và 3 khối nhà cấp 4, trong
đó 1 khối nhà dành cho các phòng chức năng và giáo viên, 2 khối nhà dành cho các lớp học (như sơ đồ)
Trường trung học cơ sở Chỉ Đạo có 1 khối nhà kiên có 2 tầng và 3 khối nhà cấp
4, trong đó 2 khối nhà dành cho các phòng chức năng và giáo viên, 1 khối nhà dành cho các lớp học (như sơ đồ)
Trang 32Huyện Khoái Châu
Có vị trí: Phía bắc giáp huyện Văn Giang, phía nam giáp huyện Kim Động, phía đông giáp huyện Yên Mỹ, huyện Ân Thi, phía tây giáp tỉnh Hà Tây Có 25 đơn vị hành chính, gồm 24 xã và 1 thị trấn với tổng diện tích 130,86 km2 Trong đó Xã
Trang 33Địa điểm chính (tại thôn Toàn Thắng)
Tổng diện tích trường 7777 m2 (trên giấy tờ)
Diện tích khuôn viên trường chính đang sử dụng không kể đường vào và chỉ tính tới hết nhà vệ sinh của giáo viên phía cổng chính (đo đạc): ~ 3922 m2
Kích thước khối nhà 1 tầng (bên phải cổng vào): 15,05 m x 6,90 m (trong đó kích thước hành lang có mái che: 15,05 m x 1,63 m)
Kích thước khối nhà 1 tầng (bên trái cổng vào): 27,40 m x 6,33 m (trong đó kích thước hành lang có mái che: 27,40 m x 1,55 m)
Kích thước khối nhà 1 tầng (bên trái cổng vào vuông góc với đường vào trường): 28,07 m x 7,00 m (trong đó kích thước hành lang có mái che: 28,07 m x 1,63 m) Kích thước khối nhà 1 tầng (đối diện cổng vào, song song với đường vào trường): 29,04 m x 7,95 m (trong đó kích thước hành lang có mái che: 29,04 m x 1,65 m) Diện tích 2 khu nhà để xe: (3,66 x 5,34 m) + (2,49 x 18,53 m)
Diện tích 4 nhà vệ sinh: (3,04 x 1,90 m) + (3,98 x 1,80 m)
Trang 34Địa điểm tại thôn Phương Đường Địa điểm tại thôn Mạn Xuyên
Các phòng học tại thôn phương đường là các phòng học cấp 4, có các kích thước, diện tích cửa sổ khác nhau Các trang thiết bị sử dụng trong lớp học còn thô sơ Các phòng học tại thôn Mạn Xuyên cũng như các phòng học tại thôn Phương đường là những phòng học cấp 4, có lẽ được xây dựng cho mục đích khác nên các phòng học có cột trụ ở ngay giữa lớp Các trang thiết bị trong phòng học còn thô sơ
Trường trung học cơ sở Tứ Dân
Tổng diện tích trường 4445 m2 - Diện tích sử dụng: 4400 m2
Trang 35Kích thước khối nhà 2 tầng: 35,45 m x 8,19 m (trong đó kích thước hành lang có mái che: 35,45 m x 2.04 m; kích thước các phòng: 7,9 m x 6 m) Kích thước khối nhà mái ngói 1 tầng: 44,98 m x 7,52 m (trong đó kích thước hành lang có mái che: 77,985 m x 1,72 m; diện tích 3 phòng học sử dụng chính khoảng 7,27 m x 5,80 m)
3.2 Điều kiện vệ sinh môi trường
3.2.1 Điều kiện vi khí hậu
3.2.1.1 Điều kiện vi khí hậu tại làng
Bảng 1 Kết quả đo vi khí hậu
Thời điểm đo Số mẫu Trung bình Độ lệch nhất Cao Thấp nhất
Kết quả khảo sát vào tháng 10 nhiệt độ trung bình ban ngày vào khoảng 27,8 – 30,40C với mức nhiệt độ cao nhất 33,70C, nhiệt độ thấp nhất 24,20C Độ
ẩm trung bình ban ngày 56,9% - 57,9% với mức ẩm độ cao nhất 60,2%, thấp nhất 54,4%
Với vận tốc gió ngoài trời dao động lớn, trung bình 0,8 – 2,3 m/s
Trang 363.2.1.2 Điều kiện vi khí hậu tại trường
76
15.8
59.5 52
0.14 0.21
Ẩm độ
Tốc độ gió
Nhiệt độ
Ẩm độ
Tốc độ gió
Nhiệt độ
Ẩm độ
Tốc độ gió
Nhiệt độ
Ẩm độ
Tốc độ gió
TH Chỉ Đạo 15/1 THCS Chỉ Đạo
8/1
TH Chỉ Đạo 23/10
THCS Chỉ Đạo 24/10 Ngoài trời Trong nhà
Biểu đồ 1 điều kiện vi khí hậu trong và ngoài phòng học theo mùa
tại trường Chỉ Đạo Tại thời điểm khảo sát nhiệt độ trung bình trong phòng có khuynh hướng gần tương đương hoặc cao hơn chút ít (0 – 4,70C); ẩm độ trong phòng trung bình
có khuynh hướng cao hơn ngoài trời
0.70 0.69
0.33 0.21
14.2 14.3
63.60
67.66 54.11
29.5 53.15
30.6
0.39 0.23
0.39 0.15
19.2 18.5
65.45 68.51
53.17 29.4
54.45 30.7
Tốc độ gió
Nhiệt độ
Ẩm độ
Tốc độ gió
Nhiệt độ
Ẩm độ
Tốc độ gió
Nhiệt độ
Ẩm độ
Tốc độ gió
TH Tứ Dân 19/9 THCS Tứ Dân
19/9
TH Tứ Dân 16/1 THCS Tứ Dân
16/1
Ngoài trời Trong nhà
Biểu đồ 2 điều kiện vi khí hậu trong và ngoài phòng học theo mùa
tại trường Tứ Dân Cũng như khảo sát tại trường học xã Chỉ Đạo, tại thời điểm khảo sát nhiệt
độ trung bình trong phòng có khuynh hướng gần tương đương hoặc cao hơn chút
ít (0 – 50C) vào những ngày trời lạnh; ẩm độ trong phòng trung bình có khuynh hướng cao hơn ngoài trời
Trang 373.2.2 Thực trạng tiếng ồn
3.2.2.1 Tiếng ồn tại làng
Biểu đồ 3 tiếng ồn trung bình ở các thời điểm trong ngày của Xã Chỉ Đạo
Biểu đồ 4 tiếng ồn trung bình ở các thời điểm trong ngày của Xã Tứ Dân
Tiếng ồn trong làng tại 2 làng thường có cường độ tăng vào các giờ 8 – 10 giờ sáng và 14 – 16 giờ đây là thời gian có sự ảnh hưởng của các hoạt động, cũng như các phương tiện giao thông
Trang 383.2.2.2 Tiếng ồn tại trường học
Bảng 2 Tiếng ồn tại trường học Chỉ Đạo
Tiếng ồn
Vị trí đo n Trung bình cao nhất thấp nhất
Kết quả khảo sát thấy tiếng ồn trung bình dao động từ 60,47 – 61,26 dBA, tiếng
ồn cao nhất đạt tới 90,9 dBA, tiếng ồn thấp nhất 44,8 dBA
Bảng 3 Tiếng ồn tại trường học Tứ Dân
Tiếng ồn Vùng đo Vị trí đo
n Trung bình nhất cao thấp nhất
Tiểu học tại thôn
ban ngày 20 0,302 0,11 6 0,62 0,21
Thôn Đông Mai
đêm 9 0,23 0,01 0 0,25 0,21ban ngày 20 0,22 0,04 0 0,3 0,18Thôn Trịnh Xá
đêm 9 0,20 0,02 0 0,23 0,18ban ngày 32 0,28 0,06 10 0,38 0,16
ban ngày 72 0,27 0,08 16 0,62 0,16
Xã Chỉ Đạo
đêm 27 0,21 0,02 0 0,25 0,18
Trang 39Nồng độ bụi trung bình ban ngày của thôn Đông Mai vượt tiêu chuẩn vệ sinh Nồng độ bụi trung bình của các thôn Trịnh Xá, Nghĩa Lộ và tính chung trên toàn xã Chỉ đạo ở mức thấp hơn giới hạn cho phép của TCVN 5937-2005
Trong 72 mẫu đo về ban ngày có 16 (22,22%) mẫu vượt TCVN Trong đó thôn Đông Mai có 6/20 (30%) mẫu vượt với mức vượt cao nhất 2,07 lần so với tiêu chuẩn
Nồng độ bụi trung bình ban đêm đo tại các thôn thấp dưới giới hạn cho phép và trong 27 mẫu đo không có mẫu nào vượt tiêu chuẩn
Bảng 5 Tình hình ô nhiễm bụi (mg/m3) tại trường học Chỉ Đạo (1 & 10/2007)
Địa điểm n Trung bình Độ lệch >TCVS Tối đa Tối thiểu
Sân trường giờ ra chơi 16 0,65 0,22 16 1,1 0,34Tính chung toàn trường 94 0,37 0,17 58 1,1 0,16Hàm lượng bụi trung bình tính chung trên các mẫu đo tại trường vượt TCVN 5937-2005
Hàm lượng bụi trung bình ngoài sân trường và khu vực xung quanh ở dưới mức cho phép Có 10/20 (50%) mẫu vượt tiêu chuẩn với mức vượt cao nhất 1,27 lần
Hàm lượng bụi trung bình trong các phòng học, phòng chức năng vượt tiêu chuẩn vệ sinh Có 32/58 (55,17%) mẫu vượt tiêu chuẩn với mức vượt cao nhất 1,7 lần
Hàm lượng bụi trung bình ở ngoài sân vào thời điểm ra chơi có hàm lượng cao nhất so với các vị trí, thời điểm khác, với mức vượt 2,7 lần Cả 100% (16/16) mẫu đo đều vượt giới hạn cho phép Trong đó mẫu đo có hàm lượng bụi cao nhất vượt tiêu chuẩn 3,67 lần
Bảng 6 Tình hình ô nhiễm bụi (mg/m3) tại xã Tứ Dân (10/2008 & 1/2008)
Địa điểm n Trung bình Độ lệch >TCVS Tối đa Tối thiểu
Trang 40Bảng 7 Tình hình ô nhiễm bụi (mg/m3) tại trường học Tứ Dân
(10/2007 & 1/2008)
Địa điểm n Trung bình Độ lệch >TCVS Tối đa Tối thiểu
Sân trường giờ ra chơi 8 0,26 0,10 4 0,38 0,14
Tính chung toàn trường 63 0,21 0,07 5 0,38 0,1
Hàm lượng bụi trung bình ở các thôn (bảng 6) cũng như toàn xã Tứ Dân ở dưới mức giới hạn cho phép Trong các mẫu đo chỉ có 1/86 (1,16%) mẫu vượt TCVN 5937-2005, với mức vượt chỉ gấp 1,03 lần
Hàm lượng bụi trung bình ở trường học Tứ Dân ở dưới mức tiêu chuẩn cho phép Trong phòng học, chức năng chỉ có 1/41 (2,44%) mẫu vượt tiêu chuẩn, với mức vượt 1,1 lần Sân trường giờ ra chơi có 4/8 (50%) mẫu vượt tiêu chuẩn, với mức vượt cao nhất 1,27 lần
Tính chung các mẫu đo ở trường, có 5/63 (7,94%) mẫu vượt tiêu chuẩn
3.2.4 Thực trạng ô nhiễm một số chỉ số hoá học trong không khí
3.2.4.1 Thực trạng ô nhiễm một số chỉ số hoá học tại làng
Bảng 8 Hơi khí tính chung cho 3 thôn của xã Chỉ Đạo
đo tại 2 thời điểm 15-16 /01 và 23-24/10/2007
Hơi khí mẫu Số Trung bình Độ lệch chuẩn TCVN vượt TC Số mẫu cao nhất Nồng độ Thấp nhất
Hàm lượng trung bình các khí NO2, H2S, chì vượt tiêu chuẩn vệ sinh
Số mẫu đo vượt TCVN:
SO2 có 18/33 (54,55%) mẫu vượt TCVN với mức vượt cao nhất 2,47 lần
NO2 có 28/38 (73,68%) mẫu vượt TCVN với mức vượt cao nhất 4,89 lần
H2S có 12/12 (100%) mẫu vượt TCVN với mức vượt cao nhất 5,38 lần
NH3 có 1/3 (33,33%) mẫu vượt tiêu chuẩn với mức vượt 1,32 lần