Chính vì vậy, đề tài “Phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở Malaysia, Thái Lan và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” mang tính cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễ
Trang 1VIỆN HẦN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Giáo dục bậc cao luôn là một mục tiêu quan trọng của các chương trình phát triển quốc gia, là một hình thức quan trọng trong đầu tư vốn nhân lực –một yếu tố đầu vào rất quan trọng cho tăng trưởng kinh tế Đóng góp của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế ở mỗi giai đoạn phát triển có sự khác nhau Ở các xã hội truyền thống, tập trung phát triển giáo dục tiểu học và trung học cơ sở có tầm quan trọng hơn nhiều so với phát triển giáo dục bậc cao bởi nền kinh tế thời kỳ này chủ yếu cần một số lượng lao động có quy
mô lớn và cần ở trình độ nhận thức cơ bản Tuy nhiên, sang các xã hội hiện đại, đặc biệt là xã hội tri thức ngày nay, chất lượng lao động được đặt lên hàng đầu Cuộc cách mạng công nghệ thông tin không cần một lực lượng lớn lao động làm các sản phẩm cần nhiều sức lao động, mà cần một lực lượng lao động tinh giản và có tay nghề cao Hệ thống giáo dục vì vậy đã thay đổi và giáo dục bậc cao trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, là kênh chính thức để trao đổi tri thức và hấp thụ công nghệ, giúp các nền kinh tế tiếp thu và đuổi bắt công nghệ hiệu quả hơn
Trong khu vực châu Á, Malaysia và Thái Lan là các trung tâm giáo dục bậc cao có chất lượng, được nhiều nước đang phát triển tham khảo và học tập Phát triển giáo dục bậc cao đã giúp Malaysia và Thái Lan trở thành những nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh ở khu vực Đông Nam Á Hai nước này có hệ thống các trường đại học được xếp hạng cao trong khu vực
và trên thế giới, đồng thời hệ thống giáo dục bậc cao ở Thái Lan và Malaysia được phân cấp rất rõ ràng, đáp ứng tốt các nhu cầu hấp thụ lao động chuyên môn cao ở các ngành nghề kinh tế - xã hội khác nhau Giáo dục bậc cao đã góp phần đưa Malaysia và Thái Lan từ một nước nông nghiệp truyền thống trở thành một nước công nghiệp hóa thành công trong khu vực, có thu nhập bình quân đầu người xếp hạng ở mức trung bình cao trên thế giới Bằng việc trang bị kỹ năng và tri thức cho người dân, giáo dục bậc cao đã giúp Malaysia và Thái Lan giảm nghèo tương đối hiệu quả và bền vững
Giáo dục bậc cao ở Việt Nam hiện nay đang gặp phải nhiều vấn đề rất nan giải Theo đánh giá của Bộ giáo dục và Đào tạo, tính đến năm 2016 cả nước có 412 trường đại học và cao đẳng, thu hút 2,2 triệu sinh viên trong tổng số 95 triệu dân, cao hơn cả các quốc gia phát triển Ước tính có khoảng hơn 1 triệu người thất nghiệp, trong đó ½ là thanh niên, 1/3 là cử nhân đại học cao đẳng Chương trình đổi mới đào tạo và dạy nghề tại Việt Nam cho biết hết quý 1 năm 2016 cả nước có 225.000 cử nhân và thạc sĩ
Trang 3thất nghiệp Do mở rộng ồ ạt giáo dục bậc cao, tỷ lệ sinh viên trên số giảng viên quy đổi ở Việt Nam đạt trung bình 22,7 sinh viên/giảng viên, trong đó
có tới trên 500 ngành trong tổng số 3575 ngành đào tạo có số sinh viên vượt quá 30 sinh viên/giảng viên, trong đó có gần 100 ngành có tỷ lệ sinh viên trên số giảng viên đạt trên 100, tập trung ở các ngành kinh tế, quản lý, luật và giáo dục Nền giáo dục đại học của Việt Nam hiện nay có quá nhiều vấn đề mà nguyên nhân chính bắt nguồn từ chính hệ thống giáo dục đã lỗi thời, chưa theo kịp thời đại Theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài, nguyên nhân khủng hoảng của giáo dục đại học ở Việt Nam chủ yếu là do không có mối liên hệ chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển giáo dục Các nhà đầu tư nước ngoài cho rằng việc thiếu hụt công nhân và lực lượng quản lý có trình độ là rào cản lớn đối với sự mở rộng của họ Cho đến nay Việt Nam đang thiếu vắng các trường đại học và các học viện có chất lượng cao, đủ tiêu chuẩn quốc tế để đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho nền kinh tế
Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển bậc cao ở Thái Lan và Malaysia là rất
có ý nghĩa vì đây là hai quốc gia đạt kết quả tốt trong phát triển giáo dục
bậc cao Chính vì vậy, đề tài “Phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở Malaysia, Thái Lan và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”
mang tính cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn, giúp tác giả luận án tìm hiểu rõ tầm quan trọng của giáo dục bậc cao trong tăng trưởng và phát triển kinh tế, đánh giá và học hỏi kinh nghiệm quốc tế trong phát triển giáo dục bậc cao (cụ thể là kinh nghiệm của Malaysia và Thái Lan), từ đó có những kiến nghị, đề xuất để góp phần vào công cuộc đào tạo giáo dục bậc cao và phát triển nguồn nhân lực phục vụ tăng trưởng kinh tế thời gian tới
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
2.1 Mục đích nghiên cứu:
Đề tài tập trung phân tích chính sách phát triển giáo dục bậc cao ở Thái Lan và Malaysia trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tìm hiểu và đánh giá thành tựu và hạn chế của phát triển giáo dục bậc cao của hai nước này, nghiên cứu mối liên hệ của giáo dục bậc cao và tăng trưởng kinh tế ở hai nước, từ đó có những đánh giá so sánh, rút ra những bài học kinh nghiệm và những kiến nghị chính sách cho Việt Nam
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đáp ứng được mục đích nghiên cứu trên, Luận án cần giải quyết 4 nhiệm vụ cơ bản sau đây:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và xây dựng khung tiêu chí về phát triển giáo dục bậc cao, các chính sách chủ yếu để phát triển giáo dục bậc
Trang 4- Đánh giá chính sách, thực trạng phát triển giáo dục bậc cao, vai trò và tác động của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế ở Malaysia
- Đánh giá chính sách, thực trạng phát triển giáo dục bậc cao, vai trò và tác động của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế ở Thái Lan
- Đánh giá, so sánh thành công, hạn chế, ưu điểm, nhược điểm của hệ thống giáo dục bậc cao của Thái Lan và Malaysia trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế; - Phân tích thực trạng và những nguy cơ đối với hệ thống giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở Việt nam hiện nay; từ đó từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ trường hợp Malaysia và Thái Lan, đề xuất những kiến nghị chính sách nhằm phát triển hiệu quả hệ thống giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở Việt nam thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Phát triển giáo dục bậc cao ở Thái Lan và Malaysia (bao gồm từ hệ cao đẳng, giáo dục đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, sau tiến sĩ)
- Phạm vi nghiên cứu: Kể từ năm 2000 đến nay
4 Phạm vi và phương pháp nghiên cứu:
Về thời gian nghiên cứu: Thời điểm tác giả luận án chọn để nghiên cứu
trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay Giai đoạn này phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa đang lan rộng và nền kinh tế tri thức trên toàn thế giới đòi hỏi các nước đang phát triển phải chú trọng phát triển giáo dục bậc cao Tuy nhiên, ở mỗi nước, thời điểm bắt đầu lựa chọn nghiên cứu có sự xê dịch, phụ thuộc vào các chiến lược và sự thay đổi chính sách phát triển giáo dục bậc cao ở nước đó
Về không gian, đối tượng và địa bàn nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu
giáo dục bậc cao ở Malaysia và Thái Lan bao gồm từ bậc cao đẳng đến bậc tiến sĩ, sau tiến sĩ Tác động của giáo dục bậc cao chỉ nghiên cứu những khía cạnh liên quan đến tăng trưởng kinh tế, không nghiên cứu các khía cạnh liên quan đến phát triển xã hội và các khía cạnh khác
Về phương pháp nghiên cứu:Đề tài sẽ vận dụng một cách xuyên suốt các
phương pháp tư duy duy vật lịch sử và biện chứng trong nghiên cứu, phân tích và trình bày các vấn đề Trên cơ sở đó sẽ sử dụng những thông tin thứ cấp để tiến hành tổng hợp, phân tích, so sánh nhằm thực hiện các mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, Phương pháp nghiên cứu
và kỹ thuật chủ yếu sẽ là phương pháp phân tích, thống kê, mô tả, nghiên cứu nhân - quả định tính, nghiên cứu so sánh, nghiên cứu kết hợp khảo sát thực tế, điều tra xã hội học và phương pháp dự báo, Đồng thời, trên cơ sở
kế thừa các kết quả nghiên cứu, công trình này sẽ bổ sung, phát triển những
Trang 5luận cứ khoa học và thực tiễn mới nhằm thực hiện tốt những mục tiêu nghiên cứu đặt ra
5 Ý nghĩa khoa học của luận án:
- Đề tài mang ý nghĩa về mặt lý luận Từ trước đến nay, các lý thuyết về phát triển giáo dục, phát triển nguồn nhân lực đã được các học giả trong và ngoài nước nghiên cứu rất nhiều, rất đa dạng Tuy nhiên, giáo dục bậc cao mới được nghiên cứu thông qua các công trình nghiên cứu thực nghiệm, kiểm định ở nhiều nước khác nhau, từ đó rút ra những đánh giá, nhận định Các khái niệm và các tiêu chí đánh giá giáo dục bậc cao, tác động của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế được các tác giả đi trước nghiên cứu ở nhiều cách tiếp cận khác nhau Nhiệm vụ của luận án là kế thừa các kết quả của các nghiên cứu trước đó về mặt lý luận, tiếp tục nghiên cứu logic để xây dựng khung tiêu chí đánh giá đặc điểm của giáo dục bậc cao, vai trò và tác động của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế
- Luận án mang ý nghĩa thực tiễn rất lớn Giáo dục bậc cao luôn là một mục tiêu quan trọng của các chương trình phát triển quốc gia, là một hình thức quan trọng trong đầu tư vốn nhân lực –một yếu tố đầu vào rất quan trọng cho tăng trưởng kinh tế Trong khu vực ASEAN, Malaysia và Thái Lan là các trung tâm giáo dục bậc cao có chất lượng, được nhiều nước đang phát triển tham khảo và học tập Phát triển giáo dục bậc cao đã giúp Malaysia và Thái Lan trở thành những nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh ở khu vực Đông Nam Á Hai nước này có hệ thống các trường đại học được xếp hạng cao trong khu vực và trên thế giới, đồng thời hệ thống giáo dục bậc cao ở Thái Lan và Malaysia được phân cấp rất rõ ràng, đáp ứng tốt các nhu cầu hấp thụ lao động chuyên môn cao ở các ngành nghề kinh tế - xã hội khác nhau Giáo dục bậc cao đã góp phần đưa Malaysia và Thái Lan từ một nước nông nghiệp truyền thống trở thành một nước công nghiệp hóa thành công trong khu vực, có thu nhập bình quân đầu người xếp hạng ở mức trung bình cao trên thế giới Bằng việc trang bị kỹ năng và tri thức cho người dân, giáo dục bậc cao đã giúp Malaysia và Thái Lan giảm nghèo tương đối hiệu quả và bền vững Trong bối cảnh giáo dục bậc cao ở Việt Nam hiện nay đang gặp phải nhiều vấn đề rất nan giải, thì việc nghiên cứu kinh nghiệm phát triển bậc cao ở Thái Lan và Malaysia là rất có ý nghĩa thực tiễn vì đây là hai quốc gia đạt kết quả tốt trong phát triển giáo dục bậc cao, tuy xuất phát từ các nước nông nghiệp truyền thống nhưng đến nay lại có sự khác nhau rõ ràng về cơ cấu kinh tế Do vậy, việc đúc kết kinh nghiệm của hai nước Thái Lan, Malaysia, đối chiếu so sánh các điều kiện tương đồng và khác biệt để đề xuất các kiến nghị giải pháp cho Việt Nam
Trang 6nâng cao chất lượng giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế bền vững
là hoàn toàn có ý nghĩa thực tiễn cao đối với Việt Nam hiện nay
6 Những đóng góp mới của luận án :
- Luận án làm rõ các vấn đề lý thuyết giải thích mối liên hệ giữa giáo dục bậc cao và tăng trưởng kinh tế, tầm quan trọng của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển mạnh hiện nay Đồng thời, luận án sẽ tiến hành nghiên cứu hệ thống chính sách mà các nước Đông Á thường áp dụng để phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế
- Phân tích thực trạng phát triển giáo dục bậc cao ở Malaysia và Thái Lan, mối liên hệ giữa giáo dục bậc cao và tăng trưởng kinh tế của hai nước này,
từ đó so sánh, đánh giá để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai mô hình giáo dục bậc cao của Malaysia và Thái Lan
- Trên cơ sở xem xét thực trạng khủng hoảng giáo dục bậc cao ở Việt Nam hiện nay, đối chiếu bối cảnh tương đồng và khác biệt giữa Việt nam
và Thái Lan, Malaysia, luận án sẽ rút ra những bài học kinh nghiệm và kiến nghị chính sách nhằm phát triển hiệu quả giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở Việt nam
7 Kết cấu luận án:
Đề tài bao gồm phần Mở đầu, bốn chương nội dung, Kết luận và tài liệu tham khảo Dự kiến 4 chương nội dung là như sau :
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến giáo dục bậc
cao phục vụ tăng trưởng kinh tế
Chương 3: Thực trạng phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng
kinh tế ở Malaysia và Thái Lan
Chương 4: Đánh giá hệ thống giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh
tế ở Malaysia, Thái Lan, bài học kinh nghiệm và kiến nghị chính sách cho Việt Nam
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.2 Những giá trị của các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
và khoảng trống nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nói trên đã có nhiều đóng góp có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn, làm sáng tỏ các vấn đề như nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao, giáo dục đại học, giáo dục
Trang 7bậc cao, mối quan hệ giữa phát triển giáo dục bậc cao đối với nguồn nhân lực, mối quan hệ giữa giáo dục và tăng trưởng kinh tế Các tác giả trong và ngoài nước đã bước đầu đưa ra được khái niệm về giáo dục bậc cao, vai trò của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có nhiều cách nhìn và cách đánh giá khác nhau về các khái niệm và phạm trù liên quan đến giáo dục bậc cao, có những phân tích đa chiều về tác động của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế Tác giả luận án coi đây là những tài liệu quan trọng để mong muốn góp một phần nhỏ vào việc thống nhất các khái niệm và phạm trù như trên, từ đó đưa ra khái niệm rõ ràng nhất về giáo dục bậc cao và vai trò của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế Trong phần phân tích thực trạng phát triển giáo dục bậc cao và vai trò của
nó đối với tăng trưởng kinh tế ở Malaysia và Thái Lan, các tác phẩm trong
và ngoài nước mà tác giả luận án đã nghiên cứu là rất đa dạng, nghiên cứu nhiều chiều và theo quan điểm khác nhau về hệ thống giáo dục bậc cao, chính sách phát triển giáo dục bậc cao, tác động của giáo dục bậc cao đối với phát triển nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh tế, các vấn đề cần giải quyết trong giáo dục bậc cao ở Malaysia và Thái Lan Đây là kho tư liệu quý để tác giả luận án có được các luận cứ chứng minh cho các quan điểm khoa học của mình Nhiệm vụ của tác giả luận án là từ các tư liệu sẵn có sẽ
hệ thống hóa, logic và thống nhất các luận cứ khoa học theo quan điểm nghiên cứu của riêng mình, từ đó có những phát hiện mang tính mới mẻ, nghiên cứu công phu và hệ thống về vấn đề này Hơn nữa, do các công trình nghiên cứu trong nước về thực trạng phát triển giáo dục bậc cao và vai trò của nó đối với tăng trưởng kinh tế ở Malaysia và Thái Lan còn quá ít, chưa có tính hệ thống và chưa có những đánh giá, so sánh một cách tổng thể, tác giả luận án sẽ tiếp tục nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, từ đó phát hiện
và tìm ra những bài học kinh nghiệm có thể tham khảo hữu ích cho quá trình phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam Trong các công trình nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế cho việc phát triển giáo dục bậc cao ở Việt Nam, các cuốn sách, bài báo, tham luận khoa học mới dừng lại ở nét khái quát nhất về thực trạng phát triển hệ thống giáo dục bậc cao ở Việt Nam Tầm quan trọng của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt nam chưa được phân tích cụ thể, sâu sắc, từ đó chưa thấy rõ những nguy cơ của nền kinh tế Việt nam trong giai đoạn tới trong việc tiếp thu tri thức, hấp thụ công nghệ, phát triển bền vững do thiếu hụt nhân lực có chất lượng cao Luận án sẽ tiếp tục làm rõ những nguy cơ này,
từ đó đưa ra những bài học kinh nghiệm từ việc nghiên cứu trường hợp
Trang 8Malaysia và Thái Lan, đưa ra những kiến nghị chính sách cho việc phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
- Giáo dục bậc cao (higher education):
Giáo dục bậc cao là một hình thức giáo dục, đào tạo diễn ra ở các cơ sở học tập sau bậc phổ thông trung học, bao gồm cả dạy nghề, giáo dục đại học và giáo dục sau đại học Mục đích của giáo dục bậc cao là cấp văn bằng
kỹ thuật hoặc chứng chỉ chuyên nghiệp, bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ… nhằm giúp người học đạt được các chuẩn kiến thức nhất định, hoặc trở thành nhà nghiên cứu và giảng dạy, giúp họ trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao hơn và có những đóng góp cho xã hội lớn hơn
2.1.2 Đặc điểm của hệ thống giáo dục bậc cao:
* Tổ chức giáo dục bậc cao:
Hệ thống giáo dục bậc cao bao gồm 5 loại: Các trường đại học nghiên cứu (university), các trường đại học của tỉnh hoặc khu vực (provincial or region instititions), các trường đào tạo chuyên nghiệp (professional schools), các trường đào tạo nghề (vocational school) và các trường đào tạo
từ xa về giáo dục bậc cao
* Đặc điểm của giáo dục bậc cao:
Thứ nhất, giáo dục bậc cao được phân tầng rất đa dạng
Thứ hai, giáo dục bậc cao chỉ có thể phát huy được hiệu quả khi các
trường được chính phủ, nhà tài trợ, doanh nghiệp đảm bảo nguồn quỹ đầy
đủ để hoạt động phục vụ tầm nhìn dài hạn
Thứ ba, hệ thống giáo dục bậc cao chỉ có thể đạt được hiệu quả khi nó đặt
ra các tiêu chuẩn đào tạo rõ ràng, phù hợp với nhu cầu của xã hội và lực lượng lao động Hơn nữa, hệ thống giáo dục bậc cao không thể hoạt động đơn độc, tách rời sự phát triển của các doanh nghiệp và các lĩnh vực khác
2.1.3.Các lý thuyết áp dụng để giải thích mối liên hệ giữa giáo dục bậc cao và tăng trưởng kinh tế
Adam Smith trong cuốn “Sự giàu có của các quốc gia” :chú trọng vào giáo dục phổ cập là để loại bỏ những tác động tiêu cực của sự phân công lao động, một phần thiết yếu trong quá trình công nghiệp hóa
Trang 9Năm 1960, Schultz xuất bản cuốn sách “Đầu tư vốn nhân lực” (Investment in human capital, 1961) [90], cho rằng giáo dục - đào tạo đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân thông qua nâng cao kỹ năng và khả năng sản xuất của người lao động
Becker năm 1964 đã phát triển lý thuyết hình thành vốn con người và phân tích tỷ lệ hoàn trả đối với đầu tư vào giáo dục và đào tạo Ông đưa ra bằng chứng về mối tương quan giữa trình độ học vấn và thu nhập: học vấn càng cao, thu nhập càng tăng
Các lý thuyết gia tiếp tục phát triển khái niệm và nội hàm vốn nhân lực, trong đó hầu hết các lý thuyết đều nhắc đến vai trò của giáo dục đối với các hoạt động kinh tế Rosen (1999) cho rằng vốn nhân lực là đầu tư giáo dục cho con người nhằm tăng năng suất lao động cho họ Theo Frank và Bernanke (2007) vốn nhân lực bao gồm các yếu tố: giáo dục, đào tạo, kinh nghiệm, và vốn nhân lực ảnh hưởng đến năng suất lao động của người lao động Rodriguez và Loomis (2007) cho rằng, vốn nhân lực là tri thức, kỹ năng, năng lực và đóng góp của mỗi cá nhân để tạo nên sự thịnh vượng kinh tế cho mỗi cá nhân và xã hội
Mối quan hệ giữa giáo dục và tăng trưởng kinh tế được phân tích nhiều trong mô hình tăng trưởng nội sinh Với mức thu nhập kiếm được, các cá nhân sẽ giảm bớt tiêu dùng và hy sinh một số giờ làm việc để đến trường học với hy vọng cuộc sống tương lai sẽ được cải thiện
2.1.4 Vai trò và tác động của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế:
* Vai trò và tác động:
Thứ nhất, giáo dục bậc cao góp phần phát triển nguồn vốn nhân lực cho
tăng trưởng kinh tế
Thứ hai, giáo dục bậc cao góp phần phát triển năng suất lao động và hấp
thụ công nghệ tiên tiến
Thứ ba, giáo dục bậc cao góp phần cải thiện năng lực cạnh tranh kinh tế Thứ tư, giáo dục bậc cao tác động đến tăng trưởng kinh tế theo nhiều
kênh lan toả khác như việc làm, nhận thức xã hội, sức khoẻ, tri thức
* Các chính sách chủ yếu cần áp dụng:
- Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia Trong chiến lược này, cần thiết kế các chương trình giáo dục liên quan có hiệu quả tích cực đến tăng trưởng kinh tế, trong đó bao gồm: kích thích đổi mới, khả năng tiếp cận cơ hội học tập từng cấp (tiểu học, phổ thông, bậc cao) nhằm đạt được sự bình đẳng trong giáo dục, thu nhập và các mối liên hệ trong xã hội
Trang 10- Thiết lập các thể chế phù hợp với nhiệm vụ giáo dục bậc cao: Nhà nước phải xây dựng quy định chất lượng, trách nhiệm giải trình và sự minh bạch trong phát triển giáo dục bậc cao Nhà nước cần xây dựng các quy định pháp lý khuyến khích sự đổi mới và thành tựu phát triển giáo dục bậc cao, xác định các tiêu chuẩn cho các trường công và trường tư, buộc họ phải áp dụng thông qua hệ thống kiểm định chất lượng, đánh giá hoạt động, kiểm toán nội bộ
- Hỗ trợ phát triển các chuyên ngành cốt yếu, trong đó cần phân loại các trường đại học đỉnh cao và các trường đại học khác để có chính sách đầu tư tài chính hợp lý
- Quốc tế hoá giáo dục bậc cao đi đôi với đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục Quốc tế hoá giáo dục bậc cao là quá trình hoà nhập trên phạm vi toàn cầu nhằm vào mục đích mở rộng những mục tiêu, chức năng và sự
phân phối trong nền giáo dục bậc cao
2.2 Cơ sở thực tiễn của giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế
2.2.1 Bối cảnh mới và tác động của nó đối với giáo dục bậc cao
Thứ nhất, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đã và đang mở ra những cơ
hội và thách thức mới đối với nguồn nhân lực, đối với việc phát triển giáo dục bậc cao, đòi hỏi các nước có sự cạnh tranh lớn hơn trong phát triển nguồn nhân lực, dẫn đến giáo dục bậc cao cũng phải thay đổi
Thứ hai, cuộc cách mạng khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức phát
triển nhanh trên thế giới, đã khiến cho vai trò của giáo dục bậc cao, việc dạy và học ở bậc giáo dục bậc cao cũng phải khác cả về hình thức, nội dung
và cung cách quản lý
Thứ ba, Cộng đồng kinh tế Đông Nam Á (AEC) hình thành với những
nôi dung mới, buộc giáo dục bậc cao của Đông Nam Á và Việt Nam phải thay đổi để thích ứng với tình hình mới
2.2.2 Giáo dục bậc cao ở khu vực Đông Á trong bối cảnh mới
Phần lớn các nước trong khu vực Đông Á đều theo đuổi chính sách đại
chúng hoá giáo dục bậc cao, vì vậy các nước đều cho phép và khuyến khích các tổ chức giáo dục bậc cao tư nhân thành lập để khuyến khích sinh viên theo học, giảm đáng kể chi tiêu công giành cho giáo dục
Xét theo tỷ lệ nhập học giáo dục bậc cao, khu vực Đông Á đạt được
những thành công vượt bậc Về chất lượng đào tạo : Đông Á là nơi có
nhiều trường đại học được xếp thứ hạng cao trong khu vực và trên thế giới
Giáo dục bậc cao đào tạo ra lực lượng lao động có kỹ năng cho các nước
Đông Á Mỗi nước có những ưu điểm khác nhau về đào tạo kỹ năng cho người lao động, nhưng nhìn chung khu vực Đông Nam Á được đánh giá đạt
Trang 11loại khá trong việc tiếp thu kỹ thuật, công nghệ và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong công việc
Bản đồ thế giới về các ấn phẩm khoa học quốc tế đang thay đổi nhanh chóng trong những thập kỷ gần đây, trong đó khu vực Đông Á nổi lên một
số nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc Có được những thành tích này là do các nước Đông Á đã chú trọng đầu tư cho giáo dục, khoa học công nghệ Trong cơ cấu chi tiêu R&D của nhiều nước Đông
Á (bao gồm chi tiêu cho doanh nghiệp kinh doanh, chính phủ, giáo dục bậc cao, các ngành tư nhân phi lợi nhuận), tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục bậc cao ở
nhiều nước luôn ở mức cao
2.2.3 Vai trò và tác động của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh
tế Đông Á
Các nền kinh tế Đông Á đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh một phần nhờ hệ thống giáo dục bậc cao đã tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao có khả năng hấp thụ công nghệ hiện đại của thế giới Theo báo cáo của Viện kế toán công chứng Anh và xứ Wales (ICAEW), năng suất lao động ở khu vực Đông Á nhìn chung đạt mức tăng trưởng 3%/năm trong giai đoạn 2000-2015, vượt qua tốc độ tăng năng suất lao động của Mỹ latinh (2%/năm), châu Phi (1,44%)
Những tiến bộ đạt được trong giáo dục bậc cao ở nhiều nước Đông Á đã
tác động tích cực đến khả năng phát huy sáng kiến vànăng suất lao động Giáo dục bậc cao đã tác động lên khả năng hấp thụ và chuyển giao công nghệ của các nền kinh tế Đông Á
Giáo dục bậc cao góp phần hình thành nền kinh tế tri thức ở Đông Á
Giáo dục bậc cao góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của các nền kinh
tế Đông Á, đồng thời góp phần nâng cao thu nhập cho người dân các nước
này
Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC BẬC CAO PHỤC VỤ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở MALAYSIA VÀ THÁI LAN
3.1 Thực trạng phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh
tế ở Malaysia
3.1.1 Chính sách phát triển giáo dục bậc cao ở Malaysia
- Chính sách phát triển giáo dục bậc cao trước những năm 1970: hệ
thống giáo dục bậc cao ở Malaysia chưa thực sự được chú trọng phát triển mặc dù năm 1962 Ủy ban nghiên cứu giáo dục bậc cao đã được thành lập
với mục đích nghiên cứu ưu tiên phát triển giáo dục bậc cao
Trang 12- Chính sách phát triển giáo dục bậc cao giai đoạn 1970-1990:Giáo dục
bậc cao trong giai đoạn này gắn liền với Chính sách phát triển kinh tế mới (NEP) năm 1971 Chính sách này được đánh giá là vô cùng ưu đãi và tạo
thuận lợi cho người Bumiputra tiếp cận giáo dục bậc cao
- Chính sách phát triển giáo dục bậc cao giai đoạn 1990-2000:
Sang những năm 1990, Malaysia thực hiện Chính sách phát triển quốc gia (NDP, 1990-2000) Để phục vụ cho chính sách này, hệ thống giáo dục bậc cao của Malaysia đã thay đổi theo hướng áp dụng các tư tưởng tự do kinh tế
và thay đổi hệ thống giá trị trong các ngành thuộc khu vực công Để tư nhân hóa các cơ sở giáo dục bậc cao và mở các chi nhánh các trường đại học nước ngoài tại Malaysia, chính phủ đã tiến hành sửa đổi Luật giáo dục, năm 1996 ban thành Luật đại học tư Cùng với việc mở rộng hàng loạt các trường đại học tư, các chi nhánh của các trường đại học nước ngoài được phép thành lập tại Malaysia trong những năm 1990
Trong hệ thống các trường đại học công đã diễn ra làn sóng hợp nhất các trường kể từ năm 1995 Những năm 1990 cũng đánh dấu sự nâng cấp chất lượng các cơ sở giáo dục bậc cao ở Malaysia Năm 1992, tiêu chuẩn quản
lý chất lượng đại học theo chuẩn quốc tế (ISO) đã được ban hành do Ủy ban dịch vụ công Malaysia (PSD) phụ trách Năm 1996, Bộ giáo dục đưa ra
bộ tiêu chí giám sát thực hiện chính sách giáo dục quốc gia các cấp theo nguyên tắc quản lý chất lượng toàn diện (TQM) Năm 1996, Hội đồng giáo dục đại học quốc gia được thành lập để kiểm soát các tiêu chuẩn của các trường đại học công Năm 1997, Hội đồng chứng nhận quốc gia cũng được thành lập Năm 2001, Malaysia thành lập Hệ thống kiểm định chất lượng
giáo dục (MyQuest) để kiểm định chất lượng các trường đại học/cao đẳng
tư thục tại Malaysia,
- Chính sách phát triển giáo dục bậc cao từ năm 2000 đến nay:
Thứ nhất, thành lập Bộ giáo dục bậc cao (MOHE) vào năm 2004 với
chức năng hiện đại hóa giáo dục bậc cao, phù hợp với mục tiêu của chính phủ là đưa Malaysia trở thành trung tâm giáo dục đại học chất lượng và quốc tế hóa giáo dục đại học vào năm 2020
Thứ hai, thành lập các trường đại học nghiên cứu Các trường đại học
nghiên cứu này đều thuộc sở hữu nhà nước được nâng cấp từ những trường đại học lâu đời nhất ở Malaysia
Thứ ba, thành lập trường đại học theo Chương trình tăng tốc đến tuyệt
hảo (APEX) năm 2008 nhằm nâng cấp các trường đại học nghiên cứu lên đẳng cấp mới, có danh tiếng trên thế giới
Thứ tư, quốc tế hóa các trường đại học ở Malaysia
Trang 133.1.2 Thực trạng phát triển giáo dục bậc cao ở Malaysia từ năm 2000 đến nay
3.1.2.1 Thực trạng phát triển hệ thống các trường giáo dục bậc cao
Tính đến cuối năm 2012, Malaysia có tổng cộng 20 trường đại học nghiên cứu công lập, 24 trường đại học bách khoa công lập, 37 trường đại học cộng đồng, 33 trường đại học nghiên cứu tư nhân và trên 500 trường đại học tư nhân khác và 5 chi nhánh đại học nước ngoài Trên ½ số sinh viên nhập học đại học ở Malaysia năm 2012 là vào hệ thống các trường công lập Bên cạnh đó, Malaysia còn có nhiều chi nhánh đại học từ Anh, Mỹ,
ÚC, Pháp, Canada, Đức, New Zealand đã hợp tác với các trường đại học của Malaysia, đưa Malaysia trở thành trung tâm giáo dục bậc cao trong khu vực Đông Nam Á
Khác với Thái Lan, nơi không có nhiều trường đại học tư nhân danh tiếng trong khu vực, hệ thống trường đại học tư nhân ở Malaysia phát triển rất thành công kể cả số lượng và chất lượng, là niềm tự hào của giáo dục đại học Malaysia Chính sách của chính phủ Malaysia là cho phép một số doanh nghiệp lớn, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức chính trị được lập các cơ sở giáo dục đại học của mình
3.1.2.2 Quy mô và trình độ đào tạo
Giáo dục bậc cao đã được mở rộng nhanh chóng.Trong giai đoạn
2000-2005, tốc độ tăng trưởng học viên các cấp giáo dục bậc cao hệ công lập là 4,5%/năm, tư nhân là 5,5%/năm; giai đoạn 2006-2010 hệ công lập đạt tốc
độ tăng tỷ lệ nhập học là 16,9%/năm, tư nhân là 6,7%/năm Đặc biệt, hệ đào tạo tiến sĩ kể từ năm 2000 đến nay tăng nhanh nhất, đạt 15%/năm giai đoạn 2001-2005 và 26% giai đoạn 2005-2010 trong các trường công lập Malaysia cũng là nơi tập trung đào tạo lực lượng sinh viên nước ngoài đông đảo trong khu vực Là một xã hội Hồi giáo đa sắc tộc, chính phủ Malaysia
đã cố gắng thực hiện chính sách bình đẳng trong giáo dục, kể cả giáo dục bậc cao.So với nhiều nước khác, cân bằng giới tính trong giáo dục bậc cao
ở Malaysia được chú trọng nhiều hơn
3.1.2.3 Đội ngũ cán bộ, giảng viên trong giáo dục bậc cao
Đội ngũ cán bộ, giảng viên trong hệ thống giáo dục bậc cao ở Malaysia tăng nhanh về mặt số lượng và chất lượng Trong giai đoạn 2005-2009, đã
có 4.156 giảng viên các trường đại học ở Malaysia đã lấy bằng tiến sĩ và tỷ
lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ trong các trường đại học công đã tăng từ 26,6% năm 2005 lên 35,9% năm 2009.Ở Malaysia, bậc thang hàn lâm có sáu mức độ: trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư (được chia thành ba cấp C, B, A từ thấp đến cao), và giáo sư xuất sắc