Thế kỷ XXI được các nhà chiến lược xem là Thế kỷ của đại dương, bởi cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên không tái tạo được trên đất liền sẽ bị cạn kiệt sau vài ba thập kỷ tới. Trong bối cảnh đó, các nước có biển, đặc biệt là các nước lớn đều coi trọng xây dựng chiến lược biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để khai thác và khống chế biển.
Trang 1Lời nói đầu
Thế kỷ XXI được các nhà chiến lược xem là "Thế kỷ của đại dương", bởi cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên không tái tạo được trên đất liền sẽ bị cạn kiệt sau vài ba thập
kỷ tới Trong bối cảnh đó, các nước có biển, đặc biệt là các nước lớn đều coi trọng xây dựng chiến lược biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để khai thác và khống chế biển.
Đối với nước ta, biển đảo là một bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển Lấn biển để dựng nước và thông qua biển để giữ nước là một nét độc đáo của bản sắc văn hóa Việt Nam.
Biển, đảo nước ta có những ưu thế và vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng đối với khu vực và trên thế giới Việc xây dựng, quản lý, phát triển và bảo vệ quyền lợi biển, đảo là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với việc gìn giữ toàn vẹn chủ quyền quốc gia, giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Cuốn sách " Tìm hiểu về biển, đảo Việt Nam" sẽ giúp bạn đọc thuận lợi khi
nghiên cứu, tìm hiểu những kiến thức cơ bản về biển, Luật biển của quốc tế và Việt Nam; nhận rõ vai trò quan trọng, điều kiện tự nhiên và tiềm năng phát triển của đảo, quần đảo, vịnh, vũng, các bãi biển ở nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Phần thứ nhất
Những vấn đề chung về biển,
đảo Việt Nam
I pháp luật quốc tế và việt nam về biển
1 Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982
Luật biển quốc tế được hiểu một cách đơn giản nhất, là tổng hợp các quyphạm pháp luật quốc tế điều chỉnh hoạt động của các quốc gia trên thế giới liênquan đến biển
Công ước quốc tế về Luật biển của Liên Hợp quốc năm 1982, có hiệu lực năm 1994 và Việt Nam là thành viên của Công ước này(Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức phê chuẩnngày 23 tháng 6 năm 1994), là một văn kiện quốc tế tổng hợp, toàn diện, baoquát những vấn đề quan trọng nhất về chế độ pháp lý của biển và đại dương thế
Trang 2giới, quy định những quyền và nghĩa vụ về nhiều mặt của mọi loại quốc gia (cóbiển, không có biển, không phân biệt chế độ kinh tế, chính trị, xã hội cũng nhưtrình độ phát triển) đối với các vùng biển thuộc phạm vi quốc tế, cũng nhưnhững vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia.
Theo Công ước 1982, Việt Nam có quyền ở 5 vùng biển với phạm vi và chế
độ pháp lý khác nhau Đó là: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền
về kinh tế và thềm lục địa Tháng 5 năm 1977, Chính phủ nước Cộng hòa xã hộichủ nghĩa Việt Nam ra Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyềnkinh tế và thềm lục địa Tháng 11 năm 1982, Chính phủ ra Tuyên bố về đường
cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam Hai văn bản quy phạm phápluật nói trên, mặc dù ban hành trước khi Công ước 1982 ra đời, nhưng đã phùhợp với Công ước, thể hiện được chủ trương, chính sách của Nhà nước ta sớmnắm bắt tinh thần và xu hướng trong tiến trình xây dựng Công ước từ trước đó.Luật biển quốc tế luôn thay đổi và phát triển ngày càng hoàn thiện Có thểnói: Không gian mà con người sinh sống trên trái đất chủ yếu gồm ba phần: đất,biển, trời Lãnh thổ quốc gia trên đất liền, bao gồm đất liền, đảo, sông, suối, hồnội địa, vùng trời phía trên và lòng đất bên dưới nằm trong phạm vi các đườngbiên giới quốc gia xác định qua thực tế quản lý hay điều ước quốc tế Đườngbiên giới trên đất liền về cơ bản được coi là bền vững và bất khả xâm phạm mặc
dù trên thực tế vẫn đang luôn luôn diễn ra các loại tranh chấp và có sự biến độngđường biên giới giữa nhiều quốc gia
Giới hạn về độ cao của vùng trời thuộc lãnh thổ quốc gia cũng như độ sâu củalòng đất bên dưới tuy không được xác định rõ rệt chính xác bao nhiêu cây sốnhưng với khả năng kỹ thuật của nhân loại hiện nay, mỗi quốc gia hoàn toàn cóthể thực hiện chủ quyền của mình trong những phạm vi nhất định tới giới hạn tối
đa là vành đai khí quyển nằm dưới quỹ đạo địa tĩnh và tới độ sâu cho phép thuộc
bề dày của vỏ trái đất ở bên dưới phần lãnh thổ của mình
Riêng với vùng biển, trong thời gian gần đây có rất nhiều sự thay đổi về chấtđối với phạm vi và chế độ pháp lý của các vùng biển thuộc một nước ven biển,vùng biển thuộc về đại dương cũng như phần đáy và lòng đất dưới đáy đạidương không thuộc bất kỳ một quốc gia nào Tuy nhiên, biển vẫn còn tồn tại mộtnguyên tắc cơ bản của Luật biển là có đất (bờ biển) mới có biển Có thể thấy cácthay đổi và phát triển của Luật biển diễn ra theo một tiến trình ba bước cơ bảnsau:
Thứ nhất, từ xa xưa cho đến tận giữa thế kỷ XX, các nước ven biển chỉ có
vùng biển hẹp (lãnh hải) thuộc chủ quyền rộng 3 hải lý (mỗi hải lý bằng1.852m) Phía ngoài ranh giới lãnh hải 3 hải lý đều là biển công, ở đó mọi cánhân, tổ chức, tàu thuyền của mỗi nước được hưởng quyền tự do biển cả Hầunhư không ai chia biển với ai cả, đường biên giới biển trong lãnh hải giữa cácnước thường được hình thành và tôn trọng theo tập quán
Trang 3Thứ hai, từ năm 1958 đến năm 1994, các nước ven biển có lãnh hải và vùng
tiếp giáp lãnh hải rộng không quá 12 hải lý, có vùng thềm lục địa trải dài dướibiển ra không quá độ sâu 200m nước (theo các công ước của Liên Hợp quốc vềLuật biển năm 1958) Các nước láng giềng, kế cận hay đối diện nhau, căn cứ vàoluật, tự mình quy định phạm vi hoặc ranh giới vùng biển quốc gia, dẫn đến hậuquả có sự chồng lấn và tranh chấp về biển Luật biển quốc tế lúc đó quy định cácnước có vùng chồng lấn phải cùng nhau giải quyết vạch đường biên giới biển(bao gồm biên giới biển trong lãnh hải, ranh giới biển trong vùng tiếp giáp vàthềm lục địa) trong vùng chồng lấn Nguyên tắc hoạch định biên giới biển lúc đó
là qua thương lượng trên cơ sở pháp luật quốc tế và thường áp dụng nguyên tắcđường trung tuyến
Thứ ba, nước ta phê chuẩn Công ước 1982 vào năm 1994 Theo Công ước
này, một nước ven biển có năm vùng biển: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáplãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, vùng thềm lục địa Với sự ra đời của Công ước
1982, trên thế giới các nước sẽ phải cùng nhau vạch khoảng 412 đường ranh giớimới trên biển
Như vậy, theo Công ước 1982, phạm vi vùng biển của nước ta được mở rộng
ra một cách đáng kể, từ vài chục nghìn km2 lên đến gần một triệu km2 với nămvùng biển có phạm vi và chế độ pháp lý khác nhau Nước Việt Nam không cònthuần tuý có hình dạng hình chữ ''S'' nữa mà mở rộng ra hướng biển, không chỉ
có biên giới biển chung với Trung Quốc, Campuchia mà cả với hầu hết các nướctrong khu vực Đông Nam á như Philíppin, Malaixia, Inđônêxia, Thái Lan
Để có cơ sở nhận thức đúng đắn điều đó, trước hết chúng ta cần hiểu đượcnhững khái niệm cơ bản sau đây:
- Đường cơ sở
Luật Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đượcQuốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2003 và có hiệulực từ ngày 01 tháng 01 năm 2004 quy định: Đường cơ sở là đường gãy khúc nốiliền các điểm được lựa chọn tại ngấn nước thủy triều thấp nhất dọc bờ biển vàcác đảo gần bờ do Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xácđịnh công bố
Đường cơ sở là đường cơ bản, quốc gia ven biển có thể đơn phương xác địnhdùng làm căn cứ để tính chiều rộng lãnh hải và các vùng biển khác
Có hai loại đường cơ sở:
Thứ nhất, đường cơ sở thông thường: Sử dụng ngấn nước triều thấp nhất ven
bờ biển hoặc đảo
Thứ hai, đường cơ sở thẳng: Nối các điểm hoặc đảo nhô ra nhất của bờ biển
lục địa hoặc đảo Đường cơ sở thẳng áp dụng khi bờ biển quốc gia ven biển bịchia cắt hoặc có chuỗi đảo gắn liền và chạy dọc theo bờ biển Việt Nam có chuỗiđảo dọc theo bờ biển được vận dụng để xác định đường cơ sở thẳng
Trang 4Năm 1982, Chính phủ Việt Nam ra tuyên bố xác định đường cơ sở thẳng ven
bờ lục địa Việt Nam, gồm 10 đoạn nối 11 điểm (trừ phần trong vịnh Bắc bộ vàvùng nước lịch sử giữa Việt Nam và Campuchia do ta còn đàm phán phân địnhbiển với Trung Quốc lúc đó và chưa tiến hành đàm phán phân định biển vớiCampuchia)
Việt Nam cũng không vạch đường cơ sở cho hai quần đảo Hoàng Sa vàTrường Sa, vì hai quần đảo này không được hưởng quy chế quốc gia quần đảotheo Điều 46 của Công ước này
- Vùng nước nội thủy
Theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, nội thủy là vùngbiển nằm ở phía trong của đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải Vùng nướcthuộc nội thủy có chế độ pháp lý như lãnh thổ trên đất liền Tuy nhiên, chủ quyềncủa quốc gia ven biển đối với nội thủy vẫn có sự khác biệt so với chủ quyền trênlãnh thổ đất liền, vì quốc gia ven biển thực hiện quyền lực của mình trên vùngnước nội thủy không phải đối với các cá nhân mà là đối với tàu thuyền - cộngđồng có tổ chức và đáp ứng các quy tắc riêng biệt
Vùng nước nội thủy bao gồm: các vùng nước cảng biển, các vũng tàu, cửasông, các vịnh, các vùng nước nằm giữa lãnh thổ đất liền và đường cơ sở dùng
để tính chiều rộng lãnh hải
Trong vùng nước nội thủy, quốc gia được quyền tự do thông thường của tàuthuyền thương mại vào các cảng biển quốc tế và các quy định đối với tàu thuyềnnước ngoài; có thẩm quyền tài phán dân sự và thẩm quyền tài phán hình sự
- Lãnh hải
Theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, lãnh hải là vùngbiển có chiều rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở, có chế độ pháp lý tương tự nhưlãnh thổ đất liền Ranh giới ngoài của lãnh hải là biên giới quốc gia trên biển.Trong lãnh hải, tàu thuyền của các quốc gia khác được hưởng quyền qua lạikhông gây hại và thường đi theo tuyến phân luồng giao thông biển của nước venbiển
Trong lãnh hải có những nội dung cần chú ý là:
+ Bản chất pháp lý của lãnh hải;
+ Chiều rộng lãnh hải;
+ Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải;
+ Quyền đi qua không gây hại;
+ Vấn đề phân định lãnh hải
Xét về bản chất pháp lý: Thuật ngữ lãnh hải là sự kết hợp thành công giữa hai
từ lãnh thổ và biển Lãnh hải là một vùng biển đệm giữa một bên là lãnh thổ doquốc gia ven biển thực hiện chủ quyền hoàn toàn và đầy đủ, ngoại trừ quyền ''điqua không gây hại'' của tàu thuyền nước ngoài theo nguyên tắc tự do hàng hải.Luật biển coi lãnh hải như một ''lãnh thổ chìm'', một bộ phận hữu cơ của lãnhthổ quốc gia, trên đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt vềphòng thủ quốc gia, về cảnh sát, thuế quan, đánh cá, khai thác tài nguyên thiên
Trang 5nhiên, đấu tranh chống ô nhiễm, như quốc gia đó tiến hành trên lãnh thổ củamình Điều 2 của Công ước Giơnevơ năm 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp,cũng như Điều 2 của Công ước năm 1982 của Liên Hợp quốc về Luật biển ghirõ: ''Chủ quyền của quốc gia ven biển được mở rộng ra ngoài lãnh thổ và nộithủy của mình, đến một vùng biển tiếp liền, gọi là lãnh hải'' Tuy nhiên, việcđồng hóa lãnh hải thành lãnh thổ không phải là tuyệt đối Chủ quyền dành choquốc gia ven biển trên lãnh hải không phải là tuyệt đối như trên các vùng nướcnội thủy, do sự thừa nhận quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền nước ngoàitrong lãnh hải.
Chiều rộng lãnh hải: Hai hội nghị đầu tiên của Liên Hợp quốc về Luật biển đãthất bại trong việc thống nhất hoá chiều rộng lãnh hải Trước khi có Công ướcLuật biển năm 1982, tập quán chung áp dụng chiều rộng lãnh hải là ba hải lý.Sau này, Điều 3 của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 đãthống nhất rằng, quốc gia ven biển có quyền ấn định chiều rộng lãnh hải khôngvượt quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Tớinăm 1994 đã có 116 nước tuyên bố lãnh hải rộng 12 hải lý
Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải: Việc xác định bề rộng thực tế
và ranh giới ngoài của lãnh hải phụ thuộc vào việc vạch đường cơ sở dùng đểtính chiều rộng lãnh hải Thông thường đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hảiđược căn theo ngấn nước thủy triều thấp nhất Các đảo cách ven bờ có thể đượcchọn làm điểm cơ sở để vạch đường cơ sở lãnh hải Đường cơ sở lãnh hải là ranhgiới trong của lãnh hải
Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 quy định, đường cơ sởthông thường dùng để tính chiều rộng lãnh hải là ngấn nước triều thấp nhất dọctheo bờ biển Công ước cũng đưa ra ba điều kiện để áp dụng phương phápđường cơ sở thẳng, đó là: ở những nơi bờ biển khúc khuỷu, bị khoét sâu và lồilõm; ở những nơi có một chuỗi đảo chạy qua; ở những nơi có các điều kiện thiênnhiên đặc biệt gây ra sự không ổn định của bờ biển như sự hiện diện của cácchâu thổ Nhưng đường cơ sở thẳng vạch ra này phải đi theo xu hướng chungcủa bờ biển và không được cách xa bờ
Như vậy, ranh giới ngoài của lãnh hải là đường chạy song song với đường cơ
sở và cách đều đường cơ sở một khoảng cách tối đa là 12 hải lý Ranh giới ngoàicủa lãnh hải được coi là đường biên giới quốc gia trên biển
- Quyền đi qua không gây hại
Quyền đi qua không gây hại là một nguyên tắc tập quán của luật quốc tế,được thừa nhận bằng thực tiễn của các quốc gia Công ước Giơnevơ 1958 đãpháp chế hoá quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải của quốc gia ven biểncho tàu thuyền nước ngoài Công ước cũng gián tiếp công nhận quyền đi quakhông gây hại cho tàu thuyền quân sự nước ngoài, vì nó có điều khoản cho phépquốc gia ven biển được yêu cầu tàu thuyền quân sự nước ngoài rời khỏi lãnh hảicủa mình trong trường hợp các tàu này vi phạm luật lệ của quốc gia ven biển.Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 chỉ nhắc lại nội dung này.Điều 30 của Công ước quy định rằng, nếu một tàu chiến không tôn trọng các luật
và quy định của quốc gia ven biển có liên quan đến việc đi qua trong lãnh hải và
Trang 6bất chấp yêu cầu phải tuân thủ các luật và quy định đó đã được thông báo cho
họ, thì quốc gia ven biển có thể yêu cầu chiếc tàu đó rời khỏi lãnh hải ngay lậptức Tàu ngầm thực hiện quyền đi qua không gây hại phải đi ở trạng thái nổi vàphải treo cờ quốc tịch
Nghĩa của thuật ngữ ''đi qua'': Đi qua lãnh hải có nghĩa và bao gồm cả việc điqua lãnh hải mà không vào nội thủy, hoặc đi qua lãnh hải để vào nội thủy hoặccảng và rời nội thủy ra biển Công ước Luật biển năm 1982, Điều 18 khoản 2 bổsung thêm việc đi qua phải là liên tục và nhanh chóng Tuy nhiên, việc đi qua cóthể bao gồm cả việc dừng lại và thả neo, trong trường hợp gặp những sự cốthông thường về hàng hải hoặc vì một trường hợp bất khả kháng hay mắc nạnhoặc vì mục đích cứu giúp người, tàu thuyền hay phương tiện bay đang lâmnguy hoặc mắc nạn
Nghĩa của thuật ngữ ''đi qua không gây hại'' là các loại tàu thuyền nước ngoàiđược quyền đi qua lãnh hải của quốc gia ven biển mà không cần phải xin phéptrước Nhưng việc đi qua này là hành trình liên tục và không gây hại, không xâmphạm tới chủ quyền, an ninh, lợi ích của quốc gia ven biển Theo Điều 19 củaCông ước Luật biển năm 1982, tàu thuyền nước ngoài khi thực hiện quyền điqua không gây hại trong lãnh hải không được tiến hành một hoặc bất kỳ hoạtđộng nào sau đây:
+ Đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặc độclập chính trị của quốc gia ven biển hay dùng mọi cách khác trái với các nguyêntắc của luật pháp quốc tế đã được nêu trong Hiến chương Liên Hợp quốc;
+ Luyện tập hoặc diễn tập với bất kỳ kiểu loại vũ khí nào;
+ Thu thập tình báo gây thiệt hại cho quốc phòng hay an ninh của quốc giaven biển;
+ Tuyên truyền nhằm làm hại đến quốc phòng hay an ninh của quốc gia venbiển;
+ Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay;
+ Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện quân sự;
+ Xếp hoặc dỡ hàng hoá, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu trái với cácluật và quy định về hải quan, thuế khoá, y tế hoặc nhập cư của quốc gia venbiển;
+ Gây ô nhiễm cố ý và nghiêm trọng, vi phạm Công ước;
+ Đánh bắt hải sản;
+ Nghiên cứu hay đo đạc;
+ Làm rối loạn hoạt động của mọi hệ thống giao thông liên lạc hoặc mọitrang thiết bị hay công trình khác của quốc gia ven biển;
+ Mọi hoạt động khác không trực tiếp quan hệ đến việc đi qua
Ngoài ra, quốc gia ven biển có quyền ấn định các tuyến đường, quy định việc
Trang 7dành cho tàu thuyền nước ngoài đi qua lãnh hải của mình (Điều 21, 22 của Côngước).
Tàu thuyền nước ngoài phải tuân thủ luật pháp của quốc gia ven biển về:+ An toàn hàng hải, điều phối giao thông đường biển;
+ Bảo vệ các thiết bị công trình, dây cáp, ống dẫn ở biển;
+ Bảo tồn tài nguyên sinh vật biển, giữ gìn môi trường biển;
+ Hải quan, thuế khoá, y tế, nhập cư
Như vậy, luật biển quốc tế và cụ thể là Công ước của Liên Hợp quốc về Luậtbiển năm 1982 ghi nhận quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền của cácnước trong phạm vi lãnh hải của các quốc gia ven biển Mặt khác, Công ướcLuật biển cũng thừa nhận quyền của quốc gia ven biển bằng luật quốc gia quyđịnh cụ thể chế độ pháp lý điều chỉnh hoạt động của tàu thuyền nước ngoài khi
đi qua lãnh hải nhằm đảm bảo chủ quyền, an ninh quốc gia và lợi ích của mình
- Vùng tiếp giáp
Vùng tiếp giáp là vùng biển rộng 12 hải lý tiếp giáp và tính từ ranh giới ngoàicủa lãnh hải Trong vùng tiếp giáp, nước ven biển có quyền quy định biện phápngăn ngừa và trừng trị các hành vi vi phạm đối với luật lệ về nhập cư, thuế khóa,
y tế xảy ra trong lãnh thổ hay lãnh hải của mình
Đối với Việt Nam, Luật Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17 tháng 6năm 2003 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2004 quy định: Vùng tiếpgiáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải có chiều rộng mười haihải lý
Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp năm 1958, Điều 24 quy định quốc giaven biển có quyền tiến hành các hoạt động kiểm soát cần thiết tại vùng tiếp giáp,nhằm:
+ Ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật và quy định về hải quan, thuếkhoá, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hay trong lãnh hải của mình;
+ Trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ra trênlãnh thổ hoặc trong lãnh hải của mình
Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, Điều 33 nhắc lại nộidung trên nhưng cần lưu ý, về bản chất pháp lý, vùng tiếp giáp lãnh hải đượcquy định bởi Công ước năm 1958 là một phần của biển cả Còn vùng tiếp giáplãnh hải được quy định bởi Công ước năm 1982 nằm trong vùng đặc quyền kinh
tế, có quy chế của một vùng sui generic (đặc biệt), không phải là một vùng biểnthuộc chủ quyền quốc gia và cũng không phải là vùng biển có quy chế tự do biểncả
Trong vùng tiếp giáp lãnh hải, Điều 303 Công ước của Liên Hợp quốc vềLuật biển năm 1982 đã mở rộng quyền của quốc gia ven biển đối với các hiệnvật có tính lịch sử và khảo cổ Mọi sự trục vớt các hiện vật này từ đáy biển thuộc
Trang 8vùng tiếp giáp lãnh hải mà không được phép của quốc gia ven biển, đều đượccoi là vi phạm xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải của quốc gia đó.
- Vùng đặc quyền kinh tế
Theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, vùng đặc quyềnkinh tế là vùng biển rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở (trừ lãnh hải thì chiềurộng là 188 hải lý) Trong vùng biển này, nước ven biển có quyền chủ quyền đốivới mọi loại tài nguyên thiên nhiên và các hoạt động kinh tế nhằm khai thác, sửdụng các tài nguyên thiên nhiên đó, có quyền tài phán đối với các hoạt độngnghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường biển, xây dựng và lắp đặt các côngtrình và thiết bị nhân tạo Các nước khác có quyền tự do bay, tự do hàng hải vàđặt dây cáp và ống dẫn ngầm
Đối với nước ta, Luật Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17 tháng 6 năm
2003 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2004 quy định: Vùng đặc quyền vềkinh tế là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải và hợp với lãnh hải thành mộtvùng biển rộng hai trăm hải lý tính từ đường cơ sở, trừ trường hợp điều ướcquốc tế giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan cóquy định khác
Như vậy, vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm ở phía ngoài lãnh hải vàtiếp liền với lãnh hải, đặt dưới một chế độ pháp lý riêng, theo đó các quyền chủquyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển cũng như các quyền và cácquyền tự do của các quốc gia khác đều do các quy định thích hợp của Công ướcđiều chỉnh
Xét về bản chất pháp lý: Vùng đặc quyền kinh tế là một chế định pháp lý
ghi nhận trong Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 Vùng đặcquyền kinh tế là một vùng đặc biệt, trong đó quốc gia ven biển thực hiện thẩmquyền riêng biệt của mình nhằm mục đích kinh tế, được quy định bởi Công ước,
mà không chia sẻ với các quốc gia khác
Xét về chế độ pháp lý, trong vùng đặc quyền kinh tế, quốc gia ven biển cócác quyền sau:
+ Các quyền thuộc chủ quyền về việc thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản
lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật của vùng nước bêntrên đáy biển, của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạtđộng khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế, như việcsản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió
+ Quyền tài phán theo đúng những quy định thích hợp của Công ước về việc:Lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình; nghiên cứu khoahọc về biển; bảo vệ và gìn giữ môi trường biển
+ Các quyền và nghĩa vụ khác do Công ước quy định
Trong vùng đặc quyền kinh tế, tất cả các quốc gia, dù có biển hay không cóbiển, đều được hưởng các quyền tự do hàng hải và hàng không, quyền tự do đặt
Trang 9dây cáp và ống dẫn ngầm, cũng như quyền tự do sử dụng biển vào các mục đíchkhác hợp pháp về mặt quốc tế và gắn liền với việc thực hiện các quyền tự do này
và phù hợp với các quy định khác của Công ước, nhất là trong khuôn khổ việckhai thác các tàu thuyền, phương tiện bay và dây cáp, ống dẫn ngầm
Quốc gia ven biển quản lý các tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế:
+ Đối với các tài nguyên không sinh vật, quốc gia ven biển tự khai thác hoặccho phép quốc gia khác khai thác cho mình, đặt dưới quyền kiểm soát của mình;+ Đối với các tài nguyên sinh vật, quốc gia ven biển tự định ra tổng khốilượng có thể đánh bắt được, tự đánh giá khả năng thực tế của mình trong việckhai thác các tài nguyên sinh vật biển và ấn định số dư của quốc gia ven biểncho phép các quốc gia khác, thông qua các điều ước hoặc những thoả thuận liênquan, khai thác số dư của khối lượng cho phép đánh bắt này, có ưu tiên cho cácquốc gia không có biển hoặc các quốc gia bất lợi về mặt địa lý
Ngoài ra, quốc gia ven biển có nghĩa vụ thi hành các biện pháp thích hợp vềbảo tồn và quản lý, nhằm làm cho việc duy trì các nguồn lợi sinh vật trong vùngđặc quyền kinh tế của mình khỏi bị ảnh hưởng do khai thác quá mức Công ướcLuật biển năm 1982 có ghi nhận một loạt điều khoản cụ thể quy định các quyền
và nghĩa vụ của các quốc gia ven biển và các quốc gia khác trong việc bảo tồncác loài sinh vật biển cụ thể như: các loài cá di cư xa; các loài có vú ở biển; cácđàn cá vào sông sinh sản; các loài cá ra biển sinh sản; các loài định cư
- Thềm lục địa
Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 định nghĩa thềm lục địa
là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc giaven biển, trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia này chođến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộnglãnh hải 200 hải lý, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia này ở khoảng cáchgần hơn Trong trường hợp khi bờ ngoài của rìa lục địa của một quốc gia venbiển kéo dài tự nhiên vượt quá khoảng cách 200 hải lý tính từ đường cơ sở; quốcgia ven biển này có thể xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa của mình tớimột khoảng cách không vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cáchđường đẳng sâu 2.500m một khoảng cách không vượt quá 100 hải lý, với điềukiện tuân thủ các quy định cụ thể về việc xác định ranh giới ngoài của thềm lụcđịa trong Công ước Luật biển năm 1982 và phù hợp với các kiến nghị của ủyban Ranh giới thềm lục địa được thành lập trên cơ sở của Công ước
Đối với Việt Nam, Luật Biên giới quốc gia của nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam được Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17 tháng 6năm 2003 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2004 quy định: Thềm lục địa
là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa mởrộng ra ngoài lãnh hải cho đến bờ ngoài của rìa lục địa mà Việt Nam là quốc giaven bờ có chủ quyền, quyền tài phán được xác định theo Công ước của LiênHợp quốc về Luật biển năm 1982, trừ trường hợp điều ước quốc tế giữa Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan có quy định khác
Về mặt chế độ pháp lý của thềm lục địa:
Trang 10+ Quốc gia ven biển thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lụcđịa về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình;
+ Những quyền chủ quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa củamình là những đặc quyền, nghĩa là nếu quốc gia ven biển này không thăm dòthềm lục địa hay không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa (baogồm các tài nguyên không sinh vật và các tài nguyên sinh vật thuộc loài địnhcư), thì không ai có quyền tiến hành các hoạt động như vậy, nếu không có sựthoả thuận rõ ràng của các quốc gia đó;
+ Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không phụ thuộc vào
sự chiếm hữu thật sự hay danh nghĩa, cũng như vào bất cứ tuyên bố rõ ràng nào; + Tất cả các quốc gia đều có quyền lắp đặt các dây cáp và ống dẫn ngầm ởthềm lục địa Quốc gia đặt cáp hoặc ống dẫn ngầm phải thoả thuận với quốc giaven biển về tuyến đường đi của ống dẫn hoặc cáp;
+ Khi quốc gia ven biển tiến hành khai thác thềm lục địa ngoài 200 hải lý kể
từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải thì phải có một khoản đóng góptheo quy định của Công ước;
+ Các quyền của quốc gia ven biển đối với thềm lục địa không đụng chạmđến chế độ pháp lý của vùng nước ở phía trên hay của vùng trời trên vùng nướcnày;
+ Việc quốc gia ven biển thực hiện các quyền của mình đối với thềm lục địakhông được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền và các tự do khác của cácquốc gia khác đã được Công ước thừa nhận, cũng không được cản trở việc thựchiện các quyền này một cách không thể biện bạch được;
+ Quốc gia ven biển có đặc quyền cho phép và quy định việc khoan ở thềmlục địa bất kỳ vào mục đích gì
- Vịnh
Điều 7 của Công ước năm 1958 và Điều 10 Công ước của Liên Hợp quốc vềLuật biển năm 1982 định nghĩa: Vịnh là một vùng lõm sâu rõ rệt vào đất liền,chiều sâu của vùng lõm đó so sánh với chiều rộng ở ngoài cửa của nó đến mức
là nước của vùng lõm đó được bờ biển bao quanh và vùng đó lõm sâu hơn làmột sự uốn cong của bờ biển, diện tích của vịnh ít nhất cũng bằng diện tích mộtnửa hình tròn có đường kính là đường thẳng kẻ ngang qua cửa vào của vùnglõm, đường khép cửa vào tự nhiên của cửa vịnh không vượt quá 24 hải lý
Như vậy, vùng lõm chỉ được coi là một vịnh nếu thoả mãn hai điều kiện:
Thứ nhất, diện tích của vịnh ít nhất cũng bằng diện tích một nửa hình tròn có
đường kính là đường thẳng kẻ ngang qua cửa vào của vùng lõm Theo Điều 10khoản 3, diện tích của một vùng lõm được tính giữa ngấn nước triều thấp nhấtdọc theo bờ biển của vùng lõm và đường thẳng nối liền các ngấn nước triều thấpnhất ở các điểm của cửa vào tự nhiên Nếu do có các đảo mà một vùng lõm cónhiều cửa vào thì nửa hình tròn nói trên có đường kính bằng tổng số chiều dàicác đoạn thẳng cắt ngang các cửa vào đó
Trang 11Thứ hai, đường khép cửa vào tự nhiên của cửa vịnh không vượt quá 24 hải lý.
Trong trường hợp ngược lại, thì cần phải vạch các đoạn cơ sở thẳng dài 24 hải lý
ở phía trong cửa vịnh sao cho phía trong của nó có một diện tích tối đa
Vịnh có thể chỉ do một, hoặc do bờ biển của nhiều quốc gia bao bọc: mỗiquốc gia quy định lãnh hải của mình trong vịnh Các quốc gia có thể, bằng conđường thoả thuận hoặc do toà án, công nhận chế độ đồng sở hữu vịnh Vịnh Bắc
Bộ là vịnh nằm giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộnghòa nhân dân Trung Hoa; vịnh Thái Lan (còn gọi là vịnh Xiêm) là một biển nửakín, giới hạn bởi bờ biển của 4 nước: Thái Lan, Việt Nam, Malaixia vàcampuchia
Công ước năm 1982 không quy định về vịnh lịch sử hay vùng nước lịch sử,tuy nhiên theo tập quán và thực tiễn quốc tế, một vịnh được coi là lịch sử khi cósự:
+ Thực hiện chủ quyền một cách thực sự của quốc gia ven biển
+ Thực hiện việc sử dụng vùng biển này một cách liên tục, hòa bình và lâudài
+ Có sự chấp nhận, công khai hoặc sự im lặng không phản đối của các quốcgia khác, nhất là các quốc gia láng giềng và có quyền lợi tại vùng biển này
- Biển cả
Biển cả là vùng biển nằm ngoài các vùng biển thuộc phạm vi chủ quyền vàquyền tài phán quốc gia của các quốc gia ven biển Thuật ngữ biển cả chỉ ápdụng với cột nước bên trên đáy và lòng đất đáy đại dương
Biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù là những quốc gia có biểnhay không có biển Trong vùng biển này, tất cả các quốc gia đều được hưởngcác quyền tự do như:
+ Tự do nghiên cứu khoa học
Các quốc gia thực hiện các quyền tự do biển cả trên cơ sở tôn trọng và lưu ýtới lợi ích của cộng đồng quốc tế
Để đảm bảo trật tự, an toàn cho các hoạt động ở biển cả và bảo tồn tài nguyênsinh vật ở biển cả, Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982 ghinhận một loạt những quy định về:
+ Quy chế pháp lý đối với các loại tàu thuyền hoạt động ở biển cả; quyền vànghĩa vụ của quốc gia có tàu đối với tàu thuyền hoạt động ở biển cả;
Trang 12+ Việc ngăn chặn và cấm các hoạt động chuyên chở nô lệ, buôn bán bất hợppháp ma tuý và các chất kích thích, cướp biển, phát sóng truyền thanh, truyềnhình bất hợp pháp từ biển cả hướng vào đất liền;
+ Sự hợp tác giữa các quốc gia trong việc khai thác, bảo tồn và quản lý tàinguyên sinh vật ở biển cả
Ngoài ra, cần chú ý đến quyền khám xét và quyền truy đuổi tàu thuyền nướcngoài trong biển cả
- Đáy đại dương
Đáy đại dương là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài các vùngbiển thuộc quyền tài phán quốc gia, được gọi là Vùng theo quy định Công ướccủa Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982
+ Vùng và tài nguyên của Vùng bao gồm các tài nguyên khoáng sản ở thểrắn, lỏng hoặc khí, kể cả các khối đa kim nằm ở đáy đại dương và trong lòng đấtdưới đáy - là di sản chung của nhân loại;
+ Việc thăm dò, khai thác tài nguyên của Vùng được tiến hành thông qua một
tổ chức quốc tế, gọi là Cơ quan quyền lực quốc tế (ta quen gọi là Cơ quan quyềnlực
Đáy đại dương) Cơ quan quyền lực quốc tế bảo đảm việc phân chia công bằng, trên cơ sở không phân biệt đối xử, những lợi ích tài chính và các lợi ích kinh tế khác do những hoạt động tiến hànhtrong Vùng thông qua bộ máy của mình;
+ Cơ quan quyền lực có quyền định ra các quy tắc, quy định và thủ tục thíchhợp cho việc sử dụng Vùng vào mục đích hoà bình, ngăn ngừa, hạn chế và chếngự ô nhiễm môi trường biển, bảo vệ sự sống của con người, bảo vệ và bảo tồncác tài nguyên thiên nhiên của Vùng, phòng ngừa những thiệt hại đối với hệđộng vật và hệ thực vật
- Quyền và nghĩa vụ của các quốc gia không có biển
Các quốc gia không có biển có quyền đi ra biển và đi từ biển vào để thực hiệncác quyền mà những quốc gia này được hưởng theo Công ước của Liên Hợpquốc về Luật biển năm 1982, kể cả các quyền liên quan tới tự do trên biển cả vàliên quan đến những lợi ích phát sinh từ chế độ di sản chung của nhân loại;
Các quốc gia không có biển thực hiện quyền đi ra biển thông qua những thoảthuận trực tiếp, phân khu vực hay khu vực với quốc gia láng giềng có biển -được gọi là quốc gia quá cảnh;
Quốc gia quá cảnh có quyền định ra mọi biện pháp cần thiết để đảm bảo rằngcác quyền và các điều kiện thuận lợi được quy định trong Công ước vì lợi íchcủa quốc gia không có biển không hề đụng chạm đến các quyền lợi chính đángcủa quốc gia quá cảnh
- Chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán
Theo Công ước về Luật biển của Liên Hợp quốc năm 1982, chủ quyền của quốcgia ven biển là quyền tối cao của quốc gia được thực hiện trong phạm vi vùngbiển của quốc gia đó Các quốc gia ven biển có chủ quyền đối với vùng nước nội
Trang 13thủy và lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời bên trên, vùng đáy biển vàlòng đất dưới đáy biển bên dưới các vùng nước đó.
Quyền chủ quyền là các quyền của quốc gia ven biển được hưởng trên cơ sởchủ quyền đối với mọi loại tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế
và thềm lục địa của mình, cũng như đối với những hoạt động nhằm thăm dò vàkhai thác vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia đó vì mục đíchkinh tế, bao gồm cả việc sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu, gió
Quyền tài phán là thẩm quyền riêng biệt của quốc gia ven biển được quyđịnh, cấp phép, giải quyết và xử lý đối với một số loại hình hoạt động, các đảonhân tạo, thiết bị và công trình trên biển, trong đó có việc lắp đặt và sử dụng cácđảo nhân tạo các thiết bị và công trình; nghiên cứu khoa học về biển, bảo vệ vàgìn giữ môi trường biển trong vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của quốcgia đó
Ngoài các quyền đã liệt kê ở trên, trong vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia venbiển còn có một số thẩm quyền riêng biệt nhằm ngăn ngừa và trừng trị các viphạm đối với các quy định về hải quan, thuế khoá, nhập cư hay y tế trên lãnh thổhay trong lãnh hải của mình, cũng như thẩm quyền đối với các hiện vật lịch sử
và khảo cổ dưới đáy biển của khu vực này
Theo Công ước về Luật biển của Liên Hợp quốc năm 1982, chủ quyền quốc giatrên biển lại giảm dần từ đất liền ra hướng biển có nghĩa là: Các nước ven biển
có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối với vùng nội thủy (như trên đất liền), hoàntoàn và đầy đủ đối với lãnh hải (trừ quyền tự do hàng hải không gây hại của tàuthuyền các nước) Tại vùng tiếp giáp, các nước ven biển chỉ có thẩm quyền kiểmtra, giám sát việc thi hành pháp luật liên quan đến hải quan, thuế khóa, nhập cư
và vệ sinh dịch tễ Tại vùng đặc quyền kinh tế các nước ven biển chỉ có quyềnchủ quyền và quyền tài phán quốc gia với một số hoạt động nhất định, trong đó
có đặc quyền thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên, sinhvật hoặc không sinh vật, nghiên cứu khoa học, lắp đặt các công trình nhân tạo cũng như những hoạt động khác vì mục đích kinh tế, nguồn lợi của biển Trênthềm lục địa các quốc gia ven biển có quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia
và độc quyền khai thác tài nguyên sinh vật thuộc đáy biển, khoáng sản thuộclòng đất dưới đáy biển
2 Hệ thống pháp luật về biển của Việt Nam
Để bảo vệ chủ quyền vùng biển nước ta, ngày 12 tháng 5 năm 1977, Chính phủnước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếpgiáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam
Ngày 12 tháng 11 năm 1982, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam đã tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của ViệtNam
Quốc hội nước ta đã phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển
1982 vào ngày 23 tháng 6 năm 1994 Công ước này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 16tháng 11 năm 1994 Nhà nước ta đã chính thức hóa cơ sở pháp lý quốc tế vềphạm vi các vùng biển và thềm lục địa, tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong cuộc
Trang 14đấu tranh bảo vệ chủ quyền vùng biển và thềm lục địa, bảo vệ lợi ích quốc giatrên các vùng biển, đảo Đồng thời, thể hiện quyết tâm của Việt Nam cùng cộngđồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển
và hợp tác trên biển
Ngày 18 tháng 12 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị định
số 161/2003/NĐCP về Quy chế khu vực biên giới biển gồm 5 chương, 37 điều quy định hoạt động của người, tàu thuyền Việt Nam, tàu thuyền nước ngoàitrong khu vực biên giới biển nhằm quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia trên biển,duy trì an ninh trật tự an toàn xã hội trong khu vực biên giới biển
-Trước nguy cơ cạn kiệt dần tài nguyên trên đất liền, sự bùng nổ dân số chưakiểm soát được và sự ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, việc quan tâmđến khai thác sử dụng biển hợp lý kết hợp chặt chẽ với bảo vệ quốc phòng - anninh trên biển và bảo vệ môi trường biển là vấn đề quan trọng để phát triển bềnvững Những năm gần đây, Nhà nước ta tổ chức tốt việc khai thác biển, đặc biệt
là dầu khí, hải sản, giao thông vận tải phục vụ quốc kế dân sinh
Hệ thống pháp luật về biển của Việt Nam có thể được phân loại theo các lĩnhvực sau:
- Pháp luật về bảo vệ chủ quyền và an ninh trên biển (Ví dụ: Tuyên bố ngày12-5-1977 của Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải,vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam; LuậtBiên giới quốc gia - 2003 )
- Pháp luật về khai thác tài nguyên thiên nhiên trên biển (Luật Thủy sản, LuậtDầu khí )
- Pháp luật về nghiên cứu khoa học biển (Nghị định 242/HĐBT ngày 1991 )
5-8 Pháp luật về du lịch biển, đảo Việt Nam (Luật Du lịch )
- Pháp luật về giao thông, vận tải biển (Bộ Luật Hàng hải )
- Pháp luật về đảm bảo trật tự, an toàn trên biển (Pháp lệnh lực lượng cảnh sátbiển )
- Pháp luật về bảo vệ môi trường biển (Luật Bảo vệ môi trường - 2005 ).Sau khi được ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam chuẩn y, ngày 12 tháng 5 năm 1977, Chính phủ đã tuyên bố quy định
các vùng biển và thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namnhư sau:
1 Lãnh hải của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý, ởphía ngoài đường cơ sở nối liền các điểm nhô ra nhất của bờ biển và các điểmngoài cùng của các đảo ven bờ của Việt Nam tính từ ngấn nước thủy triều thấpnhất trở ra
Vùng biển ở phía trong đường cơ sở và giáp với bờ biển là nội thủy của nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ vàtoàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và lòngđất dưới đáy biển của lãnh hải
Trang 152 Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam làvùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợpvới lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sởdùng để tính chiều rộng lãnh hải của Việt Nam.
Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện sự kiểm soátcần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình, nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệcác quyền lợi về hải quan, thuế khoá, đảm bảo sự tôn trọng các quy định về y tế,
về di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam
3 Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải ViệtNam thành một vùng biển rộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiềurộng lãnh hải Việt Nam
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việcthăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật
và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển củavùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; có quyền và thẩm quyền riêng biệt về cáchoạt động khác phục vụ cho việc thăm dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tếnhằm mục đích kinh tế; có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học trongvùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam có thẩm quyền bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm trong vùng đặc quyềnkinh tế của Việt Nam
4 Thềm lục địa của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáybiển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam
mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải ViệtNam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từđường cơ sở đó
Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặtthăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềmlục địa Việt Nam bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật vàtài nguyên sinh vật thuộc loại định cư ở thềm lục địa Việt Nam
5 Các đảo và quần đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam ở ngoài vùng lãnh hải nói ởĐiều 1 có lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêngnhư đã quy định trong các điều 1, 2, 3, và 4 của Tuyên bố này
6 Xuất phát từ các nguyên tắc của Tuyên bố này, các vấn đề cụ thể liên quantới lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ được quy định chi tiết thêm trên cơ sởbảo vệ chủ quyền và lợi ích của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam vàphù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế
7 Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ cùng các nướcliên quan, thông qua thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của
Trang 16nhau, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế, giải quyết các vấn đề về cácvùng biển và thềm lục địa của mỗi bên.
Thực hiện Điểm 1 trong Tuyên bố ngày 12 tháng 5 năm 1977 của Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địacủa Việt Nam đã được ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam chuẩn y, ngày 12 tháng 11 năm 1982, Chính phủ nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam công bố đường cơ sở dùng để tính chiều rộnglãnh hải Việt Nam như sau:
1 Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của lục địa Việt Nam làđường thẳng gãy khúc nối liền các điểm có tọa độ ghi trong phụ lục kèm theoTuyên bố này
2 Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam từ điểm tiếp giáp
0 của hai đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Campuchia nằm giữa biển,trên đường thẳng nối liền quần đảo Thổ Chu và đảo Poulo Wai, đến đảo Cồn Cỏtheo các tọa độ ghi trong phụ lục nói trên được vạch trên các bản đồ tỷ lệ 1-100.000 của Hải quân nhân dân Việt Nam xuất bản năm 1979
3 Vịnh Bắc Bộ là vịnh nằm giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa Đường biên giới giữa Việt Nam vàTrung Quốc trong vịnh đã được quy định trong Công ước về hoạch định biêngiới giữa Việt Nam và Trung Quốc do Pháp và nhà Thanh ký ngày 26 tháng 6năm 1887
Phần vịnh thuộc phía Việt Nam là vùng nước lịch sử theo chế độ nội thủy củanước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Đường cơ sở từ đảo Cồn Cỏ đến cửa vịnh sẽ được công bố sau khi vấn đề cửavịnh được giải quyết
4 Đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của các quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa sẽ được quy định cụ thể trong một văn kiện tiếp theo phù hợp vớiĐiểm 5 của bản Tuyên bố ngày 12 tháng 5 năm 1977 của Chính phủ nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
5 Vùng nước phía trong đường cơ sở và giáp với bờ biển, hải đảo của ViệtNam là nội thủy của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
6 Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẽ cùng các nướcliên quan, thông qua thương lượng trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền củanhau, phù hợp với luật pháp và tập quán quốc tế, giải quyết các vấn đề bất đồng
về các vùng biển và thềm lục địa của mỗi bên
Căn cứ vào Điều 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam năm 1992; theo đề nghị của Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam; sau khi xem xét báo cáo của Chính phủ, báo cáo của ủy ban Đối ngoại củaQuốc hội và ý kiến của các đại biểu Quốc hội về việc phê chuẩn Công ước củaLiên Hợp quốc về Luật biển năm 1982, ngày 23 tháng 6 năm 1994, Quốc hội
Trang 17nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 5 thông quanghị quyết gồm những nội dung sau:
1 Phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982
2 Bằng việc phê chuẩn Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm 1982,nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồngquốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển vàhợp tác trên biển
3 Quốc hội khẳng định chủ quyền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam đối với các vùng nội thủy, lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đốivới vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Namtrên cơ sở các quy định của Công ước và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế;yêu cầu các nước khác tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam
4 Quốc hội một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với haiquần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và chủ trương giải quyết các tranh chấp về chủquyền lãnh thổ cũng như các bất đồng khác liên quan đến Biển Đông thông quathương lượng hoà bình trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau,tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên Hợp quốc về Luậtbiển năm 1982, tôn trọng quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước venbiển đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; trong khi nỗ lực thúc đẩyđàm phán để tìm giải pháp cơ bản và lâu dài, các bên liên quan cần duy trì ổnđịnh trên cơ sở giữ nguyên trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tìnhhình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực
Quốc hội nhấn mạnh: cần phân biệt vấn đề giải quyết tranh chấp về quần đảoHoàng Sa, quần đảo Trường Sa với vấn đề bảo vệ các vùng biển và thềm lục địathuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam căn cứ vàonhững nguyên tắc và những tiêu chuẩn của Công ước Liên Hợp quốc về Luậtbiển năm 1982
5 Quốc hội giao cho ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ nghiên cứu
để có những sửa đổi, bổ sung cần thiết đối với các quy định liên quan của phápluật quốc gia cho phù hợp với Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển năm
1982, bảo đảm lợi ích của Việt Nam
Quốc hội giao cho Chính phủ thi hành những biện pháp có hiệu quả nhằmtăng cường bảo vệ và quản lý các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam
Đến nay, Việt Nam đã ký kết 5 hiệp định và thỏa thuận với các nước lánggiềng có bờ biển liền kề hoặc kế cận Đó là các nước Trung Quốc, Malaixia,Inđônêxia, Thái Lan và Campuchia
Thỏa thuận về hợp tác thăm dò khai thác chung vùng chồng lấn Việt Nam Malaixia.
-Giữa Việt Nam và Malaixia tồn tại một vùng chồng lấn thềm lục địa rộngkhoảng 2.800km2, đây là một khu vực có diện tích không lớn nhưng có tiềm năng
về dầu khí Ngày 5 tháng 6 năm 1992, tại Kuala Lampur, hai bên đã ký Bản thỏathuận về hợp tác thăm dò khai thác chung vùng chồng lấn Thỏa thuận này có
Trang 18nội dung chính là xác định khu vực chồng lấn giữa thềm lục địa hai nước và xâydựng cơ chế hợp tác khai thác thăm dò dầu khí trong khu vực này.
- Hiệp định về phân định ranh giới trên biển Việt Nam - Thái Lan
Việt Nam và Thái Lan trước đây còn có bất đồng trong việc phân định biêngiới biển giữa hai nước trong vịnh Thái Lan Bất đồng này đã được giải quyếtngày 9 tháng 8 năm 1997 bằng Hiệp định về biên giới biển Việt Nam - Thái Lanđược ký kết ngày 9 tháng 8 năm 1997 Hiệp định này đã xác định đường biêngiới biển đồng thời phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hainước
- Hiệp định về vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia
Việt Nam và Campuchia là hai nước láng giềng có vùng biển kế cận nhau.Trong lịch sử, hai bên có vấn đề tranh chấp chủ quyền một số đảo ven bờ vàchưa tiến hành đàm phán phân định ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế
và thềm lục địa Ngày 7 tháng 7 năm 1982, hai bên đã ký Hiệp định về vùngnước lịch sử, trong đó xác định rõ chủ quyền đảo của mỗi bên, thiết lập mộtvùng nước lịch sử chung hai bên cùng nhau kiểm soát và quản lý; các hoạt độngđánh bắt hải sản được thực hiện theo tập quán cũ
- Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam - Trung Quốc
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, có chung đường biên giới.Giữa hai nước tồn tại một số vấn đề biên giới cả trên đất liền lẫn trên biển đangtrong quá trình giải quyết Tiếp theo việc hai nước ký Hiệp ước về biên giới trênđất liền năm 1999, trong năm 2000 hai nước cũng đã hoàn tất quá trình đàmphán kéo dài 27 năm từ năm 1974 và ký kết Hiệp định về phân định lãnh hải,vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong vịnh Bắc Bộ Nội dung chính củaHiệp định này là nhằm xác định đường biên giới lãnh hải và ranh giới đơn nhấtcho cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong vịnh Bắc Bộ
- Hiệp định phân định thềm lục địa giữa hai nước Việt Nam - Inđônêxia
Trước khi tiến hành đàm phán phân định, giữa hai nước tồn tại một vùngchồng lấn khoảng 98.000km2 Qua nhiều vòng đàm phán, vùng chồng lấn này đãdần được thu hẹp lại Kết quả cuối cùng là việc ký kết Hiệp định ngày 26 tháng
6 năm 2003 đã thiết lập thành công đường ranh giới thềm lục địa Việt Nam Inđônêxia
-II Vị trí, vai trò và tiềm năng của vùng biển việt nam
1 Vị trí, vai trò của biển Việt Nam
Biển có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và anninh - quốc phòng đối với các quốc gia có biển nói riêng và của thế giới nóichung Từ trước đến nay, biển luôn là vấn đề được các quốc gia đặc biệt quantâm Một số nước và vùng lãnh thổ đã lợi dụng thế mạnh về biển đạt trình độphát triển kinh tế rất cao Do tầm quan trọng của biển, từ lâu cuộc chạy đua
Trang 19trong sự phát triển kinh tế biển cũng như triển khai lực lượng quân sự trên biển và
sự tranh chấp trên biển diễn ra rất gay gắt
Thế kỷ XXI được các nhà chiến lược xem là ''Thế kỷ của đại dương'', bởicùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân số hiện nay, nguồn tài nguyên thiênnhiên, nhất là tài nguyên không tái tạo được trên đất liền sẽ bị cạn kiệt sau vài bathập kỷ tới Trong bối cảnh đó, các nước có biển, nhất là các nước lớn đều vươn
ra biển, xây dựng chiến lược biển, tăng cường tiềm lực mọi mặt để khai thác vàkhống chế biển Riêng trong lĩnh vực khai thác tài nguyên, các nước, nhất là cácnước lớn đều có thiên hướng bảo tồn tài nguyên trên đất liền và vùng biển củamình, vươn ra điều tra, khai thác tài nguyên trên đại dương
Do ý nghĩa và vai trò quan trọng của biển nên sự hợp tác quốc tế về biển cũngkhông ngừng được mở rộng, bao gồm việc xây dựng khuôn khổ pháp lý mà tậptrung nhất là Công ước biển năm 1982 của Liên Hợp quốc, hình thành các cơchế, tổ chức hợp tác toàn cầu và khu vực
Việt Nam là một quốc gia ven biển có những ưu thế và vị trí chiến lược đặcbiệt quan trọng đối với khu vực và trên thế giới Trong lịch sử hàng nghìn nămdựng nước và giữ nước của dân tộc, biển luôn gắn liền với quá trình xây dựng vàphát triển của đất nước và con người Việt Nam
Chính vì vậy, việc xây dựng, quản lý, phát triển và bảo vệ quyền lợi biển làvấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với việc gìn giữ toàn vẹn chủ quyền quốc gia,giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong thời
kỳ mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế
Biển Đông là một biển lớn của Thái Bình Dương, có diện tích khoảng3.448.000km2, được bao bọc bởi 10 nước và vùng lãnh thổ (Việt Nam, TrungQuốc, Malaixia, Inđônêxia, Philíppin, Brunây, Thái Lan, Campuchia, Xingapo
và Đài Loan); là một trong 6 biển lớn nhất của thế giới, có vị trí quan trọng đốivới cả khu vực và thế giới Theo ước tính sơ bộ, Biển Đông có ảnh hưởng trựctiếp tới cuộc sống của khoảng 300 triệu dân của các nước và vùng lãnh thổ trongkhu vực này
Biển Đông được coi là con đường chiến lược về giao lưu và thương mại quốc
tế, là tuyến hàng hải quan trọng thông thương giữa ấn Độ Dương và Thái BìnhDương Hầu hết các nước trong khu vực châu á - Thái Bình Dương đều có cáchoạt động thương mại hàng hải rất mạnh mẽ trên Biển Đông Cho nên, BiểnĐông được coi là con đường huyết mạch chiến lược về giao thông thương mại
và vận chuyển quân sự quốc tế Trong 10 tuyến đường biển quốc tế lớn nhất thếgiới hiện nay, có 5 tuyến đi qua Biển Đông hoặc có liên quan đến Biển Đông.Trong lịch sử, Biển Đông nhiều lần là trọng điểm của những cuộc tranh chấpquốc tế gay go, quyết liệt Ngay từ thế kỷ XIV - XV, Tây Ban Nha đã tới đâytranh giành những vùng đất màu mỡ ở Philíppin, Inđônêxia Đầu thế kỷ XVIIđến cuối thế kỷ XVIII là đế quốc Hà Lan; thế kỷ XIX, XX là Pháp, Nhật, Mỹ lầnlượt bành trướng, xâm chiếm hoặc gây chiến tranh chống một số nước quanhkhu vực Biển Đông
Do những tồn tại của lịch sử để lại hơn một trăm năm nay, cùng với sự pháttriển của luật pháp quốc tế về biển và đặc điểm vị trí địa lý của Biển Đông, nên
Trang 20giữa các nước trong khu vực còn tồn tại một số vấn đề tranh chấp hoặc chưathống nhất cần được giải quyết trên các vùng biển và thềm lục địa Đặc biệt, từnửa cuối thế kỷ XX đến nay, cuộc chạy đua tìm kiếm, khai thác dầu lửa và cácnguồn nguyên liệu chiến lược ở Biển Đông càng làm cho vấn đề tranh chấp chủquyền ở đây thêm gay gắt và phức tạp
Biển Đông có vị trí địa kinh tế và chính trị quan trọng như vậy, nên từ lâu đã
là nhân tố không thể thiếu trong chiến lược phát triển không chỉ của các nướcxung quanh Biển Đông mà còn của một số cường quốc hàng hải khác trên thếgiới
Việt Nam là quốc gia nằm bên bờ Biển Đông, có vùng biển rộng trên 1 triệu
km2 Bờ biển Việt Nam dài trên 3.260km ở cả 3 hướng: Đông, Nam và TâyNam, trung bình khoảng 100km2 đất liền có 1km bờ biển (cao gấp 6 lần tỉ lệ nàycủa thế giới), không một nơi nào trên đất nước ta lại cách xa biển hơn 500km.Ven bờ có khoảng 3.000 hòn đảo lớn, nhỏ các loại, chủ yếu nằm ở vịnh Bắc Bộ,với diện tích khoảng 1.700km2, trong đó, có 3 đảo có diện tích lớn hơn 100km2,
23 đảo có diện tích lớn hơn 10km2, 82 đảo có diện tích lớn hơn 1km2 và khoảngtrên 1.400 đảo chưa có tên Vì vậy, biển đã gắn bó mật thiết và ảnh hưởng lớnđến sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh, bảo vệ môitrường của mọi miền đất nước
Vùng biển và ven biển Việt Nam nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàngkhông huyết mạch thông thương giữa ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữachâu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khuvực Biển Đông đóng vai trò là chiếc ''cầu nối'' cực kỳ quan trọng, là điều kiệnrất thuận lợi để giao lưu kinh tế, hội nhập và hợp tác giữa nước ta với các nướctrên thế giới, đặc biệt là với các nước trong khu vực châu á - Thái Bình Dương,khu vực phát triển kinh tế năng động và có một số trung tâm kinh tế lớn của thếgiới Biển và vùng ven biển là cửa mở lớn, là ''mặt tiền'' quan trọng của đất nước
để thông ra Thái Bình Dương và mở cửa mạnh mẽ ra nước ngoài So với cácvùng khác trong nội địa, vùng ven biển gồm hầu hết các đô thị lớn có kết cấu hạtầng khá tốt; có các vùng kinh tế trọng điểm của cả nước đang được đầu tư pháttriển mạnh; có nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng, trong đó một số loại cóthể trở thành mũi nhọn để phát triển; có nguồn lao động dồi dào và hệ thống giaothông đường sắt, đường thủy, đường bộ thuận tiện; là môi trường hết sức thuậnlợi để tiếp nhận các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước, tiếp thu công nghệtiên tiến và kinh nghiệm quản lý hiện đại của nước ngoài, từ đó lan toả ra cácvùng khác trong nội địa Có thể nói, vùng ven biển là vùng có nhiều lợi thế hơnhẳn các vùng khác để phát triển kinh tế nhanh
Sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng các tuyến đường bộ, đường sắt dọcven biển và nối với các vùng sâu trong nội địa (đặc biệt là các tuyến đườngxuyên á) sẽ cho phép vùng biển và ven biển nước ta có khả năng chuyển tải hànghoá xuất, nhập khẩu tới mọi miền của Tổ quốc, đồng thời thu hút cả vùng TâyNam Trung Quốc, Lào, Đông Bắc Thái Lan và Campuchia Hiện nay, các nướctrong khu vực đang tích cực khởi động chương trình phát triển Tiểu vùng MêCông, ta và Trung Quốc đang hợp tác xây dựng và thực hiện chương trình Vành
Trang 21đai kinh tế vịnh Bắc Bộ, coi đó là một cực tăng trưởng mới trong khuôn khổ củaKhu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc
Chính vì vậy, trong Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, phải phấn đấu
để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vữngchắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định
và phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảmbảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường; có chính sách hấp dẫn nhằm thuhút mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế biển; xây dựng các trung tâm kinh tếlớn vùng duyên hải gắn với các hoạt động kinh tế biển làm động lực quan trọngđối với sự phát triển của cả nước
2 Tiềm năng và nguồn tài nguyên của biển Việt Nam
Nước ta có bờ biển dài khoảng 3.260km, trải dài trên 13 vĩ độ, có tỷ lệ chiềudài đường biển trên diện tích đất liền cao nhất Đông Nam á và đứng thứ 27/157nước có biển trên thế giới (trung bình của thế giới là 600km2 đất liền/1km bờbiển, Việt Nam là 100km2 đất liền/1km bờ biển) Biển nước ta có khoảng 4.000hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Hơn 3.000hòn đảo ven bờ chủ yếu nằm ở vịnh Bắc Bộ; đảo nổi của nước ta có diện tíchkhoảng 1.700km2, trong đó có 3 đảo diện tích lớn hơn 100km2 (Phú Quốc, CáiBầu, Cát Bà)
Theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật biểnnăm 1982 thì nước Việt Nam ngày nay không chỉ có phần lục địa "hình chữ S" mà còn có cả vùng biển rộng trên một triệu km2, gấp hơn 3 lần diện tích đất liền Biển, đảo là một bộ phận cấuthành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môitrường sinh tồn và phát triển đời đời của dân tộc ta
Đến nay, kết quả thăm dò, khảo sát cho thấy, tiềm năng tài nguyên biển củanước ta tuy không được coi là vào loại giàu có của thế giới, nhưng cũng rất đáng
kể và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển của đất nước Khu vựcven bờ biển nước ta nhiều đảo có giá trị kinh tế cao về tiềm năng phát triển dulịch, khu sinh thái Dọc bờ biển có một số trung tâm đô thị lớn, có trên 100 địađiểm có thể xây dựng cảng, trong đó, một số nơi có khả năng xây dựng cảng quy
mô tương đối lớn (kể cả cấp trung chuyển quốc tế); có nhiều bãi biển lớn và nhỏ,cảnh quan đẹp, trong đó, có những bãi biển đủ tiêu chuẩn quốc tế để phát triểncác loại hình du lịch biển Ngoài ra, ven bờ biển có nhiều khoáng sản quan trọngphục vụ phát triển công nghiệp như than, sắt, titan, cát thủy tinh, các loại vật liệuxây dựng khác và khoảng 5 - 6 vạn héc-ta ruộng muối biển Nguồn tài nguyênbiển có giá trị và trữ lượng tương đối lớn của vùng biển nước ta là dầu thô và khíđốt thuộc thềm lục địa lãnh thổ nước ta Biển Việt Nam có hơn 2.000 loài cá,trong đó có gần 130 loài cá giá trị kinh tế cao và hàng trăm loài được đưa vàosách đỏ Việt Nam và thế giới, 1.600 loài giáp xác, 2.500 loài thân mềm, cho khaithác 45.000 - 50.000 tấn rong biển…
Vùng ven biển Việt Nam có dân cư tập trung khá đông đúc, chiếm phần lớn dân số và nguồn lao động cả nước Dự báo trong
Trang 22những năm tới, dân số vùng ven biển ngày càng tăng Đây là nguồn lực lao độngdồi dào để thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển kinh tế biển trong thời kỳmới.
Vị trí địa lý và hình dáng vùng biển nước ta có ảnh hưởng sâu sắc tới sự hìnhthành các đặc điểm tự nhiên, từ đó ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương thứckhai thác tài nguyên Nét độc đáo của vị trí địa lý vùng biển nước ta ở chỗ: đây
là nơi gặp gỡ, giao thoa của nhiều hệ thống tự nhiên, văn hoá lớn trên thế giới.Trong tình hình hiện nay, đây là nơi có sự phát triển hoà bình, hội nhập và ổnđịnh ở khu vực, nơi hội tụ nhiều cơ hội của phát triển Tuy nhiên, ở đây vẫn còntồn tại tranh chấp chủ quyền biển, đảo, là nhân tố - nguy cơ gây mất ổn định,khó lường Điều này luôn đặt ra những khó khăn thách thức, cũng như nhữngthuận lợi đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của nước ta
Như vậy, nước ta có diện tích vùng biển rộng lớn, với nhiều tiềm năng tàinguyên thiên nhiên Biển có ý nghĩa to lớn để nước ta phát triển, mở cửa giaolưu với quốc tế và ngày càng có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh
tế đất nước và tăng cường an ninh, quốc phòng
Biển Việt Nam có tiềm năng tài nguyên phong phú, đặc biệt là dầu mỏ, khíđốt và các nguyên liệu chiến lược khác, đảm bảo cho an ninh năng lượng quốc
tự chủ hơn trong phát triển kinh tế Cùng với đất liền, vùng biển nước ta nằm ở nơi tiếp giáp giữa Đông Nam á lục địa và Đông Nam áhải đảo, một khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, một thị trường có sức mua khálớn, một vùng kinh tế nhiều thập kỷ phát triển năng động Thềm lục địa ViệtNam có nhiều bể trầm tích chứa dầu khí và có nhiều triển vọng khai thác nguồnkhoáng sản này Tổng trữ lượng dầu khí ở biển Việt Nam ước tính khoảng 10 tỉtấn dầu quy đổi Khi ngành công nghiệp khai thác dầu khí phát triển kéo theo sựphát triển của một số ngành khác như công nghiệp hoá dầu, giao thông vận tải,thương mại trong nước và khu vực
Ngoài dầu mỏ, biển Việt Nam còn có nhiều mỏ sa khoáng và cát thủy tinh cótrữ lượng khai thác công nghiệp và làm vật liệu xây dựng Tiềm năng về khí -điện - đạm và năng lượng biển cũng rất lớn như năng lượng gió, năng lượng mặttrời, thủy triều, sóng và cả thủy nhiệt
Biển Việt Nam nằm ở vị trí có nhiều tuyến đường biển quan trọng của khuvực cũng như của thế giới, giữ một vai trò rất lớn trong vận chuyển lưu thônghàng hóa thương mại phục vụ đắc lực cho xây dựng nền kinh tế của nước tacũng như các nước quanh bờ Biển Đông Biển Việt Nam nối thông với nhiềuhướng, từ các hải cảng ven biển của Việt Nam thông qua eo biển Malắcca để điđến ấn Độ Dương, Trung Đông, châu Âu, châu Phi; qua eo biển Basi có thể đivào Thái Bình Dương đến các cảng của Nhật Bản, Nga, Nam Mỹ và Bắc Mỹ; quacác eo biển giữa Philíppin, Inđônêxia, Xingapo đến Ôxtrâylia và Niudilân Đây
là điều kiện rất thuận lợi để ngành giao thông vận tải biển nước ta phát triển,thúc đẩy giao lưu kinh tế, văn hoá giữa nước ta với các nước khác trong khu vực
và trên thế giới
Trang 23Hệ thống cảng của nước ta gồm cảng biển và cảng sông với khoảng trên 90cảng lớn nhỏ; những cảng lớn chủ yếu nằm ở ranh giới châu thổ thủy triều vàchâu thổ bồi tụ, nên tàu ra vào cảng phải đi theo luồng lạch và phụ thuộc vàomức nước thủy triều Ven biển miền Trung có nhiều vũng, vịnh nước rất sâu, cóđiều kiện thuận lợi để phát triển cảng biển, trong đó có các cảng trung chuyểncôngtenơ tầm cỡ quốc tế; đồng thời cũng rất thuận lợi để xây dựng các cơ sởđóng tàu quy mô lớn, cũng như xây dựng đội thương thuyền đủ mạnh để buônbán trên thế giới Sự hình thành mạng lưới cảng biển cùng với các tuyến đường
bộ, đường sắt ven biển vươn tới các vùng sâu trong nội địa, đến các tuyến đườngxuyên á cho phép vùng biển và ven biển nước ta có khả năng chuyển tải hànghóa xuất khẩu và nhập khẩu qua mọi miền của Tổ quốc và ra nước ngoài, đếnTrung Quốc, Lào, Thái Lan và Campuchia, góp phần thúc đẩy cực tăng trưởngmới về kinh tế trong khuôn khổ khu vực mậu dịch tự do giữa các nước ASEAN
và Trung Quốc
Dọc theo bờ biển, trung bình khoảng 20km lại có một cửa sông Phần lớn cácsông ngòi đều chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và đổ ra biển Các hệthống sông vùng duyên hải Quảng Ninh, sông Hồng, sông Mã, sông Cả, sôngĐồng Nai - Vàm Cỏ, sông Cửu Long có nhiều cửa thông ra biển thuận tiện chogiao thông đường thủy từ đất liền ra biển và ngược lại Các cửa sông với lượngphù du lớn và rất phong phú đổ ra biển đã tạo thuận lợi cho việc phát triển nguồnlợi thủy sản
Biển nước ta chủ yếu là vùng biển nhiệt đới mang tính chất địa phương, cótính chất riêng về nhiều mặt như khí tượng - hải văn, chế độ thủy triều Hiệntượng nổi bật là sự xuất hiện vùng nước trồi - một vùng sinh thái đặc biệt phongphú, đa dạng và là nơi tập trung nhiều loài sinh vật biển Nguồn lợi hải sản củabiển nước ta được đánh giá vào loại phong phú trong khu vực Tổng trữ lượnghải sản khoảng 3,9 - 4,0 triệu tấn/năm, cho phép hàng năm khai thác 1,9 triệutấn, trong đó vùng biển gần bờ chỉ khoảng 500 nghìn tấn, còn lại là vùng xa bờ;
cá biển chiếm 95,5%, còn lại là mực, tôm Biển nước ta có trên 2.000 loài cá,trong đó có khoảng 100 loài có giá trị kinh tế như: trích, thu, ngừ, bạc má,hồng ; hơn 1.600 loài giáp xác (trong đó có tới 70 loài tôm), hơn 2.500 loàinhuyễn thể; hơn 600 loài rong biển
Diện tích tiềm năng nuôi trồng thủy sản của nước ta khoảng 2 triệu héc-ta,bao gồm 3 loại hình mặt nước đó là nước ngọt, nước lợ và vùng nước mặn ven
bờ, có thể nuôi trồng các loại đặc sản như tôm, cua, rong câu, nuôi cá lồng Ngoài ra, vùng biển nước ta còn có các loại động vật quý khác như đồi mồi, rắnbiển, chim biển, thú biển Hải sản ở vùng biển nước ta là nguồn lợi hết sức quantrọng, không chỉ cung cấp thực phẩm, nguồn dinh dưỡng hàng ngày cho nhândân mà còn tạo nguồn xuất khẩu lớn
Ngoài ra, nước ta còn có rất nhiều lợi thế về du lịch biển Với nhiều trung tâm
du lịch biển quan trọng có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trên tuyến du lịch quốc tếĐông Nam á như Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Nẵng, Huế, Hải Phòng, QuảngNinh có đủ các điều kiện và khả năng để trở thành những tụ điểm về du lịchbiển Vùng biển nước ta có điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên thuận
Trang 24lợi cho phát triển nhiều loại hình du lịch Phần lục địa với các hình đồi, núi,đồng bằng đa dạng làm tôn lên vẻ đẹp của hàng chục bãi tắm tốt, cùng với mặtnước, đáy biển và hải đảo tạo nên nhiều danh lam thắng cảnh, hang động kỳ thú,sơn thủy hữu tình Khí hậu nhiệt đới gió mùa thuận lợi cho việc tổ chức du lịchbiển quanh năm, đặc biệt là ở các tỉnh ven biển từ Quảng Nam - Đà Nẵng trởvào Các thảm thực vật phong phú, các nguồn nước khoáng, các loại động vậtquý hiếm tạo sức hấp dẫn thu hút khách du lịch nghỉ dưỡng, tham quan, thể thao,chữa bệnh
Biển Việt Nam còn là địa bàn quan trọng để phát triển kinh tế đất nước Hiệnnay có trên 30% dân số cả nước sinh sống ở 28 tỉnh, thành phố ven biển Đa sốcác thành phố, thị xã đều nằm ở ven sông, cách biển không xa, nhất là các thànhphố, thị xã ở Trung Bộ nằm sát ven biển, có đường quốc lộ 1A chạy qua Khuvực ven biển cũng là nơi tập trung các trung tâm công nghiệp lớn, có nhiều sânbay, cảng biển quan trọng, các căn cứ hải quân, kho tàng, các công trình kinh tế -quốc phòng khác Các tỉnh, thành phố ven biển có các cảng, cơ sở sửa chữa,đóng tàu, đánh bắt hoặc chế biến hải sản, làm muối thu hút hàng chục triệu laođộng, giải quyết công ăn việc làm, góp phần to lớn vào việc ổn định tình hìnhkinh tế, chính trị, xã hội và an ninh - quốc phòng của đất nước
Về an ninh - quốc phòng, biển nước ta là một không gian chiến lược đặc biệtquan trọng đối với quốc phòng - an ninh của đất nước Với một vùng biển rộnglớn, bờ biển dài, địa hình bờ biển quanh co, khúc khuỷu, có nhiều dãy núi chạylan ra biển, chiều ngang đất liền có nơi chỉ rộng khoảng 50km (tỉnh QuảngBình), nên việc phòng thủ từ hướng biển luôn mang tính chiến lược Mạng lướisông ngòi chằng chịt chảy qua các miền của đất nước, chia cắt đất liền thànhnhiều khúc, cắt ngang các tuyến giao thông chiến lược Bắc - Nam ở nhiều nơi,núi chạy lan ra sát biển, tạo thành những địa hình hiểm trở, những vịnh kín, xenlẫn với những bờ biển bằng phẳng, thuận tiện cho việc trú đậu tàu thuyền vàchuyển quân bằng đường biển Hệ thống quần đảo và đảo trên vùng biển nước tacùng với dải đất liền ven biển thuận lợi cho việc xây dựng các căn cứ quân sự,điểm tựa, pháo đài, trạm gác tiền tiêu, hình thành tuyến phòng thủ nhiều tầng,nhiều lớp, với thế bố trí chiến lược hợp thế trên bờ, dưới nước, tạo điều kiệnthuận lợi để bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển của nước ta Đồng thời, đâycũng là những lợi thế để bố trí các lực lượng, vũ khí trang bị kỹ thuật của các lựclượng hoạt động trên biển, ven biển phối hợp chặt chẽ với các lực lượng kháctrên bờ, tạo thành thế liên hoàn biển - đảo - bờ trong thế trận phòng thủ khu vựctỉnh, thành của chiến lược bảo vệ Tổ quốc
Vùng biển nước ta nằm trên tuyến giao thông đường biển, đường khôngthuận lợi, nối liền Thái Bình Dương với ấn Độ Dương Sử dụng đường biển sẽ
có nhiều thuận lợi trong việc cơ động chuyển quân và tiếp tế hậu cần, sử dụng
vũ khí công nghệ cao từ xa, tận dụng được yếu tố bất ngờ Ngoài tiềm năng vềdầu khí, phát triển cảng biển và vận tải biển, tài nguyên du lịch, thủy sản,khoáng sản và nguồn lực lao động, biển còn là chiến trường rộng lớn để ta triểnkhai thế trận quốc phòng toàn dân - thế trận an ninh nhân dân trên biển phòngthủ bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn trật tự an ninh từ xa đến gần, trong đó có các khu
Trang 25biển trọng điểm như vịnh Bắc Bộ; vùng biển quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa; khu dịch vụ kinh tế và kỹ thuật dầu khí DK1,DK2; vùng biển Tây Nam
Hiện nay, Biển Đông là nơi đang tồn tại những mâu thuẫn kinh tế, chính trịcủa thế giới - một trong các ''điểm nóng'' của thế giới; tập trung những mặt đốilập, thuận lợi và khó khăn, hợp tác và đấu tranh, hòa bình và nguy cơ mất ổnđịnh, dễ gây ra xung đột vũ trang Một trong những vấn đề đó là tồn tại tranhchấp biển, đảo giữa các nước và vùng lãnh thổ xung quanh Biển Đông; tạo nêntranh chấp đa phương và song phương, chứa đựng các mâu thuẫn cả về quốcphòng, kinh tế và đối ngoại Có lúc các tranh chấp này trở nên quyết liệt, là mộttrong những yếu tố gây bất ổn định khó lường Nguy cơ xâm lấn biển, đảo vàhoạt động trái phép ngày một gia tăng Hàng ngày có hàng trăm tàu thuyền, máybay nước ngoài xâm phạm vùng biển và vùng trời trên biển của ta dưới nhiềuhình thức như khai thác hải sản, thăm dò, nghiên cứu biển, đặt giàn khoan, buônlậu, vi phạm pháp luật trên biển; thậm chí có nước còn có động thái mới nhằmđẩy mạnh tốc độ độc chiếm Biển Đông
Sự thay đổi chiến lược của các nước trên thế giới, nhất là các nước lớn và sự thay đổi căn bản cục diện ở Đông Nam á, những tranh chấp biển và động thái mới nói trên đặt ra tình hìnhcăng thẳng trên khu vực Biển Đông; đặt chúng ta trước tình thế phải khẩn trươngđổi mới mạnh mẽ tư duy chiến lược trên nhiều bình diện khác nhau, trong đó cóchiến lược quốc phòng - an ninh trên biển và chiến lược phát triển kinh tế biển Vươn ra biển, khai thác và bảo vệ biển là sự lựa chọn có tính chất sống còncủa dân tộc Việt Nam Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng(khóa X) đã ra Nghị quyết về ''Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020'' nhằmnhanh chóng đưa nước ta trở thành một nước mạnh về biển, trong đó đề ra cácmục tiêu và những giải pháp chiến lược xuất phát từ yêu cầu và điều kiện kháchquan của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thời kỳ hội nhập sâurộng vào nền kinh tế thế giới
Hiện nay, nước ta có quan hệ thương mại song phương với trên 100 nước,quan hệ đầu tư với trên 60 quốc gia và vùng lãnh thổ; tham gia nhiều tổ chứcquốc tế Tới đây, các hoạt động hợp tác song phương, đa phương diễn ra sẽ rộnglớn trong nhiều lĩnh vực cả về kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại Trong
đó, hoạt động trên biển sẽ diễn ra với quy mô và cường độ lớn hơn, thuận lợi xenlẫn thách thức Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tích cực hợp tác và đấutranh để thực hiện các cam kết quốc tế về biển Đồng thời, kiên quyết, kiên trìbảo vệ chủ quyền vùng biển, đảo gắn với phát triển kinh tế biển, tạo môi trườngthuận lợi để nước ta mở rộng quan hệ trao đổi khoa học kỹ thuật, đầu tư, đổi mớicông nghệ, hiện đại hóa trang bị cho quốc phòng - an ninh; tăng cường hiểu biếtlẫn nhau với các quốc gia thành viên trong khu vực và quốc tế , với mục đíchcao nhất là ổn định để phát triển đất nước; sử dụng biển tương xứng với tầm vóccủa
Trang 26nó trong cơ cấu kinh tế cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Để chủ trương của Đảng đi vào cuộc sống, các cấp các ngành có liên quanđến khai thác và bảo vệ biển cần có chiến lược của riêng mình trong chiến lượctổng thể của quốc gia, trong đó cần có những giải pháp và bước đi phù hợp vớiđiều kiện của đất nước và tranh thủ được vốn và kỹ thuật trong hợp tác quốc tế
để vươn ra làm chủ biển khơi, phục vụ phát triển kinh tế biển nói riêng và kinh
tế đất nước nói chung, bảo đảm sự phát triển nhanh, bền vững và ổn định lâu dài.Quan điểm cơ bản được nêu trong Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
và tầm nhìn năm 2025 là:
- Nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, trên cơ sởphát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơcấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả caovới tầm nhìn dài hạn
- Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, xã hội với bảo đảm quốc phòng, anninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường; kết hợp chặt chẽ giữa phát triểnvùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệphoá, hiện đại hoá
- Thu hút mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường biểntrên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa Phát huy đầy đủ, có hiệu quả cácnguồn lực bên trong, tranh thủ hợp tác quốc tế thu hút mạnh các nguồn lực bênngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc lập, chủquyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước
Mục tiêu tổng quát: Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc giamạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyềnquốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá, làm cho đất nước giàu, mạnh
Mục tiêu cụ thể: Xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xãhội, khoa học - công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, làm cho đấtnước giàu mạnh từ biển, bảo vệ môi trường biển Phấn đấu đến năm 2020, kinh
tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53 - 55% tổng GDP của cả nước Giảiquyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùngbiển và ven biển Phấn đấu thu nhập bình quân đầu người cao gấp hai lần so vớithu nhập bình quân chung của cả nước.Xây dựng một số thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực, hình thành một số tậpđoàn kinh tế mạnh Phát triển mạnh cả khai thác, chế biến sản phẩm từ biển vàphát triển các ngành dịch vụ biển Xây dựng một số khu kinh tế mạnh ở venbiển; xây dựng cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp thống nhất về biển có hiệulực, hiệu quả; mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực về biển
Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã được Hội nghị Trung ương lầnthứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X thông qua.Đây là một trong những văn kiện hết sức quan trọng thể hiện sự quyết tâm xâydựng kinh tế biển Việt Nam phát triển
Trang 27Mục đích của chiến lược là nhằm phấn đấu để nước ta trở thành một quốc giamạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyềnquốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước; kết hợpchặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo
vệ môi trường; có chính sách hấp dẫn nhằm thu hút mọi nguồn lực cho phát triểnkinh tế biển; xây dựng các trung tâm kinh tế lớn vùng duyên hải gắn với các hoạtđộng kinh tế biển làm động lực quan trọng đối với sự phát triển của cả nước Từnhững yêu cầu đó, cần phải thực hiện những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhưsau:
1- Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của biển đối với sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc
2- Xây dựng lực lượng mạnh để bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh trênbiển
3- Đẩy mạnh điều tra cơ bản và phát triển khoa học - công nghệ biển
4- Triển khai mạnh mẽ và có hiệu quả công tác quy hoạch tổng thể phát triểnkinh tế, xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh
5- Quản lý nhà nước có hiệu lực và hiệu quả đối với các vấn đề liên quan đếnbiển
6- Xây dựng đầy đủ, đồng bộ hệ thống luật pháp và cơ chế, chính sáchkhuyến khích đầu tư phát triển
7- Phát triển nguồn nhân lực biển đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hộivùng biển và ven biển
8- Tăng cường công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế về biển để khai thác cóhiệu quả mọi tiềm năng kinh tế biển, đồng thời, bảo đảm tốt nhiệm vụ quốcphòng, an ninh trong mọi tình huống, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổquốc gia
9- Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh là lực lượng nòng cốt trong pháttriển kinh tế biển với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế
Trang 28Phần thứ hai
Đảo và quần đảo của việt nam
I Điều kiện tự nhiên, xã hội
và tiềm năng phát triển một số đảo của Việt nam
1 Những đặc điểm cơ bản của đảo Việt Nam
Đảo là phần đất bị bao bọc xung quanh bởi nước, thường xuyên nhô cao lên,không bị ngập khi mực nước triều cao nhất Về phần lịch sử hình thành đảo cóthể là do một phần lục địa lún xuống gây ra hoặc do hoạt động núi lửa dưới đáybiển tạo thành Đảo có nhiều hình dạng và kích thước khác nhau, đảo có thểđứng đơn độc hoặc tụ hợp thành quần đảo hay kéo dài thành vòng cung… Đảo
có nhiều loại hình thành, từ núi hay các rạn san hô, bãi đá ngầm hoặc đảo nhântạo…
ở vùng biển nước ta có khoảng 4.000 đảo, số lượng đảo ven bờ có gần 3.000hòn đảo lớn nhỏ, hợp thành hệ thống với tổng diện tích khoảng trên 1.600km2
Do đặc điểm kiến tạo, các đảo ven bờ của nước ta phân bố không đồng đều, chủyếu là ở vịnh Bắc Bộ và Nam Bộ Trong gần 3.000 hòn đảo ven bờ Việt Nam có
82 đảo có diện tích lớn hơn 1km2, chiếm 92% tổng diện tích, trong đó 23 đảo códiện tích lớn hơn 10km2, 3 đảo có diện tích hơn 100km2 và 1.295 đảo chưa cótên Tuy phân bố không đồng đều nhưng trên tất cả các vùng biển ven bờ ViệtNam đều có các đảo che chắn với mức độ khác nhau Việt Nam có 2 quần đảolớn xa bờ là quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa
Sự phân bố các đảo ở biển Việt Nam không đều, ven bờ vịnh Bắc Bộ có sốlượng hơn 2.300 đảo với diện tích khoảng gần 800km2, ven bờ miền Trung cókhoảng trên 250 đảo, với diện tích khoảng 170km2, ven bờ Nam Bộ có số lượnghơn 200 đảo với diện tích 679km2
Các đảo có diện tích lớn là: đảo Phú Quốc (Kiên Giang) diện tích 567km2,đảo Cái Bầu (Quảng Ninh) diện tích 200km2, đảo Cát Bà (Hải Phòng) diện tích149km2, Côn Đảo (Vũng Tàu) diện tích 56,7km2, Hòn Lớn (Khánh Hòa) diệntích 45km2, Hòn Tre (Khánh Hòa) diện tích 32km2, Phú Quý (Bình Thuận) diệntích 32,5km2, Vĩnh Thực (Quảng Ninh) diện tích 32km2, Cô Tô - Thanh Lân(Quảng Ninh) diện tích 23,4km2, Cái Chiên (Quảng Ninh) diện tích 10,9km2 Vùng biển nước ta có khoảng 4.000 đảo, trong đó chủ yếu là ở vùng biểnĐông Bắc, Bắc Trung Bộ; số đảo còn lại ở vùng biển Nam Trung Bộ, vùng biểnTây Nam và hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Căn cứ vào vị trí chiến lược
và các điều kiện địa lý kinh tế, dân cư, các đảo, quần đảo của nước ta thườngđược chia thành các nhóm:
Trang 29- Hệ thống đảo tiền tiêu có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Trên các đảo có thể lập những căn cứ kiểm soát vùng biển, vùngtrời nước ta, kiểm tra hoạt động của tàu, thuyền, bảo đảm an ninh quốc phòng,xây dựng kinh tế, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Đó là các đảo,quần đảo như: Hoàng Sa, Trường Sa, Chàng Tây, Thổ Chu, Phú Quốc, Côn Đảo,Phú Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Cô Tô, Bạch Long Vĩ
- Các đảo lớn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội
Đó là các đảo như: Cô Tô, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo,Phú Quốc
- Các đảo ven bờ gần có điều kiện phát triển nghề cá, du lịch và cũng là căn
cứ để bảo vệ trật tự, an ninh trên vùng biển và bờ biển nước ta Đó là các đảothuộc huyện đảo Cát Bà, huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), huyện đảo PhúQuý (Bình Thuận), huyện đảo Côn Sơn (Bà Rịa -Vũng Tàu), huyện đảo Lý Sơn(Quảng Ngãi), huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang)
Việt Nam có hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa Đảo và quần đảonước ta có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước; vai trò lớn lao trong công cuộc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của
Tổ quốc ta
Hệ thống đảo ven bờ Việt Nam khoảng gần 3 nghìn hòn đảo lớn nhỏ với diệntích khoảng trên 1.600km2, trong đó các đảo nhỏ (nhỏ hơn 0,5km2) chiếm hơn97% và chủ yếu tập trung ở vùng biển ven bờ vịnh Bắc Bộ Việt Nam Các đảo ở khu vực này chủ yếu là những núi đá vôi, địa hình thấp, chịu nhiều tácđộng của các quá trình phong hóa hóa học, tạo nên một quần thể đảo có kiến trúcđặc sắc: các sườn, vách dốc đứng với các đỉnh sắc nhọn, hoặc các khối đổ lởchồng chất và các hốc đá sóng vỗ - mộtcảnh quan độc nhất vô nhị trong ý nghĩa toàn cầu về giá trị địa chất và địa mạovùng đá vôi Karst với cái tên huyền thoại ''Di sản thiên nhiên thế giới vịnh HạLong, vịnh Bái Tử Long''
Các đảo này có sườn thoải (thường là sườn khuất gió,
ít chịu tác động của các quá trình động lực biển) phát triển theo bề mặt các lớp
đá có thể nằm nghiêng, có các bề mặt san bằng và các bậc thềm mài mòn trênnhững độ cao khác nhau 300m, 200m, 100m, 70m, 50m, 30m, 20m Dưới chânđảo là những cung bờ lõm với các địa hình tích tụ cát thạch anh trắng mịn, lànhững bãi tắm lý tưởng với những kích thước khác nhau như vài chục mét đếnvài trăm mét, thậm chí vài ba nghìn mét (Cô Tô, Ngọc Vừng, Cái Bầu, PhúQuốc, Phú Quý ) Sườn đón gió là những vách đá dốc đứng (30-600), chịu tácđộng mạnh của các quá trình thủy động lực và vận động kiến tạo cục bộ, tạo cáccảnh quan địa chất hùng vĩ Đặc biệt các đảo cấu tạo từ đá granit ở vùng biểnven bờ miền Trung Việt Nam có các khe nứt, các hốc đá cheo leo trên sườn dốc
là những nơi cư trú của chim yến như Hòn Khô, Hòn Lao, Cù Lao Chàm và cácđảo ở vùng biển Nha Trang, Khánh Hòa
Về cấu tạo địa chất các đảo lớn này có sự phân hóa theo từng vùng Các đảoven bờ vịnh Bắc Bộ được cấu tạo từ đá cacbonat chiếm ưu thế, các đảo ven bờ từThanh Hóa đến Bình Thuận và các đảo ven bờ Tây Nam được cấu tạo chủ yếu từ
Trang 30đá mắcma, đá xâm nhập, đá trầm tích và phun trào Lớp vỏ phong hóa phủ trênsườn các đảo này thường không dày, thành phần vật chất gắn liền với cấu tạo địachất, chủ yếu là đất feralit vàng đỏ, là sản phẩm đất dốc tụ, đất feralit nâu vàngtrên sản phẩm phong hóa đá vôi, có thành phần cơ giới từ thịt nặng đến sét pha,đất feralit vàng đỏ trên sa diệp thạch có thành phần cơ giới nhẹ, đất feralit nâu
đỏ trên đá bazan có thành phần cơ giới nặng, cấu trúc tốt Đất cát hoặc đất nghèomùn và nghèo đạm, thường hàm lượng lân và kali từ trung bình đến nghèo, phân
bổ ở các thềm biển trên triều ở độ cao từ 6 - 10m
Địa hình đáy biển xung quanh đảo không đồng nhất, khá phức tạp bao gồm:địa hình tích tụ, nông, thoải, từ độ sâu 2m và từ 10 - 20m là thảm san hô rất pháttriển, độ che phủ đạt hơn 60%, một hệ sinh thái đặc trưng của vùng biển nhiệtđới có hệ số đa dạng sinh học cao, giàu nguồn lợi đặc sản, ngoài ra hệ sinh tháisan hô còn là bộ lọc nước tự nhiên cao cấp, làm sạch môi trường nước biển Địahình xâm thực ở chân đảo tạo thành các thung lũng ngầm kéo dài và các rãnhsâu dưới chân các mũi nhô của đảo, độ sâu có thể đạt đến 30m hoặc sâu hơn tạothành những cư sinh của các loài đặc sản như tôm hùm, các nhuyễn thể sốngbám vào vách đá
Đảo biển là một đơn nguyên cảnh quan địa chất, địa mạo, là một hệ sinh tháihoàn chỉnh, có rừng, có biển, có bãi cát và chan hòa ánh sáng mặt trời Đảo cócảnh quan thiên nhiên đẹp, khí hậu trong lành, tài nguyên đa dạng và phong phú,không gian rộng lớn, là nguồn sinh lực dồi dào cho sự phát triển của con người.Đây là nguồn lợi lớn để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Do hoàn cảnh tự nhiên về cấu tạo địa chất, địa hình và cảnh quan, mỗi đảo cónhững nét riêng, song lại có chung một điểm là nơi lý tưởng để phát triển kinh tế
- sinh thái và du lịch Trên thực tế rất nhiều đảo trên thế giới đã phát triển thànhnhững thánh địa du lịch nổi tiếng như Tahiti - Nam Thái Bình Dương, Manlta -Địa Trung Hải, công viên đại ngàn Australia, công viên quốc gia biển Tây Bắc,Cộng hòa Liên bang Đức, đem lại nguồn lợi lớn
Để có cơ sở khoa học cho việc định hướng đúng đắn chiến lược khai thác,phát triển kinh tế và quản lý bền vững tài nguyên môi trường vùng biển củanước ta cần phải đánh giá chính xác tiềm năng hệ thống đảo, biển Khác với đấtliền, hệ sinh thái rừng trên đảo phát triển rất khó khăn, phải trải qua hàng chụcnăm, thậm chí hàng trăm năm và có tính đặc hữu cao, đem lại cho con ngườinhững giá trị vật chất và tinh thần Tài nguyên rừng ở đảo không chỉ là gỗ, vìrừng là tất cả, là áo giáp bảo vệ đảo, chống xói mòn, giữ ẩm cho đảo, là nguồnnuôi dưỡng mọi sự sống, là cảnh quan sinh thái có sức hấp dẫn du khách Trongthảm thực vật rừng trên đảo phần lớn là các loài cây có nguồn gốc từ đất liền và
có những loài thực vật có tính đặc hữu khác có giá trị dược liệu Tại đảo Cù LaoChàm có tới 116 loài cây có giá trị dược liệu, chiếm 22,8% tổng số loài Thiêntuế là loài cây cảnh có tính đặc hữu của Cù Lao Chàm được xếp hạng trong sách
đỏ, cần được bảo vệ Tại Hòn Giài, Cù Lao Chàm, thiên tuế mọc thành "rừng",cao 1 - 3m, có tuổi từ 100 - 200 năm là điểm du lịch sinh thái hấp dẫn Nguồn lợiđộng vật rừng trên đảo tuy không phong phú nhưng có nhiều loài sống rất gầngũi với con người như sóc, khỉ, khiếu, vẹt
Trang 31Đất có khả năng canh tác nông nghiệp trên đảo chỉ chiếm khoảng 10 - 20%diện tích tự nhiên, chủ yếu là đất feralit và đất cát ít mùn và nghèo dinh dưỡng.Các bậc thềm sườn thoải của đảo được phủ một lớp vỏ phong hóa không dày gầnvùng nước suối chảy qua thuận lợi cho việc phát triển các vườn rừng, cây ăn tráihoặc cây rừng lá rộng Đặc biệt trên các bề mặt san bằng ở các độ cao 200m,300m, thực vật có khả năng phát triển do nhiệt độ thấp, độ ẩm cao mang đặcđiểm khí hậu biển và khí hậu cao nguyên ở đây có thể phát triển kinh tế vườnrừng, kinh tế sinh thái và du lịch, có thể xây dựng các nhà nghỉ dưỡng, nhanhchóng phục hồi sức khỏe ở các đảo ven biểnViệt Nam có thể tìm thấy cảnh quan sinh thái kiểu này trên đảo Hòn Khoai, đảoCái Bầu, đảo Cù Lao Chàm, đảo Cát Bà
Biển quanh đảo và các bãi cát thạch anh trắng mịn cùng với hệ sinh thái san
hô là nguồn tài nguyên du lịch sinh thái biển vô giá Có thể tổ chức các cụm dulịch tắm biển, tham quan các hệ sinh thái san hô đa sắc màu ngầm dưới nướcnhưng không làm ảnh hưởng đến môi trường sinh thái
Các đảo gần như không sống đơn độc, bao giờ cũng hình thành cụm đảo,trung tâm là một đảo lớn xung quanh là các đảo con ở đó con người có thể thảmình tắm biển, câu cá, theo dõi nhịp sống của các loài sinh vật biển và các loài
cá nhiều màu sắc sống trong các rạn san hô Biển trên nền san hô bao giờ cũnglặng, màu của biển luôn thay đổi theo độ sâu và theo thời gian chiếu sáng của mặt trời
Khí hậu biển mát mẻ vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông do có sự điều hòanhiệt của biển Biển vừa là bánh đà vừa là bình nhiệt hấp thu nhiệt vào ban ngày
và vào mùa hè, tỏa nhiệt vào ban đêm và vào mùa đông Nhiệt độ không khí tốicao và tối thấp trên biển bao giờ cũng chênh lệch so với đất liền từ 100C - 300C Không khí biển - đảo và nước biển là môi trường trong lành nhất, các hệ sinhthái đảo, biển có chỉ số đa dạng sinh học cao, nhưng khối lượng của các loài sinhvật không lớn do diện tích đảo rất hạn hẹp và tính nhiệt đới của địa sinh học.Trong khi đó các loài đặc sản biển của đảo mang tính địa phương cao
Khai thác cá ở biển, đảo phụ thuộc vào hai yếu tố có tính quyết định Thứnhất, vị trí của đảo phải gần với các ngư trường khai thác truyền thống Thứ hai
là trình độ kỹ thuật và tiền vốn Trên thực tế, các đảo thuộc vịnh Bắc Bộ có khảnăng phát triển nghề khai thác hải sản, nghề nuôi cá lồng quy mô vừa như Cô
Tô, Cát Bà, Vĩnh Thực, Vân Đồn Các đảo miền Trung và Nam Bộ nghề khaithác và nuôi hải sản rất hạn chế do điều kiện tự nhiên không mấy thuận lợi.Đất liền trở nên chật hẹp, năng lượng khan hiếm, các hệ sinh thái bị suy thoái,môi trường trở nên quá tải Biển và đại dương đang là miền đất hứa ''Thế kỷXXI là thế kỷ của đại dương''
2 Điều kiện tự nhiên và tiềm năng phát triển của một số đảo ở Việt Nam
* Huyện đảo Vân Đồn
Vân Đồn là một quần đảo vòng quanh phía Đông và Đông Bắc vịnh Bái TửLong, nhưng lại nằm ở phía Đông và Đông Nam của tỉnh Quảng Ninh Vân Đồn
Trang 32bao gồm khoảng 600 hòn đảo lớn nhỏ Đảo lớn nhất Cái Bầu, diện tích chiếmgần nửa diện tích đất đai của huyện Trước đây đảo có tên là Kế Bào, ở phía TâyBắc huyện nằm kề cận đất liền lục địa, cách đất liền bởi lạch biển Cửa Ông vàsông Voi Lớn Trong địa phận xã Vạn Yên còn có đảo Chàng Ngo cũng tương
Cái Rồng, nằm trên đảo Cái Bầu, cách thành phố Hạ Long khoảng 50km, cách
Huyện Vân Đồn có các phía Tây Bắc giáp vùng biển huyện Tiên Yên vàĐông Bắc giáp vùng biển huyện Đầm Hà, phía Tây giáp thị xã Cẩm Phả, ranhgiới với các huyện thị trên là lạch biển Cửa Ông và sông Voi Lớn, phía đônggiáp vùng biển huyện Cô Tô, phía Tây Nam giáp vịnh Hạ Long (thành phố HạLong và vùng biển Cát Bà thuộc thành phố Hải Phòng), phía nam là vùng biểnngoài khơi vịnh Bắc Bộ
Huyện Vân Đồn có diện tích tự nhiên 551,3km² Trong tổng số khoảng 600hòn đảo thuộc huyện thì có hơn 20 đảo có người ở Lớn nhất là đảo Cái Bầurộng 17.212ha, ở giáp địa phận thị xã Cẩm Phả Các đảo đều có địa hình núi đávôi, thường chỉ cao 200 đến 300m so với mặt biển, có nhiều hang động Karst.Cũng giống như tất cả các đảo trong vịnh Bắc Bộ, các đảo của huyện Vân Đồnvốn trước kia là các đỉnh núi của phần thềm lục địa, ở vị trí Tây Bắc vịnh Bắc
bộ, phần kéo dài của dãy núi Đông Triều Sau thời kỳ biển tiến, hình thành vịnhBắc Bộ, các đỉnh núi này còn sót lại, nằm nổi trên mặt biển thành các đảo độclập thuộc hai vùng của vịnh Bắc Bộ là vịnh Bái Tử Long và vịnh Hạ Long Cácđảo thuộc huyện Vân Đồn chỉ là một phần trong quần đảo Tây Bắc vịnh Bắc Bộ.Các ngọn núi trên các đảo của huyện tiêu biểu có: Núi Nàng Tiên ở đảo Trà Bản,trên địa phận xã Bản Sen, cao 450m; núi Vạn Hoa ở đảo Cái Bầu cao 397m
Do địa hình quần đảo chủ yếu là các đảo nhỏ, lại là núi đá vôi, nên trong toàn
bộ diện tích tự nhiên của huyện, diện tích đất liền không lớn, chủ yếu là diện tíchmặt biển Huyện đảo Vân Đồn có 68% diện tích đất tự nhiên trên các đảo là rừng
và đất rừng Trên các đảo không có sông ngòi lớn mà chỉ có vài con suối trênnhững đảo lớn Người dân địa phương thường gọi các eo biển giữa các đảo vớinhau và với đất liền là sông như: sông Voi Lớn nằm giữa đảo Cái Bầu với đấtliền, sông Mang ở đảo Quan Lạn Trên địa bàn huyện có hai hồ nhỏ là hồ VồngTre và hồ Mắt Rồng
Huyện đảo Vân Đồn có lượng mưa bình quân hàng năm khoảng trên2.000mm Dân số toàn huyện khoảng 45.000 dân, trong đó: người Kinh chiếm86%, người Sán Dìu 10%, người Hoa 1,5%, người Dao 1,3%, người Sán Chỉ,
Trang 33Giao thông trong huyện chủ yếu là bằng đường thủy giữa các đảo Xã VạnYên có bến cảng Vạn Hoa, thị trấn Cái Rồng có cảng Cái Rồng, có thể cho xàlan, tàu thuyền tải trọng hàng trăm tấn ra vào dễ dàng, đồng thời là đầu mối giaothông qua lại giữa các đảo Đường bộ dài nhất là đường 31 dài 40km, xuyên suốtđảo Cái Bầu và chỉ nối mỗi đảo này với đất liền qua Cửa Ông Điểm cuối củađường này là cảng Vạn Hoa Trên các đảo Trà Bản, Ngọc Vừng, Quan Lạn cónhững đoạn đường ô tô dùng cho quân sự và lâm nghiệp, nhưng chỉ là các đoạnđường trong nội bộ các đảo Còn giữa các đảo với nhau và với đất liền chủ yếuvẫn dùng phương tiện giao thông đường thủy.
Con người đã có mặt trên các đảo của huyện Vân Đồn từ rất sớm Di chỉ khảo
cổ ở đây có mật độ dày đặc Hang Soi Nhụ là một di chỉ thuộc trung kỳ đồ đámới, trước cả văn hóa Hạ Long Tại thôn Đá Bạc xã Minh Châu có di chỉ mộ cổthời Hán Tên Vân Đồn có nguồn gốc từ tên núi Vân (núi có mây phủ) ở làngVân (nay thuộc xã Quan Lạn) nằm trong tuyến đảo ngoài Vân Hải Do ở cửa ngõcủa vùng quần đảo hiểm yếu nên theo sử sách, năm 980 ở đây đã có đồn Vân,trấn giữ vùng biển Đông Bắc của quân đội nhà Tiền Lê Năm 1149, vua Lý AnhTông của nhà Lý chính thức lập trang Vân Đồn, đồng thời Vân Đồn thànhthương cảng đầu tiên của Đại Việt trong giao thương với các nước trong khu vựcĐông á và thế giới như: Nhật Bản, Trung Quốc, ấn Độ, Thái Lan, Inđônêxia
Thương cảng Vân Đồn thịnh vượng suốt 3 triều đại là: Lý - Trần - Hậu Lê (Lê
sơ) rồi suy thoái và bị lãng quên vào thời nhà Mạc Di tích thương cảng VânĐồn chứa đựng dấu ấn của nhà Trần về chiến công chống ngoại xâm lại vừa códấu ấn về giao thương, buôn bán
Trận Vân Đồn năm 1288 trên dòng sông Mang (Quan Lạn) gắn liền với têntuổi của danh tướng Trần Khánh Dư, dưới sự chỉ huy của ông, quân dân nhàTrần đã đánh tan đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ, góp phần quan trọng vàochiến thắng chung của trận Bạch Đằng năm 1288 Sau khi thương cảng Vân Đồn
Lý (1149), đến thời Trần đã phát triển hưng thịnh Các bến thuyền cổ trungchuyển hàng hoá gồm hương liệu, gốm sứ, lâm thổ sản được hình thành từ cửasông Bạch Đằng, Cửa Lục cho tới các đảo Cống Đông, Quan Lạn Tại đảo CốngĐông (nay là xã Thắng Lợi), các nhà khảo cổ đã tìm thấy dấu tích của nhiềucông trình kiến trúc Phật giáo quy mô thời Trần như chùa, tháp, nhiều di vật biađá,
lan can, chân kê cột Đây là những minh chứng rõ nhất cho sự phát triển phồn
nhà Trần
Trong quá trình lịch sử thì Vân Đồn đã nhiều lần thay tên và có lúc là huyện,lúc là châu Đến tháng 12 năm 1948, Chính phủ nước Việt Nam d ân chủ cộnghòa quyết định thành lập huyện Cẩm Phả (được tách ra khỏi thị xã Cẩm Phả).Đến ngày 23 tháng 3 năm 1994, huyện Cẩm Phả được Chính phủ nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đổi tên là huyện Vân Đồn ngày nay
Nền kinh tế của Vân Đồn chủ yếu là kinh tế biển và khai khoáng bao gồm:nuôi trồng và đánh bắt hải sản, trồng và khai thác lâm nghiệp, dịch vụ du lịch
Trang 34biển, khai thác than, đá vôi, cát trắng, sắt, vàng sa khoáng Nông nghiệp trồngtrọt rất nhỏ bé Kinh tế lâm nghiệp suy giảm do khai thác cạn kiệt các nguồn tàinguyên.
Vùng biển của huyện có nhiều chủng loại hải sản quý như: tôm he, cá mực,
sá sùng, cua, ghẹ, ngọc trai, bào ngư,… Nghề khai thác hải sản có từ lâu đời,song chủ yếu là đánh bắt trong lồng bè và ven bờ, chỉ từ năm 1995 tới nay mớiphát triển đánh bắt xa bờ Việc nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nghề nuôi cấyngọc trai từ năm 1990 mới phát triển mạnh Công nghiệp khai khoáng gồm:Than đá đã được khai thác từ thời Pháp thuộc, ở mỏ than Kế Bào Trữ lượnghiện còn khoảng 107 triệu tấn Mỏ quặng sắt Cái Bầu có trữ lượng lớn khoảng154.000 tấn Mỏ cát trắng Vân Hải có trữ lượng trên 13 triệu tấn, hiện đang khaithác với sản lượng 20.000 tấn/năm Vàng sa khoáng và vàng trong đới quặng sắt
có ở đảo Cái Bầu
Huyện đảo Vân Đồn, nằm ôm trọn vùng vịnh Bái Tử Long, có nhiều đảo đávôi và những hang động đẹp, lại nối liền với vịnh Hạ Long, di sản thế giới Các
xã đảo tuyến ngoài giáp vịnh Hạ Long (tuyến đảo Vân Hải) có nhiều bãi tắmđẹp, nhiều hải sản ngon, khí hậu trong lành và những di tích lịch sử văn hóa, rất
có tiềm năng để phát triển kinh tế dịch vụ du lịch
Rừng trên nhiều đảo xưa kia có nhiều lâm sản quý, trong đó có nhiều loại gỗquý như gỗ lim, gỗ táu, gỗ nghiến, gỗ mun Cây gỗ mần lái là lâm sản đặc hữu
ở đây Đình làng Quan Lạn được làm hoàn toàn từ loại gỗ này Trong rừng cónhiều chim thú quý (khỉ lông vàng, vẹt đầu bạc, đại bàng đất, công trĩ, hươusao…), nhiều loài có số lượng không nhiều được ghi vào sách đỏ thế giới
hiện đang được triển khai xây dựng các cơ sở hạ tầng Theo quy hoạch, đây sẽ làmột trung tâm du lịch sinh thái biển, đảo chất lượng cao và dịch vụ cao cấp,đồng thời là trung tâm hàng không, đầu mối giao thương quốc tế, thúc đẩy pháttriển kinh tế ở Vân Đồn nói riêng và Quảng Ninh nói chung
* Đảo Cô Tô
Cô Tô là tên một quần đảo phía đông của huyện đảo Vân Đồn, tỉnh QuảngNinh Địa danh hành chính là huyện Cô Tô, diện tích 46,2km², dân số hơn33.900 người
Cô Tô có tên cổ là Chàng Sơn (Núi Chàng), từ lâu đời đã là nơi trú ngụ củathuyền bè ngư dân vùng Đông Bắc, song chưa thành nơi định cư vì luôn bịnhững toán cướp biển Trung Quốc quấy phá Đầu thời Nguyễn, một số dân cưTrung Quốc đánh được những toán cướp biển và xin được nhập cư sinh sống.Năm 1832, Nguyễn Công Trứ với cương vị Tổng đốc Hải An (Hải Dương -
An Quảng) đã xin triều đình cho thành lập làng xã, cắt cử người cai quản Làngđầu tiên ở đây được Nguyễn Công Trứ đặt là làng Hướng Hoá ít lâu sau, nhàNguyễn cho thu thuế và lập đồn Hướng Hoá canh phòng giặc biển Dân cư đôngdần, tất cả đều là người gốc nhiều dân tộc thiểu số ở vùng ven biển Quảng Đông,Phúc Kiến và đảo Hải Nam phiêu bạt đến
Trang 35Thời Pháp thuộc, Cô Tô là một tổng có năm xã (Đông giáp, Nam giáp, Tây giáp, Bắc giáp, Trung giáp) thuộc châu Hà Cối, phủHải Đông, tỉnh Hải Ninh Sau ngày Nhật đảo chính, Pháp quay lại chiếm đóng
Cô Tô Từ Cô Tô và cảng Vạn Hoa trên đảo Cái Bầu, tàu chiến Pháp vào quấyrối vùng biển Hòn Gai và cảng Hải Phòng Tháng 11 năm 1946, Đại đội Ký Congiải phóng quân từ Hòn Gai dùng tàu chiến Le Créyac mới chiếm được của Hảiquân Pháp tiến ra giải phóng Cô Tô nhưng không thành công Cho đến cuối năm
1955, thực hiện Hiệp định Giơnevơ, quân Pháp mới rút khỏi đảo Đầu năm 1954,
Cô Tô thuộc huyện Móng Cái, sau đó trực thuộc tỉnh Từ năm 1964, được sápnhập vào huyện Cẩm Phả
Năm 1994, chính phủ đổi tên huyện Cẩm Phả thành huyện Vân Đồn đồngthời tách quần đảo Cô Tô gồm hai xã Thanh Lân, Cô Tô thành lập huyện Cô Tô
Từ đó đến nay Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ về giá điện, giá xăngdầu, xây dựng nâng cấp cơ sở hạ tầng, hàng ngày đều có tàu khách Vân Đồn -
Cô Tô, làm cho đời sống nhân dân nơi đây không ngừng được cải thiện
Cô Tô có địa hình đồi núi Đỉnh trên đảo Thanh Lân cao 210m, đỉnh đài khítượng trên đảo Cô Tô lớn cao 160m Phần giữa các đảo đều cao, vây quanh lànhững đồi núi thấp và những cánh đồng hẹp, ven đảo là những bãi cát nhỏ vàvịnh nhỏ Đất đai chủ yếu là đất feralit trên sa thạch Đất rừng rộng 2.200ha, đất
có khả năng nông nghiệp 771ha chiếm 20% diện tích đất tự nhiên, trong đó mộtnửa số có khả năng cấy lúa, trồng màu, gần nửa có khả năng chăn thả gia súc vàtrồng cây ăn quả
Cô Tô ít sông suối, nhân dân đã đắp đập hình thành 11 hồ nhỏ Có nguồnnước ngầm rất dồi dào, chất lượng tốt Thảm thực vật trên các đảo khá phongphú chủng loại Rừng tự nhiên đa dạng với nhiều loại gỗ tốt và nhiều song mây,ràng rang Rừng trồng gồm phi lao, bạch đàn, thông đuôi ngựa Trên đảo ThanhLân còn có cam, quýt, chuối đã nhiều năm thành sản phẩm hàng hoá nổi tiếngtrong tỉnh Có nhiều loại dược quý hiếm như hương nhu, sâm đất, thầu dầu tía trên các đảo Động vật rừng từ xa xưa khá nhiều nay ở đảo Thanh Lân còn có đànkhỉ vàng chừng 100 con và nhiều động vật quý hiếm khác
* Đảo Trần
Đảo Trần nằm trong địa phận huyện Cô Tô có diện tích là 4.465km2 và nằmcách bờ biển Quảng Ninh khoảng 30km Hòn đảo này có vị trí chiến lược vôcùng quan trọng trong vịnh Bắc Bộ và là hòn đảo tiền tiêu của vùng Đông BắcViệt Nam
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên của đảo chịu ảnh hưởng mạnh của gió mùađông bắc nên khí hậu mang tính nhiệt đới gió mùa và khí hậu đại dương, tuynhiên thường có những cơn bão và gió lớn bất thường kéo theo mưa lớn gây ảnhhưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái rừng trên cạn và san hô ở đảo Hiện tại đảoTrần không có dân cư chính thức sinh sống lâu dài ổn định, nhưng thường xuyên
có mặt hàng trăm người gồm bộ đội, công nhân và ngư dân trên đảo
Trang 36Đảo Trần là một hòn đảo nhỏ, phần chân rạn hẹp nên san hô cứng chỉ phân
bố tới độ sâu 5m San hô ở các khu vực phía bắc đảo còn nguyên vẹn chiếm87,5% thành phần loài san hô toàn đảo Khu hệ cỏ biển ưu thế bởi 2 loàiHalophila ovalis và Cymodocea rotunda Trai ngọc ở khu vực biển, đảo Trần làmột trong số các loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ nên cần được bảo vệ.Khu hệ sinh vật trên cạn có 241 loài bao gồm 182 loài thực vật thuộc 166 chi và
86 họ, 59 loài động vật thuộc 4 lớp
Đảo Trần hiện nay thuộc sự quản lý của huyện Cô Tô và bộ đội trên đảo Tuynhiên, nếu không có các chính sách và chiến lược cụ thể thì việc bảo vệ cácnguồn tài nguyên trên đảo và các hệ sinh thái biển xung quanh là rất khó khăn dodân cư trên đảo chủ yếu là từ nơi khác tới Năm 1999, Bộ Khoa học Công nghệ
và Môi trường báo cáo đề xuất đảo Trần nằm trong mạng lưới các khu bảo tồnbiển Việt Nam do Bộ Thủy sản quản lý Theo báo cáo, khu bảo tồn biển của đảoTrần sẽ gồm 2 phân vùng là vùng lõi và vùng đệm Vùng lõi bao gồm toàn bộ hònđảo và vùng nước xung quanh đảo kể từ 6m trở vào; vùng đệm nằm ngoài vùnglõi với diện tích 452ha Do vậy, cần có sự chỉ đạo và hướng dẫn của cơ quanchức năng và các cấp, các ngành để bảo tồn các hệ sinh thái và tài nguyên trongkhu vực đảo Trần
* Tuần Châu
Vịnh Hạ Long - di sản thiên nhiên thế giới với hàng ngàn các hòn đảo lớnnhỏ được tạo hoá sắp xếp trên đại dương bao la của biển trời Hạ Long, mỗi mộthòn đảo mang một dáng vẻ riêng, đảo thì có hang Sửng Sốt, đảo thì có độngThiên Cung, có hang Trinh Nữ riêng Tuần Châu là hòn đảo đất duy nhất nằmtrong vùng di sản Ngoài những vẻ đẹp thiên nhiên như rừng thông, hồ nước, bãibiển…, đảo Tuần Châu còn mang trên mình những dấu tích lịch sử của đất nướcViệt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn đảo Tuần Châu làm nơi nghỉ ngơi củaNgười cùng các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước khi Người về thămđảo năm 1959
Đảo Tuần Châu hiện tại có diện tích khoảng 400ha, theo quy hoạch đượcduyệt, diện tích đảo Tuần Châu sẽ mở rộng lên tới 675ha Đảo có vị trí rất thuậnlợi cả về đường thủy và đường bộ, cách quốc lộ 18A khoảng 2km Đây là tuyếnđường huyết mạch quan trọng kết nối tam giác tăng trưởng kinh tế Hà Nội - HảiPhòng - Quảng Ninh
Tên đảo Tuần Châu được ghép từ hai chữ ''lính tuần'' và ''tri châu'' vì xưa kia,thời phong kiến, trên đảo đặt một trạm lính canh phòng có nhiệm vụ tuần tra,bảo vệ vùng biên ải do viên tri châu quản lý Từ năm 1999 trở về trước, cơ sởvật chất trên đảo rất nghèo nàn và lạc hậu: không có điện lưới, không có nướcsạch, đường sá chỉ là đường mòn và không có các phương tiện giao thông cơgiới Tuần Châu lúc đó chỉ là một xã đảo nghèo trực thuộc thành phố Hạ Long,nhân dân chủ yếu sống bằng nghề chài lưới sử dụng các phương tiện đánh bắt rấtthô sơ Đời sống văn hoá tinh thần của người dân vì thế rất thiếu thốn
Dự án đầu tiên mang tầm chiến lược quan trọng của Công ty Âu Lạc là lấpbiển, đắp con đường nối liền Tuần Châu với quốc lộ 18A Được sự quan tâm của
Trang 37Đảng và Nhà nước, ngày 28 tháng 2 năm 1998, con đường chính thức được khởicông xây dựng Trải qua muôn vàn khó khăn gian khổ nhưng với ý chí quyết tâm
và lòng đoàn kết, ngày 8 tháng 2 năm 1999, con đường đã chính thức nối đảo vớiđất liền và biến ước mơ của người dân trên đảo thành hiện thực
Hiện nay, đảo Tuần Châu đã nổi tiếng trong và ngoài nước và được coi làđiểm đến không thể thiếu của các tour du lịch với các công trình như: Câu lạc bộ
cá heo, hải cẩu sư tử biển, trình diễn ca múa nhạc thời trang; rạp xiếc, câu lạc bộbiểu diễn cá sấu, bãi tắm nhân tạo, khu ẩm thực Việt Nam, quần thể các cụm biệtthự, khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao, khu vui chơi giải trí dưới nước gồm hoạtđộng như cano kéo dù, môtô trượt nước tốc độ cao, dịch vụ tham quan vịnh HạLong bằng tàu du lịch, bằng cano, dịch vụ tham quan vịnh Hạ Long bằng máybay trực thăng, công viên trình diễn nhạc nước, laser, chiếu phim trên màn nướclần đầu tiên có mặt tại Việt Nam
* Đảo Bạch Long Vĩ
Bạch Long Vĩ là một huyện đảo thuộc Hải Phòng, nằm trên hòn đảo cùng tênvới diện tích vào khoảng 2,5km² khi có thủy triều lên và khoảng 4km² khi thủytriều xuống Đảo nằm theo hướng Đông Bắc - Tây Nam Đảo Bạch Long Vĩ(20°07'35" và 20°08'36" vĩ độ Bắc; 107°42'20" - 107°44'15" kinh độ Đông),nằm ở giữa vịnh Bắc Bộ (cách Hòn Dấu - Hải Phòng 110km, cách đảo Hạ Mai70km, cách mũi Ta Chiao - Hải Nam 130km) Đảo có một vị trí quan trọng trongviệc mở rộng các vùng biển và phân định biển vịnh Bắc Bộ Ngoài ra, đảo cònnằm trên một trong tám ngư trường lớn của vịnh, có một vị trí quan trọng trongchiến lược phát triển kinh tế, an ninh - quốc phòng biển của Việt Nam ở vịnhBắc Bộ
Trước đây đảo còn có tên là Vô Thủy và một tên khác là Phù Thủy Châu.Theo hiệp ước Pháp - Thanh 1887, Bạch Long Vĩ - nằm phía Tây kinh tuyến105°43' tính từ Paris (tức 108°43') trong vịnh Bắc Bộ - thuộc về nước An Nam(xứ bảo hộ của Pháp)
Năm 1920, sau khi tìm được nguồn nước ngọt, dân cư vùng Quảng Yên Việt Nam tới đây sinh sống, lập nghiệp bằng nghề chăn nuôi, trồng trọt và khai
Năm 1937, vua Bảo Đại phái người tới đảo lập đồn canh phòng và xây dựng chế
độ lý trưởng Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật đảo chính Pháp ở ĐôngDương và cho quân ra đảo tước khí giới của binh lính Bảo Đại Năm 1946, Phápquay trở lại Đông Dương tiếp tục khôi phục lại chế độ cai trị trên đảo Năm 1949,Quốc dân đảng (Trung Quốc) thua trận chạy ra Đài Loan, chiếm Bạch Long Vĩ.Tháng 7 năm 1955, quân cộng sản Trung Quốc đánh chiếm đảo
Ngày 16 tháng 1 năm 1957, Việt nam dân chủ cộng hoà đã tiếp quản đảo,khẳng định chủ quyền của Nhà nước Việt nam đối với đảo, vùng biển, vùng trời
và thềm lục địa xung quanh đảo Trước khi giải phóng, trên đảo có 135 hộ dânvới 518 người sinh sống
Ngày 16 tháng 1 năm 1957, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ra Nghị định số49/TTg quy định đảo Bạch Long Vĩ là xã trực thuộc ủy ban nhân dân thành phố
Trang 38Hải phòng Cũng trong năm này, trên đảo đã có hợp tác xã nông ngư gồm 63 laođộng chính và 31 lao động phụ, có 22ha đất canh tác, 11 thuyền, 2 tàu đánh cá
và các ngư lưới phục vụ đánh bắt hải sản
Cuối năm 1965, Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam, toàn bộ dân cư của đảo đãđược sơ tán về đất liền Từ năm 1965 cho đến 1992, trên đảo chỉ có lực lượng vũtrang (Tiểu đoàn 152, sau này là Trung đoàn 952 Vùng I hải quân) làm nhiệmvụ
* Đảo Cát Bà
Đảo Cát Bà nằm ở phía Nam vịnh Hạ Long ngoài khơi thành phố Hải Phòng
và tỉnh Quảng Ninh, cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 30km, cáchthành phố Hạ Long khoảng 25km Đảo Cát Bà là đảo lớn nhất nằm trong mộtquần thể gồm 367 đảo Về mặt hành chính, đảo thuộc huyện đảo Cát Hải, thànhphố Hải Phòng
Khu vực đảo có tọa độ 106°52' - 107°07' kinh Đông, 20°42' - 20°54' độ vĩ Bắc.Diện tích khoảng gần 300km² Dân số 8.400 người (năm 1996) Xung quanh đảo
có các đảo nhỏ khác như: Hòn Cát Ông, Hòn Cát Đuối, Hòn Mây, Hòn QuaiXanh, Hòn Tai Kéo,
Cát Bà, còn gọi là đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất trong tổng số 1.969 đảo trênvịnh Hạ Long Theo truyền thuyết địa phương thì tên Cát Bà còn được đọc làCác Bà Vì có một thời các bà, các chị ở đây đứng ra lo việc hậu cần cho các ôngđánh giặc trên một hòn đảo lân cận có tên là đảo các Ông Như vậy, Cát Bà làđọc chệch của Các Bà
Trước đây đảo Cát Bà thuộc huyện Cát Bà, năm 1977 mới sáp nhập vớihuyện Cát Hải thành huyện Cát Hải mới Trước đây đảo thuộc tỉnh Quảng Yên,sau thuộc khu Hồng Quảng, đến năm 1956 mới chuyển về thành phố Hải Phòng
Thị trấn Cát Bà hiện nay là huyện lỵ huyện Cát Hải Trước năm 1945, thị trấnCát Bà là phố Cát Bà, rồi Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, tỉnh Quảng Yên Sau năm
1945, trở thành thị xã Cát Bà Đến năm 1957, thị xã Cát Bà đổi thành thị trấncủa huyện Cát Bà mới thành lập
Cát Bà là một hòn đảo đẹp và thơ mộng, nằm ở độ cao trung bình 70m so vớimực nước biển Trên đảo này có thị trấn Cát Bà ở phía đông nam (trông ra vịnhLan Hạ) và 6 xã: Gia Luận, Hiền Hào, Phù Long, Trân Châu, Việt Hải, XuânĐám Cư dân chủ yếu là người Kinh
Về khí hậu, Cát Bà nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng củađại dương nên các chỉ số trung bình về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa cũng tương
Trang 39đương như các khu vực xung quanh, tuy nhiên có đặc điểm là mùa đông thì ítlạnh hơn và mùa hè thì ít nóng hơn so với đất liền Cụ thể là: Lượng mưa 1.700 -1.800 mm/năm, dao động theo mùa Mùa mưa chủ yếu là tháng 7, 8 Nhiệt độtrung bình 25-28°C, dao động theo mùa Về mùa hè có thể lên trên 30°C, về mùađông trung bình 15-20°C nhưng có thời điểm xuống dưới 10°C (khi có gió mùađông bắc) Độ ẩm trung bình 85% Dao động của thủy triều 3,3 - 3,9m Độ mặnnước biển từ 0,930% (mùa mưa) đến 3,111%(mùa khô)
Đảo Cát Bà có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi là một nơi đang được đẩymạnh phát triển du lịch sinh thái Phía Đông Nam của đảo có vịnh Lan Hạ, phíaTây Nam có vịnh Cát Gia với một số bãi cát nhỏ nhưng sạch, sóng không lớnthuận tiện cho phát triển du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng Trên biển xuất hiện nhiều
Hạ Long và Bái Tử Long ở một số đảo nhỏ, cũng có nhiều bãi tắm đẹp Đườngxuyên đảo Cát Bà dài 27km, có nhiều đèo dốc quanh co, men theo mép biển,xuyên qua vườn quốc gia, phong cảnh kỳ thú, non nước hữu tình
ở Cát Bà có động Trung Trang nằm cách thị trấn 15km cạnh đường xuyênđảo, có nhiều nhũ đá thiên nhiên Động này có thể chứa hàng trăm người ĐộngHùng Sơn cách thị trấn 13km, trên đường xuyên đảo Động còn có tên độngQuân Y vì trong chiến tranh Việt Nam người ta đã xây cả một bệnh viện hàngtrăm giường nằm ở trong lòng núi Động Phù Long (Cái Viềng) mới tìm ra, đượccho là đẹp hơn động Trung Trang Cát Bà có các bãi tắm: Cát Cò 1, Cát Cò 2,Cát Dứa, Cát Ông, Cát Trai Gái, Đường Danh, v.v Đây là những bãi tắm nhỏ,đẹp, kín đáo, cát trắng mịn, nước biển có độ mặn cao, trong suốt tới đáy ở đây
có thể xây dựng những "thủy cung" để con người được trực tiếp quan sát các đàn
cá heo, tôm hùm, rùa biển, mực ống, cá mập bơi lượn quanh những cụm san hô
đỏ
Cát Bà có rừng quốc gia được thành lập ngày 31 tháng 3 năm 1986 theo quyếtđịnh số 79/CP của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) Gồm các hệ sinh tháibiển, hệ sinh thái rừng trên cạn, hệ sinh thái rừng ngập mặn
Vườn quốc gia Cát Bà nằm cách trung tâm thành phố Hải Phòng 35 hải lý vềphía đông Bắc giáp xã Gia Luận, đông giáp vịnh Hạ Long , tây giáp thị trấn Cát
Bà và các xã Xuân Đàm, Trân Châu, Hiền Hào Tổng diện tích tự nhiên củavườn là 15.200ha Trong đó có 9.800ha là rừng núi và 5.400ha là mặt nước biển.Toàn bộ v ườn quốc gia Cát Bà là một vùng núi non hiểm trở có độ cao < 500m,trong đó đa phần là nằm trong khoảng 50-200m Đảo Cát Bà chủ yếu là núi đávôi xen kẽ nhiều thung lũng hẹp chạy dài theo hướng Đông Bắc - Tây Nam.Vườn quốc gia Cát Bà gồm có 5 nhóm đất chính: Nhóm đất trên núi đá vôi là loại đất phong hóa màu nâu đỏ hoặc nâu vàng phát triển trên đá vôi và sa thạch, tầng đất > 50cm, pH =6,5-7, phân bố dưới tán rừng, rải rác trong vườn Nhóm đất đồi feralit màu nâuvàng hoặc nâu nhạt phát triển trên sản phẩm đá vôi ít chua hay gần trung tính.Trong nhóm đất này còn có loại feralit màu trắng xám hay màu nâu vàng pháttriển trên diệp thạch sét chua vùng đồi trọc, tầng đất mỏng, cấu tượng xấu, nhiều
Trang 40đá lẫn, đất khô rời rạc Nhóm đất thung lũng cạn phát triển trên đá vôi hoặc sảnphẩm đá vôi, tập trung ở các thung lũng, được rừng tự nhiên che phủ Nhóm đấtthung lũng ngập nước, phát triển chủ yếu do quá trình bồi tụ, mùa mưa thườngngập nước, tầng đất mặt trung bình hoặc mỏng Nhóm đất bồi tụ ngập mặn dosản phẩm bồi tụ ở cửa sông, phát triển trên vùng ngập mặn ở Cái Viềng, PhùLong
Với rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn, các rạn san hô, thảmrong - cỏ biển, hệ thống hang động, tùng áng,… Cát Bà là nơi hội tụ đầy đủ cácgiá trị bảo tồn đa dạng sinh học, bảo đảm các yêu cầu của khu dự trữ sinh quyểnthế giới Chính vì vậy, ngày 2 tháng 12 năm 2004, Cát Bà được UNESCO côngnhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới Tổng diện tích khu dự trữ sinh quyển Cát
Bà rộng hơn 26.000ha, với 2 vùng lõi (bảo tồn nghiêm ngặt và không có tácđộng của con người), 2 vùng đệm (cho phép phát triển kinh tế hạn chế song kếthợp với bảo tồn) và 2 vùng chuyển tiếp (phát triển kinh tế) Khu dự trữ sinhquyển Cát Bà là vùng hội tụ đầy đủ cả rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừngngập mặn, các rạn san hô, thảm rong và đặc biệt là hệ thống hang động
Động, thực vật ở Cát Bà có gần 60 loài được coi là các loài đặc hữu và quýhiếm đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam như: ác là, quạ khoang, voọc đầu vàng,
voọc quần đùi trắng và các loài thực vật như chò đãi, kim giao, lá khôi, lát hoa,
dẻ hương, thổ phục linh, trúc đũa, sến mật Ngoài ra còn 8 loài rong, 7 loài động
bảo vệ
* Một số đảo lớn ven bờ ở Thanh Hóa
Vùng biển Thanh Hóa có nhiều đảo nhỏ với điều kiện tự nhiên và tiềm năngtương đối thuận lợi để phát triển các ngành khai thác hải sản và phát triển dulịch, một số đảo lớn ven bờ còn có tầm quan trọng đặc biệt trong phát triển kinh
tế và củng cố quốc phòng an ninh Đó là hòn Nẹ, hòn Mê, đảo Nghi Sơn… Hòn Nẹ là tên chỉ hòn đảo nhỏ nằm ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, Biển Đông Đảo
Nẹ nằm thuộc hải phận tỉnh Thanh Hóa, nó nằm cách đất liền huyện Hậu Lộckhoảng 6km về phía Đông, cách bờ biển Hoằng Hoá khoảng 5km về phía ĐôngBắc và cách bờ biển Nga Sơn khoảng 6km về phía Nam Hòn Nẹ nằm ở tọa độ19°54'46" độ vĩ bắc và 106°00'32" độ kinh Đông
Trên hòn Nẹ có đền thờ Long Vương Hàng năm vào ngày 15 tháng 5 âm lịch
là ngày ''Trời đất giao hoà'', dân chài ven biển Nga sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa lại
tổ chức các đoàn thuyền rồng ra đảo làm lễ hội cầu mưa thuận gió hoà, sóng yênbiển lặng
Cũng tại Hòn Nẹ, vào tháng 7 năm 1964, các chiến sĩ Hải quân nhân dân ViệtNam đã chọn làm nơi phục kích để đánh đuổi sự khiêu khích và vi phạm chủquyền của tàu khu trục Maddox trong "sự kiện vịnh Bắc Bộ"
Đảo Nghi Sơn là xã đảo mà trên bản đồ địa lý Việt Nam ghi là Cù Lao Bãi
Biện hay Biện Sơn Hòn đảo này như một cánh tay khổng lồ chìa ra biển, ômgọn trong lòng nó một vụng nước với độ sâu thích hợp làm nơi cho tàu thuyền