1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của các cú sốc giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô việt nam và phản ứng của chính sách tiền tệ một cách tiếp cận theo mô hình SVAR

105 339 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

động của các cú sốc giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô Việt Nam và phản ứng của chính sách tiền tệ: Một cách tiếp cận theo mô hình SVAR” là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của ri

Trang 1

THÁI THỊ CẨM HỢP

TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CÚ SỐC GIÁ DẦU LÊN HOẠT ĐỘNG KINH TẾ VĨ MÔ VIỆT NAM VÀ PHẢN ỨNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ: MỘT CÁCH TIẾP CẬN THEO MÔ HÌNH SVAR

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016

Trang 2

THÁI THỊ CẨM HỢP

TÁC ĐỘNG CỦA CÁC CÚ SỐC GIÁ DẦU LÊN HOẠT ĐỘNG KINH TẾ VĨ MÔ VIỆT NAM VÀ PHẢN ỨNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ: MỘT CÁCH TIẾP CẬN THEO MÔ HÌNH SVAR

Chuyên ngành : TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG

Mã số : 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS TRẦN NGỌC THƠ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016

Trang 3

động của các cú sốc giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô Việt Nam và phản ứng của chính sách tiền tệ: Một cách tiếp cận theo mô hình SVAR” là công trình nghiên

cứu khoa học độc lập của riêng tôi theo sự hướng dẫn của GS.TS Trần Ngọc Thơ Các thông tin, số liệu trong bài là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, cụ thể và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn

và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

TP.HCM, Ngày 02 tháng 11 năm 2016

Học viên thực hiện luận văn

Thái Thị Cẩm Hợp

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

TÓM TẮT 1

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 2

1.1 Tầm quan trọng của nghiên cứu 2

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 10

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 10

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 10

1.3 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 10

1.4 Phương pháp nghiên cứu 11

1.5 Dữ liệu nghiên cứu 11

1.6 Bố cục bài nghiên cứu 12

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 13

2.1 Cơ chế truyền dẫn của biến động giá dầu thô lên các hoạt động kinh tế vĩ mô 13

2.2 Tổng quan về các nghiên cứu trước đây 17

2.2.1 Nghiên cứu nước ngoài 17

Trang 5

2.2.1.1 Khuynh hướng thứ nhất: Biến động của giá dầu thể hiện qua sự gia

tăng ròng của giá đầu được đo lường bằng phương pháp HI 17

2.2.1.2 Khuynh hướng thứ hai: Biến động có điều kiện của giá được sử dụng để đo lường bất ổn giá dầu 20

2.2.2 Nghiên cứu trong nước 23

CHƯƠNG 3.MÔ HÌNH VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 26

3.1 Mô hình nghiên cứu 26

3.1.1 Đo lường biến động của giá dầu 26

3.1.2 Đo lường biến động giá dầu bằng mô hình EGARCH: 27

3.1.3 Đo lường biến động giá dầu thông qau chỉ số Hamilton (HI) 28

3.1.4 Mô hình kinh tế 28

3.1.4.1 Mô hình VAR dạng rút gọn 29

3.1.4.2 Các ràng buộc trong mô hình 30

3.1.5 Hàm phản ứng đẩy: 32

3.2 Dữ liệu nghiên cứu 32

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

4.1 Tổng quan về thị trường dầu thô và các hoạt động kinh tế vĩ mô ở Việt Nam giai đoạn 2002 đến 09/2016 34

4.1.1 Tổng quan về thị trường dầu thô thế giới giai đoạn từ 2002 đến 9/2016 34 4.1.2 Biến động thị trường dầu thế giới và nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam 35

4.1.3 Chính sách tiền tệ của Việt Nam giai đoạn 2002-09/2016 37

4.2 Thống kê mô tả biến 40

4.3 Kết quả nghiên cứu 42

4.3.1 Kiểm định tính dừng 42

4.3.2 Ước lượng của mô hình EGARCH 43

4.3.3 Các ước lượng từ mô hình SVAR 45

Trang 6

4.3.3.1 Lựa chọn độ trễ tối ưu 45

4.3.3.2 Phân tích hàm phản ứng đẩy 49

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN 60

5.1 Kết luận 60

5.2 Kiến nghị và hướng nghiên cứu tiếp theo 61

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT Chữ viết tắt Diễn giải

1 ADF Kiểm định Augmented Dickey - Fuller

8 VAR Mô hình vector tự hồi quy

9 WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Các biến trong mô hình, nguồn và cách đo lường 33

Bảng 4.1 Thống kê mô tả 41

Bảng 4.2 Kiểm định tính dừng 43

Bảng 4.3 Ước lượng mô hình EGARCH 44

Bảng 4.4 Độ trễ tối ưu trong mô hình VAR với biến CV_OP 46

Bảng 4.5 Độ trễ tối ưu trong mô hình VAR với biến HI 46

Bảng 4.6 Kiểm định phương sai đổi và tự tương quan trong phần dư của mô hình SVAR dựa trên CV_OP với độ trễ là 7 47

Bảng 4.7 Kiểm định phương sai đổi và tự tương quan trong phần dư của mô hình SVAR dựa trên HI với độ trễ là 7 48

Bảng 4.8 Các ước tính từ phân rã phương sai 58

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Sơ đồ kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô 13 Hình 4.1 Giá dầu thô thế giới WTI giai đoạn từ 2002 đến 09/2016 35 Hình 4.2 Lãi suất tái cấp vốn giai đoạn 01/2002 đến 09/2016 38 Hình 4.3 Hàm phản ứng của I, CPI, IPI và EX đối với biến động giá dầu được đo lường bằng CV_OP và hàm phản ứng của I đối với Fed) 55 Hình 4.4 Hàm phản ứng của I, CPI, IPI và EX đối với sự gia tăng giá dầu ròng được lường bằng phương pháp HI 57

Trang 10

để ứng phó với biến động trong giá dầu Phân tích phân rã phương sai tái thẩm định biến động trong giá dầu là nhân tố ngoại sinh bên ngoài nền kinh tế quan trọng đối với việc giải thích biến động trong sản xuất công nghiệp và mức giá Những kết quả này phát ra một tín hiệu về cách mà Ngân hàng trung ương Việt Nam có thể sử dụng các cơ chế kiểm soát để ổn định sản lượng và mức giá

Trang 11

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1.1 Tầm quan trọng của nghiên cứu

Cuối “chiến tranh lạnh”, toàn cầu hóa và sự trỗi dậy của Trung Quốc và

Ấn Độ thiết lập một thời kỳ tăng trưởng kinh tế liên tục, năng suất cao, và lạm phát thấp khắp thế giới, mặc dù những nền kinh tế này đang hứng chịu các biến động từ thị trường trực tiếp bởi nhiều sự kiện kinh tế như sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1987, chiến tranh vùng vịnh lần thứ nhất (1989-1990), khủng hoảng tài chính Châu Á (1998-1999), khủng bố 11/9 (2001), và khủng hoảng tài chính toàn cầu (2007-2009) Trước thời điểm giữa năm 2007, sự gia tăng ổn định trong giá gấp 3 lần giá dầu thực tế Từ đó, giá dầu tăng đột biến mức cao nhất, chuyển đến mức cao mới 145 USD/thùng vào ngày 3/7/2008

Từ quý ba năm 2014, giá dầu thế giới bắt đầu giảm mạnh Những dự báo được xem là bi quan vào thời điểm đó cho rằng, khoảng giá “bền vững” sẽ dừng ở mức 45 USD-50 USD/thùng và sớm tăng trở lại vào cuối năm 2015 Tuy nhiên, những dự báo này lại trở thành quá lạc quan khi những giao dịch trên thị trường giao ngay vào tuần thứ 2 tháng 12/2015 giá dầu đã rơi về mức 35 USD/thùng và

đó vẫn chưa phải là đáy Kịch bản giá dầu của những năm 1986 dường như lặp lại

Việc giá dầu năm 2015 giảm xuống mức 35 USD/thùng là hoàn toàn có

cơ sở khoa học và thực tiễn Về phương diện lý thuyết, khi phân tích giá dầu, cần phân biệt rõ ràng các yếu tố giải thích dao động của giá trong ngắn hạn và dài hạn

là rất khác nhau Nếu trong ngắn hạn, đặc trưng ít co giãn của lượng cung và lượng cầu so với sự thay đổi của giá; ảnh hưởng từ các thể thức thương mại quốc

tế về dầu mỏ trên các thị trường vật lý và thị trường chứng khoán làm cho giá dầu

vô cùng nhạy cảm và biến động mạnh thì trong dài hạn, yếu tố quyết định mức giá sẽ là chi phí sản xuất và cung ứng Đó là nguyên lý kinh tế cơ bản

Trang 12

Nếu như giá dầu dao động cao hơn nhiều so với chi phí sản xuất và kéo dài theo thời gian, các hiệu ứng tiết kiệm và hiệu ứng thay thế từ phía cầu sẽ làm lượng cầu giảm Hiệu ứng đầu tư (giá cao hấp dẫn đầu tư) và hiệu ứng chi phí (được hiểu là khi giá cao những mỏ dầu trước đây không khai thác kinh tế trở thành khai thác kinh tế) từ phía cung sẽ làm cho lượng cung tăng Khi đó, giá dầu

sẽ điều chỉnh giảm về gần chi phí Tương tự, nếu giá dầu dao động ở mức thấp và cũng kéo dài, các hiệu ứng từ hai phía sẽ tác động theo chiều ngược lại làm cho lượng cầu tăng và lượng cung giảm, giá dầu chắc chắn sẽ điều chỉnh tăng lên

Tóm lại, trong dài hạn, giá dầu vận động theo các chu kỳ cao, thấp xung quanh chi phí sản xuất Chúng ta có thể quan sát các chu kỳ giá đặc biệt là từ khủng hoảng dầu lửa lần thứ nhất năm 1973

Trở lại với giá dầu trong năm 2015, chúng ta đều biết trước đó từ năm

2004 cho đến năm 2014, giá tăng liên tục từ mức 50 USD/thùng và đạt đỉnh ở giai đoạn 2011-2014 khi giá dầu luôn ở mức trên 100 USD/thùng Giá dầu tăng cao liên tục lại duy trì trong một thời gian dài làm cho các hiệu ứng cung - cầu đủ thời gian để có hiệu lực Những minh chứng đơn giản nhất có thể thấy là từ phía cầu với xu hướng thiết kế các động cơ tiết kiệm và hiệu quả năng lượng (lượng cầu giảm) và từ phía cung hiệu ứng đầu tư mà nổi bật nhất là thành công của công nghệ sản xuất dầu từ đá phiến ở Mỹ đã làm cho lượng cung tăng một cách rõ rệt

Cung tăng và cầu giảm thì không ngạc nhiên khi giá dầu giảm xuống Đặc biệt hơn, với các vấn đề chính trị hết sức nhạy cảm tại các khu vực dầu mỏ như: Nga, Trung Đông, Mỹ… càng làm cho lượng cung vốn dĩ đã dư thừa lại càng dư thừa hơn nên sau một chu kỳ tăng cao và kéo dài, giá dầu thế giới rơi về chu kỳ giá thấp và giảm sâu tới mức 35 USD/thùng vào cuối năm 2015

Trang 13

Dù vai trò của Việt Nam trên thị trường dầu mỏ thế giới là không lớn nhưng thị trường dầu mỏ Việt Nam lại khá đặc thù và chịu nhiều tác động Chúng

ta xuất khẩu dầu thô và nhập khẩu hầu hết các sản phẩm dầu mỏ Với sự phụ thuộc đa chiều vào thị trường dầu mỏ thế giới nên những biến động về giá dầu thế giới cũng gây ra những tác động đa chiều tới kinh tế Việt Nam

Trước hết trên quan điểm là nước xuất khẩu dầu thô và doanh thu dầu thô luôn chiếm từ 10 - 20% trong tổng thu ngân sách nhà nước (NSNN), với giá dầu thấp phải gánh chịu những thiệt hại trực tiếp từ khi giảm sút của doanh thu và nguồn thu ngân sách Việc giá dầu thô giảm sâu sẽ gây hậu quả xấu tới cân đối ngân sách trong bối cảnh các nhiệm vụ chi theo dự toán ngày càng tăng cao Muốn đảm bảo các nhiệm vụ chi NSNN theo dự toán, đồng thời không làm tăng quy mô thâm hụt NSNN bắt buộc Chính phủ phải khai thác nguồn thu khác để bù đắp khoản hụt thu do giảm giá dầu

Trái lại, trên phương diện Việt Nam là một nước nhập khẩu một lượng lớn xăng dầu thành phẩm (với hơn 70% lượng xăng dầu nhập khẩu), khi giá dầu giảm, giá các thành phẩm xăng dầu trên thị trường thế giới giảm theo sẽ làm giảm nhẹ hóa đơn xăng dầu của người tiêu dùng Việt Nam Trên thị trường nội địa, chúng ta cũng đã nhận được các đợt điều chỉnh giảm liên tục giá các sản phẩm xăng dầu từ điều hành của Nhà nước Một khi chi tiêu cho xăng dầu giảm thì thu nhập khả dụng của người tiêu dùng còn lại cho các sản phẩm hàng hóa khác sẽ tăng lên và

sự gia tăng sức mua cho người dân trong nước sẽ góp phần làm tăng GDP

Đặc biệt, việc giảm giá dầu thành phẩm lại là cơ hội để phát triển các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước khi xăng dầu là yếu tố đầu vào quan trọng của rất nhiều hoạt động kinh tế Thông qua phát triển kinh tế trong nước và xuất khẩu phi dầu mỏ, cơ cấu thu NSNN sẽ chuyển dịch sang nhiều hơn vào thu

từ hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước Đây là cơ hội để Nhà nước có thể

Trang 14

giải quyết các vấn đề bất cập về cơ cấu thu NSNN với nguy cơ thiếu bền vững do vẫn dựa rất lớn vào thu từ khai thác dầu mỏ (lĩnh vực phụ thuộc rất nhiều vào biến động trên thị trường quốc tế) Định hướng này là hoàn toàn phù hợp trong điều hành kinh tế vĩ mô, đặc biệt là khi kinh tế Việt Nam đang trong quá trình phục hồi và tăng trưởng trở lại Đó là chưa kể các hiệu ứng tích cực khác của việc giá dầu giảm tới kinh tế của đất nước như việc hỗ trợ tích cực cho việc kiểm soát lạm phát

Có thể thấy biến động trên thị trường dầu thô thế giới có một tác động nhất định theo như theo logic suy luận ở trên, vì vậy việc nghiên cứu tác động của

sự bất ổn giá dầu thô đến các hoạt động kinh tế vĩ mô tại Việt nam là cần thiết và cần được tiến hành đặc biệt trong giai đoạn này

Ngoài ra, một vấn đề kinh tế năng lượng đã và đang là đề tài tranh luận sôi nổi trong những năm gần đây là tác động của cú sốc giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô có một loạt các nghiên cứu cho thấy tác động có ý nghĩa của biến động giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô (Aguriar-Conraria and Soares, 2011; Iwayemi and Fowowe,2011; Milani, 2009; Holmes and Wang, 2003) Reynolds and Kolodziej (2008) cho thấy sự sụt giảm trong sản lượng dầu gây ra tác động nhân quả Granger làm sụt giảm GDP của Liên Xô cũ Các cú sốc dầu có thể tác động đến hiệu quả kinh tế bởi vì khả năng chi phối sức mua của các hàng hóa giá trị cao và hàng hóa đầu tư (Bernanke 1983) Một sự gián đoạn quan trọng trong nguồn cung dầu sẽ làm cho con người hoài nghi về tương lai dẫn đến chi tiêu về

xe cộ, nhà cửa, đồ gia dụng và mặt hàng đầu tư sụt giảm tức thời (Hamilton, 2003) Mặc dù tồn tại các bằng chứng đáng tin cậy về mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và hoạt động kinh tế vĩ mô, nhưng bản chất của các mối quan hệ này hoặc mối quan hệ của chúng vẫn chưa được xác định

Trang 15

Có 2 khuynh hướng nổi bật nghiên cứu về vấn đề này Thứ nhất, trong nghiên cứu của Hamilton (1983) kết luận rằng tất cả ngoại trừ một trong các cuộc suy thoái của Mỹ giữa cuối chiến tranh thế giới thứ 2 và năm 1973 được gây

ra bởi sự gia tăng nhanh chóng trong giá dầu Tương tự Cunado và Gracia (2003) tìm thấy rằng cú sốc giá dầu có một tác động đáng kể lên tăng trưởng kinh tế của các nền kinh tế ở châu Âu Thứ hai, các nhà nghiên cứu tập trung vào tác động bất đối xứng của cú sốc giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô (Davis, 1987; Hooker, 1996; Mork, 1989; Davis và Haltiwanger, 2001; Cunado và Gracia, 2005) Những nghiên cứu này cho thấy rằng sản lượng không phản ứng một cách đối xứng đối với các cú sốc giá dầu khác nhau Một nguyên nhân chính của sự bất đối xứng này là khi có một cú sốc giá dầu tăng cao, người ta có khuynh hướng sử dụng năng lượng thay thế cho dầu chẳng hạn như than, ga, năng lượng mặt trời Khi có một sự sụt giảm trong giá dầu, các doanh nghiệp sẽ không từ bỏ các hoạt động đầu tư này ngay tức thời để tối thiểu hóa chi phí chìm, và do đó, sự sụt giảm giá dầu ít tác động đến nền kinh tế hơn là sự gia tăng giá dầu

Để hiểu được tác động bất đối xứng của giá dầu chúng ta có thể trả lời các câu hỏi quan trọng sau

Thứ nhất, sự thay đổi trong giá dầu có phải là nguồn gốc của sự bất đối xứng hay không? Nếu nó được xem là nguồn gốc thì tác động có thể của sự bất đối xứng này lên tổng sản lượng là gì?

Thứ hai, nếu sự bất ổn trong giá dầu có một tác động tiêu cực lên sản lượng thì chính sách tiền tệ sẽ phản ứng như thế nào để đối phó?

Thứ ba, nguyên nhân của sự biến động đáng kể của giá dầu sau năm 1986 là gì?

Tranh luận về biến động về giá dầu và tác động của nó lên hoạt động kinh

tế vĩ mô xuất phát từ lý thuyết đầu tư dưới sự bất ổn được thiết lập bởi Bernanker

Trang 16

(1983) và Henry (1974) Họ cho rằng sự bất ổn càng cao có thể làm giảm đầu tư hiện tại và do đó có thể gây ra một tác động kéo dài lên tổng sản lượng

Bernanker (1983) cho rằng biến động trong giá năng lượng sẽ khiến các doanh nghiệp trì hoãn các quyết định đầu tư để tối ưu hóa giá trị doanh nghiệp Vì vậy, sẽ dẫn đến sự sụt giảm trong tổng cầu

Friedman (1977) cho thấy rằng biến động trong lạm phát có thể gây ra một sự gia tăng tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên vì giảm hiệu quả phân bổ và dẫn đến một sự sụt giảm trong sản lượng Một hàm ý quan trọng phát sinh từ quan điểm của Friedman là nếu sự biến động trong lạm phát là nguyên nhân của sự sụt giảm sản lượng thì sự biến động trong giá dầu tương tự cũng là nguyên nhân của biến động giá cả và sự sụt giảm sản lượng Người ta có thể cho rằng, sự sụt giảm trong giá cả và sản lượng có thể là vì những cú sốc cầu tiêu cực đến từ sự sụt giảm trong tiêu dùng các hàng hóa lâu bền và các hàng hóa quan trọng của các cá nhân

và gia đình Cụ thể, giá dầu cao hơn và sự sụt giảm kéo theo của nhu cầu sử dụng dầu tác động lên các thị trường tiêu dùng và sản xuất Giá dầu gia tăng có thể làm giảm sự dịch chuyển lao động dẫn đến độc quyền mua và nguồn nhân lực thấp hơn (Cervero, 2001) Giá dầu cao hơn cũng có thể giảm dịch chuyển sản phẩm dẫn đến cạnh tranh độc quyền địa lý và chi phí sản xuất cao hơn, đặc biệt đối với máy móc lớn (O’Toole, 2006)

Mặc dù biến động trong giá dầu có thể tác động nhất định lên sản lượng, tài liệu nghiên cứu về mối quan hệ này vẫn còn hạn chế ở cả các quốc gia phát triển và đang phát triển Ferderer (1996) cho thấy rằng biến động của giá dầu được đo lường bởi độ lệch chuẩn hàng tháng của giá dầu hàng ngày, giúp dự báo biến động sản lượng ở Mỹ Hơn thế nữa, phần mối quan hệ bất đối xứng giữa giá dầu và sự tăng trưởng được tìm thấy trong các nghiên cứu trước đây có thể được giải thích bởi phản ứng của nền kinh tế đối với biến động của giá dầu

Trang 17

Huang và cộng sự (2005) xác định tác động của cả cú sốc giá dầu và cú sốc biến động giá dầu lên hiệu quả kinh tế vĩ mô Họ cho thấy rằng giá dầu giải thích tốt hơn biến động giá dầu đối với các hoạt động kinh tế vĩ mô Elder và Serletis (2010) xác định tác động của biến động giá dầu lên đầu tư sử dụng dữ liệu ở Mỹ và gợi ý rằng biến động giá dầu dẫn đến làm sụt giảm đầu tư ở Mỹ Điều quan trọng được đề cập đến là mặc dù nhiều nghiên cứu sẵn có ở nhiều quốc gia , tuy nhiên rất ít các nghiên cứu về mối quan hệ giữa sản lượng và giá dầu từ góc nhìn của các nền kinh tế mới nổi, bao gồm Việt Nam

Từ quan điểm của các nhà tạo lập chính sách, cú sốc giá dầu tạo thách thức, khó khăn lên việc cân bằng đánh đổi giữa lạm phát cao và thất nghiệp cao hơn Bernanke và cộng sự (1997, 2004) tranh luận rằng nhà tạo lập chính sách tiền tệ có truyền thống nghiên về phía giữ lạm phát tại điểm mà chi phí suy thoái kinh tế lớn hơn (Herrera và Pesavento,2009) Họ gợi ý sâu hơn rằng thành phần

có hệ thống của chính sách tiền tệ chiếm một tỷ trọng lớn trong sự sụt giảm GDP theo sau một cú sốc về giá dầu Kilian (2009) cho thấy rằng phản ứng chính sách tiền tệ đối với các cuộc khủng hoảng như bị kìm hãm lại và nhỏ hơn về độ lớn và chậm hơn so với kỳ vọng của hầu hết các nhà kinh tế Kilian (2009) đề xuất một

mô hình SVAR cho thị trường dầu thô toàn cầu và tương tác của nó với nhu cầu đối với hàng hóa công nghiệp toàn cầu Giả định một cấu trúc đệ quy, Kilian (2009) nhận dạng 3 cú sốc khác nhau lên thị trường dầu thô toàn cầu: một cú sốc cung dầu thô, một cú sốc đối với nhu cầu cho tất tả hàng hóa công nghiệp toàn cầu, và một cú sốc cầu cụ thể cho thị trường dầu thô toàn cầu Kết quả của tác giả gợi ý rằng hàm ý của giá dầu cao hơn đối với GDP thật của Mỹ, CPI-lạm phát phụ thuộc vào nguyên nhân của sự gia tăng giá dầu Kilian (2009) nhận thấy rằng

sự gia tăng trong nhu cầu dự phòng dự phòng dầu thô gây ra những sự gia tăng lớn lập tức, dai dẳng trong giá dầu thô thực; sự gia tăng trong tổng cầu đối với

Trang 18

hàng hóa công nghiệp dẫn đến sự gia tăng chậm nhưng bền vững trong giá dầu thô thật và sự sụt giảm sản lượng dầu thô gây ra sự gia tăng tức thời và nhỏ trong giá dầu thô thực trong năm đầu tiên Mô hình của Kilian (2009) không tính đến tương tác giữa thị trường dầu toàn cầu nền kinh tế vĩ mô Mỹ và chính sách tiền tệ

Có 2 khía cạnh riêng biệt trong nghiên cứu của tác giả dựa trên các tài liệu nghiên cứu trước đây

Thứ nhất, tác giả xem xét 2 phương pháp quan trọng đo lường cú sốc giá dầu ngoài phạm vi nghiên cứu của Federer (1996) Đó là biến động có điều kiện được ước lượng bằng mô hình EGARCH của Nelson (1991), và phương pháp Hamilton đo lường sự gia tăng giá dầu ròng Cả hai phương pháp này thể hiện vấn đề về bất đối xứng được nhìn nhận trong mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và hoạt động kinh tế vĩ mô Phương pháp Hamilton là một phương pháp quan trọng

đo lường cú sốc giá dầu ở Mỹ (Nathan và cộng sự, 1999) Các ước lượng của thước đo biến động có điều kiện và thước đo Hamilton sau đó được sử dụng cho

mô hình VAR để xác định phản ứng của các nhân tố vĩ mô đối với các cú sốc biến động giá dầu Những sau cuộc khủng hoảng tài chính 2007 giá dầu biến động hơn và chúng ta nên đưa biến động này vào mô hình kinh tế lượng để giải thích vai trò của sự thay đổi giá dầu trong nền kinh tế vĩ mô

Thứ hai, có rất ít các nghiên cứu trước đây ở các quốc gia đang phát triển xác định tác động của cú sốc biến động giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô Việt Nam được chọn như một ví dụ của nền kinh tế mở và năng động đại diện cho các nền kinh tế mởi nổi bởi vì kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào nguồn tài nguyên giàu

có cụ thể là năng lượng, hàng hóa cho việc phát triển công nghiệp Tình trạng hiện tại của Việt Nam là xuất khẩu dầu ròng, một trong những nhà sản xuất lớn nhất của các hàng hóa cơ bản như dầu cọ, thiếc, cao su và nhập khẩu ròng các sản phẩm từ dầu cung cấp động lực để thực hiện nghiên cứu này

Trang 19

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Thứ nhất, nghiên cứu xác định tác động của biến động giá dầu lên các hoạt động kinh tế vĩ mô ở Việt Nam

Thứ hai, tác giả cũng xác định cách mà Ngân hàng trung ương Việt Nam phản ứng lại với các cú sốc từ biến động của giá dầu

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu

- Biến động giá dầu được đo lường như thế nào?

- Trước một cú sốc dương trong biến động giá dầu, giá cả hàng hóa của nền kinh tế thay đổi như thể nào?

- Sản xuất công nghiệp Việt Nam phản ứng như thế nào đối biến động giá dầu?

- Biến động giá dầu ảnh hưởng như thế nào đến tỷ giá hối đoái của Việt Nam?

- Chính sách tiền tệ của Việt Nam sẽ phản ứng lại với các cú sốc từ biến động giá dầu như thế nào?

1.3 Phạm vi nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: Biến động của giá dầu thô thế giới và các hoạt động

kinh tế vĩ mô của Việt Nam như lạm phát, chính sách tiền tệ, chỉ số sản xuất công nghiệp, tỷ giá hối đoái giai đoạn từ tháng 1/2002 đến 09/2016

Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa biến động giá dầu thô thế giới

được đo lường thông qua hai phương pháp biến động có điều kiện và thước đo

HI, và các biến vĩ mô của nền kinh tế

Trang 20

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Có hai khía cạnh mà nghiên cứu muốn tập trung đó là phản ứng bất đối xứng của sản lượng đối với các cú sốc giá dầu và chính sách tiền tệ sẽ như thế nào để đối phó với các biến động từ giá dầu

Đầu tiên, tác giả xem xét 2 phương pháp quan trọng đo lường cú sốc giá dầu ngoài phạm vi nghiên cứu của Federer (1996) Đó là biến động có điều kiện được ước lượng bằng mô hình EGARCH của Nelson (1991), và phương pháp Hamilton đo lường sự gia tăng giá dầu ròng Cả hai phương pháp này thể hiện vấn đề về bất đối xứng được nhìn nhận trong mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và hoạt động kinh tế vĩ mô Phương pháp Hamilton là một phương pháp quan trọng

đo lường cú sốc giá dầu ở Mỹ (Nathan và cộng sự, 1999)

Sau đó, các ước lượng của thước đo biến động có điều kiện và thước đo Hamilton được sử dụng cho mô hình SVAR để xác định phản ứng của các nhân

tố vĩ mô đối với các cú sốc biến động giá dầu Các ràng buộc trong mô hình SVAR được sắp xếp dựa theo nghiên cứu của Kim và Roubini (2000), với một hiệu chỉnh bằng cách loại bỏ cổ phiếu tài chính và đưa vào biến động giá dầu và chỉ số HI

1.5 Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu được thu thập theo tháng giai đoạn từ tháng 1/2002 đến 09/2016 Đại diện cho các biến thể hiện hoạt động kinh tế vĩ mô của nền kinh tế bao gồm: Chính sách lãi suất (I) - lãi suất tái cấp vốn, mức giá (CPI), chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI), tỷ giá hối đoái (LEX)

Các biến thể hiện tác động của các sự kiện bên ngoài nền kinh tế bao gồm biến động giá dầu (CV_OP, HI) và lãi suất liên bang Mỹ (Fed)

Trang 21

1.6 Bố cục bài nghiên cứu

Luận văn được trình bày trong 5 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu trình bày mô hình nghiên cứu, mô tả các biến và dữ liệu nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu trình bày và phân tích kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận

Trang 22

CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÀI LIỆU NGHIÊN

CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Cơ chế truyền dẫn của biến động giá dầu thô lên các hoạt động kinh

tế vĩ mô

Hình 2.1 Sơ đồ kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô

Nguồn: Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Liên Hoa (2012)

Sản lượng giảm trong dài hạn

Đầu tư giảm Lãi suất tăng

Chính sách tiền tệ

Kiểm soát lạm phát

Sản lượng giảm Trong dài hạn

Cầu tiền giảm Lãi suất giảm

CPI Tăng Chi phí sản xuất

Chi tiêu tăng

Cầu tiền giảm Lãi suất giảm

Lợi nhuận giảm

Đầu tư giảm Lạm phát tăng PPI tăng

Giá dầu tăng Sản lượng giảm

Trong ngắn hạn

Thất nghiệp tăng Thu nhập giảm

Trang 23

Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Liên Hoa (2012), dựa trên nghiên cứu của Brown và Yucel (2002) và Tang và cộng sự (2010) đã đề cập đến kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô, sơ đồ hình 2.1 giải thích sự thay đổi giá dầu lên các nền kinh tế thông qua các kênh truyền dẫn chính như sau:

Cú sốc cung dầu: Sự gia tăng giá dầu có thể được xem là một chỉ báo từ

một cú sốc trong tổng nguồn cung dầu Sự gia tăng giá chính là báo hiệu sự khan hiếm của nguồn năng lượng vốn được xem là nguyên liệu đầu vào cơ bản của sản xuất Do đó, tốc độ tăng trưởng sản lượng và năng suất của các ngành công nghiệp sẽ sụt giảm Điều này dẫn đến giảm mức tăng lương thực và tăng tỷ lệ thất nghiệp

Như vậy, dựa trên quan điểm này, cùng với kết luận của Kilian (2009) và Filis.G (2014), có cơ sở để tin rằng trong cú sốc giá dầu sẽ bắt nguồn từ cú sốc cung dầu (oil supply shocks) Và khi giá dầu thay đổi sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô

Hiệu ứng chuyển giao thu nhập và tổng cầu: Cú sốc giá dầu có thể tác

động đến hoạt động kinh tế thông qua hiệu ứng chuyển giao sức mua từ những nước nhập khẩu dầu thô sang những nước xuất khẩu dầu thô khi giá tăng, như trong nghiên cứu của Fried và Schulze (1975) và Dohner (1981) Sự gia tăng giá dầu sẽ chuyển giao thu nhập từ các nước nhập khẩu dầu thô sang các nước xuất khẩu dầu thô, điều này làm giảm cầu tiêu dùng ở nước nhập khẩu và tăng cầu ở nước xuất khẩu, tuy nhiên mức độ tăng lại ít hơn, điều này làm tổng cầu của cả thế giới đối với sản phẩm của nước nhập khẩu giảm, làm tăng cung tiết kiệm Cung tiết kiệm tăng gây áp lực giảm lãi suất thực, và mức giảm này có thể lấn át mức tăng lãi suất thực do người tiêu dùng ổn định chi tiêu Lãi suất giảm sẽ kích thích đầu tư, điều này sẽ bù đắp cho mức giảm trong tiêu dùng, vì vậy tổng cầu không thay đổi ở các nước nhập khẩu dầu thô Tuy nhiên, nếu giá cả khó điều

Trang 24

chỉnh giảm, sự sụt giảm trong tiêu dùng hàng hóa sản xuất ở những nước nhập khẩu dầu mỏ sẽ làm tăng trưởng GDP giảm hơn nữa Tiêu dùng giảm sẽ tạo áp

lực làm giá giảm về điểm cân bằng mới

Như vậy, giá dầu thay đổi làm tổng nhu cầu dầu mỏ thay đổi theo Khi nhu cầu tiêu thụ dầu mỏ sụt giảm sẽ tạo ra áp lực làm giá giảm về điểm cân bằng mới (dựa trên lý thuyết về cung cầu hàng hóa) Đây cũng có thể chính là cú sốc dầu mỏ (aggregate demand shock), theo như quan điểm của Kilian (2009) Khi cú sốc này

sẽ tạo nên sự truyền dẫn đến nền kinh tế vĩ mô

Áp lực lạm phát: giá dầu tăng sẽ tạo áp lực tăng lạm phát trong nền kinh

tế Có thể giải thích điều này thông qua lý thuyết lạm phát do chi phí đẩy Theo lý thuyết lạm phát do chi phí đẩy, ba loại chi phí thường gây ra lạm phát là: tiền lương, thuế gián thu và giá nguyên liệu nhập khẩu Dầu được xem là nguyên liệu nhập khẩu đầu vào của mọi ngành sản xuất kinh doanh Khi giá dầu tăng, kỳ vọng lạm phát sẽ tăng, do chi phí đầu vào doanh nghiệp tăng Tiếp theo đó, khả năng

mở rộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị thu hẹp do chi phí đầu vào tăng Theo thời gian, nếu giá dầu tiếp tục tăng cao sẽ làm giảm tốc độ tăng trưởng

và các giá trị doanh nghiệp Như vậy, khi lạm phát tăng xuất phát từ cú sốc tăng giá dầu thì chi phí sản xuất tăng, làm giảm lợi nhuận và đầu tư cũng giảm theo Nếu người dân nhìn nhận đây là một cú sốc ngắn hạn, họ sẽ giữ ổn định chi tiêu bằng cách tiết kiệm ít hơn và tăng vay mượn, điều này làm tăng lãi suất thực cân bằng Tăng trưởng sản lượng chậm lại, lãi suất thực tăng sẽ làm giảm lượng cầu đối với số dư tiền mặt thực tế, và với mức tăng trưởng cung tiền nhất định, tỷ lệ lạm phát sẽ tăng

Như vậy, giá dầu tăng sẽ làm giảm tăng trưởng GDP, làm tăng lãi suất thực và nguy cơ tăng lạm phát Nếu người dân và các nhà sản xuất nhìn thấy lạm phát có

xu hướng tăng sẽ phát sinh nhu cầu phòng ngừa rủi ro lạm phát bằng cách cắt

Trang 25

giảm nhu cầu dầu mỏ trong dài hạn Và tiếp đến, nhà sản xuất sẽ điều chỉnh sản lượng cung dầu Khi cung dầu và cầu dầu thay đổi thì giá dầu sẽ thay đổi theo (Lý thuyết cung cầu hàng hóa) Đây cũng có thể chính là cú sốc phòng ngừa (oil specific demand shocks), theo như quan điểm của Kilan (2009)

Mặc dù sớm nổi lên như một cách giải thích cho tác động của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế, chính sách tiền tệ lại dần bị thay thế bởi lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực Tuy nhiên, sự thất bại trong việc giải thích mối quan hệ giữa giá dầu và nền kinh tế trong những năm 80 và 90 đã khiến các nhà nghiên cứu phải xem xét lại mô hình cú sốc cung thuần túy và tìm hiểu những kênh truyền dẫn khác Trong đó phải kể đến những thay đổi trong việc điều hành chính sách tiền

tệ Trong một chừng mực nhất định, chính sách tiền tệ sẽ định hình cách nền kinh

tế hấp thụ các cú sốc giá dầu Nếu những nhà làm chính sách muốn giữ nguyên tốc độ tăng trưởng GDP danh nghĩa thì tỷ lệ lạm phát sẽ tăng đúng với mức giảm GDP thực Một chính sách tiền tệ nới lỏng (thắt chặt) sẽ phần nào bù đắp (làm tăng) sự suy giảm trong GDP thực trong khi lại làm tăng (giảm) áp lực lạm phát Nếu cú sốc giá dầu làm tăng lãi suất thực (như đã đề cập ở phần trên), vòng quay của tiền sẽ tăng, và nhà điều hành chính sách tiền tệ phải giảm tốc độ tăng trưởng cung tiền bằng cách nâng lãi suất thực cao hơn nữa để ổn định tăng trưởng tăng, tăng trưởng GDP danh nghĩa sẽ tăng và lạm phát sẽ tăng Nếu nhà làm chính sách giữ nguyên lãi suất thực, tăng trưởng cung tiền sẽ tăng làm tăng tỷ lệ lạm phát Tuy nhiên, nếu cú sốc giá dầu không ảnh hưởng đến lãi suất thực, việc ổn định lãi suất, tăng trưởng GDP danh nghĩa và cung tiền vẫn có thể đạt được bằng những chính sách tiền tệ tương tự Có nhiều nghiên cứu khẳng định chính sách tiền tệ là kênh quan trọng truyền dẫn tác động của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế, có thể kể đến Bohi (1989, 1991), Bernanke, Gertler và Watson (1997) và Lee và cộng sự (2009) Tuy nhiên, Ferderer (1996), Davis và Haltiwanger (1998) và Hamilton và

Trang 26

Herrera (2000) lại cho rằng tác động của chính sách tiền tệ nhỏ hơn tác động của biến động giá dầu

Kết luận: dựa trên các kênh truyền dẫn được trình bày bên trên có thể thấy sự thay đổi trong giá dầu có thể do những cú sốc khác nhau trong giá dầu quyết định Và cũng có thể kết luận, dầu là nguồn nguyên liệu đầu vào đối với nền kinh tế Giá dầu sẽ góp phần trong việc quyết định chi phí sản xuất của nền công nghiệp Jones và Kaul (1996) chỉ ra, khi giá dầu cao hơn thì đồng nghĩa với việc nhiên liệu đắt đỏ hơn, có thể tạo nên chi phí cao hơn trong vận chuyển, cũng như giá cả lạm phát của hàng hóa và dịch vụ, có thể lần lượt mang đến các lo ngại

về lạm phát Do đó, người tiêu dùng sẽ có nhiều hạn chế trong chi tiêu của họ và

có thể làm giảm nhu cầu đối với hàng hóa và dịch vụ

Tóm lại, cú sốc giá dầu đã tạo ra sự ảnh hưởng đến lạm phát, giá cả, sản lượng, thu nhập, đầu tư Nói khác đi, giá dầu có ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô

2.2 Tổng quan về các nghiên cứu trước đây

2.2.1 Nghiên cứu nước ngoài

Có hai khuynh hướng khuynh hướng nổi bật nghiên về biến động giá dầu tác động lên các hoạt động kinh tế vĩ mô Sự phân loại này dựa trên phương pháp được sử dụng để đô lường biến động giá dầu: đo lường sự gia tăng ròng của giá dầu hay đo lường biến động có điều kiện của giá dầu

2.2.1.1 Khuynh hướng thứ nhất: Biến động của giá dầu thể hiện qua sự gia

tăng ròng của giá đầu được đo lường bằng phương pháp HI

Đầu tiên, Hamilton (1983) cho thấy rằng sự gia tăng đáng kể của giá dầu

luôn theo sau bởi sự khủng hoảng trong kinh tế Mỹ thời kỳ hậu chiến Hiện tượng này không thể chỉ giải thích đơn giản như một sự trùng hợp thống kê Hơn thế nữa, đã có một vài bằng chứng chỉ ra rằng giá dầu và sản lượng bị tác động đồng

Trang 27

thời bởi các biến kinh tế vĩ mô khác trong nền kinh tế Mỹ Do đó, Hamilton cho rằng có thể có một cơ chế nội sinh trong nền kinh tế Mỹ mà ít nhất một phần các cuộc khủng hoản này bị khởi động bởi sự gia tăng của giá dầu thông qua cơ chế này

Cunado và Gracia (2003) đã phân tích mối quan hệ giữa giá dầu và nền

kinh tế vĩ mô bằng cách áp dụng kiểm định nhân quả Granger và các kiểm định tính vững cấu trúc để phân tích tác động của giá dầu lên lạm phát và chỉ số công nghiệp cho các quốc gia ở Châu Âu, sử dụng dữ liệu theo tháng, giai đoạn 1960-

1999 Để tính đến mối quan hệ phi tuyến tính giữa giá dầu và hoạt động kinh tế vĩ

mô, tác giả sử dụng các phép biến đổi khác nhau của dữ liệu giá dầu, mỗi một phép biến đổi gợi ý một kênh truyền dẫn khác nhau, thông qua đó giá dầu có thể tác động đến sản lượng công nghiệp Đóng góp chính của nghiên cứu là sử dụng bốn đại diện khách nhau của cú sốc giá dầu để đo lường tác động của lạm phát và

tỷ lệ tăng trưởng công nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy giá dầu có tác động dài hạn lên lạm phát, nhưng tác động bất đối xứng lên tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp trong ngắn hạn Hơn thế nữa, nghiên cứu còn tìm thấy sự khác biệt

có ý nghĩa thống kê trong phản ứng của các quốc gia đối với các sú sốc này

Byung, Kiseok và Ronald (2001) sử dụng cú sốc giá dầu được đo lường

bằng phương pháp của Hamilton (1996) và có ý nghĩa thống kê trong việc giải thích hoạt động kinh tế tại Nhật Bản và cũng có một tác động có ý nghĩa thống kê lên chính sách tiền tệ Nhật Bản Kết quả ước lượng cho thấy lãi suất huy động thì tăng 2% vì cú sốc giá dầu đầu tiên vào giữa những năm 1970 và tăng 2.5% vào

cú sốc giá dầu thứ hai trong năm 1979-1980 Nghiên cứu cũng phát hiện rằng khoản 30% -50% tác động tiêu cực của cú sốc giá dầu lên sản lượng Nhật Bản là

do chính sách tiền tệ thắt chặt vì giá dầu Kết quả nghiên cứu không thay đổi khi

Trang 28

thêm vào mô hình tác động của chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ của Hoa

Kỳ và chế độ tỷ giá

Michael Plante (2014) nghiên cứu xác định chính sách tiền tệ tiềm năng

trong mô hình Keynesian mới, trong đó giá dầu được được phân tách thành cú sốc cung dầu ngoại sinh và cú sốc cầu liên quan đến hoạt động sản xuất Lãi suất danh nghĩa giảm khi phản ứng với cú sốc cung và gia tăng khi phản ứng với cú sốc cầu Điều này xảy ra vì tác động khác nhau mà hai cú sốc này gây ra cho lợi nhuận trên nguồn vốn Khi tiền lương cố định và có một sự đánh đổi giữa ổn định lạm phát và sản lượng, có sự khác nhau quan trọng trong phản ứng của lạm phát lõi Các biến này ban đầu gia tăng trong phản ứng với cú sốc cung nhưng giảm trong phản ứng với cú sốc cầu Điều này xảy ra vì cú sốc cung làm giảm sản phẩm biên tế của lao động trong khi cú sốc cầu làm gia tăng sản phẩm biên tế của lao động Chính sách tiền tệ tiềm năng, vì nó sử dụng những thay đổi trong lạm phát lõi tác động lên tiền lương thực, dẫn đến tạo ra lạm phát cao hơn khi phản ứng với cú sốc cung nhưng lạm phát thấp hơn khi phản ứng với cú sốc cầu Và những dự đoán này được thực hiện trong mô hình VAR, có thể xác định các cú sốc cung dầu ngoại sinh và cú sốc cầu được điều khiển bởi các hoạt động kinh tế ngoài kỳ vọng ở Mỹ Hàm phản ứng đẩy cho thấy rằng lãi suất liên bang Fed phản ứng tương đối khác nhau đối với hai cú sốc này Lãi suất giảm đối với cú sốc cung và gia tăng đối với cú sốc cầu Và trong phản ứng đối với cả hai cú sốc lạm phát lõi đều thấp Có một số bằng chứng thống kê cho thấy lạm phát lõi gia tăng bằng một lượng nhỏ qua một hoặc hai tháng đầu khi có một cú sốc cung nhưng không có biến động có ý nghĩa thống kế trong việc lạm phát lõi phản ứng đối với cú sốc cầu

Trang 29

Các nghiên cứu cho thấy sự gia tăng của giá dầu có tác động đồng thời lên các biến vĩ mô của nền kinh tế và có liên quan mật thiết với các cuộc khủng hoảng kinh tế

2.2.1.2 Khuynh hướng thứ hai: Biến động có điều kiện của giá được sử

dụng để đo lường bất ổn giá dầu

Mork (1989, 1994) cũng nghiên cứu phân tích mối liên hệ giá dầu và

hoạt động kinh tế vĩ mô Nghiên cứu bắt đầu với một cái nhìn tổng quan về các sự kiện chính từ năm 1972 Các cú sốc giá dầu là các sự kiện kinh tế vĩ mô quan trọng Các cú sốc giá dầu riêng lẻ đánh dấu các cuộc suy thoái quan trọng và tương quan giữa giá dầu và hoạt động kinh tế vĩ mô là có ý nghĩa thống kê Trước đây, bản chất của mối liên hệ chữa chu kỳ kinh tế và giá dầu không rõ ràng khi

mà các cú sốc dầu đầu tiên được ghi nhận Tuy nhiên, các nghiên cứu sau cho thấy có một mối tương quan đáng xem xét trong mối quan hệ này Từ đó, gợi ý năng lượng hay giá dầu nên được tính đến khi xem xét các biến động của hoạt động kinh tế vĩ mô

Nghiên cứu của Hooker (1996) cho thấy bằng chứng đáng tin cậy về giá

dầu không còn gây ra tác động nhân quả Granger lên nhiều các chỉ báo kinh tế vĩ

mô của Mỹ sau năm 1973 Kết quả cho thấy rằng giá dầu OPEC gia tăng gây một tác động đáng kể đến nền kinh tế vĩ mô trong khi giá dầu sụt giảm những năm

1980 thì lại ít tác động hơn Nguyên nhân là do giá dầu là một biến nội sinh, phương trình đối xứng và tuyến tính không phù hợp với mô hình sự tương tác của giá dầu Điều này có một hàm ý quan trọng đối với các nghiên cứu sau này khi sử dụng giá dầu như một biến công cụ hoặc giải thích

Kim và Roubini (2000) sử dụng mô hình SVAR với các ràng buộc tức

thời không đệ quy và xác định các cú sốc chính sách tiền tệ bằng cách mô hình hóa hàm phản ứng của các cơ quan tạo lập chính sách tiền tệ và cấu trúc của nền

Trang 30

kinh tế Mô hình SVAR dựa trên sáu biến cơ bản là lãi suất ngắn hạn, tổng tiền của nền kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số sản xuất công nghiệp, giá dầu thế giới, lãi suất liên bang Mỹ, và tỷ giá hối đoái Giá dầu thế giới và lãi suất Fed được đưa vào mô hình để tách biệt những thay đổi chính sách tiền tệ do các nhân

tố ngoại sinh Vì các nhà tạo lập chính sách tiền tệ thường thiết lập chính sách tiền tệ dựa theo một quy tắc phản hồi, tức là phản ứng lại đối với các tin tức trong nền kinh tế, tầm quan trong của nó là để kiểm soát thành phần có hệ thống trong quy luật chính sách để xác định các thay đổi chính sách tiền tệ do các nhân tố ngoại sinh Các bằng chứng thực nghiệm cho thấy tác động của các cú sốc chính sách tiền tệ của các nước G7 ngoại trừ Mỹ lên tỷ giá hối đoái và các biến kinh tế

vĩ mô khác thì phù hợp với dự đoán của nhiểu mô hình lý thuyết Mức giá được trình bày và có một vài bằng chứng về các bất thường kinh tế mở Cụ thể, ban đầu tỷ giá tăng trong phản ứng với chính sách tiền tệ thắt chặt, nhưng sau một vài tháng, tỷ giá giảm tương ứng với điều kiện cân bằng lãi suất không đảm bảo

Davis và Haltiwanger (2001), nghiên cứu tác động của các cú sốc giá

dầu lên sự mở rộng hay cắt giảm việc làm của ngành sản xuất ở Mỹ giai đoạn từ năm 1972-1988 Các cú sốc giá dầu chiếm từ 20%-25% biến động của tỷ lệ thất nghiệp gấp đôi so với các cú sốc tiền tệ Cú sốc giá dầu lớn nhất trong giai đoạn

từ tháng 3/1973 đến tháng 4/1973 gây ra một sự sụt giảm 8% trong tỷ lệ việc làm của ngành sản xuất trong 2 năm Cả cú sốc dầu và tiền tệ đều tạo ra những phản ứng mạnh hơn trong ngắn hạn bằng việc cắt giảm việc làm hơn là tạo ra việc làm

ở hầu hết các ngành, ngoại trừ các nhà máy nhỏ và mới Tỷ lệ thất nghiệp phản ứng bất đối xứng đối với biến động lên xuống của giá dầu, và các cú sốc giá dầu kích hoạt hoạt động tái phân bổ việc làm đáng kể

Cunado và Gracia (2005), tiếp tục nghiên cứu mối quan hệ giữa giá dầu

và nền kinh tế vĩ mô bằng phân tích tác động của các cú sốc giá dầu lên cả hoạt

Trang 31

động kinh tế vĩ mô và chỉ số giá tiêu dùng cho 6 nước khu vực châu Á giai đoạn 1975Q1-2002Q2 Kết quả cho thấy giá dầu có tác động có ý nghĩa thống kê lên cả hoạt động kinh tế vĩ mô và chỉ số giá tiêu dùng mặc dù tác động bị giới hạn trong ngắn hạn và có ý nghĩa thống kê khi các cú sốc giá dầu được định nghĩa theo đồng tiền của từng của từng quốc gia Hơn nữa, tác giả cũng tìm thấy bằng chứng

về tác động bất đối xứng trong mối quan hệ giữa nền kinh tế và giá dầu ở một số quốc gia khu vực châu Á

Kilian (2009) nghiên cứu sử dụng mô hình VAR cấu trúc (SVAR) để xác

định các cú sốc cung và cầu cơ bản trong thị trường dầu thô toàn cầu Sử dụng phương pháp mới đo lường các hoạt động kinh tế toàn cầu, phân rã cấu trúc của giá dầu thô thật thành 3 thành phần: cú sốc cung dầu thô, cú sốc đối với nhu cầu toàn cầu cho các hàng hóa công nghiệp, cú sốc cầu cụ thể đối với thị trường dầu thô toàn cầu Nghiên cứu cung cấp các ước lượng theo thời gian của các cú sốc này lên giá dầu và ước lượng những cú sốc này đóng góp bao nhiêu vào biến động giá dầu thô trong suốt giai đoạn 1975-2007 Hàm ý chính của nghiên cứu là

sự gia tăng trong giá dầu có thể có tác động rất khác nhau lên giá dầu phụ thuộc vào nguyên nhân căn bản dẫn đến sự gia tăng giá dầu Việc phân tích biến động của giá dầu cho thấy rằng các cú sốc giá dầu chủ yếu được điều khiển bởi một sự kết nối trong cú sốc tổng cầu và cú sốc cầu ngoài kỳ vọng, hơn là cú sốc cung cầu

Dựa trên nghiên cứu của Kilian (2009) Huson và Mokhtarul (2011)

thực hiện nghiên cứu tác động của biến động giá dầu lên các hoạt động kinh tế vĩ

mô của Malaysian và phản ứng của chính sách tiền tệ Các tác giả sử dụng mô hình VAR cấu trúc (SVAR) dựa trên dữ liệu tháng trong giai đoạn 1986-2009 Kết quả nghiên cứu cho thấy sản xuất công nghiệp IPI sụt giảm trong ngắn hạn khi có cú sốc đến từ sự bất ổn của giá dầu Và chỉ số CPI giảm khi có một cú sốc

Trang 32

lên biến động giá dầu Nguyên nhân là do cú sốc cầu âm vì sự sụt giảm trong nhu cầu tiêu dùng hàng hóa xa xỉ của các cá nhân hộ gia đình và các thành phần kinh

tế khác Các tác giả cũng phát hiện rằng Ngân hàng trung ương Malaysia chấp nhận chính sách tiền tệ mở rộng để ứng phó với biến động trong giá dầu

Các nghiên cứu cho thấy rằng sản lượng không phản ứng một cách đối xứng đối với các cú sốc giá dầu khác nhau Một nguyên nhân chính của sự bất đối xứng này là khi có một cú sốc giá dầu tăng cao, người ta có khuynh hướng sử dụng năng lượng thay thế cho dầu chẳng hạn như than, ga, năng lượng mặt trời Khi có một sự sụt giảm trong giá dầu, các doanh nghiệp sẽ không từ bỏ các hoạt động đầu tư này ngay tức thời để tối thiểu hóa chi phí chìm, và do đó, sự sụt giảm

giá dầu ít tác động đến nền kinh tế hơn là sự gia tăng giá dầu

2.2.2 Nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu của Lê Việt Trung và Nguyễn Thị Thúy Vinh (2011) xác

định tác động của giá dầu lên hoạt động kinh tế Việt Nam bằng cách sử dụng mô hình vector tự hồi hồi quy (VAR) và kiểm định đồng liên kết Nghiên cứu sử dụng dữ liệu theo tháng giai đoạn 1995 đến 2009, bao gồm lạm phát và tỷ giá hối đoái thực và các thành phần của hoạt động kinh tế thực Tác giả tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ dài hạn giữa giá dầu, lạm phát, tỷ giá và hoạt động kinh tế Kết quả gởi ý rằng cả giá dầu và tỷ giá hối đoái thực tác động có ý nghĩa thống kê lên hoạt động kinh tế Một sự gia tăng trong giá dầu có thể tác động đến các hoạt động kinh tế Hoạt động kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng bởi những thay đổi trong giá trị đồng tiền Việt Nam hơn sự thay đổi giá dầu Lạm phát có một tác động cùng chiều lên hoạt động kinh tế tuy nhiên tác động của nó thì không có ý nghĩa thống kê Điều này gợi ý rằng lạm phát thì giúp ích hơn kìm hãm hoạt động kinh

tế

Trang 33

Nguyễn Thị Liên Hoa cùng cộng sự (2013) nghiên cứu liệu các cú sốc bên ngoài có nguồn gốc từ kinh tế toàn cầu cũng như từ Hoa Kỳ đóng một vai trò quan trọng trong sự thay đổi nền kinh tế vĩ mô của các quốc gia Đông Á trong giai đoạn từ 2001 đến 2012 Sử dụng dữ liệu từ 7 quốc gia trong khu vực bao gồm Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Philippines, Trung Quốc, Sigapore và Hàn Quốc theo các chế độ tỷ giá cũng như khung chính sách tiền tệ khác nhau, nhóm tác giả muốn khắc họa các quốc gia này có phản ứng đối xứng với các cú sốc giống nhau hay không Cú sốc giá dầu trong ngắn hạn giải thích khoản 1.44% biến động của tỷ giá và trong dài hạn là 2.79% Điều này có thể được giải thích là

do Việt Nam đang theo đuổi chế độ tỷ giá thả nổi nhưng có kiểm soát Tuy nhiên, đóng góp của các cú sốc giá dầu trong việc giải thích giá cả ở Việt Nam tương đối cao khoảng 20.23% trong ngắn hạn và 30.75 trong dài hạn Điều này thể hiện sự đánh đổi giữa ổn định tỷ giá và lạm phát của các nhà tạo lập chính sách Việt Nam khi xuất hiện các cú sốc ngoại sinh

Phạm Thị Hoàng Anh và các cộng sự (2015) phân tích nguyên nhân dẫn tới sự biến động của giá dầu thế giới và đánh giá ảnh hưởng của các cú sốc giá dầu thế giới tới lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Các tác giả sử dụng

mô hình VAR để phân tích tác động của các cú sốc tới giá dầu thế giới giai đoạn 1975-2015 và đánh giá tác động của các cú sốc giá dầu tới lạm phát và tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 1997-2015 Kết quả mô hình cho thấy đóng góp chủ yếu vào sự biến động của giá dầu thế giới trong suốt giai đoạn 1975-2015 là các cú sốc tổng cầu và cú sốc cầu dự phòng, còn cú sốc cung dầu có ảnh hưởng tương đối thấp tới sự biến động của giá dầu, trừ giai đoạn 1976-1982,

và vai trò này ngày càng giảm xuống Cú sốc tăng sản lượng dầu, cú sốc tăng tổng cầu có tác động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam, trong khi cú sốc tăng cầu dự phòng lại làm giảm tăng trưởng kinh tế Cú sốc tăng sản lượng dầu làm

Trang 34

giảm lạm phát, trong khi cú sốc tăng tổng cầu và cú sốc tăng cầu dự phòng làm tăng lạm phát của Việt Nam

Đinh Thị Thu Hồng (2016) nghiên cứu mối quan hệ giữa giá dầu và các biến số kinh tế vĩ mô Việt Nam, bao gồm lạm phát, tăng trưởng, thâm hụt ngân sách và tỷ lệ thất nghiệp trong giai đoạn từ năm 2000-2015, theo dữ liệu quý Tác giả sử dụng mô hình vector tự hồi quy ngưỡng (TVAR) và phân tích hàm phản ứng đẩy có điều kiện (CIRF) cũng như hàm phản ứng đẩy tổng quát (GIRF) để tìm ra mức ngưỡng của giá dầu mà qua đó làm thay đổi phản ứng của các biến vĩ

mô trước tác động của giá dầu Kết quả nghiên cứu đã tìm ra một ngưỡng 26,7 USD/thùng Khi giá dầu thấp hơn mức này, mô hình chưa tìm thấy bằng chứng có

ý nghĩa thống kê về tác động của các cú sốc giá dầu đến các biến vĩ mô trong thời

kỳ quan sát Tuy nhiên, khi giá dầu ở trên mức ngưỡng, một sự gia tăng trong giá dầu sẽ tác động làm tăng lạm phát, tăng thâm hụt ngân sách và tỷ lệ thất nghiệp Hầu hết các nghiên cứu trong nước chưa tính đến tác động bất đối xứng trong biến động giá dầu đến sản lượng của nền kinh tế Việt Nam được chọn như một ví

dụ của nền kinh tế mở và năng động đại diện cho các nền kinh tế mởi nổi bởi vì kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào nguồn tài nguyên giàu có cụ thể là năng lượng, hàng hóa cho việc phát triển công nghiệp Tình trạng hiện tại của Việt Nam là xuất khẩu dầu ròng, một trong những nhà sản xuất lớn nhất của các hàng hóa cơ bản như dầu cọ, thiếc, cao su và nhập khẩu ròng các sản phẩm từ dầu cung cấp động lực để thực hiện nghiên cứu này

Trang 35

CHƯƠNG 3 MÔ HÌNH VÀ DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

3.1 Mô hình nghiên cứu

3.1.1 Đo lường biến động của giá dầu

Tính động của giá dầu dựa trên mô hình lý thuyết của Huang và Guo (2007) gợi ý rằng quy trình ngẫu nhiên của giá dầu (OPt), tổng cung (St) và tổng cầu (Dt):

Cung của đầu ra (YS

t) được xác định bằng bước ngẫu nghiên của chính nó

và giá dầu như sau

Với γ đại diện cho hệ số co dãn năng lượng đầu ra nghịch đảo

Nhu cầu đầu ra cũng được xác định bằng bước ngẫu nghiên của chính nó

và tỷ giá thực như sau:

Phương trình ở trên thì giống với dạng mô hình tổng cầu IS, theo đó giả định rằng sản lượng trong nước (liên quan đến sản lượng nước ngoài) thì gia tăng

tỷ giá thực Theo Clarida và Gali (1994), Huang và Guo (2007) thì cú sốc giá dầu ảnh hưởng đến giá dầu thực trong dài hạn với GDP thực được đưa ra bằng tích hợp của cung đầu ra và các cú sốc giá dầu

Trang 36

3.1.2 Đo lường biến động giá dầu bằng mô hình EGARCH:

Tài liệu về sự chọn lựa phương pháp đo lường sự không chắc chắn thì gây nhiều tranh luận và không có một phương pháp cụ thể thống nhất nào được ra trong quá khứ Federal (1996) sử dụng độ lệch chuẩn để phát triển biến động giá dầu trong một nỗ lực nhằm xách định tác động của biến động giá dầu lên các hoạt động kinh tế vĩ mô Trong khi đó, Kuper (2002) trình bày bằng mô hình GARCH(1,1) để đo lường biến động giá dầu theo ngày và theo tháng Tuy nhiên, Kuper chỉ tập trung vào đo lường biến động mà không đo lường tác động của biến động giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô

Trái ngược với GARCH , tác giả sử dụng EGARCH được gới thiệu bởi Nelson (1991) Tỷ lệ sử dụng mô hình EGARCH so với mô hình GARCH thì gần gấp đôi Đầu tiên, mô hình GARCH chuẩn được giả định là phần sai số âm và dương có một tác động đối xứng lên biến động Nói cách khác, các tin tức tốt và tin tức xấu tại có tác động giống nhau lên biến động của mô hình Tuy nhiên, giả

sử hành vi của giá dầu, biến động giá dầu có thể không phản ứng lại với cả tin tức tốt và xấu tại cùng một điểm tương tự vì vấn đề bất đối xứng Thứ hai, EGARCH được thể hiện trong dạng log, vì vậy không có ràng buộc tham số được đưa vào

để đảm bảo các biến động có điều kiện là không âm Dạng hàm EGARCH được trình bày như sau:

Với σ2 là biến động có điều kiện của giá dầu thô và w là biến động không

có diều kiện với trung bình không đổi Cú sốc âm có một tác động (α-γ) lên hàm log của biến động có điều kiện và các cú sốc dương có tác động α+γ Tác động bất đối xứng sẽ xảy ra nếu γ≠0 Biến động có điều kiện ước lượng sẽ dược sử dụng như một đầu vào trong mô hình SVAR

(1)

Trang 37

3.1.3 Đo lường biến động giá dầu thông qau chỉ số Hamilton (HI)

Hamilton (1996) đề xuất một phương pháp đo lường sự gia tăng giá dầu ròng như sau:

với Ot là giá đầu hiện tại và max oil là giá dầu lớn nhất trong 12 tháng trước

I là lãi suất tái cấp vốn

CPI là chỉ số giá tiêu dùng

IPI là chỉ số sản xuất công nghiệp

CV_OP là biến động có điều kiện được đo lường bằng EGARCH

HI là chỉ số Hamilton của sự gia tăng giá dầu ròng

Fed: là lãi suất Fed

Và LEX là Tỷ giá VND/ USD

Tác giả phát triển và điều tra nghiên cứu một mô hình SVAR 6 biến được dựa trên mô hình hiệu chỉnh của Kim và Roubini (2000) có tính đến các cú sốc bên ngoài bắt nguồn từ các cú sốc giá dầu (được đo lường bởi biến động có điều kiện và chỉ số Hamilton của sự tăng gia giá dầu ròng), và cú sốc chính sách tiền tệ

Trang 38

Mỹ được đo lường bằng lãi suất liên bang cơ bản Fed Trong nước, tác giả sử dụng các biến phi chính sách như là mức giá và tổng sản lượng của nền kinh tế Công cụ chính sách tiền tệ được đại diện bởi lãi suất tái cấp vốn để khắc họa phản ứng của chính sách tiền tệ đối với cú sốc giá dầu

Cuối cùng tác giả cũng đưa biến tỷ giá vào mô hình để mô tả các giao dịch bên ngoài Việt Nam Tầm quan trọng của các cú sốc giá dầu lên các hoạt động kinh tế vĩ mô được ghi nhận bởi Hamiton (1983, 1994, 1996, 2003) Ferderer (1996) và Kilian (2009) cũng như nhiều nghiên cứu khác

Mô hình SVAR có dạng tổng quát như sau:

Với Xt đại diện cho các n vector các biến liên quan như sau

Xt=[∆it, ∆cpit, ∆ipit, ∆cv_opt, ∆fedt, ∆lext]’

3.1.4.1 Mô hình VAR dạng rút gọn

Dạng rút gọn của mô hình VAR có thể được trình bày như sau:

(2)

Trang 39

3.1.4.2 Các ràng buộc trong mô hình

Các ràng buộc được áp đặt dựa trên nghiên cứu của Kim và Roubini (2000), với một ích hiệu chỉnh bằng cách loại bỏ cổ phiếu tài chính và đưa vào biến động giá dầu và chỉ số HI Mô hình SVAR được trình bày bên dưới thông quan bảng A và bảng B của các phương trình hệ thống trong đó các biến bên vế trái của hệ phương trình đại diện cho phần dư tương ứng (u’s) được lấy từ mô hình VAR dạng rút gọn Vế phải của phương trình là 6 phần dư cấu trúc đại diện cho các cú sốc chính sách, mức giá, sản lượng trong nước, biến động giá dầu, lãi xuất Fed của Hoa Kỳ, và tỷ giá hối đoái Trong hệ thống các phương trình, tác giả

sử dụng ‘X’ để đại diện cho các hệ số được ước lượng

Ràng buộc về mối tương quan đồng thời giữa các biến trong mô hình SVAR bảng A

𝑋𝑋1𝑋𝑋

1𝑋

1 ]

=[

𝑋𝑋𝑋𝑋𝑋

𝑋 ]

=[

Trang 40

1𝑋

1 ]

=[

𝑋𝑋𝑋𝑋𝑋

𝑋 ]

=[

Chú ý: Độ trễ tối ưu của cả hai bảng A và B là 7 , dựa trên tiêu chuẩn LR kết hợp

với kiểm định tính vững của mô hình SVAR

Cú sốc chính sách tiền tệ của Việt Nam được trình bày bằng lãi suất tái cấp vốn Dòng (1) trong mô hình SVAR ở cả hai bảng đại diện cho phản ứng tức thời của chính sách tiền tệ các cú sốc bên ngoài đến từ biến động giá dầu, lãi suất Fed, và giá cả hàng hóa trong cùng giai đoạn Dựa trên giả thuyết của Fisher, chúng ra hiểu được rằng có một mối quan hệ cùng chiều giữa lạm phát phát và lãi suất Tác giả dự kiến sẽ có một chính sách tiền tệ mở rộng trong trường hợp biến động giá dầu tác động tiêu cực lên sản xuất công nghiệp

Dòng (2) của hệ SVAR đại diện cho mức giá cả hàng hóa bị tác động tức thời bởi cú sốc giá dầu và mức tổng cầu Tác giả kỳ vọng một cú sốc cầu âm được tạo ra từ biến động giá dầu như một kết quả của sụt giảm trong tiêu dùng hàng hóa có giá trị lớn của cá nhân và hộ gia đình như xe, nhà, thiết bị gia đình, và hàng hóa đầu tư Freidman (1997) đưa ra một quan điểm rằng khi lạm phát gia tăng, nó sẽ tao ra một sự không chắn chắn về lạm phát trong tương lai theo đó tạo một tác động tiêu cực lên sản lượng vì phân bổ nguồn lực dưới điều kiện tối ưu

Dòng (3) trong hệ SVAR mô tả tổng sản lượng, và được giả sử là tác động tức thời bởi cú sốc giá dầu Khi giá dầu gia tăng, nhưng yếu tố khác không

Ngày đăng: 11/08/2017, 14:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Davis, J., Haltiwanger, J., 2001. Sectoral job creation and destruction responses to oil price changes. Journal of Monetary Economics 48, 465–512 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sectoral job creation and destruction responses to oil price changes
10. Davis, S.J., 1987. Allocative disturbances and specific capital in real business cycle theories. American Economic Review 77 (2), 326–332 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Allocative disturbances and specific capital in real business cycle theories
11. Dohner (1981). Energy Prices, Economic Activity and Inflation: Survey of Issues and Results, in Knut Anton Mork, ed. Energy Prices. Inflation and Economic Activity, Cambridge, Mass.: Ballinger Sách, tạp chí
Tiêu đề: Energy Prices, Economic Activity and Inflation: Survey of Issues and Results, in Knut Anton Mork, ed
Tác giả: Dohner
Năm: 1981
12. Elder, J., Serletis, A., 2010. Oil price uncertainty. Journal of Money, Credit and Banking 42, 1137–1159 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oil price uncertainty
13. Ferderer, J., 1996. Oil price volatility and the macroeconomy. Journal of Macroeconomics 18, 1–26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oil price volatility and the macroeconomy
14. Filis.G (2014), Macro economy, stock market and oil prices: Do meaningful relationships exist among their cyclical fluctuations?. Energy Economics 32 (2010), 877–886 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Macro economy, stock market and oil prices: Do meaningful relationships exist among their cyclical fluctuations
Tác giả: Filis.G (2014), Macro economy, stock market and oil prices: Do meaningful relationships exist among their cyclical fluctuations?. Energy Economics 32
Năm: 2010
15. Filis, G. (2014), David C. Broadstock a, b, Oil price shock and stock market returns: New evidence from the United States and China. Int. Fin. Markets, Inst. and Money 33 (2014), 417–433 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oil price shock and stock market returns: New evidence from the United States and China
Tác giả: Filis, G. (2014), David C. Broadstock a, b, Oil price shock and stock market returns: New evidence from the United States and China. Int. Fin. Markets, Inst. and Money 33
Năm: 2014
16. Fried and Schulze (1975) Overview, in Fried and Schultze, eds. Higher Oil Prices and the World Economy, Washington, D.C.:The Brookings Institution Sách, tạp chí
Tiêu đề: Overview
17. Friedman, J.W., 1977. Oligopoly and the Theory of Games. NorthHolland, Amsterdam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oligopoly and the Theory of Games
18. Hamilton, J.D., 1983. Oil and the macroeconomy since World War II. Journal of Political Economy 91, 228–248 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oil and the macroeconomy since World War II
19. Hamilton, J.D., 2003. What is an oil shock? Journal of Econometrics 113, 363–398 Sách, tạp chí
Tiêu đề: What is an oil shock
22. Holmes, M.J., Wang, P., 2003. Oil price shocks and the asymmetric adjustment of UK output: a Markov-switching approach. International Review of Applied Economics 17 (2), 181–192 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oil price shocks and the asymmetric adjustment of UK output: a Markov-switching approach
23. Hooker, M.A., 1996. What happened to the oil price-macroeconomy relationship? Journal of Monetary Economics 38, 195–213 Sách, tạp chí
Tiêu đề: What happened to the oil price-macroeconomy relationship
24. Huang, Y., Guo, F., 2007. The role of oil price shocks on China’s real exchange rate. China Economic Review 18, 403–416 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The role of oil price shocks on China’s real exchange rate
25. Huson, A.J and Mokhtarul, W, 2011. Role of oil price shock on macroeconomic activities: An SVAR approach to the Malaysian economy and monetary responses.Energy Policy 39, 8062-8069 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Role of oil price shock on macroeconomic activities: An SVAR approach to the Malaysian economy and monetary responses
26. Iwayemi, A., Fowowe, B., 2011. Impact of oil price shocks on selected macroeconomic variables in Nigeria. Energy Policy 39, 603–612 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of oil price shocks on selected macroeconomic variables in Nigeria
27. Jones and Kaul (1996) Oil and stock markets. Journal of Finance 51(2):463-491 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Oil and stock markets
28. Kilian, L., 2009. Not all oil price shocks are alike: disentangling demand and supply shocks in the crude oil market. American Economic Review 99, 1053–1069 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Not all oil price shocks are alike: disentangling demand and supply shocks in the crude oil market
29. Kim, S., Roubini, N., 2000. Exchange rate anomalies in the industrial countries: a solution with a structural VAR approach. Journal of Monetary Economics 45, 561–586 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exchange rate anomalies in the industrial countries: a solution with a structural VAR approach
30. Le Viet Trung, & Nguyen Thi Thuy Vinh. (2011). The impact of oil prices, real effective exchange rate and inflation on economic activity: Novel evidence for Vietnam. Discussion paper series, Kobe University, 3/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The impact of oil prices, real effective exchange rate and inflation on economic activity: Novel evidence for Vietnam
Tác giả: Le Viet Trung, & Nguyen Thi Thuy Vinh
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  2.1 Sơ đồ kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô. - Tác động của các cú sốc giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô việt nam và phản ứng của chính sách tiền tệ một cách tiếp cận theo mô hình SVAR
nh 2.1 Sơ đồ kênh truyền dẫn của cú sốc giá dầu đến nền kinh tế vĩ mô (Trang 22)
Bảng  3.1 Các biến trong mô hình, nguồn và cách đo lường - Tác động của các cú sốc giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô việt nam và phản ứng của chính sách tiền tệ một cách tiếp cận theo mô hình SVAR
ng 3.1 Các biến trong mô hình, nguồn và cách đo lường (Trang 42)
Hình  4.1 Giá dầu thô thế giới WTI giai đoạn từ 2002 đến 09/2016 - Tác động của các cú sốc giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô việt nam và phản ứng của chính sách tiền tệ một cách tiếp cận theo mô hình SVAR
nh 4.1 Giá dầu thô thế giới WTI giai đoạn từ 2002 đến 09/2016 (Trang 44)
Hình  4.2 Lãi suất tái cấp vốn giai đoạn 01/2002 đến 09/2016. - Tác động của các cú sốc giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô việt nam và phản ứng của chính sách tiền tệ một cách tiếp cận theo mô hình SVAR
nh 4.2 Lãi suất tái cấp vốn giai đoạn 01/2002 đến 09/2016 (Trang 47)
Bảng  4.1 Thống kê mô tả - Tác động của các cú sốc giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô việt nam và phản ứng của chính sách tiền tệ một cách tiếp cận theo mô hình SVAR
ng 4.1 Thống kê mô tả (Trang 50)
Bảng  4.3  trình  bày  các  ước  lượng  của  mô  hình  EGARCH.  Các  tham  số - Tác động của các cú sốc giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô việt nam và phản ứng của chính sách tiền tệ một cách tiếp cận theo mô hình SVAR
ng 4.3 trình bày các ước lượng của mô hình EGARCH. Các tham số (Trang 52)
Bảng  4.3 Ước lượng mô hình EGARCH - Tác động của các cú sốc giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô việt nam và phản ứng của chính sách tiền tệ một cách tiếp cận theo mô hình SVAR
ng 4.3 Ước lượng mô hình EGARCH (Trang 53)
Bảng  4.5 Độ trễ tối ưu trong mô hình VAR với biến HI - Tác động của các cú sốc giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô việt nam và phản ứng của chính sách tiền tệ một cách tiếp cận theo mô hình SVAR
ng 4.5 Độ trễ tối ưu trong mô hình VAR với biến HI (Trang 55)
Bảng  4.4 Độ trễ tối ưu trong mô hình VAR với biến CV_OP - Tác động của các cú sốc giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô việt nam và phản ứng của chính sách tiền tệ một cách tiếp cận theo mô hình SVAR
ng 4.4 Độ trễ tối ưu trong mô hình VAR với biến CV_OP (Trang 55)
Bảng  4.6 Kiểm định phương sai đổi và tự tương quan trong phần dư của mô - Tác động của các cú sốc giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô việt nam và phản ứng của chính sách tiền tệ một cách tiếp cận theo mô hình SVAR
ng 4.6 Kiểm định phương sai đổi và tự tương quan trong phần dư của mô (Trang 56)
Hình dạng hàm phản ứng đẩy của tỷ giá LEX ứng với cú sốc trong biến  động giá dầu được đo lường bằng HI tương đối giống với cú sốc được đo lường  bằng  biến  động  có  điều  kiện  CV_OP - Tác động của các cú sốc giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô việt nam và phản ứng của chính sách tiền tệ một cách tiếp cận theo mô hình SVAR
Hình d ạng hàm phản ứng đẩy của tỷ giá LEX ứng với cú sốc trong biến động giá dầu được đo lường bằng HI tương đối giống với cú sốc được đo lường bằng biến động có điều kiện CV_OP (Trang 62)
Hình  4.3 Hàm phản ứng của I, CPI, IPI và EX đối với biến động giá dầu  được đo lường bằng CV_OP và hàm phản ứng của I đối với Fed) - Tác động của các cú sốc giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô việt nam và phản ứng của chính sách tiền tệ một cách tiếp cận theo mô hình SVAR
nh 4.3 Hàm phản ứng của I, CPI, IPI và EX đối với biến động giá dầu được đo lường bằng CV_OP và hàm phản ứng của I đối với Fed) (Trang 64)
Hình  4.4 Hàm phản ứng của I, CPI, IPI và EX đối với sự gia tăng giá dầu - Tác động của các cú sốc giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô việt nam và phản ứng của chính sách tiền tệ một cách tiếp cận theo mô hình SVAR
nh 4.4 Hàm phản ứng của I, CPI, IPI và EX đối với sự gia tăng giá dầu (Trang 66)
Bảng  4.8 Các ước tính từ phân rã phương sai. Đơn vị tính %. Nguồn tự tính - Tác động của các cú sốc giá dầu lên hoạt động kinh tế vĩ mô việt nam và phản ứng của chính sách tiền tệ một cách tiếp cận theo mô hình SVAR
ng 4.8 Các ước tính từ phân rã phương sai. Đơn vị tính %. Nguồn tự tính (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm