1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở mailaysia, thái lan và bài học kinh nghiệm cho việt nam

165 330 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra, còn có một số bài nghiên cứu, bài báo liên quan đến phát triển giáo dục bậc cao ở Malaysia, Thái Lan, cụ thể là các bài: “Thái Lan: Tập trung vào giáo dục đại học”, tác giả Qu

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ ĐỨC THẮNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ

PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC BẬC CAO PHỤC VỤ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở MALAYSIA, THÁI LAN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Ngành: Kinh tế quốc tế

Mã số: 62 31 01 06

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lưu Ngọc Trịnh

PGS.TS Nguyễn Thị Kim Chi

Hà Nội, năm 2017

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:

Giáo dục bậc cao luôn là một mục tiêu quan trọng của các chương trình phát triển quốc gia, là một hình thức quan trọng trong đầu tư vốn nhân lực –một yếu tố đầu vào rất quan trọng cho tăng trưởng kinh tế Đóng góp của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế ở mỗi giai đoạn phát triển có sự khác nhau Ở các xã hội truyền thống, tập trung phát triển giáo dục tiểu học và trung học cơ sở có tầm quan trọng hơn nhiều so với phát triển giáo dục bậc cao bởi nền kinh tế thời kỳ này chủ yếu cần một số lượng lao động có quy mô lớn và cần ở trình độ nhận thức cơ bản Tuy nhiên, sang các xã hội hiện đại, đặc biệt là xã hội tri thức ngày nay, chất lượng lao động được đặt lên hàng đầu Cuộc cách mạng công nghệ thông tin không cần một lực lượng lớn lao động làm các sản phẩm cần nhiều sức lao động, mà cần một lực lượng lao động tinh giản và có tay nghề cao Hệ thống giáo dục vì vậy đã thay đổi và giáo dục bậc cao trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, là kênh chính thức để trao đổi tri thức và hấp thụ công nghệ, giúp các nền kinh tế tiếp thu và đuổi bắt công nghệ hiệu quả hơn

Trong khu vực châu Á, Malaysia và Thái Lan là các trung tâm giáo dục bậc cao

có chất lượng, được nhiều nước đang phát triển tham khảo và học tập Phát triển giáo dục bậc cao đã giúp Malaysia và Thái Lan trở thành những nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh ở khu vực Đông Nam Á Hai nước này có hệ thống các trường đại học được xếp hạng cao trong khu vực và trên thế giới, đồng thời hệ thống giáo dục bậc cao

ở Thái Lan và Malaysia được phân cấp rất rõ ràng, đáp ứng tốt các nhu cầu hấp thụ lao động chuyên môn cao ở các ngành nghề kinh tế - xã hội khác nhau Giáo dục bậc cao

đã góp phần đưa Malaysia và Thái Lan từ một nước nông nghiệp truyền thống trở thành một nước công nghiệp hóa thành công trong khu vực, có thu nhập bình quân đầu người xếp hạng ở mức trung bình cao trên thế giới Bằng việc trang bị kỹ năng và tri thức cho người dân, giáo dục bậc cao đã giúp Malaysia và Thái Lan giảm nghèo tương đối hiệu quả và bền vững

Giáo dục bậc cao ở Việt Nam hiện nay đang gặp phải nhiều vấn đề rất nan giải Theo đánh giá của Bộ giáo dục và Đào tạo, tính đến năm 2016 cả nước có 412 trường đại học và cao đẳng, thu hút 2,2 triệu sinh viên trong tổng số 95 triệu dân, cao hơn cả các quốc gia phát triển Ước tính có khoảng hơn 1 triệu người thất nghiệp, trong đó ½

là thanh niên, 1/3 là cử nhân đại học cao đẳng Chương trình đổi mới đào tạo và dạy nghề tại Việt Nam cho biết hết quý 1 năm 2016 cả nước có 225.000 cử nhân và thạc sĩ

Trang 3

thất nghiệp Do mở rộng ồ ạt giáo dục bậc cao, tỷ lệ sinh viên trên số giảng viên quy đổi ở Việt Nam đạt trung bình 22,7 sinh viên/giảng viên, trong đó có tới trên 500 ngành trong tổng số 3575 ngành đào tạo có số sinh viên vượt quá 30 sinh viên/giảng viên, trong đó có gần 100 ngành có tỷ lệ sinh viên trên số giảng viên đạt trên 100, tập trung ở các ngành kinh tế, quản lý, luật và giáo dục Nền giáo dục đại học của Việt Nam hiện nay có quá nhiều vấn đề mà nguyên nhân chính bắt nguồn từ chính hệ thống giáo dục đã lỗi thời, chưa theo kịp thời đại.Theo đánh giá của các chuyên gia nước ngoài, nguyên nhân khủng hoảng của giáo dục đại học ở Việt Nam chủ yếu là do không có mối liên hệ chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển giáo dục Các nhà đầu tư nước ngoài cho rằng việc thiếu hụt công nhân và lực lượng quản lý có trình độ

là rào cản lớn đối với sự mở rộng của họ Cho đến nay Việt Nam đang thiếu vắng các trường đại học và các học viện có chất lượng cao, đủ tiêu chuẩn quốc tế để đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho nền kinh tế

Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển bậc cao ở Thái Lan và Malaysia là rất có ý nghĩa vì đây là hai quốc gia đạt kết quả tốt trong phát triển giáo dục bậc cao Chính vì

vậy, đề tài “Phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở Malaysia, Thái

Lan và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” mang tính cấp thiết cả về mặt lý luận và

thực tiễn, giúp tác giả luận án tìm hiểu rõ tầm quan trọng của giáo dục bậc cao trong tăng trưởng và phát triển kinh tế, đánh giá và học hỏi kinh nghiệm quốc tế trong phát triển giáo dục bậc cao (cụ thể là kinh nghiệm của Malaysia và Thái Lan), từ đó có những kiến nghị, đề xuất để góp phần vào công cuộc đào tạo giáo dục bậc cao và phát triển nguồn nhân lực phục vụ tăng trưởng kinh tế thời gian tới

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:

2.1 Mục đíchnghiên cứu:

Đề tài tập trung phân tích chính sách phát triển giáo dục bậc cao ở Thái Lan và Malaysia trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tìm hiểu và đánh giá thành tựu và hạn chế của phát triển giáo dục bậc cao của hai nước này, nghiên cứu mối liên hệ của giáo dục bậc cao và tăng trưởng kinh tế ở hai nước, từ đó có những đánh giá so sánh, rút ra những bài học kinh nghiệm và những kiến nghị chính sách cho Việt Nam

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để hoàn thành được mục đích nghiên cứu trên, Luận án cần giải quyết 4 nhiệm

vụ cơ bản sau đây:

Trang 4

- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và xây dựng khung tiêu chí về phát triểngiáo dục bậc cao, các chính sách chủ yếu để phát triển giáo dục bậc cao, vai trò và tác động của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế

- Đánh giá chính sách, thực trạng phát triển giáo dục bậc cao, vai trò và tác động của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế ở Malaysia

- Đánh giá chính sách, thực trạng phát triển giáo dục bậc cao, vai trò và tác động của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế ở Thái Lan

- Đánh giá, so sánh thành công, hạn chế, ưu điểm, nhược điểm của hệ thống giáo dục bậc cao của Thái Lan và Malaysia trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế;

- Phân tích thực trạng và những nguy cơ đối với hệ thống giáo dục bậc cao phục

vụ tăng trưởng kinh tế ở Việt nam hiện nay; từ đó từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ trường hợp Malaysia và Thái Lan, đề xuất những kiến nghị chính sách nhằm phát triển hiệu quả hệ thống giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam thời gian tới

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu:Phát triển giáo dục bậc cao ở Thái Lan và Malaysia

(bao gồm từ hệ cao đẳng, giáo dục đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, sau tiến sĩ)

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Thời điểm tác giả luận án chọn để nghiên

cứu trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay Giai đoạn này phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa đang lan rộng và nền kinh tế tri thức trên toàn thế giới đòi hỏi các nước đang phát triển phải chú trọng phát triển giáo dục bậc cao Tuy nhiên, ở mỗi nước, thời điểm bắt đầu lựa chọn nghiên cứu có sự xê dịch, phụ thuộc vào các chiến lược và sự thay đổi chính sách phát triển giáo dục bậc cao ở nước đó

- Phạm vi về không gian, đối tượng và địa bàn nghiên cứu: Đối tượng nghiên

cứu là phát triển giáo dục bậc cao ở Malaysia và Thái Lan bao gồm từ bậc cao đẳng đến bậc tiến sĩ, sau tiến sĩ Tác động của giáo dục bậc cao chỉ nghiên cứu những khía cạnh liên quan đến tăng trưởng kinh tế, không nghiên cứu các khía cạnh liên quan đến phát triển xã hội và các khía cạnh khác

4 Phương pháp nghiên cứu:

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật lịch sử và duy vật biện chứng, trong nghiên cứu, phân tích và trình bày các vấn đề, Luận án sẽ sử dụng những phương pháp nghiên cứu như phương pháp thống kê, thu thập các thông tin thứ cấp để tiến hành

Trang 5

phân tích, so sánh, tổng hợp, mô tả, nghiên cứu nhân - quả định tính, nghiên cứu so sánh, phương pháp dự báo Đồng thời, trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu, công trình này sẽ bổ sung, phát triển những luận cứ khoa học và thực tiễn mới nhằm thực hiện tốt những mục tiêu nghiên cứu đặt ra

Kỹ thuật sử dụng chủ yếu là sưu tầm, lựa chọn các tài liệu liên quan trực tiếp đến chủ đề nghiên cứu ở trong và ngoài nước; thu thập các số liệu thứ cấp từ các nguồn khác nhau để có tư liệu sơ cấp phục vụ cho phân tích và đánh giá Từ đó, xử lý tài liệu, đánh giá và phân tích, rút ra những kết luận khoa học về bản chất, nguyên nhân, tác động của các vấn đề nghiên cứu, từ đó rút ra các kiến nghị chính sách

5 Ý nghĩa khoa học của luận án:

- Đề tài mang ý nghĩa về mặt lý luận Từ trước đến nay, các lý thuyết về phát

triển giáo dục, phát triển nguồn nhân lực đã được các học giả trong và ngoài nước nghiên cứu rất nhiều, rất đa dạng Tuy nhiên, giáo dục bậc cao mới được nghiên cứu thông qua các công trình nghiên cứu thực nghiệm, kiểm định ở nhiều nước khác nhau,

từ đó rút ra những đánh giá, nhận định Các khái niệm và các tiêu chí đánh giá giáo dục bậc cao, tác động của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế được các tác giả đi trước nghiên cứu ở nhiều cách tiếp cận khác nhau Nhiệm vụ của luận án là kế thừa các kết quả của các nghiên cứu trước đó về mặt lý luận, tiếp tục nghiên cứu logic

để xây dựng khung tiêu chí đánh giá đặc điểm của giáo dục bậc cao, vai trò và tác động của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế

- Luận án mang ý nghĩa thực tiễn rất lớn Giáo dục bậc cao luôn là một mục

tiêu quan trọng của các chương trình phát triển quốc gia, là một hình thức quan trọng trong đầu tư vốn nhân lực –một yếu tố đầu vào rất quan trọng cho tăng trưởng kinh tế Trong khu vực ASEAN, Malaysia và Thái Lan là các trung tâm giáo dục bậc cao có chất lượng, được nhiều nước đang phát triển tham khảo và học tập Phát triển giáo dục bậc cao đã giúp Malaysia và Thái Lan trở thành những nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh ở khu vực Đông Nam Á Hai nước này có hệ thống các trường đại học được xếp hạng cao trong khu vực và trên thế giới, đồng thời hệ thống giáo dục bậc cao

ở Thái Lan và Malaysia được phân cấp rất rõ ràng, đáp ứng tốt các nhu cầu hấp thụ lao động chuyên môn cao ở các ngành nghề kinh tế - xã hội khác nhau Giáo dục bậc cao

đã góp phần đưa Malaysia và Thái Lan từ một nước nông nghiệp truyền thống trở thành một nước công nghiệp hóa thành công trong khu vực, có thu nhập bình quân đầu người xếp hạng ở mức trung bình cao trên thế giới Bằng việc trang bị kỹ năng và tri thức cho người dân, giáo dục bậc cao đã giúp Malaysia và Thái Lan giảm nghèo tương

Trang 6

đối hiệu quả và bền vững Trong bối cảnh giáo dục bậc cao ở Việt Nam hiện nay đang gặp phải nhiều vấn đề rất nan giải, thì việc nghiên cứu kinh nghiệm phát triển bậc cao

ở Thái Lan và Malaysia là rất có ý nghĩa thực tiễn vì đây là hai quốc gia đạt kết quả tốt trong phát triển giáo dục bậc cao, tuy xuất phát từ các nước nông nghiệp truyền thống nhưng đến nay lại có sự khác nhau rõ ràng về cơ cấu kinh tế Do vậy, việc đúc kết kinh nghiệm của hai nước Thái Lan, Malaysia, đối chiếu so sánh các điều kiện tương đồng

và khác biệt để đề xuất các kiến nghị giải pháp cho Việt Nam nâng cao chất lượng giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế bền vững là hoàn toàn có ý nghĩa thực tiễn cao đối với Việt Nam hiện nay

6 Những đóng góp mới của luận án :

- Luận án làm rõ các vấn đề lý thuyết giải thích mối liên hệ giữa giáo dục bậc cao và tăng trưởng kinh tế, tầm quan trọng của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển mạnh hiện nay Đồng thời, luận án sẽ tiến hành nghiên cứu hệ thống chính sách mà các nước Đông Á thường áp dụng để phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế

- Phân tích thực trạng phát triển giáo dục bậc cao ở Malaysia và Thái Lan, mối liên hệ giữa giáo dục bậc cao và tăng trưởng kinh tế của hai nước này, từ đó so sánh, đánh giá để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai mô hình giáo dục bậc cao của Malaysia và Thái Lan

- Trên cơ sở xem xét thực trạng khủng hoảng giáo dục bậc cao ở Việt Nam hiện nay, đối chiếu bối cảnh tương đồng và khác biệt giữa Việt Nam với Thái Lan và Malaysia, luận án đã rút ra những bài học kinh nghiệm và kiến nghị chính sách nhằm phát triển hiệu quả giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở Việt nam

7 Kết cấu luận án:

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các chữ viết tắt, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận án được kết cấu thành 4 chương nội dung như sau :

Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Chương 2: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến giáo dục bậc cao

phục vụ tăng trưởng kinh tế

Chương 3: Thực trạng phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở

Malaysia và Thái Lan

Chương 4: Đánh giá hệ thống giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở

Malaysia, Thái Lan, bài học kinh nghiệm và kiến nghị chính sách cho Việt Nam

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu trong nước liên quan đến về chủ đề “Phát triển giáo dục bậc cao

phục vụ tăng trưởng kinh tế ở Malaysia, Thái Lan và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” có một số tài liệu sau đây:

Trước hết, phải kể đến những công trình nghiên cứu lý luận chung về vai trò

của phát triển giáo dục bậc cao trong tăng trưởng kinh tế Trong cuốn sách “Nghiên

cứu con người và nguồn nhân lực: Đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Phạm

Minh Hạc, NXB Chính trị quốc gia, 2001), tác giả đã đưa ra những khái niệm về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao, lao động đã qua đào tạo, đồng thời phân tích các yếu tố tác động đến sự phát triển con người và nguồn nhân lực trong thời

kỳ công nghiệp hóa Trong cuốn sách “Phát triển nguồn nhân lực – kinh nghiệm thế

giới và thực tiễn nước ta”, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998 Cuốn sách đã giới

thiệu khái quát vai trò của nguồn nhân lực trong nền kinh tế và phát triển nguồn nhân lực ở khía cạnh phát triển giáo dục –đào tạo ở một số nước trên thế giới, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Nhìn chung, hai cuốn sách này đã phần nào phân tích vai trò của giáo dục và đào tạo đối với phát triển con người và nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa đất nước

Đi gần hơn với chủ đề phát triển giáo dục bậc cao, cuốn sách “Phát triển nguồn

nhân lực giáo dục đại học Việt Nam” của tác giả Đỗ Minh Cương và Nguyễn Thị

Doan, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, đã đề cập đến một số nội dung về giáo dục đại học, đồng thời đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm phát triển giáo

dục đại học ở Việt Nam Cuốn sách “Chất lượng giáo dục đại học nhìn từ góc độ hội

nhập” của tác giả Nguyễn Văn Tuấn, NXB Tổng hợp TP HCM, năm 2011 đã phân

tích các khái niệm, chuẩn mực quốc tế về đào tạo, chất lượng dạy học, nghiên cứu khoa học, đồng thời, phân tích các kinh nghiệm quốc tế trong giáo dục đại học, chỉ

ra những thiếu sót, bất cập trong giáo dục đại học hiện nay ở Việt Nam và đề xuất

những biện pháp giải quyết Ngoài ra, trong cuốn sách “Cuộc cạnh tranh chất xám vĩ

đại: Các đại học toàn cầu đang tái định hình thế giới như thế nào?”, tác giả Ben

Wildavsky, NXB Tri thức, 2011, các khái niệm như chất xám, giáo dục đại học, giáo dục đại học toàn cầu đã được tác giả phân tích kỹ lưỡng, đồng thời phân tích vai trò và

Trang 8

sứ mạng của giáo dục đại học trong thời đại toàn cầu hóa, phân tích kinh nghiệm quốc

tế về vai trò của giáo dục đại học trong phát triển kinh tế (tại Mỹ, Singapore, Ấn Độ, Trung Quốc)

Trong số những công trình nghiên cứu về giáo dục bậc cao ở Malaysia và

Thái Lan, có thể kể đến những công trình tiêu biểu sau đây: “Lựa chọn thành công:

Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai của Việt Nam”, Chương trình châu

Á của Đại học Harvard, 2008 Cuốn sách đã nêu lên kinh nghiệm phát triển (trong đó

có phát triển giáo dục và giáo dục đại học) của các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hồng Kong, Trung Quốc, Singapore, Thái Lan, Malaysia, vai trò của cuộc cách mạng trong giáo dục đại học đối với phát triển kinh tế của các nước này, và bài học cho Việt nam trong cải cách hệ thống giáo dục đại học Viện Khoa học giáo dục Việt

Nam năm 2010 xuất bản cuốn sách “Kinh nghiệm của một số nước về phát triển giáo

dục và đào tạo, khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ tri thức”, NXB

Chính trị quốc gia, Hà Nội Các tác giả trong cuốn sách này đã phân tích chính sách phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ của một số nước, trong đó có nhắc đến Thái Lan và Malaysia, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam

Ngoài ra, còn có một số bài nghiên cứu, bài báo liên quan đến phát triển giáo

dục bậc cao ở Malaysia, Thái Lan, cụ thể là các bài: “Thái Lan: Tập trung vào giáo

dục đại học”, tác giả Quang Hùng, Báo Giáo dục TP HCM, ngày 6/5/2009; “Việt Nam tụt hậu 50 năm so với Thái Lan về công bố khoa học”, tác giả Bùi Du Dương, Báo

Vnexpress, ngày 11/1/2013; “Các mô hình đại học tư ở Malaysia”, tác giả Mohammed

Ali Abdul Rahman, trợ lý chính vụ trưởng vụ tuyển sinh và tiêu chuẩn giáo dục, Bộ

giáo dục đại học Malaysia, đăng trên Tạp chí Tia sáng, ngày 7/5/2013; “Giáo dục”, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, 2013-2014; “Giáo dục đại học Việt nam và

Thái Lan qua vài con số”, Tạp chí Tia sáng 2/2/2014; Các bài báo và bài nghiên cứu

này phần nào đã phân tích hệ thống giáo dục đại học ở Thái Lan và Malaysia, những thành công trong giáo dục đại học đối với phát triển kinh tế ở các nước này, liên hệ với

hệ thống giáo dục bậc cao ở Việt Nam

Nghiên cứu về thực trạng giáo dục bậc cao ở Việt Nam hiện nay, có thể kể

đến một số tác phẩm tiêu biểu như: “Kinh tế thị trường khi Việt Nam trở thành quốc

gia có thu nhập trung bình”, Báo cáo phát triển Việt Nam 2012, Báo cáo chung của

các nhà tài trợ tại Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam Trong cuốn sách này, vai trò của nguồn vốn con người và những thách thức về năng suất giảm sút

là những trở ngại chủ yếu của kinh tế Việt Nam, trong đó có những vấn đề phát triển

Trang 9

giáo dục bậc cao Cuốn sách “Giáo dục ở Việt Nam: Phân tích các chỉ số chủ yếu” của

Tổng cục thống kê, năm 2011, đã đưa ra thực trạng giáo dục các cấp, trong đó có giáo dục bậc cao (từ cao đẳng đến đại học và trên đại học), phân tích mối quan hệ giữa giáo dục, dân số và các đặc trưng kinh tế xã hội, đánh giá kết quả thực hiện giáo dục (trong

đó có giáo dục bậc cao) và những hệ lụy chính sách

Thực trạng kém chất lượng đào tạo và vai trò của giáo dục bậc cao được phân

tích nhiều qua các bài nghiên cứu Bài viết “Bước đi của giáo dục đại học Việt Nam

trước ngưỡng cửa kinh tế tri thức”, tác giả Bùi Loan Thùy, Tạp chí Phát triển & Hội

nhập, số 4(14), tháng 5-6/2012 Bài viết phân tích tầm quan trọng của giáo dục đại học trong phát triển kinh tế, đồng thời nêu lên những yếu kém của hệ thống giáo dục đại học Việt nam và những nhiệm vụ nặng nề cần phải giải quyết trong thời gian tới của

giáo dục đại học Việt Nam Trong bài “Giáo dục và đào tạo với phát triển nguồn nhân

lực Việt Nam”, Tạp chí Phát triển và hội nhập, số 6 (16), tháng 9-10/2012, tác giả Chu

Văn Cấp đã phân tích các khái niệm về nhân lực, nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực, vai trò của giáo dục đào tạo trong phát triển nguồn nhân lực, thực trạng phát triển nguồn nhân lực và yêu cầu đối với giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay Ngoài ra, còn nhiều bài viết khác liên quan đến giáo dục đại học và giáo dục bậc cao ở

Việt Nam như: “Vài suy nghĩ về giáo dục và đào tạo phục vụ cho phát triển”, tác giả Nguyễn Văn Đạo, Bản tin Đại học quốc gia Hà Nội, 2012; “Nguồn nhân lực chất

lượng cao: Cửa sổ đã mở”, tác giả Nguyễn Quốc Anh, Tổng cục dân số và KHH gia

đình, 2010; “Lược khảo về kinh nghiệm phát hiện, đào tạo và sử dụng nhân tài trong

lịch sử Việt Nam”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005; “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam”, Luận án Tiến Sĩ

kinh tế chính trị, tác giả Lê Thị Hồng Điệp, Trung tâm đào tạo bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội (2005); …

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trong nước đã phần nào cho thấy vai trò

của giáo dục bậc cao trong phát triển kinh tế - xã hội ở một quốc gia đang phát triển, đặc biệt là ở Malaysia, Thái Lan và Việt Nam Các công trình nghiên cứu này cung cấp những tư liệu, những nhận định đánh giá đa dạng và phong phú, giúp NCS định hình được khung phân tích của luận án và tiếp tục phát hiện các vấn đề mà các công trình nghiên cứu trước đó chưa đề cập đến, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến chính sách phát triển giáo dục bậc cao ở Thái Lan và Malaysia, sự tương đồng và khác biệt của hệ thống giáo dục bậc cao ở hai nước này, những tác động của giáo dục bậc cao đối với phát triển kinh tế - xã hội ở Thái Lan và Malaysia Các bài học kinh nghiệm rút

Trang 10

ra từ việc nghiên cứu giáo dục bậc cao ở Thái Lan và Malaysia cũng chưa được các công trình nghiên cứu trong nước đề cập đến, vì vậy yêu cầu NCS phải tiếp tục nghiên cứu để giải quyết các câu hỏi đặt ra trong luận án của mình

1.1.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Nghiên cứu ngoài nước về những vấn đề lý luận liên quan đến giáo dục bậc

cao có những tài liệu tiêu biểu sau đây:

Cuốn “Higher education and economic development: Literature review”, tác

giả Pundy Pillay, ấn phẩm của Trung tâm đào tạo giáo dục bậc cao (Center for Higher education transformation), Nam Phi, 2011 Cuốn sách phân tích vai trò của giáo dục bậc cao trong tăng trưởng và phát triển kinh tế, vai trò của giáo dục đại học trong kinh

tế tri thức, các biện pháp thường áp dụng để phát triển giáo dục bậc cao ở các nước đang phát triển, vai trò của giáo dục bậc cao trong phát triển vùng và phát triển công nghiệp, kinh nghiệm một số nước Đông Á

Cuốn sách “Financing higher education and economic development in East

Asia”, Chủ biên Shiro Armstrong và Bruce Chapman, ấn phẩm của The Australian

National University Press, 2011 Trong chương 2 của cuốn sách này, các tác giả đã phân tích vai trò của giáo dục bậc cao trong phát triển kinh tế nói chung và ở Mỹ nói riêng

Trong tác phẩm “Identifying the role of education in socio-economic

development”, tác giả Francesco Burchi, thuộc University of Roma Center, đăng trên

kỷ yếu hội thảo của FAO năm 2006 đã phân tích các vấn đề lý thuyết liên quan đến nhân lực, vốn nhân lực, nguồn lực kinh tế, giáo dục và giáo dục bậc cao, vai trò của giáo dục bậc cao trong tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an ninh lương thực

Ngoài ra, một số tác phẩm lý thuyết kinh điển đã đề cập đến các khái niệm và vai trò của nhân lực, vốn nhân lực, đầu tư vốn nhân lực trong phát triển kinh tế, có thể

kể tên một số tác phẩm tiêu biểu như: “Investment in human capital”, tác giả Theodore Schultz, đăng trên The American economic review, tháng 3/1961; “Investment in

human capital: A theoretical analysis”, tác giả Gary Stanley Becber, đăng trên The

Journal of Policital Economy, 10/1962; “Human Capital, Schooling and Health”, tác

giả Schultz, đăng trên Journal of economics and human biology, tháng 6/2003…

Nghiên cứu về chính sách và thực trạng giáo dục bậc cao ở Malaysia có một

số tác phẩm tiêu biểu sau đây:

Tác phẩm “Current trends in Malaysia higher education and the effect on

education policy and practice: An overview”, tác giả Selvajai Grapragasem và một số

Trang 11

tác giả khác đã phân tích tầm quan trọng của giáo dục bậc cao trong kinh tế tri thức, các xu hướng chủ yếu trong phát triển giáo dục bậc cao ở Malaysia, tác động của giáo dục bậc cao đối với phát triển việc làm ở Malaysia;

Bài nghiên cứu “The business of higher education in Malaysia”, tác giả Hon

Chan Chai, đăng trên Commonwealth education partnership, 2007 đã có những đánh giá về các nhân tố ảnh hưởng đến giáo dục bậc cao ở Malaysia, hệ thống giáo dục bậc cao ở Malaysia phân theo mô hình công – tư và triển vọng phát triển giáo dục bậc cao của đất nước này

Bài viết “Consulting – based entrepreneurship education in Malaysian higher

education institutions”, tác giả Mazura Mansor, đăng trên International Conference on

Social Science and Humanity, Vol 5, 2011, Singapore Bài viết phân tích sự phát triển của các tổ chức giáo dục bậc cao ở Malaysia và mối quan hệ tương hỗ của các doanh nghiệp trong các tổ chức giáo dục này nhằm đào tạo kỹ năng cho người lao động

Trong bài viết ”Privation of higher education in Malaysia”, tác giả

G.Sivaligam(School of Business, Monash University Malaysia, 2008) đã phân tích các chính sách phát triển giáo dục bậc cao của Malaysia kể từ năm 1970 cho đến nay, vai trò của tư nhân hóa giáo dục bậc cao trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho Malaysia

Tác giả Selvaraj Grapragasem, Anbalagan Krishnan và Azlin Norhaini Mansor

trong bài viết “Current trends in Malaysia higher education and the effect on

education policy and practice: An overview”, đăng trên International Journal of higher

education, Vol 3, No 1, 2014, Malaysia, đã phân tích các xu hướng và các chính sách giáo dục bậc cao của Malaysia, những đặc điểm chủ yếu của giáo dục bậc cao trong bối cảnh toàn cầu hóa lan rộng và tầm nhìn Malaysia 2020 đang đến gần

Cuốn sách“Executive Summary: Malaysia education blueprint 2015-2025

(higher education), Ministry of education Malaysia đã tóm tắt những thành tựu đạt

được của Malaysia trong phát triển giáo dục, đặc biệt là giáo dục bậc cao Những thay đổi trong hệ thống giáo dục bậc cao của Malaysia trong những năm gần đây và triển vọng 2015-2025

Nghiên cứu về chính sách và thực trạng giáo dục bậc cao ở Thái Lan có một

số tác phẩm tiêu biểu sau đây:

Có rất nhiều các tác phẩm nghiên cứu về chính sách và thực trạng phát triển giáo dục bậc cao ở Thái Lan, đưa ra những số liệu và cách tiếp cận, đánh giá khác nhau về giáo dục bậc cao của nước này Có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu như:

Trang 12

+Công trình “Higher education in Thailand and the National reform roadmap”,

tác giả Krissanapong Kirtikara, đăng trên Thai-US Education Rountable, Bangkok, ngày 9/1/2001, đã phân tích thực trạng phát triển giáo dục bậc cao của Thái Lan và một số chính sách phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế;

+ Công trình “Higher education reform in Thailand”, tác giả Charas

Suwanwela, Chulalongkorn University, Bangkok, Thái Lan, 2002, đã phân tích lịch sử phát triển của hệ thống giáo dục bậc cao ở Thái Lan, cuộc cải cách cơ cấu trong giáo dục bậc cao và thực trạng phát triển giáo dục bậc cao ở đất nước này

+ Công trình “Emerging trends of Thai higher education and a case study of

Shinawatra University in coping with global challenges”, tác giả Kantatip Sihaneiti,

Shinawatra University, đăng trên US – China education review B3(2011), 370-381, đã

đề cập đến chức năng và vai trò của các trường đại học Thái Lan trong giáo dục bậc cao, nghiên cứu một trường đại học tư của Thái Lan là trường Shinawatra nhằm làm rõ chức năng và vai trò của trường này đối với việc cung cấp nhân lực bậc cao cho phát triển kinh tế

+ Tác phẩm “The logic of the Thai higher education sector on quality

assessment policy”, tác giả Rattana Sae Lao, Columbia University, 2013, đã đề cập

đến quá trình phát triển giáo dục bậc cao, vai trò của nhà nước trong giáo dục bậc cao

ở Thái Lan, đồng thời đánh giá chất lượng giáo dục bậc cao ở Thái Lan so với khu vực, toàn cầu, chất lượng một số trường đại học ở Thái Lan

+ Tác phẩm “The internationalization of higher education in Thailand: Case

studies of two English-medium business gradutate programs”, tác giả Supaprn

Chalapati, RMIT University, 2007, đã phân tích sự phát triển của chính sách giáo dục bậc cao ở Thái Lan, cải cách giáo dục bậc cao, các chương trình giáo dục bậc cao bằng tiếng Anh, thành tựu và những hạn chế của các chương trình này trong việc thực hiện quốc tế hóa giáo dục và duy trì bản sắc văn hóa của Thái Lan

Nghiên cứu về vai trò của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế ở Malaysia và Thái Lan, có thể kể đến các tác phẩm tiêu biểu sau đây:

+ Bài viết “The impact of education on economic: the case of Malaysia”, tác giả

Nurul Wahilah Abdul Latif, Đại học quốc gia Tenada, Pahang, Malaysia, đã viết phân tích mối quan hệ giữa giáo dục và tăng trưởng kinh tế ở Malaysia, tâp trung vào vai trò của nguồn vốn nhân lực đối với phát triển kinh tế, vai trò của từng cấp học (trong đó

có giáo dục đại học) trong tăng trưởng GDP đầu người;

Trang 13

+Trong bài viết “The impact of economy policy on reshaping higher education

in Malaysia”, đăng trên HERDRA annual conference 2010, Malaysia, tác giả Jasvir

Kaur Nachatar Singh và một số tác giả khác đã nghiên cứu các động lực dẫn đến cải cách giáo dục bậc cao ở Malaysia, các chính sách phát triển giáo dục bậc cao và thực trạng phát triển giáo dục của một số trường đại học ở Malaysia kể từ năm 1970 đến nay;

+ Bài viết “Linkage between higher education and labour market in Thailand”,

tác giả Phetcharee Rupavijetra, Chiangmai University, Thailand, 2011, đã phân tích vai trò của giáo dục bậc cao đối với phát triển kinh tế ở Thái Lan, thực trạng liên kết giữa giáo dục bậc cao và thị trường lao động Thái Lan, những khó khăn liên kết giữa giáo dục bậc cao và thị trường lao động

+ Cuốn sách “Effectiveness of research and innovation management at policy

and institutional levels: Cambodia, Malaysia, Thailand and Vietnam”, tác giả Asa

Olssson and Lynn Meek, OECD publication, 2013, đã phân tích các chính sách quản

lý nghiên cứu và sáng kiến của một số nước Đông Nam Á như Cambodia, Malaysia, Thái Lan và Việt Nam, hiệu quả và tác động của các chính sách quản lý này đối với phát triển kinh tế các nước

+ Bài viết “Stuck in the middle? Human capital development and economic

growth in Malaysia and Thailand”, tác giả Emmanuel Jimenez, Harry Anthony

Patrinos, đăng trên Policy research working paper, World Bank, 11/2012, đã phân tích vai trò của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế ở Thái Lan và Malaysia, những nguyên nhân dẫn đến sự phát triển kinh tế của hai nước này, trong đó có sự đóng góp tích cực của nguồn vốn nhân lực Vai trò của giáo dục đối với việc nâng cao thu nhập đầu người và trở thành nước thu nhập trung bình

+ Bài viết “Malaysia skill development and the middle income trap”, tác giả

Daniel Fleming và Henrik Soborg, Roskilde University, Denmark, 7/2012, đã phân tích các vấn đề Malaysia đang gặp phải khi mắc bẫy thu nhập trung bình và vai trò của giáo dục kỹ năng trong việc thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình ở nước này

Ngoài ra, còn có một số tác phẩm khác đánh giá, so sánh sự phát triển giáo dục bậc cao và vai trò của nó đối với tăng trưởng kinh tế ở Thái Lan và Malaysia, điển

hình là hai tác phẩm “Higher education institutions in Thailand and Malaysia – can

they deliver?”, tác giả Yesim Yilmaz, đăng trên Working Paper, tháng 3/2010 Tác

phẩm trên đã có những đánh giá về vai trò của giáo dục bậc cao và phát triển nhân lực trong tăng trưởng kinh tế của Thái Lan và Malaysia và một số đánh giá, so sánh; và tác

Trang 14

phẩm “Higher Education in South East Asia” của UNESCO, do NXB UNESCO Asia

and Pacific Regional Bureau for Education năm 2006, Thailand Cuốn sách đánh giá tổng quan về giáo dục bậc cao ở khu vực Đông Nam Á, chính sách và thực trạng giáo dục bậc cao ở một số nước điển hình như Cambodia, Lào, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam, so sánh hiệu quả và vai trò của giáo dục bậc cao đối với phát triển kinh tế của các nước trong khu vực Đông Nam Á

Nghiên cứu về giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, tiêu

biểu có 3 tác phẩm điển hình, như: “Vietnam: Higher education and skills for growth”,

của World Bank, tháng 6/2008 Trong cuốn sách này, các tác giả đã phân tích về khía cạnh cung – cầu trong giáo dục bậc cao ở Việt Nam, khả năng tiếp cận và chất lượng của giáo dục bậc cao ở Việt Nam, chính sách phát triển giáo dục bậc cao, mối liên kết giữa giáo dục bậc cao với thị trường lao động, năng suất lao động, ngành kinh tế và những khó khăn Việt nam đang gặp phải trong giáo dục bậc cao Tác phẩm

“Vietnamese higher education: Crisis and response”, tác giả Thomas J Vallely và Ben

Wikinson, đăng trên ASH Institute for democratic govermenace and innovation, November, 2008, đã phân tích tình trạng khủng hoảng giáo dục bậc cao ở Việt nam trong thời gian gần đây, những yếu kém trong hệ thống giáo dục và một số phản ứng chính sách của chính phủ Việt Nam trong việc cải cách giáo dục bậc cao Hoặc

“Effectiveness of research and innovation management at policy and institutional

levels: Cambodia, Malaysia, Thailand and Vietnam”, tác giả Asa Olssson and Lynn

Meek, OECD publication, 2013 (như đã đề cập ở phần trên)

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu ngoài nước cung cấp bức tranh đa dạng

về hệ thống giáo dục bậc cao ở Malaysia, Thái Lan và Việt Nam, có sự so sánh về chính sách và tác động của giáo dục bậc cao đối với phát triển kinh tế của các nước này Đây là những tư liệu quý, giúp tác giả luận án hiểu rõ hơn về các chính sách, đặc điểm của hệ thống giáo dục bậc cao của hai nước Thái Lan và Malaysia, đồng thời thấy được vai trò quan trọng của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế của hai nước Các học giả nước ngoài cũng đưa ra những phân tích khách quan

về hệ thống giáo dục bậc cao ở Việt Nam Điều này giúp tác giả luận án có cách nhìn chân thực hơn về thực trạng giáo dục bậc cao ở Việt Nam trong mối tương quan so sánh với hệ thống giáo dục bậc cao ở Thái Lan và Malaysia Hạn chế của các công trình nghiên cứu ngoài nước là chưa phân tích hệ thống các vấn đề mà luận án đang quan tâm, các đánh giá còn đa dạng, nhỏ lẻ, rời rạc, chưa thống nhất Hơn nữa, các công trình trên chưa đánh giá sự tương đồng, khác biệt trong hệ thống giáo dục của hai

Trang 15

nước này và chính sự khác biệt về chính sách và hệ thống giáo dục của hai nước đã tạo

ra sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của hai nước có nhiều khác biệt Luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu các vấn đề còn dang dở trên, đồng thời rút ra các kinh nghiệm và kiến nghị chính sách cho Việt Nam sau khi nghiên cứu hai trường hợp điển hình là Malaysia và Thái Lan Đó là các vấn đề mà các công trình nghiên cứu ngoài nước

chưa đề cập đến

1.2 Những giá trị của các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước và khoảng trống nghiên cứu

+ Những điểm mạnh của các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước:

Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nói trên đã có nhiều đóng góp

có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn, làm sáng tỏ các vấn đề như nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao, giáo dục đại học, giáo dục bậc cao, mối quan hệ giữa phát triển giáo dục bậc cao đối với nguồn nhân lực, mối quan hệ giữa giáo dục và tăng trưởng kinh tế Các tác giả trong và ngoài nước đã bước đầu đưa ra được khái niệm về giáo dục bậc cao, vai trò của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển

Trong phần phân tích thực trạng phát triển giáo dục bậc cao và vai trò của nó đối với tăng trưởng kinh tế ở Malaysia và Thái Lan, các tác phẩm trong và ngoài nước

mà tác giả luận án đã nghiên cứu là rất đa dạng, nghiên cứu nhiều chiều và theo quan điểm khác nhau về hệ thống giáo dục bậc cao, chính sách phát triển giáo dục bậc cao, tác động của giáo dục bậc cao đối với phát triển nguồn nhân lực và tăng trưởng kinh

tế, các vấn đề cần giải quyết trong giáo dục bậc cao ở Malaysia và Thái Lan Thông qua các công trình nghiên cứu này, tác giả luận án có thể hiểu được rõ hệ thống giáo dục bậc cao của Thái Lan và Malaysia hiện nay được tổ chức như thế nào, có sự thay đổi gì kể từ năm 2000 đến nay Các chính sách phát triển giáo dục bậc cao ở hai nước này được các tác giả đi trước phân tích rất đa dạng, cho thấy Malaysia và Thái Lan đã chú trọng phát triển và mở rộng các chương trình giáo dục bậc cao bằng nhiều hình thức khác nhau Mối liên hệ giữa giáo dục bậc cao và tăng trưởng kinh tế được đánh giá bằng một số chỉ số như chất lượng vốn nhân lực, chỉ số phát triển nguồn nhân lực (HDI), năng suất lao động tổng hợp (TFP) hoặc chỉ số công nghệ đạt được (TAI) Các công trình nghiên cứu cũng phân tích rõ sự khác biệt trong phát triển giáo dục bậc cao

ở Malaysia và Thái Lan giữa các vùng, các nhóm sắc tộc, và những nỗ lực cố gắng của các chính phủ trong thu hẹp khoảng cách giáo dục giữa các nhóm này Một câu hỏi nghiên cứu cần đặt ra là: Mối quan hệ giữa giáo dục bậc cao và tăng trưởng kinh tế có

Trang 16

phải là mối quan hệ nhân quả? Trong giai đoạn đầu, tăng trưởng kinh tế nhanh sẽ làm tăng cầu lao động có trình độ, do đó số lượng người tham gia giáo dục sẽ tăng nhanh, điều này tạo điều kiện cho giáo dục bậc cao phát triển Nhưng trong giai đoạn sau, giáo dục phát triển dẫn tới nâng cao tính cạnh tranh của lao động có trình độ, làm cho thu nhập và tăng trưởng kinh tế cao hơn Giáo dục không chỉ là nguyên nhân mà còn là kết quả của tăng trưởng kinh tế ở Malaysia và Thái Lan

Bài học kinh nghiệm mà các công trình nghiên cứu rút ra khá bổ ích cho các nước đang phát triển Các bài học này phần lớn tập trung cho việc tăng chi phí đầu tư cho giáo dục bậc cao, tập trung phát triển nguồn vốn nhân lực, bài học về giáo dục bậc cao và phát triển thị trường lao động, cải cách chương trình giáo dục,… Mặc dù các bài học kinh nghiệm trong các công trình nghiên cứu còn rất ít, chưa phù hợp với điều kiện và đặc thù khi áp dụng tại Việt Nam, nhưng cũng giúp tác giả luận án định hình được các vấn đề cần rút ra bài học kinh nghiệm sau khi nghiên cứu thực trạng phát triển giáo dục bậc cao ở Thái Lan và Malaysia

Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về thực trạng phát triển giáo dục bậc cao ở Việt Nam mới dừng lại ở việc nêu được những nét khái quát nhất về chính sách giáo dục bậc cao ở Việt Nam hiện nay, một số khó khăn và thách thức trong giáo dục bậc cao ở Việt Nam, những giải pháp cần thực hiện để nâng cao hiệu quả giáo dục bậc cao Giáo dục bậc cao ở Việt Nam trong thời gian qua đã phát triển rất nhanh, đóng góp tích cực cho tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam thông qua việc cung cấp các yếu tố đầu vào có chất lượng cao của nguồn nhân lực, cải thiện kỹ năng quản

lý và nhận thức của người dân về các vấn đề phát triển kinh tế Tuy nhiên, theo các tác giả, giáo dục bậc cao ở Việt Nam hiện nay phần lớn tăng nhanh về số lượng, chưa có

sự cải thiện hiệu quả về chất lượng, sự kết nối giữa giáo dục bậc cao và thị trường lao động còn chưa tốt dẫn đến thất nghiệp tràn lan Giáo dục bậc cao ở Việt Nam chưa bắt kịp xu thế thay đổi về khoa học và công nghệ của thế giới, vì vậy những đóng góp của

nó đối với tăng trưởng kinh tế còn hạn chế

+ Những khoảng trống nghiên cứu và hướng tiếp cận của luận án

- Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có nhiều cách nhìn và đánh giá khác nhau về giáo dục bậc cao và mối liên hệ giữa giáo dục bậc cao và tăng trưởng kinh tế Trong khái niệm về giáo dục bậc cao, các tác giả trong và ngoài nước cũng đưa ra những khái niệm khác nhau Hơn nữa, tiêu chí đánh giá vai trò của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế cũng được thể hiện rất đa dạng Một số tác giả không thể giải thích được sự khác biệt giữa tăng trưởng GDP giữa các quốc gia bằng biến số

Trang 17

người đi học đại học Một số khác lại cho rằng chất lượng của nguồn vốn lao động có mối liên hệ nhân quả, bền vững và lâu dài đối với tăng trưởng kinh tế Một số nghiên cứu khác lại cho rằng vốn con người có tác động đến tăng trưởng kinh tế nhưng giá trị của tác động này lại rất nhỏ Ngoài ra, các nghiên cứu định lượng đã chọn một số biến đại diện cho giáo dục đại học như: tỷ lệ tham gia giáo dục đại học, số năm đào tạo trung bình, ngành học, tỷ lệ sinh viên/giảng viên, chi tiêu tài chính/1 sinh viên,… Tuy nhiên, các nghiên cứu định lượng này vẫn đang đem đến nhiều tranh luận bởi mỗi biến

sử dụng đều có những hạn chế riêng và việc chọn mẫu theo những hướng khác nhau cũng đem lại sự khác biệt trong kết quả nghiên cứu Quan điểm khác nhau và những hạn chế của các công trình nghiên cứu trước đó đã đặt ra nhiều khó khăn đối với tác giả luận án trong việc xây dựng khung phân tích và các tiêu chí đánh giá vai trò của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, đây là một nhiệm vụ quan trọng của luận án và tác giả luận án sẽ cố gắng kế thừa các kết quả của các công trình nghiên cứu trước đó và xây dựng cho mình một khung phân tích và các tiêu chí áp dụng để phân tích giáo dục bậc cao và tăng trưởng kinh tế ở Malaysia và Thái Lan trên

cơ sở kế thừa các kết quả của các công trình nghiên cứu trước đó

- Các công trình nghiên cứu trước đó đã phân tích vai trò của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế ở Malaysia và Thái Lan từ những năm 1990, đặc biệt là từ năm 2000 trở lại đây Tổng hợp kết quả của các công trình nghiên cứu trước đó cho thấy giáo dục đóng vai trò trung gian, bổ trợ cho các yếu tố tăng trưởng khác như tính minh bạch, vốn vật chất, xuất khẩu, thu hút FDI,…Như vậy, vai trò của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế nhìn nhận dưới góc độ của toàn bộ nền kinh tế là không rõ ràng, có nhiều quan điểm khác nhau Nhiệm vụ của tác giả luận án là từ các

tư liệu sẵn có sẽ hệ thống hóa, logic và thống nhất các luận cứ khoa học theo quan điểm nghiên cứu của riêng mình, từ đó có những phát hiện mang tính mới mẻ, nghiên cứu công phu và hệ thống về vấn đề này Hơn nữa, do các công trình nghiên cứu trong nước về thực trạng phát triển giáo dục bậc cao và vai trò của nó đối với tăng trưởng kinh tế ở Malaysia và Thái Lan còn quá ít, chưa có tính hệ thống và chưa có những đánh giá, so sánh một cách tổng thể, tác giả luận án sẽ tiếp tục nhiệm vụ nghiên cứu đề

ra, từ đó phát hiện và tìm ra những bài học kinh nghiệm có thể tham khảo hữu ích cho quá trình phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

- Còn hiếm có những tài liệu nghiên cứu, đánh giá mối liên hệ giữa giáo dục bậc cao và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam.Tầm quan trọng của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt nam chưa được phân tích cụ thể, sâu sắc, từ đó chưa

Trang 18

thấy rõ những nguy cơ của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới trong việc tiếp thu tri thức, hấp thụ công nghệ, phát triển bền vững do thiếu hụt nhân lực có chất lượng cao Chính vì vậy, nhiệm vụ của luận án là sẽ tiếp tục phân tích và đánh giá mối liên

hệ giữa giáo dục bậc cao và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, từ đó có cơ sở thực tiễn

để rút ra kiến nghị chính sách nâng cao chất lượng giáo dục bậc cao ở Việt Nam sau khi nghiên cứu kinh nghiệm của Malaysia và Thái Lan

- Bài học đối với Việt nam khi nghiên cứu phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở Malaysia và Thái Lan sẽ được tác giả luận án làm rõ Trong các công trình nghiên cứu trước đó, các tác giả đã cố gắng lý giải giáo dục bậc cao là điều kiện cần thiết để các nước đang phát triển thu hẹp khoảng cách phát triển đối với các nước phát triển và tác động của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế là mang tính dài hạn chứ không mang tính chất nhất thời đối với một quốc gia Các bài học khác được đưa ra đối với các nước đang phát triển có giá trị tham khảo tốt đối với Việt Nam Tuy nhiên, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu và rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam dựa trên thực tiễn phát triển giáo dục bậc cao của Việt Nam

- Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đưa ra các cơ sở số liệu rời rạc, chưa hệ thống, chưa cập nhật, vì vậy nhiệm vụ của luận án là tiếp tục cập nhật các

số liệu, hệ thống hoá các số liệu theo các nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Trang 19

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN GIÁO DỤC BẬC CAO PHỤC VỤ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

2.1 Những vấn đề lý luận về giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế

2.1.1 Các khái niệm cơ bản

- Giáo dục: Trong tiếng Anh, từ “giáo dục” được biết đến với từ “education”,

đây là một từ gốc Latin được ghép bởi hai từ là “Ex” và “Ducere” – “Ex-Ducere” Có nghĩa là dẫn (“Ducere”) con người vượt ra khỏi (“Ex”) hiện tại của họ để vươn tới những gì hoàn thiện, tốt lành hơn và hạnh phúc hơn [51]

“Giáo dục” theo từ điển Hán- Việt bao gồm hai chữ “giáo” và “dục” Chữ

“giáo” trong từ “giáo dục” có nghĩa là dạy dỗ, chỉ bảo, hướng dẫn,… Chữ “dục” trong

từ “giáo dục” có nghĩa là chăm sóc, nuôi nấng, sinh thành Như vậy, “giáo dục” theo gốc Hán Việt có nghĩa là chỉ bảo, dạy dỗ, chăm sóc Nó không chỉ bao gồm việc dạy học (giáo), mà còn có cả sự yêu thương, quan tâm chăm sóc (dục) trong đó

Các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều đưa ra quan niệm: “Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người” [20] Định nghĩa này nhấn mạnh về sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học, nhưng không đề cập đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối cùng của việc đó

Dựa theo từ nguyên gốc giáo dục trong tiếng Anh (education) và từ giáo dục trong từ điển Hán Việt, có thể đưa ra khái niệm chung như sau: giáo dục là hình thức học tập, rèn luyện, theo đó kiến thức, kỹ năng và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo hay nghiên cứu Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học Giáo dục thường chia thành các giai đoạn như giáo dục tuổi ấu thơ, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học và giáo dục đại học

- Giáo dục bậc cao (higher education):

Cụm từ “giáo dục bậc cao” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Trong từ

“bậc cao” (higher), đây không chỉ đơn thuần có ý nghĩa là một cấp học cao hơn trong

hệ thống giáo dục của một quốc gia Xét về cấp bậc, giáo dục bậc cao (higher education) bao gồm việc giảng dạy và học tập ở các trường cao đẳng và đại học nhằm giúp sinh viên đạt được chứng chỉ chuyên nghiệp Giáo dục bậc cao truyền cho người

Trang 20

họ những kiến thức và hiểu biết sâu sắc nhằm giúp họ đạt tới những giới hạn mới của tri thức trong từng lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống – các lĩnh vực chuyên sâu

Theo Ronald Barnett (1992), có 4 khái niệm thông dụng nhất về giáo dục bậc

cao [89]: (i) Giáo dục bậc cao là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nguồn nhân

lực đạt chuẩn Theo quan điểm này, giáo dục bậc cao là một quá trình trong đó người

học được quan niệm như những sản phẩm được cung ứng cho thị trường lao động Như vậy, giáo dục bậc cao trở thành “đầu vào” tạo nên sự phát triển và tăng trưởng

của thương mại và công nghiệp (ii) Giáo dục bậc cao là đào tạo để trở thành nhà

nghiên cứu Theo cách nhìn này, giáo dục bậc cao là thời gian chuẩn bị để tạo ra

những nhà khoa học và nhà nghiên cứu thực thụ, những người sẽ không ngừng tìm những chân trời kiến thức mới Chất lượng ở đây hướng về việc tạo ra các công bố khoa học và tinh thần làm việc nghiêm ngặt để thực hiện các nghiên cứu có chất

lượng (iii) Giáo dục bậc cao là quản lý việc tổ chức giảng dạy một cách hiệu quả Rất

nhiều người cho rằng giảng dạy là hoạt động cốt lõi của một cơ sở giáo dục Do vậy, các cơ sở giáo dục bậc cao thường chú trọng quản lý một cách hiệu quả các hoạt động dạy và học bằng cách nâng cao chất lượng giảng dạy và nâng cao tỷ lệ kết thúc khóa

học của sinh viên (iv) Giáo dục bậc cao là mở rộng cơ hội trong cuộc sống cho người

học Theo cách tiếp cận này, giáo dục bậc cao được xem như một cơ hội để người học

được tham gia vào quá trình phát triển bản thân bằng các thể thức học tập thường xuyên và linh hoạt

Theo quan niệm của một số nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Canada, Anh, Ireland, giáo dục bậc cao là giai đoạn giáo dục sau bậc trung học, trong đó bao gồm cả dạy nghề, giáo dục đại học và giáo dục sau đại học Điều kiện nhập học căn bản đối với hầu hết các cơ sở giáo dục bậc cao là phải hoàn thành giáo dục trung học và tuổi nhập học thông thường là khoảng 18 tuổi [49]

Theo Từ điển Bách khoa toàn thư của Việt Nam, giáo dục bậc cao (higher education) còn gọi là giáo dục đại học Đây là giai đoạn giáo dục diễn ra ở các trường đại học, viện đại học, đại học, trường cao đẳng, học viện, viện công nghệ Giáo dục đại học nói chung bao gồm các bậc sau trung học như cao đẳng, đại học và sau đại học

UNESCO năm 1993 đã đưa ra định nghĩa: Giáo dục bậc cao bao gồm tất cả các hình thức nghiên cứu, đào tạo hoặc đào tạo nghiên cứu từ bậc sau trung học trở lên, do các trường đại học hoặc các tổ chức giáo dục khác được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giáo dục bậc cao thực hiện” [100]

Trang 21

Từ các quan niệm trên đây, có thể đưa ra khái niệm thống nhất như sau: Giáo

dục bậc cao là một hình thức giáo dục, đào tạo diễn ra ở các cơ sở học tập sau bậc phổ thông trung học, bao gồm cả dạy nghề, giáo dục đại học và giáo dục sau đại học Mục đích của giáo dục bậc cao là cấp văn bằng kỹ thuật hoặc chứng chỉ chuyên nghiệp, bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ,… nhằm giúp người học đạt được các chuẩn kiến thức nhất định, hoặc trở thành nhà nghiên cứu và giảng dạy, giúp họ trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao hơn và có những đóng góp cho xã hội lớn hơn

2.1.2 Đặc điểm của hệ thống giáo dục bậc cao:

* Về quy mô và trình độ đào tạo:

Hệ thống giáo dục bậc cao bao gồm 5 loại: các trường đại học nghiên cứu (university), các trường đại học của tỉnh hoặc khu vực (provincial or region institutions), các trường đào tạo chuyên nghiệp (professional schools), các trường đào tạo nghề (vocational school) và các trường đào tạo từ xa về giáo dục bậc cao

- Trường đại học nghiên cứu: Đây là trường xếp thứ hạng đầu trong tháp đào

tạo giáo dục bậc cao, thường là trường do nhà nước thành lập, hoạt động phi lợi nhuận Mục tiêu nhằm đào tạo kiến thức học thuật trong một loạt các ngành và lĩnh vực, có các phòng thí nghiệm phù hợp, thư viện, cơ sở hạ tầng,… để cho phép thực hiện giảng dạy và nghiên cứu ở mức cao nhất có thể Các trường đại học nghiên cứu phần lớn đều

có sự kết nối chặt chẽ với sự tiến bộ của tri thức trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đào tạo từ bậc cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ và sau tiến sĩ Mục tiêu của họ là đào tạo ra các sinh viên có kiến thức tốt nhất và có tinh thần nghiên cứu khoa học miệt mài nhất Quy trình tuyển chọn sinh viên vào các trường đại học nghiên cứu cũng hết sức gắt gao và cạnh tranh

- Các trường đại học của tỉnh, khu vực: Các trường này chủ yếu đào tạo một số

lĩnh vực trong giáo dục bậc cao, hầu hết là đào tạo đại học và thạc sĩ, chỉ có một số ít trường đào tạo tiến sĩ Họ nhấn mạnh đến việc giảng dạy đào tạo những sinh viên ra trường có thể làm được việc ngay (job-ready), đặc biệt là phục vụ mục đích đáp ứng nhu cầu lao động kỹ năng cho địa phương trong một số ngành nghề như chế tạo, kinh doanh, nông nghiệp, rừng, thuỷ sản, khai khoáng,… Trường thường được thành lập dưới hai hình thức: công lập và tư nhân Các trường này thường ít được biết đến ở những vùng khác khu vực của trường Vì vậy, đa số sinh viên ra trường hoặc sinh viên đang học tập ở trường sẽ làm việc hoặc thực tập ở xung quanh tỉnh hoặc khu vực đó Trong hệ thống trường đại học của tỉnh, khu vực, có đào tạo đại học cộng đồng, hoặc cao đẳng (2 năm)

Trang 22

- Trường đào tạo chuyên nghiệp: Hệ thống trường đào tạo chuyên nghiệp

thường hoạt động độc lập hoặc là một bộ phận đào tạo của một trường đại học nghiên cứu, cung cấp các hoạt động đào tạo trong một số lĩnh vực như luật, y tế, kinh doanh,

sư phạm, nghệ thuật truyền thống, khoa học,… Các trường này tuyển dụng học sinh sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học, đào tạo và cung cấp cho sinh viên một số lĩnh vực chuyên sâu, đào tạo chủ yếu ở bậc cao đẳng, cử nhân; một số ít trường cũng theo đuổi đào tạo bậc học tiến sĩ và sau tiến sĩ (thường hiếm) Các trường đào tạo chuyên nghiệp được thành lập dưới hai hình thức: công lập và tư nhân

- Các trường dạy nghề: Các trường dạy nghề hoạt động giống như các trường

đào tạo chuyên nghiệp, đó là có thể hoạt động độc lập, hoặc có thể là một bộ phận của một trường đại học, nhưng ở trình độ khác Các trường dạy nghề cung cấp các chương trình đào tạo trong một số nghề đặc biệt như y tá, cơ khí, sửa chữa ô tô, máy tính, điện tử,… Trường dạy nghề được phép đào tạo ở ba cấp độ: sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề, và ở một số quốc gia trường dạy nghề không được xếp hạng vào hệ thống giáo dục bậc cao Trường dạy nghề thường được thành lập dưới hai hình thức: công lập, tư nhân, đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trường lao động

- Các trường đại học từ xa: Đại học từ xa đang ngày trở thành bộ phận quan

trọng trong hệ thống giáo dục bậc cao bởi nó phát triển cùng với sự phát triển nhanh mạnh của công nghệ viễn thông và vi tính Dựa vào internet, truyền hình, máy in, đại học từ xa sẽ cung cấp các trường trình đào tạo một số lĩnh vực đáp ứng nhu cầu của người học không có điều kiện học tập trực tiếp trong nhà trường

Tuỳ thuộc đặc điểm văn hoá, xã hội, tôn giáo và thể chế chính trị của một quốc gia, hệ thống giáo dục bậc cao ở từng nước thể đầy đủ 5 bộ phận cấu thành như trên, đào tạo từ bậc cao đẳng, lên đại học, thạc sĩ, tiến sĩ và sau tiến sĩ

Giáo dục bậc cao được phân tầng rất đa dạng: Cơ cấu hệ thống giáo dục bậc cao ngoài sự phân tầng thành 5 bộ phận cấu thành như trên, còn được phân thành nhiều mảng khác nhau: giáo dục khoa học xã hội nhân văn, giáo dục công nghệ tự nhiên, giáo dục tôn giáo,…Các tổ chức tham gia giáo dục bậc cao cũng đa dạng, từ chính phủ, doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức tôn giáo,… Giáo dục bậc cao phải chịu sức ép rất lớn giữa mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo và mục tiêu thu hút ngày càng đông đảo sinh viên Mỗi mục tiêu đều là những thế mạnh và hạn chế riêng và hệ thống giáo dục bậc cao buộc phải đáp ứng các yêu cầu vừa truyền đạt tri thức, kỹ năng cho một nhóm học viên, vừa phải đáp ứng nhu cầu đào tạo ngày càng

Trang 23

nhiều sinh viên cho xã hội Sự phân tầng trong giáo dục bậc cao đòi hỏi chính phủ các nước phải có tầm nhìn dài hạn và chiến lược đào tạo nhân lực bài bản, thiết kế cơ cấu

hệ thống giáo dục bậc cao sao cho phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia

Tổ chức giáo dục Trình độ giáo

dục

Chức năng giáo dục

Đại học nghiên cứu

Đại học của tỉnh, khu vực

Đại học, cao đẳng chuyên nghiệp

Cao đẳng dạy nghề

Đại học từ xa

Giáo dục bậc cao

Giáo dục Nghiên cứu Đóng góp cho xã hội

Các trường trung học phổ thông

Các trường dạy nghề phổ thông

Các trường trung học cơ sở

Giáo dục phổ thông

Giáo dục Chăm sóc

Hình 2.1 Vị trí của giáo dục bậc cao trong hệ thống giáo dục quốc gia

Nguồn: Tác giả tự tổng hợp

* Về đội ngũ cán bộ và giảng viên:

Giảng viên là người làm công tác giảng dạy (lý thuyết và thực hành) được hiệu trưởng công nhận chức vụ và phân công công tác giảng dạy hoặc những cán bộ khoa học kỹ thuật làm việc trong hay ngoài trường, tham gia giảng dạy theo chế độ kiêm nhiệm Tiêu chí đánh giá đội ngũ cán bộ giảng viên là số lượng đội ngũ giảng viên (tỷ

lệ giảng viên/sinh viên) và chất lượng đội ngũ giảng viên Chất lượng đội ngũ giảng viên được phản ánh thông qua: (i) Trình độ đào tạo của giảng viên (tiến sĩ thạc sĩ, cử nhân), (ii) Học hàm của giảng viên (giáo sư, phó giáo sư, ); (iii) Năng lực tổ chức học tập và giảng dạy, chương trình giảng dạy được xây dựng; (iv) Năng lực sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực phù hợp với chuyên môn của mình (giảng dạy bằng tình huống, thảo luận nhóm, khám phá, mô phỏng, dự án, ); (v) Năng lực truyền đạt (viết bài giảng và tài liệu học tập, trình bày, đặt câu hỏi, lắng nghe, và phản hồi); (vi)

Giáo dục

cơ bản

Trang 24

Năng lực giải quyết vấn đề và ra quyết định; (vii) Năng lực sử dụng công nghệ trong giảng dạy (PowerPoint, máy tính, web, các phần mềm sử dụng trong chuyên môn, )

2.1.3.Các lý thuyết áp dụng để giải thích mối liên hệ giữa giáo dục bậc cao và tăng trưởng kinh tế

Adam Smith trong cuốn “Sự giàu có của các quốc gia” (The Wealth of the

Nations – 1776) đã tìm hiểu tại sao một số nước thì giầu có và một số nước lại nghèo khổ Smith cho rằng chính phủ có trách nhiệm hạn chế can thiệp vào các vấn đề an ninh quốc phòng, giáo dục phổ cập, công trình công cộng (cơ sở hạ tầng như cầu đường), thực thi các quyền hợp pháp (quyền tài sản và hợp đồng) và xét xử tội phạm Chính phủ chỉ nên can thiệp vào khi mọi người hành động theo lợi ích ngắn hạn, hay ban hành và thực thi các điều luật chống lại trộm cướp, gian lận và các loại hình phạm tội khác Ông tỏ ý đề phòng các chính phủ cồng kềnh và quan liêu khi viết rằng: "điều

mà các chính phủ học được nhanh hơn cả từ nhau là cách móc tiền túi của nhân dân" Ông cho rằng việc chú trọng vào giáo dục phổ cập là để loại bỏ những tác động tiêu cực của sự phân công lao động, một phần thiết yếu trong quá trình công nghiệp hóa

Adam Smith đã đặt nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu khái niệm vốn con người dựa trên sự nhìn nhận giáo dục là một sự đầu tư Theo ông, vốn con người là những năng lực hữu ích mà cư dân hoặc các thành viên của một xã hội có được Những năng lực này có được chủ yếu là nhờ việc cá nhân đầu tư vào học tập và tiếp thu được những kiến thức từ quá trình giáo dục đào tạo Những năng lực đó không chỉ mang lại những cơ hội tốt hơn cho chính cá nhân đó mà còn góp phần nâng cao chất lượng sống của cộng đồng mà cá nhân đó là một thành viên

Trong các lý thuyết hiện đại về vốn nhân lực, người phát hiện đầu tiên về vai trò của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế là Schultz Năm 1960, Schultz xuất bản

cuốn sách “Đầu tư vốn nhân lực” (Investment in human capital, 1961) [90], trong đó

xây dựng những nguyên lý cơ bản của học thuyết về nguồn vốn nhân lực và ông cho rằng giáo dục - đào tạo đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân thông qua nâng cao kỹ năng và khả năng sản xuất của người lao động Schultz cho rằng vốn nhân lực và vốn vật chất có tác dụng bổ sung lẫn nhau, giáo dục vừa đóng vai trò trực tiếp, vừa đóng vai trò gián tiếp trong thu nhập quốc dân và đầu tư cho giáo dục

là cách tốt nhất để mang lại lợi ích cho thu nhập quốc dân và tăng trưởng kinh tế

Becker năm 1964 đã tìm ra nhiều cách thức khác nhau để đầu tư cho vốn nhân lực, nhưng chủ yếu vẫn thông qua giáo dục và đào tạo Becker phát triển lý thuyết hình thành vốn con người và phân tích tỷ lệ hoàn trả đối với đầu tư vào giáo dục và đào tạo

Trang 25

Ông đưa ra bằng chứng về mối tương quan giữa trình độ học vấn và thu nhập: học vấn càng cao, thu nhập càng tăng Tuy nhiên, điều này cũng chỉ tương đối vì định lượng trình độ học vấn của một người không chỉ đơn giản là xem bao nhiêu bằng cấp mà người đó đã đạt được [26]

Các lý thuyết gia tiếp tục phát triển khái niệm và nội hàm vốn nhân lực, trong

đó hầu hết các lý thuyết đều nhắc đến vai trò của giáo dục đối với các hoạt động kinh

tế Rosen (1999) cho rằng vốn nhân lực là đầu tư giáo dục cho con người nhằm tăng năng suất lao động cho họ [87] Theo Frank và Bernanke (2007) vốn nhân lực bao gồm các yếu tố: giáo dục, đào tạo, kinh nghiệm, và vốn nhân lực ảnh hưởng đến năng suất lao động của người lao động [53] Rodriguez và Loomis (2007) cho rằng, vốn nhân lực là tri thức, kỹ năng, năng lực và đóng góp của mỗi cá nhân để tạo nên sự thịnh vượng kinh tế cho mỗi cá nhân và xã hội [86]

Mối quan hệ giữa giáo dục và tăng trưởng kinh tế được phân tích nhiều trong

mô hình tăng trưởng nội sinh Lucas (1988) [67] trong tác phẩm “Về cơ chế phát triển

kinh tế” (On the mechanics of economic development) đã cho rằng, kiến thức cá nhân,

kỹ xảo, kỹ năng lao động trở thành một bộ phận vốn có thể tích luỹ được thông qua đầu tư cho giáo dục và đào tạo Với mức thu nhập kiếm được, các cá nhân sẽ giảm bớt tiêu dùng và hy sinh một số giờ làm việc để đến trường học với hy vọng cuộc sống tương lai sẽ được cải thiện

Mô hình hàm sản xuất được đề xuất bởi Lucas (1988), Barro and Martin (1995)

xây dựng có dạng: Y = Kα (uH)1-α

Ở đây u là thời gian dành cho sản xuất, H là vốn con người, K là vốn vật chất

và sản lượng quốc gia Y phụ thuộc vào vốn vật chất và vốn con người Vốn con người

được tích luỹ thông qua kiến thức và kinh nghiệm, được đào tạo thông qua giáo dục ở nhà trường và trong thực tiễn Lucas cho rằng người thông minh thường biết phân bổ học hành và làm việc một cách hợp lý Giả sử rằng mỗi lao động phân bổ một đơn vị thời gian có thể cho học tập hay làm việc Học hay làm việc có thể được mô hình hoá

như sau: γH = B(1-u) –δ Ở đây γH là tỷ lệ tăng trưởng của vốn con người cho cá nhân điển hình (do tổng hợp từ các cá nhân nên γH cũng biểu hiện tỷ lệ tăng trưởng của vốn con người vĩ mô, 1-u là thời gian dành cho học tập, B là mức độ kiến thức biến đổi thành vốn con người, δ là sự giảm giá của vốn con người Cốt lõi của mô hình

tăng trưởng nội sinh đó là lợi suất không đổi theo quy mô gắn với việc tạo ra các yếu

tố đầu vào, tư bản hữu hình và vốn con người Đầu tư vào tư bản hữu hình và vốn con người bắt buộc phải cân bằng giữa tiêu dùng hiện tại và tương lai Tiêu dùng tối ưu

Trang 26

được xác định từ mô hình tối đa hoá lợi ích của người tiêu dùng Trong mô hình này,

sở thích người tiêu dùng và tích luỹ vốn con người cùng nhau xác định mức tăng trưởng dài hạn Do tăng trưởng kinh tế được xác định từ các biến cấu trúc trong mô hình nên tăng trưởng được gọi là tăng trưởng nội sinh Sự gia tăng vốn con người thể hiện qua mức lương cao hơn và đó không phải là các tác động bên ngoài Vì vậy đó không phải là lý do cho sự can thiệp của chính phủ trong khuôn khổ này Từ các lập luận này có thể thấy, chính phủ nên hỗ trợ nhiều cho giáo dục vì giáo dục tốt cho tăng trưởng[4]

Dựa theo lý thuyết vốn nhân lực của Schultz, các lý thuyết gia Mankiw, Romer

và Wei (1992) đã xây dựng mô hình hàm sản xuất có dạng:

Y = K𝛼𝐇𝛽𝐋 (1 − 𝛼 − 𝛽)

Trong đó, H là vốn nhân lực, K là vốn vật chất và L là lao động

Mô hình này là mô hình căn bản nhất chứng minh vai trò của vốn nhân lực trong phát triển kinh tế Ngoài các biến số Lao động và Vốn vật chất, các giả định như

mô hình Solow, thì mô hình do Mankiw, Romer và Wei xây dựng đưa thêm biến số đại diện cho vốn nhân lực vào hàm số tăng trưởng Cobb Douglas, với giả định hiệu suất không đổi theo quy mô Mô hình này đưa ra hai tác động gián tiếp và một tác

động trực tiếp đối với mỗi nhân tố sản xuất Đối với vốn nhân lực (H), nó có tác động

trực tiếp đến mức lương được nhận của người công nhân, phụ thuộc vào trình độ giáo dục của người công nhân đó Vốn nhân lực cũng có tác động gián tiếp đối với năng

suất lao động của vốn vật chất (K) và năng suất lao động của những người công nhân khác (L)

Hình 2.2 Tác động của số năm đến trường đối với thu nhập quốc dân

Trang 27

trong một nền kinh tế thị trường

Nguồn: Mankiw, N Gregory, Romer, David, and Weil, David N (1992), A Contribution to the Empirics of Economic Growth, Quarterly Journal of Economics,Vol.107, Issue 2, p 407-437

Kết quả của mô hình cho thấy: hai quốc gia dù có cùng tỷ lệ tiết kiệm, tỷ lệ tăng dân số, nhưng thu nhập của hai quốc gia vẫn có thể khác nhau nếu có tích luỹ vốn nhân lực khác nhau Các tác giả cho rằng: tăng số năm đến trường sẽ làm tăng vốn

nhân lực của quốc gia Vốn nhân lực H sẽ tác động trực tiếp đến thu nhập quốc dân

(minh hoạ bằng gạch liền của hình dưới đây) và có tác động gián tiếp đến năng suất

lao động của Vốn vật chất (K) và Lao động (L) Hình dưới đây cũng cho thấy tác động

ngược lại của việc thu nhập quốc dân tăng sẽ làm tang số năm đến trường của người dân, hay nói cách khác xã hội càng thịnh vượng thì nhu cầu học tập của người dân càng tăng lên

Dựa trên lý thuyết của Mankiw, Romer và Wei (1992), nhiều lý thuyết gia sau này đã chứng minh mối quan hệ giữa giáo dục bậc cao và tăng trưởng kinh tế Breton (2012) đã khảo sát tác động trực tiếp của số năm đến trường của người lao động đối với tăng trưởng kinh tế ở 36 quốc gia trong thập niên 1990s và ông cho rằng, ở các nước có giáo dục cao hơn, năng suất lao động sẽ cao hơn Ở các nước phát triển, do thu nhập quốc dân tăng lên nhờ giáo dục, các nước này đã tiếp tục đầu tư cho giáo dục

để tiếp tục gia tăng thu nhập quốc dân [96] Còn ở các nước có trình độ giáo dục thấp (thường là hết trung học), chính phủ buộc phải sử dụng các nguồn tài chính ưu tiên để

mở rộng các cơ hội giáo dục đại học, với mục đích khuyến khích người dân tiếp cận giáo dục đại học, từ đó có thể nâng cao năng suất lao động cá nhân, về tổng thể sẽ nâng cao năng suất lao động tổng thể Nhiều nghiên cứu khác cũng phát hiện ra rằng, đầu tư cho giáo dục là giải pháp tốt nhất cho quá trình phát triển kinh tế

Kothari Commission năm 1966 đã đánh giá vai trò của các trường đại học (các

cơ sở giáo dục bậc cao trong xã hội hiện đại) như sau [89]: (i) Tìm kiếm và trau dồi tri thức mới một cách liên tục để theo đuổi chân lý, đánh giá lại những kiến thức và niềm tin cũ sao cho phù hợp với nhu cầu mới và những khám phá mới; (ii) Cung cấp các kỹ năng lãnh đạo phù hợp trong mọi lĩnh vực của đời sống, phát hiện những con người có tài năng và giúp họ phát triển tối đa tiềm năng của mình bằng cách trau dồi sức khỏe, phát triển năng lực trí tuệ, bồi dưỡng ý thức và giá trị đạo đức, tinh thần cho họ; (iii) Cung cấp cho xã hội nguồn nhân lực được đào tạo trong các lĩnh vực nông nghiệp,

Trang 28

nghệ thuật, y dược, khoa học và công nghệ cũng như những ngành nghề khác Họ sẽ là những cá nhân có đầy đủ năng lực và có ý thức trách nhiệm cao đối với cộng đồng; (iv) Nỗ lực thúc đẩy chất lượng sống và công bằng xã hội, giảm thiểu những khác biệt

về văn hoá xã hội thông qua việc phổ cập giáo dục; (v) Bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ giáo viên và sinh viên về các giá trị và thái độ cần thiết đối với cuộc sống, giúp cho các cá nhân và xã hội ngày càng phát triển tốt lên

Trong Báo cáo của Ủy ban quốc tế về giáo dục trong thế kỷ 21 của UNESCO

với tiêu đề là “Học tập: Kho báu bên trong” (Learning: the treasure within) [89] nhấn

mạnh bốn trụ cột của giáo dục: Học để biết, học để làm, học để chung sống, và học để làm người Giáo dục đại học cần truyền tải bốn điều này tới mỗi cá nhân và xã hội Bản báo cáo cũng nhấn mạnh những chức năng cụ thể của giáo dục bậc cao, đó là: (i) Chuẩn bị cho sinh viên tham gia vào các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy; (ii) Cung cấp các khoá đào tạo chuyên sâu để đáp ứng các nhu cầu kinh tế xã hội; (iii) Mở rộng

cơ hội giáo dục cho tất cả mọi người, đáp ứng các khía cạnh khác nhau của việc giáo dục suốt đời trong ý nghĩa bao quát nhất của nó; (iv) Thúc đẩy hợp tác quốc tế thông qua việc quốc tế hóa các hoạt động nghiên cứu, công nghệ, tạo mạng lưới liên kết, và tạo điều kiện cho sự luân chuyển tự do của những ý tưởng khoa học cũng như của chính các nhà nghiên cứu (UNESCO, 1996)

OECD năm 2008 đã đánh giá vai trò của giáo dục bậc cao trong phát triển kinh

tế xã hội của một quốc gia thông qua 4 nhiệm vụ như sau [83]: (i) Hình thành nguồn vốn nhân lực (chủ yếu thông qua giảng dạy); (ii) Xây dựng các cơ sở tri thức (chủ yếu thông qua nghiên cứu và phát triển tri thức); (iii) Phổ biến và sử dụng tri thức (chủ yếu thông qua tác động qua lại của những người sử dụng tri thức); (iv) Bảo tồn tri thức (chủ yếu thông qua các việc truyền bá và chuyển giao tri thức giữa các thế hệ)

Các nghiên cứu về tăng trưởng kinh tế từ lâu đã nhận thấy rằng vốn con người đóng vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và giáo dục chính là cách thức cơ bản để tích lũy vốn con người Các tác giả cổ điển trước đây như Adam Smith, Afred Marshall và nhiều tác giả khác đã có một số quan điểm về khái niệm “vốn con người”, nhưng tầm quan trọng của nó đối với tăng trưởng kinh tế chưa được xác lập Gần đây, Permani (2008) [80] sử dụng dữ liệu giai đoạn 1965-2000 và mô hình Solow mở rộng cho các quốc gia Đông Á và đã chỉ ra tác động tương đối có ý nghĩa của vốn con người (đo lường bằng số năm học tập) đối với tăng trưởng kinh tế, ngoài những đóng góp của tỉ lệ đầu tư và tăng trưởng dân số.Nghiên cứu của Permani (2008) đã cho rằng, giáo dục có thể tác động đến tăng trưởng kinh tế theo ba cách:

Trang 29

Thứ nhất, tác động trực tiếp như ở Hàn Quốc (Lee, 2000; Kwach và Lee, 2006);

ở Đài Loan (Lin, 2004)

Thứ hai, giáo dục đóng vai trò trung gian – bổ sung, hỗ trợ cho các yếu tố tăng

trưởng khác như tính minh bạch (Kwach và Lee, 2006); vốn vật thể (Pyo, 1995; Kang, 2006); xuất khẩu (Kang, 2006)

Thứ ba, tác động gián tiếp như giúp thu hút FDI ở Trung Quốc (Narayan và

Smyth, 2006); thu hút FDI ở Việt Nam (Han và Baumgarte, 2000)

Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng có nhiều nghiên cứu không tìm ra được các bằng chứng về sự đóng góp của giáo dục đối với thành công kinh tế như ở Hồng Kông (Haulman, 1996; Chen, 1997); ở Malaysia trong giai đoạn 1984-1997 (Milanovic, 2006); ở Philippines trong giai đoạn 1980-2001 (Canlas, 2003); ở Đài Loan (Fan và Fan, 2004) Như vậy, vai trò của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế nhìn nhận dưới góc độ toàn bộ nền kinh tế (ở tầm vĩ mô) là không rõ ràng, có nhiều quan điểm khác nhau Khi xem xét, vai trò của giáo dục đối với tăng trưởng kinh tế nhìn nhận dưới góc độ cá nhân (ở tầm vi mô) thì quan điểm rõ ràng và thống nhất là giáo dục giúp làm tăng thu nhập của người lao động Nghiên cứu này đã đưa ra được các bằng chứng cho khẳng định này qua các nghiên cứu ở Trung Quốc (Maurer-Fazio

và Dinh, 2004); ở Indonesia năm 1995 (Duflo, 2001); ở Malaysia (Milanovic, 2006); ở Singapore (Huff, 1999); ở Việt Nam năm 1998 (Kikuchi, 2007); và ở Đài Loan (Lin và Orazem, 2004) Sau khi xem xét các nghiên cứu trước đó, Permani (2008) đã rút ra kết luận: giáo dục là điều kiện cần thiết giúp các nước đang phát triển thu hẹp khoảng cách

về công nghệ với các nước phát triển, nhưng giáo dục chưa là một điều kiện đủ cho tăng trưởng kinh tế và tác động của giáo dục là trong dài hạn chứ không phải là nhất thời hay trong hiện tại đối với tăng trưởng kinh tế của một quốc gia

Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới đối với 49 quốc gia châu Á -Thái Bình Dương lại cho thấy những tác động tích cực của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế của các quốc gia Ngân hàng Thế giới cho rằng, số năm đến trường của người dân càng lớn, tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó càng cao [99] Nghiên cứu của Rada và Taylor (2006) [84] cho rằng mối quan hệ giữa tăng trưởng của giáo dục

và tăng trưởng kinh tế được tính bằng số năm đi học và tăng trưởng GDP bình quân đầu người Tuy nhiên, hai tác giả này kết luận rằng giáo dục (ở các nền kinh tế Đông Á) là cần thiết nhưng không phải là điều kiện đủ để duy trì tăng trưởng Permani (2009) đã chỉ ra mối quan hệ không rõ ràng giữa giáo dục và tăng trưởng kinh tế bởi ông cho rằng có một sự tương tác đối nghịch giữa tỷ lệ tham gia giáo dục đại học với

Trang 30

tỷ lệ người lao động có trình độ đại học ở Đông Á đang bị thất nghiệp Mặc dù số lượng người học đại học vẫn tăng lên, nhưng tỷ lệ thất nghiệp ở những người có trình

độ đại học vẫn tăng lên ở hầu hết các nền kinh tế giai đoạn 1985-2006 [85] Nghiên cứu của Mincer (1991) [69] lại cho thấy, giáo dục làm giảm rủi ro thất nghiệp Lao động có trình độ đại học có trình độ thất nghiệp thấp hơn so với lao động chỉ đạt trình

độ giáo dục tiểu học hoặc trung học Nhưng nếu tăng trưởng giáo dục đại học nhanh hơn cầu về lao động có trình độ tương ứng, thì có thể xảy ra tình trạng tỷ lệ lao động

có trình độ đại học thất nghiệp tăng lên

2.1.4 Tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục bậc cao

Hiện nay trên thế giới có sáu quan điểm về chất lượng giáo dục bậc cao như sau:

(1) Chất lượng được đánh giá “đầu vào”: Theo quan điểm này, một trường đại học có chất lượng cao nếu tuyển được nhiều sinh viên giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy có uy tín, có cơ sở vật chất tốt và trang thiết bị hiện đại,

(2) Chất lượng được đánh giá “đầu ra”: Trường đại học có chất lượng cao nếu đào tạo được nhiều sinh viên tốt nghiệp giỏi, thực hiện được nhiều công trình khoa học

có giá trị, nhiều khóa học thu hút người học,

(3) Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị gia tăng”: Trường đại học có chất lượng cao nếu tạo được sự khác biệt lớn trong sự phát triển về trí tuệ và cá nhân sinh viên sau quá trình đào tạo tại trường

(4) Chất lượng được đánh giá bằng “giá trị học thuật”: Trường đại học có chất lượng cao nếu có được đội ngũ cán bộ giảng dạy, các nhà khoa học có uy tín lớn

(5) Chất lượng được đánh giá bằng “văn hoá tổ chức riêng”: Trường đại học có chất lượng cao nếu có được một truyền thống tốt đẹp về hoạt động không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo

(6) Chất lượng được đánh giá bằng “kiểm toán”: Trường đại học có chất lượng cao nếu kết quả kiểm toán chất lượng cho thấy nhà trường có thu thập đủ thông tin cần thiết và những người ra các quyết định có đủ thông tin cần thiết, sự hợp lý và hiệu quả của quá trình thực hiện các quyết định về chất lượng, xác định sứ mạng hay mục đích của các trường đại học

Ngoài 6 quan điểm trên, chất lượng giáo dục bậc cao còn được coi là phải tuân thủ các quy định và đạt được các mục tiêu đề ra Một hệ thống giáo dục bậc cao đạt

chất lượng phải quan tâm đến các tiêu chí: thiết kế và nội dung của các môn học, tỷ lệ

ngành học và bậc học cân đối với nhu cầu của xã hội, năng lực nghiên cứu khoa học

Trang 31

của các trường, chi tiêu R&D trong các trường đại học, khả năng quốc tế hoá các trường đại học, hệ thống quản lý và đảm bảo chất lượng đào tạo, hệ thống kiểm định chất lượng nhằm đánh giá việc các trường đại học thực hiện các chức năng và xác định các lĩnh vực cần có sự cải tiến,

Để đảm bảo chất lượng giáo dục bậc cao, các trường phải huy động được chính phủ, nhà tài trợ, doanh nghiệp, để đảm bảo nguồn quỹ đầy đủ để hoạt động phục vụ tầm nhìn dài hạn Trong nhiều lĩnh vực giáo dục, nếu không đảm bảo nguồn quỹ đầy

đủ, sẽ không thể có đủ thiết bị thí nghiệm, thư viện phục vụ nghiên cứu, sáng tạo, ảnh hưởng lớn đến chất lượng đào tạo, giảng dạy Trong việc phát triển hệ thống giáo dục bậc cao, chính phủ các nước có vai trò rất quan trọng Chính phủ có nhiệm vụ cung cấp tài chính cho các trường đại học, cao đẳng để đảm bảo mục tiêu chất lượng trong giáo dục bậc cao, nhưng vẫn phải đảm bảo chi tiêu tài chính công cho các lĩnh vực khác không bị ảnh hưởng Chính phủ cũng phải tạo ra một môi trường giáo dục bậc cao hấp dẫn để kêu gọi đầu tư của các tổ chức tư nhân, quốc tế đầu tư vào giáo dục bậc cao của quốc gia, với mục đích vừa giảm sức ép cho chi tiêu công, vừa đảm bảo hệ thống giáo dục bậc cao có đủ nguồn quỹ để hoạt động hiệu quả cao

Hệ thống giáo dục bậc cao chỉ có thể đạt được hiệu quả khi nó đặt ra các tiêu chuẩn đào tạo rõ ràng, phù hợp với nhu cầu của xã hội và lực lượng lao động Trong thời đại toàn cầu hoá, các tiêu chuẩn quốc tế cũng phải được áp dụng trong hệ thống giáo dục bậc cao Tính cạnh tranh và linh hoạt trong hệ thống giáo dục bậc cao là rất lớn, bởi mục đích của giáo dục bậc cao không chỉ là giáo dục, mà còn là nghiên cứu và đóng góp cho xã hội (xem Hình 1.1.) Các trường cao đẳng, đại học có thể phải cạnh tranh ngay trong nước do đặc điểm phân tầng rất đa dạng của hệ thống này, cũng có thể phải cạnh tranh quốc tế bởi sẽ có nhiều trường đại học quốc tế được thành lập tại các quốc gia hoặc sinh viên có nhu cầu đi du học nước ngoài do toàn cầu hoá mở ra rất nhiều cơ hội học tập cho họ

Hơn nữa, hệ thống giáo dục bậc cao không thể hoạt động đơn độc, tách rời sự

phát triển của các doanh nghiệp và các lĩnh vực khác Trước hết, giáo dục bậc cao chỉ

có thể hoạt động hiệu quả khi nó chú ý đến hệ thống giáo dục bậc trung học của quốc gia để có thể lựa chọn sinh viên thông qua thi tuyển đầu vào Sự liên kết giữa giáo dục bậc cao với giáo dục trung học, tiểu học cũng rất quan trọng bởi giáo dục cơ bản với mục đích chủ yếu là “giáo dục” sẽ cung cấp “đầu vào” đủ chất lượng cho giáo dục bậc

cao Thứ hai, giáo dục bậc cao phải có sự kết nối với các lĩnh vực công cộng và tư

nhân trong nước, để có thể đáp ứng được lao động đầy đủ kỹ năng cho xã hội, doanh

Trang 32

nghiệp Nếu thiếu sự kết nối này, giáo dục bậc cao sẽ hoàn toàn hoạt động đơn độc và tạo ra các sản phẩm đầu ra không thích hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia

Chất lượng giáo dục bậc cao được nhiều tổ chức quốc tế và nhiều nước trên thế giới đánh giá với nhiều bộ tiêu chí khác nhau Áp dụng phương pháp xếp hạng của US News and World Report, các trường đại học được chia theo nhóm, sử dụng các tiêu chí phân nhóm của Basic Carnegie Classification

1

Theo phương pháp phân nhóm này các trường đại học được gộp thành nhóm tính theo trình độ cao nhất mà trường đại học được phép đào tạo, bao gồm 3 nhóm trường: (1) Các trường đại học được đào tạo từ

cử nhân đến tiến sỹ; (2) Các trường đại học được đào tạo từ cử nhân đến thạc sỹ; (3) Các trường đại học chỉ được đào tạo cử nhân

Theo quy định của nhiều quốc gia, giảng dạy và nghiên cứu khoa học là hai nhiệm vụ chính yếu của các trường đại học Vì vậy, việc xếp hạng các trường đại họcphải chỉ ra được kết quả và thứ bậc của các trường khi triển khai hai nhiệm vụ này.Với cách tiếp cận này, có thể phân các tiêu chí xếp hạng các trường đại học và các

cơ sở giáo dục bậc cao khác theo hai lĩnh vực: (1) Giảng dạy và (2) Nghiên cứu khoa học (bao gồm cả chuyển giao công nghệ)

Xếp hạng cáctrường thuộc hệ thống giáo dục bậc cao, xét về mặt cấp độ, có 2 dạng khác nhau: các hệ thống xếp hạng của các trường và các hệ thống xếp hạng các khoa trên phạm vi quốc tế hoặc phạm vi quốc gia

Một số tiêu chí của một số tổ chức xếp hạng các trường giáo dục bậc cao, cụ thể như sau:

- Tổ chức US News and World Report xếp hạng các trường đại học theo các tiêu chí và trọng số như:

 Xuất sắc về học thuật qua thăm dò ý kiến của hiệu trưởng, trưởng khoa: trọng

số 25%

 Tỉ lệ sinh viên bỏ học và tỉ lệ tốt nghiệp: trọng số 20%

 Cơ sở vật chất (qui mô lớp học, lương giáo sư, trình độ giáo sư, tỉ lệ giáo

sư toàn thời gian (fulltime): trọng số 20%

 Điểm tuyển chọn sinh viên: trọng số 15%

 Chi tiêu của nhà trường tính trên mỗi sinh viên: trọng số 10%

 Tỉ lệ cựu sinh viên đóng góp vào ngân quĩ nhà trường: trọng số 5%

 Tỉ lệ tốt nghiệp sau khi điều chỉnh cho chi tiêu và điểm tuyển nhận: trọng số 5%

Trang 33

- Tổ chức Times Higher Education Supplement (THES) xếp hạng các cơ sở giáo dục bậc cao theo các tiêu chí sau:

 Đánh giá giảng viên từ các trường khác: trọng số 40%

 Số sinh viên tốt nghiệp làm việc trong các công ty toàn cầu: trọng số 10%

 Phần trăm giáo sư là người nước ngoài: trọng số 5%

 Phần trăm sinh viên là người nước ngoài: trọng số 5%

 Tỉ số sinh viên / giáo sư: trọng số 20%

 Số lần trích dẫn tính trên đầu mỗi giáo sư: trọng số 20%

Tại Malaysia, tất cả các trường đại học/cao đẳng đều được đánh giá dựa vào 5 tiêu chí và mỗi tiêu chí có một trọng số khác nhau Cụ thể như sau:

Quá trình đánh giá bao gồm 2 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Các trường tự đánh giá thông qua việc điền thông tin vào các mẫu đánh giá online Các thông tin phản hồi của việc đánh giá online sẽ được tính điểm tự động thông qua thang điểm của mỗi trường

Giai đoạn 2: Bộ giáo dục bậc cao Malaysia sẽ tiến hành kiểm định những thông tin đã được đánh giá và cho điểm ở giai đoạn 1 Điểm sẽ được cộng thêm hay trừ bớt tùy thuộc vào quá trình kiểm định thực tế

Quá trình quản lý chất lượng hệ thống giáo dục bậc cao trên thế giới thường theo ba mô hình chính:

a Kiểm soát chất lượng (QC: Quality Control)- Mục tiêu của mô hình này là không để cho sản phẩm có lỗi đưa ra thị trường Biện pháp để thực hiện mô hình này

là thanh tra chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, sau một thời gian dài sử dụng mô hình này, các nhà quản lý bỗng giật mình nhận ra có một sự lãng phí nguồn lực chứa trong các sản phẩm kém chất lượng

b Đảm bảo chất lượng (QA: Quality Assurance)- Mục tiêu của mô hình này là không để sinh ra sản phẩm kém chất lượng Có ba biện pháp chủ yếu để thực hiện mô hình này là ISO (International Standard Organic), kiểm toán (Audit) và kiểm định (Accreditation) Tuy nhiên, các nhà quản lý lại nhận ra mô hình này không đáp ứng với kinh tế thị trường thời cạnh tranh khốc liệt đòi hỏi phải cải tiến chất lượng liên tục

Trang 34

c Quản lý chất lượng tổng thể (TQM: Total Quality Management)- Mô hình này thực chất là cải tiến của mô hình Đảm bảo chất lƣợng, bổ sung thêm mục tiêu cải tiến chất lượng liên tục thông qua xây dựng văn hóa tổ chức với ba biện Tất cả các tiêu chí trên đây được tổ hợp dựa trên các trọng số

Còn tại Việt Nam, hiện nay đã có một số cơ quan đã tổ chức xếp hạng các trường đại học theo các tiêu chí mà các cơ quan này đã xây dựng như Trung tâm đảm bảo chất lượng đào tạo và nghiên cứu phát triển giáo dục thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, Cục Khảo thí và Kiểm định chất lượng giáo dục - Bộ Giáo dục và Đào tạo Mục đích xếp hạng được xác định là nhằm đáp ứng yêu cầu của sinh viên và phụ huynh, thúc đẩy các trường đại học phấn đấu tốt nhất, cung cấp các thông tin cần thiết cho nhà tuyển dụng lao động; đồng thời xếp hạng các trường còn đóng góp vào quá trình nâng cao chất lượng đào tạo Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có tiêu chí thống nhất trong đánh giá chất lượng hệ thống giáo dục bậc cao và của từng trường đại học ở Việt Nam

Dựa theo các tiêu chí đánh giá hệ thống giáo dục bậc cao của thế giới và Việt nam, căn cứ vào tình hình phát triển giáo dục bậc cao ở Malaysia và Thái Lan, có thể thống nhất một số tiêu chí đánh giá hệ thống giáo dục bậc cao như sau:

- Tiêu chí xếp hạng các trường trong hệ thống giáo dục bậc cao, kể cả giáo dục công cộng và tư nhân

- Quy mô và trình độ đào tạo của các trường

- Số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên trong trường

- Chất lượng giáo dục bậc cao: thông qua các tiêu chí như sinh viên, cơ sở vật chất, chương trình giảng dạy, bậc học, nghiên cứu khoa học trong trường, xếp hạng đẳng cấp quốc tế và khu vực

- Hệ thống quản lý chất lượng giáo dục bậc cao

2.1.5 Các chính sách chủ yếu để phát triển giáo dục bậc

Để giáo dục trở thành chìa khóa cho tăng trưởng năng suất lao động và tăng trưởng GDP, chính sách giáo dục bậc cao cần phải hỗ trợ tích cực cho các chiến lược phát triển của quốc gia, có nghĩa là giáo dục bậc cao phải đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển Ở những nước không chú trọng đầu tư cho giáo dục, hoặc chính sách giáo dục bậc cao không tương thích với các chiến lược phát triển của quốc gia và cầu của thị trường lao động, thì quốc gia

đó sẽ không thể tận dụng lợi thế so sánh về lao động, không thể có được lực lượng lao động có giáo dục và kỹ năng phù hợp để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và tăng nhanh năng suất lao động Các chính sách chủ yếu giúp các chính phủ phát huy tác

Trang 35

dụng tốt nhất của giáo dục bậc cao bao gồm:

- Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia Trong chiến lược này, cần thiết kế các chương trình giáo dục liên quan có hiệu quả tích cực đến tăng trưởng kinh tế, trong đó bao gồm: kích thích đổi mới, khả năng tiếp cận cơ hội học tập từng cấp (tiểu học, phổ thông, bậc cao) nhằm đạt được sự bình đẳng trong giáo dục, thu nhập và các mối liên hệ trong xã hội

- Thiết lập các thể chế phù hợp với nhiệm vụ giáo dục bậc cao: Nhà nước phải xây dựng quy định chất lượng, trách nhiệm giải trình và sự minh bạch trong phát triển giáo dục bậc cao Nhà nước cần xây dựng các quy định pháp lý khuyến khích sự đổi mới và thành tựu phát triển giáo dục bậc cao, xác định các tiêu chuẩn cho các trường công và trường tư, buộc họ phải áp dụng thông qua hệ thống kiểm định chất lượng, đánh giá hoạt động, kiểm toán nội bộ

- Hỗ trợ phát triển các chuyên ngành cốt yếu, trong đó cần phân loại các trường đại học đỉnh cao và các trường đại học khác để có chính sách đầu tư tài chính hợp lý

Các trường đại học đỉnh cao (top tier university) thuộc nhóm các trường đại học

nghiên cứu, là nơi đào tạo tầng lớp tinh hoa của một quốc gia, nơi tập trung những giảng viên và sinh viên tài năng bậc nhất, nơi tạo ra những công trình nghiên cứu quan trọng nhất của đất nước, có vai trò như một đầu tàu thúc đẩy các trường khác vươn tới

những tiêu chuẩn chất lượng cao hơn Các trường đại học khác thuộc nhóm các trường

đại học tỉnh, khu vực, các trường đào tạo chuyên nghiệp, trường nghề, đại học từ xa,…

là những trường đào tạo sinh viên theo nhu cầu của thị trường hoặc vì các mục tiêu công bằng xã hội trong giáo dục bậc cao Giáo dục đại học và việc nghiên cứu khoa học có những lợi ích xã hội mà chúng ta không thể có được nếu giao nó cho thị trường Giáo dục đại học cần phải được ưu tiên: những ngành học mà thị trường cần thì giao cho khu vực tư nhân đảm nhiệm; còn những ngành học ít thu hút người học tập và nghiên cứu, từ khoa học kỹ thuật đến văn hoá nghệ thuật, lịch sử,… thì đòi hỏi phải có sự hỗ trợ hiệu quả từ phía nhà nước

- Quốc tế hoá giáo dục bậc cao đi đôi với đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục Quốc tế hoá giáo dục bậc cao là quá trình hoà nhập trên phạm vi toàn cầu nhằm mục đích mở rộng những mục tiêu, chức năng và sự phân phối trong nền giáo dục bậc cao Chính sách quốc tế hoá giáo dục bậc cao cần phải chú trọng đến vai trò của nhà quản lý, sinh viên, giảng viên, nhân viên tham gia vào sân chơi quốc tế Trong khi đó, giáo dục bậc cao cũng là một phương tiện mạnh mẽ tạo ra sự thay đổi xã hội, vì vậy bên cạnh việc quốc tế hoá giáo dục, cần phải có những chính sách thuận lợi để tạo điều

Trang 36

kiện cho các gia đình nghèo, các vùng miền xa xôi được tham gia vào giáo dục bậc cao thông qua các công cụ như hỗ trợ tài chính, chính sách hỗ trợ ngành học và việc làm sau khi học đối với các đối tượng ưu tiên và nhiều chính sách khác nhằm tạo sự công bằng trong giáo dục bậc cao

2.1.6 Vai trò và tác động của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế

Thứ nhất,giáo dục bậc cao góp phần phát triển nguồn nhân lực cho tăng trưởng

kinh tế

Giáo dục bậc cao đóng góp vào sự hình thành nguồn vốn con người bằng cách phát triển kỹ năng, mở rộng tri thức và định hình thái độ Các trường đại học có chức năng cung cấp các chương trình giáo dục học thuật để truyền bá tri thức, năng lực, kỹ năng, thái độ cho người học trong một xã hội thay đổi nhanh chóng Các chương trình học này không chỉ đơn giản cung cấp tri thức cho người học, mà còn dẫn dắt người học vào quá trình hình thành tri thức Phát triển nguồn nhân lực trình độ cao với các tri thức và kỹ năng cần thiết là một nhân tố quan trọng cho phát triển kinh tế, xã hội Trong các xã hội có tri thức, giáo dục bậc cao không chỉ tập trung phát triển cho tầng lớp lãnh đạo, mà còn được chú trọng phát triển cho phần lớn dân chúng Có như vậy, trình độ tri thức của toàn xã hội sẽ được nâng cao

Giáo dục bậc cao giúp một đất nước hình thành nguồn vốn nhân lực chất lượng cao, có khả năng thực hành một loại chuyên môn nào đó, hoặc có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc thuộc một chuyên môn nhất định Sự hiểu biết kiến thức và chuyên môn càng sâu, các kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp càng thành thạo thì người lao động càng rút ngắn thời gian làm việc, góp phần nâng cao năng suất lao động Trình

độ văn hoá và trình độ chuyên môn có ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động của con người Trình độ văn hoá tạo ra khả năng tiếp thu và vận dụng một cách nhanh chóng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Còn sự hiểu biết về chuyên môn càng sâu, các kỹ năng tay nghề càng thành thạo thì càng có khả năng tăng nhanh năng suất lao động Đặc biệt, trong thời đại khoa học công nghệ ngày càng phát triển, giáo dục bậc cao đòi hỏi người lao động phải có trình độ, chuyên môn tương ứng để có thể điều khiển và nắm bắt các công nghệ hiện đại

Thứ hai, giáo dục bậc cao góp phần nâng cao năng suất lao động và hấp thụ công nghệ tiên tiến

Người dân càng được giáo dục cao, chỉ số thành tựu công nghệ (TAI) càng được cải thiện bởi nguồn vốn nhân lực chất lượng cao có thể hấp thụ công nghệ chuyển giao một cách hiệu quả Giáo dục bậc cao không chỉ dạy các công nghệ mới,

Trang 37

mà còn có chức năng phát triển nguồn vốn nhân lực có khả năng đánh giá nhu cầu công nghệ và áp dụng các công nghệ đó Giáo dục bậc cao có thể giúp các quốc gia phát triển kinh tế tốt hơn nhờ thông qua quá trình đuổi bắt công nghệ Những nước chú trọng đầu tư cho giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học và đào tạo kỹ năng cho người lao động thì sẽ đạt được năng suất lao động cao hơn và từ đó cải thiện được tốc độ tăng trưởng kinh tế Nguồn nhân lực được đào tạo tốt, có tay nghề cao sẽ giúp nền kinh tế hấp thụ được các công nghệ tiên tiến, giảm thiểu nguy cơ phải tiếp nhận các công nghệ lạc hậu và nền kinh tế có khả năng cao hơn trong tăng năng suất lao động

và tính cạnh tranh trên thị trường thế giới Hầu hết các nghiên cứu trên thế giới đều cho rằng giáo dục là chìa khóa quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trong đó giáo dục bậc cao đóng vai trò then chốt

Bằng việc đào tạo ra những thế hệ thày giáo có chuyên môn, giáo dục bậc cao giúp các nước có động lực cải thiện chất lượng giáo dục ngay từ bậc tiểu học và trung học, mở ra nhiều cơ hội hơn cho sự tiến bộ kinh tế Bằng việc đào tạo ra các bác sĩ, nhân viên y tế, sức khỏe của con người được cải thiện, từ đó năng suất lao động cũng tăng lên Khi nghiên cứu chỉ số năng suất lao động tổng nhân tố (TFP), Jenkins (1995)

đã đi đến những kết luận rằng nếu số lượng người đạt giáo dục bậc cao tăng thêm 1%

sẽ làm cho sản lượng công nghiệp tăng thêm 0,35% Nếu tăng thêm 1% số lượng kỹ sư

và các nhà khoa học tự nhiên, sẽ làm cho sản lượng nông nghiệp tăng thêm 0,15% Chất lượng giáo dục bậc cao tăng thêm 1% sẽ dẫn đến tổng sản lượng hàng năm tăng

từ 0,42% đến 0,63% [61] Từ các phân tích trên đây, có thể thấy rằng giáo dục bậc cao tác động đến tăng trưởng kinh tế của một quốc gia thông qua hai kênh: (i) làm tăng GDP trực tiếp thông qua năng suất lao động (được đánh giá bằng chỉ số TFP); và (ii) làm tăng tốc độ hấp thụ công nghệ của một nước (được đánh giá bằng chỉ số TAI)

Thứ ba, giáo dục bậc cao góp phần cải thiện năng lực cạnh tranh của nền kinh

Trang 38

lực lên các doanh nghiệp trong việc nâng cao chất lượng và giảm thiểu chi phí); và (iv) Công nghiệp phụ trợ và liên quan

Trong 4 yếu tố góp phần hình thành năng lực cạnh tranh, người lao động và việc phát triển lực lượng lao động gắn kết với cung và cầu Về phía cung, giáo dục bậc cao góp phần tạo nguồn cung lực lượng lao động có chất lượng tốt hơn, giúp người lao động sẵn sang thích ứng với nơi làm việc, áp dụng tri thức, thái độ và lỹ năng mà các doanh nghiệp, các nhà cung cấp và các ngành công nghiệp dịch vụ phụ trợ cần đến để nâng cao năng suất của họ Về phía cầu, giáo dục bậc cao sẽ góp phần cải thiện năng suất lao động, nâng cao thu nhập của người lao động, tạo ra khích lệ cho người lao động bổ sung thêm kỹ năng Nhu cầu về dịch vụ đào tạo giúp đẩy mạnh năng lực và

kỹ năng cho người lao động sẽ ngày càng tăng lên Tiếp đó, sự mở rộng doanh nghiệp

và năng suất lao động sẽ làm động lực cho sự cạnh tranh, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong các lĩnh vực khác, ban đầu là doanh nghiệp, sau đó là các ngành nghề kinh tế khác Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế vì thế được cải thiện và điều này càng là động lực khiến nhà nước tập trung đầu tư nhiều hơn cho một nền giáo dục bậc cao hiện đại và phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế Nhìn chung giáo dục bậc cao và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ tương thuộc Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào sức cạnh tranh, và sức cạnh tranh liên quan trực tiếp đến năng suất lao động.Việc đảm bảo đạt được những điều kiện thích hợp cho tăng trưởng kinh tế bền vững đòi hỏi phải có lao động có kỹ năng kỹ thuật, năng lực quản lý, hoạch định chính sách và những người được đào tạo bài bản làm việc trong mọi lĩnh vực của nền kinh

tế

Thứ tư, giáo dục bậc cao tác động đến tăng trưởng kinh tế theo nhiều kênh lan toả khác như việc làm, nhận thức xã hội, sức khoẻ, tri thức

Giáo dục bậc cao kết nối các vấn đề học thuật với các di sản văn hoá, khoa học

và trí tuệ của nhân loại Với chức năng đào tạo, nghiên cứu và đóng góp sản phẩm tri thức cho xã hội, giáo dục bậc cao có thể phát triển nhận thức cho người học về các vấn

đề kinh tế, giáo dục, sức khoẻ, môi trường và các vấn đề khác, và thông qua nghiên cứu, các trường đại học có thể đóng góp cho việc quản lý và đề xuất các giải pháp quản lý các vấn đề xã hội, giúp xã hội phát triển bền vững hơn Đối với từng cá nhân, giáo dục bậc cao giúp con người phát triển tối đa tiềm năng của mình bằng cách trau dồi sức khỏe, phát triển năng lực trí tuệ, bồi dưỡng ý thức và giá trị đạo đức, tinh thần cho họ Họ cũng được cung cấp các kiến thức đào tạo về các lĩnh vực nông nghiệp, nghệ thuật, y dược, khoa học và công nghệ cũng như những ngành nghề khác, giúp họ

Trang 39

có đầy đủ năng lực và có ý thức trách nhiệm cao đối với cộng đồng Thông qua giáo dục bậc cao, họ có cách nhìn cởi mở và quan tâm hơn đến sức khoẻ, đến các giá trị xã hội, vì vậy họ có thái độ tích cực hơn đối với các hoạt động xã hội, phổ biến các giá trị bền vững cho xã hội, môi trường, giúp cho các cá nhân và xã hội ngày càng phát triển tốt lên

Giáo dục bậc cao giúp con người tự nhận thức được các vấn đề của chính mình,

từ đó giúp xã hội ngày càng phát triển Đối với một quốc gia, giáo dục bậc cao có nghĩa là phát triển nguồn vốn nhân lực cần thiết cho sự phát triển kinh tế Điều này cũng có nghĩa là nhằm đạt được sự tự nhận thức của mỗi cá nhân Con người chỉ có thể cải thiện thu nhập và chất lượng cuộc sống của họ thông qua việc tăng cường tri thức hoặc kỹ năng cho mỗi cá nhân, từ đó mở rộng cơ hội lựa chọn của họ đối với cuộc sống, trong đó có vấn đề lựa chọn nghề nghiệp Cốt lõi của vấn đề phát triển nguồn nhân lực là giúp mỗi cá nhân đạt được khả năng tự nhận thức (self-realization)

và tự thực hiện (self-actualization), từ đó sẽ có những đóng góp tích cực hơn cho phát triển kinh tế - xã hội

Thực tiễn tăng trưởng kinh tế của các nước trên thế giới nhiều thập niên qua đã chứng minh không phải lúc nào giáo dục bậc cao cũng tác động tích cực đối với tăng trưởng kinh tế Tại nhiều quốc gia, giáo dục bậc cao không thể coi là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế, chẳng hạn những nước giàu (tức là những nước có sự tăng trưởng trên cơ sở bền vững) thường có tỷ lệ sinh viên nhập học giáo dục bậc cao ở mức cao, nhưng không phải tất cả các nước có tỷ lệ sinh viên nhập học giáo dục bậc cao ở mức cao lại là những nước giàu Hơn nữa, giáo dục bậc cao chỉ là một điều kiện cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chứ nó chưa phải là điều kiện đủ để cho tăng trưởng kinh tế, mà tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác ngoài giáo dục Ngay trong các nghiên cứu thực nghiệm và định lượng cũng không thể giải thích mối quan hệ phức tạp này và đánh giá chính xác tác động của giáo dục bậc cao đối với tăng trưởng kinh tế Theo đánh giá của UNDP (2010), tăng trưởng kinh tế là kết quả của dòng lưu chuyển sản xuất, thu nhập, tiêu dùng có tính tương tác và năng động Một số yếu tố tác động tích cực đối với quá trình tăng trưởng này (chẳng hạn như vốn

xã hội, nguồn nhân lực chất lượng cao, hoặc xuất khẩu), nhưng sẽ có một số yếu tố tác động tiêu cực đến quá trình tăng trưởng (chẳng hạn như tham nhũng, quản lý kinh tế vĩ

mô yếu kém, nguồn lao động có kỹ năng và tri thức cao làm cho các nguồn lao động phổ thông bị mất việc làm, chuyển dịch cơ cấu chậm chạp không thích ứng với nguồn cung về lao động tri thức, ) Các yếu tố này đóng góp vào quá trình tăng trưởng kinh

Trang 40

tế theo tính chất phụ thuộc lẫn nhau, và giáo dục bậc cao cũng ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế thông qua những bổ sung của nó cho các yếu tố tăng trưởng khác

2.2 Cơ sở thực tiễn của giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế

2.2.1 Bối cảnh mới và tác động của nó đối với giáo dục bậc cao

Giáo dục bậc cao trên thế giới chịu ảnh hưởng rất lớn của bối cảnh quốc tế kể

từ thập niên 1990s cho đến nay Đó là :

Thứ nhất, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đã và đang mở ra những cơ hội và

thách thức mới đối với nguồn nhân lực, đối với việc phát triển giáo dục bậc cao, đòi hỏi các nước có sự cạnh tranh lớn hơn trong phát triển nguồn nhân lực, dẫn đến giáo dục bậc cao cũng phải thay đổi Toàn cầu hoá và khu vực hoá từ cuối thế kỷ XXI đã ảnh hưởng sâu sắc đến giáo dục bậc cao Nó đã hình thành một thế giới ngày càng gắn kết với nhau, công nghệ thông tin và truyền thông, sự phát triển của mạng quốc tế, vai trò của tiếng Anh, và những ảnh hưởng khác của toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đã vượt qua tầm kiểm soát của các trường đại học, buộc giáo dục bậc cao phải thay đổi, điều chỉnh các chính sách giảng dạy và cách thức quản lý giáo dục bậc cao cho phù hợp với tình hình mới, bao gồm cả việc quốc tế hoá các trường đại học, gửi sinh viên

ra nước ngoài học tập, mở nhánh trường liên kết với các trường ở nước ngoài

Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đem lại nhiều thuận lợi cho các nước trong việc phát triển và mở rộng hệ thống giáo dục bậc cao, giúp các nước học tập kinh nghiệm của các nền giáo dục phát triển, xoá bỏ các khuôn mẫu giảng dạy lạc hậu, từ triết lý giáo dục, nội dung chương trình, đến phương pháp giảng dạy, tổ chức trường học Toàn cầu hoá sẽ góp phần kết nối giáo dục bậc cao, mở rộng tầm nhìn và bậc thang giá trị vượt qua khỏi biên giới quốc gia và dân tộc, hướng giáo dục bậc cao đến cái chuẩn mực chung, có tình chất toàn nhân loại, có tư duy toàn cầu và có khả năng hợp và và làm việc trong môi trường thế giới « phẳng »

Thứ hai, cuộc cách mạng khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức phát triển

nhanh trên thế giới, đã khiến cho vai trò của giáo dục bậc cao, việc dạy và học ở bậc giáo dục bậc cao cũng phải khác cả về hình thức, nội dung và cung cách quản lý Nền kinh tế tri thức với trụ cột đặc trưng là sự mở rộng không ngừng của khu vực truyền thông, thông tin và khoa học công nghệ đang khiến vai trò của khoa học và công nghệ ngày càng quan trọng Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba diễn ra vào nửa cuối thế kỷ XX cùng với sự bùng nổ của các ngành công nghệ cao (là những công nghệ dựa vào những thành tựu khoa học mới nhất với hàm lượng tri thức và hàm lượng khoa học, sáng tạo cao nhất bao gồm bốn công nghệ chính là công nghệ sinh học; công nghệ

Ngày đăng: 11/08/2017, 09:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo Mới (2014), Số lượng trường đại học: vượt quy hoạch nhưng chỗ thiếu, chỗ thừa, Báo mới ngày 8/8/2014, http://www.baomoi.com/So-luong-truong-dai-hoc-Vuot-quy-hoach-nhung-cho-thieu-cho-thua/c/14515800.epi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số lượng trường đại học: vượt quy hoạch nhưng chỗ thiếu, chỗ thừa
Tác giả: Báo Mới
Năm: 2014
2. Báo năng suất Việt nam (2014), Nhóm tuổi 35-55 đang thiếu hụt trầm trọng kỹ năng lao động, ngày 10/12/2014, http://dantri.com.vn/dao-tao/nhom-tuoi-35-55-thieu-tram-trong-ky-nang-lao-dong-1418825600.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhóm tuổi 35-55 đang thiếu hụt trầm trọng kỹ năng lao động
Tác giả: Báo năng suất Việt nam
Năm: 2014
3. Ben Wildavsky (2011), Cuộc cạnh tranh chất xám vĩ đại: các đại học toàn cầu đang tái định hình thế giới như thế nào?, NXB Tri thức, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc cạnh tranh chất xám vĩ đại: các đại học toàn cầu đang tái định hình thế giới như thế nào
Tác giả: Ben Wildavsky
Nhà XB: NXB Tri thức
Năm: 2011
4. Bùi Quang Bình (2007), Vốn con người và đầu tư vào vốn con người, Tạp chí khoa học và công nghệ, Đại học Đà nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn con người và đầu tư vào vốn con người
Tác giả: Bùi Quang Bình
Năm: 2007
5. Bộ giáo dục và đào tạo (2009), Báo cáo sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học, các giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo, Hà Nội,ngày 29/2/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sự phát triển của hệ thống giáo dục đại học, các giải pháp đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Năm: 2009
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), Hội nghị Tổng kết năm học 2014-2015 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2015-2016, Hà Nội, 22/10/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội nghị Tổng kết năm học 2014-2015 và phương hướng nhiệm vụ năm học 2015-2016
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2015
7. Bùi Loan Thùy (2012), Bước đi của giáo dục đại học Việt Nam trước ngưỡng cửa kinh tế tri thức, Tạp chí Phát triển & Hội nhập, số 4(14), tháng 5-6/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đi của giáo dục đại học Việt Nam trước ngưỡng cửa kinh tế tri thức
Tác giả: Bùi Loan Thùy
Năm: 2012
8. Chu Văn Cấp (2012), Giáo dục và đào tạo với phát triển nguồn nhân lực Việt Nam, tạp chí Phát triển và hội nhập, số 6 (16), tháng 9-10/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: dục và đào tạo với phát triển nguồn nhân lực Việt Nam
Tác giả: Chu Văn Cấp
Năm: 2012
10. Chương trình châu Á của đại học Harvard University (2008), Lựa chọn thành công: bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai của Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình châu Á của đại học Harvard University (2008), "Lựa chọn thành công: bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai của Việt Nam
Tác giả: Chương trình châu Á của đại học Harvard University
Năm: 2008
11. Đỗ Minh Cương, Nguyễn Thị Doan (2001), Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học Việt Nam
Tác giả: Đỗ Minh Cương, Nguyễn Thị Doan
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
12. Nguyễn Văn Đạo (2012), Vài suy nghĩ về giáo dục và đào tạo phục vụ cho phát triển, Bản tin Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ về giáo dục và đào tạo phục vụ cho phát triển
Tác giả: Nguyễn Văn Đạo
Năm: 2012
13. Lê Thị Hồng Điệp (2005), Phát triển nguồn nhân lực cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế chinh trị, Trung tâm đào tạo bồi dưỡng giảng viên lý luận chinh trị, Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Hồng Điệp
Năm: 2005
14. Bùi Du Dương (2013), Việt Nam tụt hậu 50 năm so với Thái Lan về công bố khoa học, Báo VNexpress, ngày 11/1/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam tụt hậu 50 năm so với Thái Lan về công bố khoa học
Tác giả: Bùi Du Dương
Năm: 2013
15. Francis Loh (2005), Khủng hoảng trong các trường đại học công lập ở Malaysia, Aliran Monthly Vol 25, Issue 10, Phạm thị Lý dịch, Đại học Hoa Sen Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khủng hoảng trong các trường đại học công lập ở Malaysia
Tác giả: Francis Loh
Năm: 2005
16. Ngọc Hà (2015), Đại học quốc gia Hà Nội dẫn đầu Việt Nam trong xếp hạng Webometrics, Báo Tuổi trẻ online, 25/12/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại học quốc gia Hà Nội dẫn đầu Việt Nam trong xếp hạng Webometrics
Tác giả: Ngọc Hà
Năm: 2015
17. Phạm Minh Hạc (2001), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực: đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, , NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực: đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2001
19. Quang Hùng (2009), Thái Lan: tập trung vào giáo dục đại học”, Báo giáo dục TP HCM, ngày 6/5/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái Lan: tập trung vào giáo dục đại học
Tác giả: Quang Hùng
Năm: 2009
18. Hồng Hạnh (2012), Bộ giáo dục – đào tạo: chỉ tiêu khối ngành kinh tế quá nhiều, Tin Mới, 23/2/2012, http://www.tinmoi.vn/bo-gd-dt-chi-tieu-khoi-nganh-kinh-te-qua-nhieu-01775713.html Link
76. Nick Clack (2014), Education in Thailand, World education news and reviews, March, http://wenr.wes.org/2014/03/education-in-thailand/ Link
102. UNESCO institute for statisitics, October 2013, http://dx.doi.org/10.15220/2014/ed/sd/2/t4 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Vị trí của giáo dục bậc cao trong hệ thống giáo dục quốc gia  Nguồn: Tác giả tự tổng hợp - Phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở mailaysia, thái lan và bài học kinh nghiệm cho việt nam
Hình 2.1. Vị trí của giáo dục bậc cao trong hệ thống giáo dục quốc gia Nguồn: Tác giả tự tổng hợp (Trang 23)
Hình 2.3. Chi tiêu R&D cho giáo dục bậc cao năm 2010 ở Đông Á (% GDP)  Nguồn: World Bank (2011), Overview: Putting higher education to work: Skill  and research for growth in East Asia, Washington DC - Phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở mailaysia, thái lan và bài học kinh nghiệm cho việt nam
Hình 2.3. Chi tiêu R&D cho giáo dục bậc cao năm 2010 ở Đông Á (% GDP) Nguồn: World Bank (2011), Overview: Putting higher education to work: Skill and research for growth in East Asia, Washington DC (Trang 49)
Bảng 3.2. Số lượng học viên Malaysia nhập học giáo dục bậc cao theo trình - Phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở mailaysia, thái lan và bài học kinh nghiệm cho việt nam
Bảng 3.2. Số lượng học viên Malaysia nhập học giáo dục bậc cao theo trình (Trang 65)
Hình 3.1. Đóng góp của lao động phân theo trình độ giáo dục trong tổng - Phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở mailaysia, thái lan và bài học kinh nghiệm cho việt nam
Hình 3.1. Đóng góp của lao động phân theo trình độ giáo dục trong tổng (Trang 74)
Hình 3.2.Đóng góp của các yếu tố trong tăng trưởng GDP của Malaysia - Phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở mailaysia, thái lan và bài học kinh nghiệm cho việt nam
Hình 3.2. Đóng góp của các yếu tố trong tăng trưởng GDP của Malaysia (Trang 78)
Bảng 3.7. Cơ cấu hệ thống giáo dục ở Thái Lan hiện nay - Phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở mailaysia, thái lan và bài học kinh nghiệm cho việt nam
Bảng 3.7. Cơ cấu hệ thống giáo dục ở Thái Lan hiện nay (Trang 87)
Bảng 3.8. Các loại hình đào tạo khác nhau ở Thái Lan trong hệ thống giáo - Phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở mailaysia, thái lan và bài học kinh nghiệm cho việt nam
Bảng 3.8. Các loại hình đào tạo khác nhau ở Thái Lan trong hệ thống giáo (Trang 88)
Bảng 3.9. Số lượng học viên Thái Lan theo trình độ và cơ sở đào tạo(người) - Phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở mailaysia, thái lan và bài học kinh nghiệm cho việt nam
Bảng 3.9. Số lượng học viên Thái Lan theo trình độ và cơ sở đào tạo(người) (Trang 90)
Bảng 3.10. Đội ngũ cán bộ giảng viên Thái Lan năm 2007 phân theo trình - Phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở mailaysia, thái lan và bài học kinh nghiệm cho việt nam
Bảng 3.10. Đội ngũ cán bộ giảng viên Thái Lan năm 2007 phân theo trình (Trang 91)
Hình 3.5. Chỉ số PISA năm 2012 của một số nước Đông Nam Á  Nguồn: PISA 2012 - Phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở mailaysia, thái lan và bài học kinh nghiệm cho việt nam
Hình 3.5. Chỉ số PISA năm 2012 của một số nước Đông Nam Á Nguồn: PISA 2012 (Trang 101)
Hình 3.6.Đóng góp của các yếu tố trong tăng trưởng GDP của Thái Lan - Phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở mailaysia, thái lan và bài học kinh nghiệm cho việt nam
Hình 3.6. Đóng góp của các yếu tố trong tăng trưởng GDP của Thái Lan (Trang 103)
Hình 4.1. Thu nhập bình quân đầu người của Thái Lan, Malaysia so với - Phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở mailaysia, thái lan và bài học kinh nghiệm cho việt nam
Hình 4.1. Thu nhập bình quân đầu người của Thái Lan, Malaysia so với (Trang 116)
Bảng 4.3. Sự khác biệt trong quản lý giáo dục bậc cao ở Malaysia và Thái Lan - Phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở mailaysia, thái lan và bài học kinh nghiệm cho việt nam
Bảng 4.3. Sự khác biệt trong quản lý giáo dục bậc cao ở Malaysia và Thái Lan (Trang 122)
Bảng 4.4.Chỉ tiêu phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam đến năm 2020 - Phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở mailaysia, thái lan và bài học kinh nghiệm cho việt nam
Bảng 4.4. Chỉ tiêu phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam đến năm 2020 (Trang 127)
Bảng 4.5. Số lượng trường cao đẳng và đại học ở Việt Nam (Năm học - Phát triển giáo dục bậc cao phục vụ tăng trưởng kinh tế ở mailaysia, thái lan và bài học kinh nghiệm cho việt nam
Bảng 4.5. Số lượng trường cao đẳng và đại học ở Việt Nam (Năm học (Trang 129)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w