Quá trình dạy học là quá trình hoạt động thống nhất biện chứng, trong đó người giáo viên đóng vai trò lãnh đạo, tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh và học sinh đóng vai
Trang 1(Dành cho sinh viên ngành CĐSP)
Tác giả: Hoàng Thị Tường Vi
Trang 22
MỤC LỤC
LỜI NểI ĐẦU 4
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA LÍ LUẬN DẠY HỌC 5
1.1 QUÁ TRèNH DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THCS 5
1.1.1 Khỏi niệm chung về quỏ trỡnh dạy học 5
1.1.2 Quỏ trỡnh dạy học là một hệ thống toàn vẹn 5
1.1.3 Bản chất của quỏ trỡnh dạy học 6
1.1.4 Nhiệm vụ dạy học ở trường THCS 10
1.1.5 Quy luật, động lực và logic của quỏ trỡnh dạy học 11
1.2 NGUYấN TẮC DẠY HỌC 12
1.2.1 Khỏi niệm 12
1.2.2 Những căn cứ để xõy dựng nguyờn tắc dạy học 12
1.2.3 Hệ thống cỏc nguyờn tắc dạy học 13
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA Lí LUẬN GIÁO DỤC 17
2.1 Quá trình giáo dục 17
2.1.1 Khái niệm quá trình giáo dục 17
2.1.2 Cấu trúc của quá trình giáo dục 18
2.1.3 Đặc điểm của quá trình giáo dục 21
2.1.4 Lôgíc của quá trình giáo dục 23
2.1.5 Động lực của quá trình giáo dục 24
2.1.6 Bản chất của quá trình giáo dục 25
2.1.7 Tính quy luật của quá trình giáo dục 26
2.1.8 Tự giáo dục và giáo dục lại 27
2.2 NGUYấN TẮC GIÁO DỤC 29
2.2.1 Khái niệm nguyên tắc giáo dục 29
2.2.2 Hệ thống các nguyên tắc giáo dục 29
2.3 PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC 36
2.3.1 Khái niệm phương pháp giáo dục 36
2.3.2 Phân loại phương pháp giáo dục 37
2.3.3 Hệ thống các phương pháp giáo dục 38
CHƯƠNG 3: TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THCS 48
3.1 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THCS 48
Trang 33
3.2 NỘI DUNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THCS 48
3.2.1 Nội dung dạy học 48
3.2.2 Kế hoạch dạy học 49
3.2.3 Chương trỡnh dạy học 50
3.3 PHƯƠNG PHÁP, PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THCS 54
3.3.1 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC 54
3.3.2 PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC 60
3.4 HèNH THỨC TỔ CHỨC DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THCS 62
3.4.1 Khỏi niệm 62
3.4.2 Cỏc hỡnh thức tổ chức dạy học ở trường phổ thụng 62
CHƯƠNG 4 TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THCS 80
4.1 KHÁI NIỆM NỘI DUNG GIÁO DỤC 80
4.2 NỘI DUNG GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG THCS 81
4.2.1 Giáo dục ý thức công dân 81
4.2.2 Giáo dục văn hoá - thẩm mĩ 85
4.2.3 Giáo dục lao động và hướng nghiệp 89
4.2.4 Giáo dục thể chất 93
CHƯƠNG 5 NGƯỜI GIÁO VIấN CHỦ NHIỆM LỚP Ở 96
TRƯỜNG THCS 96
5.1 VAI TRề CỦA NGƯỜI GIÁO VIấN CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG THCS 96
5.1.1 Giáo viên chủ nhiệm lớp 96
5.1.2 Vai trò của giáo viên chủ nhiệm lớp 96
5.2 NHIỆM VỤ CỦA NGƯỜI GIÁO VIấN CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG THCS 97
5.2.1 Nghiên cứu, nắm vững tình hình học sinh của lớp 97
5.2.2 Tổ chức và xây dựng tập thể học sinh vững mạnh 98
5.2.3 Tổ chức các hoạt động đa dạng cho tập thể học sinh 101
5.3 PHƯƠNG PHÁP CễNG TÁC CỦA GIÁO VIấN CHỦ NHIỆM LỚP 104
5.3.1 Đặc điểm công tác của giáo viên chủ nhiệm lớp 104
5.3.2 Phương pháp công tác của giáo viên chủ nhiệm lớp 105
5.4 NHỮNG YấU CẦU ĐỐI VỚI GIÁO VIấN CHỦ NHIỆM LỚP 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 44
LỜI NÓI ĐẦU
Hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục là một bộ phận quan trọng của Giáo dục học, nghiên cứu quá trình dạy học và giáo dục trong nhà trường trung học Giáo trình đã trình bày một số vấn đề cơ bản của hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục ở nhà trường trung học nhằm giúp cho những nhà giáo THCS tương lai học tập thuận lợi và có kết quả môn phương pháp dạy học bộ môn, nhờ đó mà tiến hành hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục có kết quả ở trường THCS
Nhóm tác giả đã cố gắng tiếp cận, cập nhật các xu thế đổi mới và phát triển của lý luận dạy học, lý luận giáo dục hiện đại, kế thừa những kinh nghiệm quý báu ở nước ta, nhằm cung cấp cho sinh viên nhãn quan tiến bộ về dạy học, giáo dục nói riêng và nhãn quan sư phạm nói chung; Những kiến thức, thái độ và kĩ năng nghề nghiệp năng động, đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung và phương pháp dạy học, giáo dục trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay
Giáo trình gồm có 5 chương, khối lượng kiến thức và kĩ năng dạy học, giáo dục rất lớn vì vậy để đảm bảo học tập thông qua bài giảng này đạt hiệu quả cao, một mặt cần giúp sinh viên nắm vững những vấn đề lý luận, mặt khác đòi hỏi sinh viên thực hành thông qua thời gian thực hiện chương trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên và công tác thực hành thực tập sư phạm
Qúa trình biên soạn giáo trình chắc rằng không sao có thể tránh được những khiếm khuyết chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp phản hồi từ phía cán bộ giảng viên và sinh viên, những người quan tâm nghiên cứu học tập quá trình dạy học và quá trình giáo dục ở trường trung học cơ sở để có thể hoàn thiện hơn cuốn giáo trình này
Tác giả
Trang 55
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA LÍ LUẬN DẠY HỌC
1.1 QUÁ TRÌNH DẠY HỌC Ở TRƯỜNG THCS
1.1.1 Khái niệm chung về quá trình dạy học
a Khái niệm
Là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, dạy học là quá trình dưới sự lãnh đạo,
tổ chức, điều khiển của giáo viên, học sinh tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo tự tổ chức,
tự điều khiển hoạt động học tập của mình nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học
b Dấu hiệu đặc trưng của quá trình dạy học
- Hoạt động dạy học bao gồm: Hoạt động dạy và hoạt động học được thực hiện bởi hai chủ thể giáo viên và học sinh Hai nhân tố này quy định sự tồn tại của quá trình dạy học, nếu thiếu một trong hai nhân tố thì quá trình dạy học sẽ không diễn ra Quá trình dạy học là quá trình hoạt động thống nhất biện chứng, trong đó người giáo viên đóng vai trò lãnh đạo,
tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của học sinh và học sinh đóng vai trò là chủ thể tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, phối hợp với sự hướng dẫn của giáo viên tự tổ chức điều khiển hoạt động nhận thức (học tập) của mình nhằm thực hiện các nhiệm vụ dạy học
c Tính hai mặt của quá trình dạy học
Quá trình dạy học là quá trình bao gồm trong nó hai quá trình bộ phận: quá trình dạy
và quá trình học Hai qúa trình này không tách rời nhau, luôn gắn bó hữu cơ với nhau, bổ sung hỗ trợ cho nhau để cùng đạt được mục tiêu dạy học Thiếu một trong hai quá trình bộ phận thì quá trình dạy học không diễn ra Tuy nhiên, điều này chỉ đạt được khi người dạy
và người học thực hiện tốt chức năng của mình: người dạy đóng vai trò chủ đạo, hướng dẫn, trọng tài, điều khiển, điều chỉnh hoạt động nhận thức của người học, còn người học đóng vai trò là chủ thể tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo, phối hợp với hoạt động của người dạy, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức- học tập của mình nhằm thực hiện những nhiệm vụ dạy học
Quan niệm dạy học hiện đại coi giáo viên và học sinh đều là chủ thể tích cực của quá trình dạy học, cụ thể:
- Trong hoạt động dạy, chủ thể- giáo viên tổ chức, điều khiển hoạt động của học sinh; đối tượng tác động là hoạt động học tập của học sinh; mục đích của hoạt động dạy là phát triển trí tuệ, năng lực- yếu tố cơ bản, trực tiếp hình thành nhân cách toàn diện ở học sinh; nội dung hoạt động dạy là hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, kể cả phương pháp hoạt động nhận thức; phương pháp giảng dạy phối hợp giữa các phương pháp dạy học truyền thống và hiện đại
- Trong hoạt động học, chủ thể- học sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên, họ hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo nhằm lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực, hình thành nhân cách theo mục tiêu giáo dục Hoạt động học tập của học sinh càng có
ý thức và tự giác khi xác định được mục đích, động cơ rõ rệt Trong hoạt động này, mục đích học tập là trên cơ sở tiếp thu văn hoá nhân loại chuyển thành năng lực bản thân, học
để hành, để vận dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra; nội dung học không chỉ là hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mà còn cả kiến thức về phương pháp học, phương pháp nhận thức, phương pháp giải quyết vấn đề thực tiễn; phương pháp học là phương pháp hoạt động nhận thức và thực hành, đặc biệt là phương pháp tự học
1.1.2 Quá trình dạy học là một hệ thống toàn vẹn
Trang 66
Hệ thống bao gồm nhiều thành phần, các thành tố, thành phần đó có vị trí, vai trò riêng nhưng chúng quan hệ biện chứng, tác động ảnh hưởng qua lại với nhau theo những quy luật nhất định tạo thành một khối thống nhất hoàn chỉnh Một hệ thống phải thoả mãn các điều kiện:
Hệ thống bao giờ cũng tồn tại trong một môi trường nhất định và chịu sự tác động qua lại với môi trường
Quá trình dạy học bao gồm các thành tố: Mục đích (mục tiêu); Nhiệm vụ dạy học; Nội dung dạy học; Giáo viên với hoạt động dạy; Học sinh với hoạt động học; Phương pháp dạy học; Phương tiện dạy học; Hình thức tổ chức dạy học; Kết quả của quá trình dạy học Trong đó:
- Mục đích, nhiệm vụ dạy học phản ánh yêu cầu của xã hội đặt ra, là đơn đặt hàng của
xã hội đối với nhà sư phạm, nó định hướng, chi phối toàn bộ quá trình dạy học
- Nội dung dạy học là mục đích được hiện thực hoá, quy định việc dạy cái gì, học cái
gì trong quá trình dạy học Nội dung dạy học được xây dựng phù hợp với đặc điểm nhận thức của từng lứa tuổi học sinh
- Giáo viên và học sinh là hai nhân tố đặc trưng cơ bản thể hiện tính hai mặt không thể thiếu của quá trình dạy học Sự tác động qua lại giữa học sinh và giáo viên tạo nên kết quả dạy học, làm biến đổi nhân cách người học
- Phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học là công cụ, cách thức dạy học,
nó có tác dụng thúc đẩy quá trình học tập của học sinh
- Kết quả dạy học là nhân tố phản ánh chất lượng và hiệu quả toàn bộ quá trình dạy học so với mục đích đề ra
Quá trình dạy học bao giờ cũng gắn với môi trường (kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, khoa học kĩ thuật - công nghệ ) Môi trường vừa tạo điều kiện vừa đặt ra yêu cầu đối với quá trình dạy học
Tóm lại, mối quan hệ trong các nhân tố của qúa trình dạy học là mối quan hệ biện chứng, nếu sự thay đổi nhân tố nào đó sẽ kéo theo sự thay đổi các nhân tố khác Vì vậy, trong quá trình dạy học cần phải xem xét một cách toàn diện và phải đảm bảo tính hệ thống toàn vẹn của nó
1.1.3 Bản chất của quá trình dạy học
1.1.3.1 Những cơ sở để xác định bản chất của quá trình dạy học
a Khía cạnh biện chứng
Quá trình dạy học chỉ đạt được mục đích khi thực hiện được mối quan hệ biện chứng:
- Giữa nhận thức và dạy học: Để tồn tại và phát triển loài người không ngừng nhận thức tích luỹ kinh nghiệm và dần dần khái quát hoá chúng thành hệ thống tri thức Những tri thức đó được truyền cho thế hệ sau một cách có tổ chức thông qua quá trình dạy học Như vậy, trong xã hội diễn ra hai dạng hoạt động (hoạt động nhận thức của loài người và hoạt động dạy học) Hoạt động nhận thức có trước hoạt động dạy học có sau
- Giữa dạy và học, giữa giáo viên và học sinh: Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh hai hoạt động quan hệ biện chứng với nhau, nhằm tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh Kết quả dạy học xét cho cùng chính là tập trung ở kết quả nhận thức của người học Vì vậy, chỉ có thể tìm ra bản chất quá trình dạy học trong mối quan hệ giữa học sinh và tài liệu học tập ở trong hoạt động nhận thức Từ đó suy ra bản chất quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh
b Khía cạnh xã hội
Trang 77
Quá trình dạy học thể hiện mối quan hệ giữa nhận thức và dạy học, giữa người dạy và người học thông qua quá trình chuyển hoá kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người cho các thế hệ sau Vì vậy, quá trình dạy học là một hiện tượng xã hội, là quá trình truyền kinh nghiệm lịch sử xã hội cho thế hệ sau
c Quan niệm tâm lý
Quá trình dạy học được xem là quá trình tâm lý (phản ánh kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người vào trong một con người tạo nên tâm lý, ý thức, nhân cách) Các phẩm chất tâm lý vừa là mục tiêu vừa là nhân tố để người học nắm vững tri thức kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực trí tuệ, hình thành thế giới quan, phẩm chất đạo đức nhân cách
d Một số quan điểm khoa học hiện đại
- Quan điểm hệ thống cấu trúc: Quá trình dạy học là một hệ thống hoạt động phức tạp
có thể chỉ đạo và điều khiển được
- Thuyết điều khiển, điều chỉnh: Quá trình dạy học là một quá trình điều khiển thể hiện
sự thống nhất giữa điều khiển dạy và điều khiển học, điều khiển và tự điều khiển
- Lý thuyết thông tin: Quá trình dạy học được xem như là quá trình thu nhận, truyền đạt, lưu giữ, xử lý và vận dụng thông tin
1.1.3.2 Bản chất của quá trình dạy học
a Hoạt động học là hoạt động nhận thức
Quá trình học tập của học sinh cũng như quá trình nhận thức của loài người, là sự phản ánh thế giới khách quan vào não (ý thức) Sự phản ánh đó đi trước có tính chất cải tạo ở mức độ cao nhất là sáng tạo Mặt khác, nó không thụ động như chiếc gương mà bao giờ cũng bị khúc xạ bởi lăng kính chủ quan của mỗi người Sự phản ánh đó có tính tích cực thể hiện ở chỗ nó được thực hiện trong tiến trình hành động phân tích, tổng hợp của não có tính lựa chọn Vì vậy, với tư cách là một thực thể xã hội có ý thức nên học sinh phản ánh khách quan về nội dung và chủ quan về hình thức
Hoạt động học tập về bản chất là quá trình nhận thức của học sinh, quá trình này diễn
ra theo quy luật nhận thức chung "Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy
đến thực tiễn Đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan" (Lê-nin) Song quá trình nhận thức của học sinh có thể diễn ra theo hai con
đường từ cụ thể đến trừu tượng và đi từ trừu tượng khái quát đến cụ thể
b Tính độc đáo trong quá trình nhận thức của học sinh
So sánh quá trình nhận thức chung của loài người (tiêu biểu là các nhà khoa học) và quá trình nhận thức của học sinh đều có điểm chung về đối tượng, mục đích và quy luật nhận thức Tuy nhiên, những điểm khác biệt thể hiện ở điều kiện nhận thức, kết quả nhận thức, logic và tính chất nhận thức
1.1.3.3 Quan điểm lấy người học làm trung tâm trong quá trình dạy học
a Hiểu thế nào là quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm ?
Bản chất của quan điểm này là lấy hoạt động của người học làm trung tâm, người học vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình dạy học Mọi tác động sư phạm của người dạy phải căn cứ vào đặc điểm người học, phải tạo điều kiện để người học suy nghĩ hoạt động nhiều, phải khơi dậy tiềm năng người học Việc dạy học phải xuất phát từ người học, giáo dục học sinh có nhu cầu, động cơ đúng đắn
Người học phải là chủ thể của hoạt động học, tự giác, tích cực, chủ động sáng tạo để chiếm lĩnh tri thức, hình thành kĩ năng, kĩ xảo và thái độ tạo ra sản phẩm giáo dục cho chính mình Người học phải nhập cuộc vào hoạt động học tập do động cơ bên trong thúc đẩy Người học trước hết phải tự thể hiện mình, hợp tác với bạn Quan điểm dạy học lấy
Trang 88
người học làm trung tâm phải chuyển hoá quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo, quá trình giáo dục thành tự giáo dục Người học vừa là chủ thể, vừa là mục tiêu của quá trình dạy học Người học không lệ thuộc tuyệt đối vào giáo viên mà chủ yếu là quan hệ trực tiếp với tri thức và bạn bè thông qua hành động học của mình Người dạy đóng vai trò lãnh đạo, hưóng dẫn, tổ chức, trọng tài
b Đặc điểm của dạy học lấy học sinh làm trung tâm
- Về mục tiêu dạy học: Hướng vào việc chuẩn bi cho học sinh thích ứng với đời sống
xã hội, tôn trọng nhu cầu và lợi ích, tiềm năng học sinh
- Về nội dung dạy học: Ngoài tri thức lý thuyết, chú trọng các kĩ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn
- Về phương pháp dạy học: Hướng vào việc tổ chức hướng dẫn học sinh hoạt động, giúp họ vận dụng hiểu biết và kinh nghiệm của mình vào việc chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện phương pháp tự học, tập dượt nghiên cứu
- Về hình thức tổ chức dạy học: Phong phú, đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi để học sinh tự thể hiện, khẳng định mình
- Về đánh giá: Học sinh tự đánh giá và tham gia đánh giá lẫn nhau theo chuẩn với vai trò trọng tài của giáo viên
Sự khác nhau cơ bản giữa dạy học thụ động và dạy học tích cực
TIÊU CHÍ DẠY HỌC TRUYỀN THỐNG
(GV làm trung tâm / thụ động)
DẠY HỌC TÍCH CỰC (Dạy và học tập trung vào HS)
- Dạy là quá trình tổ chức và điều khiển các hoạt động nhận thức của học sinh để đạt mục tiêu dạy học
- HS là trung tâm, GV tổ chức và điều khiển các HĐ
- Quan tâm đến quá trình học ntn, khai thác động lực học tập, gắn việc học với nhu cầu, lợi ích người học
4.Mục tiêu
dạy học Chuẩn bị cho HS vào đời và tiếp tục học lên
Chú trọng đến hình thành kiến
- Chuẩn bị cho HS sớm thích ứng với đời sống XH, hòa nhập và góp phần phát triển cộng đồng
Trang 99
nhận thức, NL hành động, NL tự học, các KN giải quyết vấn đề
- Tôn trọng lợi ích, nhu cầu, NL người học
5.Nội dung
dạy học
Chú trọng trước hết đến hệ thống kiến thức lí thuyết, sự phát triển tuần tự các khái niệm, định luật, học thuyết
- Chú trọng các kĩ năng thực hành vận dụng kiến thức lí thuyết, năng lực phát hiện và giải quyết các vấn đề thực tiễn
6 PPDH PP chủ yếu là thuyết trình giảng
giải, thầy nói trò ghi GV tranh thủ truyền thụ vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mình HS tiếp thu thụ động, cố hiểu và nhớ
những điều GV đã nói- hiệu quả học tập nông cạn
Coi trọng việc rèn luyện HS PP tự học, phát huy sự tìm tòi độc lập Dạy& Học tích cực tập trung vào
giáo dục con người như một tổng thể
Học cá nhân, học đôi, học nhóm…
Học ở lớp, ở phòng thí nghiệm, trong thực tế, cơ sở sản xuất… Thường dùng bàn ghế cá nhân, linh hoạt thay đổi cách bố trí
8.PT DH Được sử dụng chủ yếu để minh
họa, kiểm nghiệm những nội dung trong SGK hoặc những lời nói của
GV
Được sử dụng như là nguồn thông tin dẫn HS dến kiến thức mới Quan tâm vận dụng các PTDH hiện đại
9 Đánh giá -GV thường đánh giá thông qua
điểm số
- GV đánh giá thường xuyên nhằm điều chỉnh quá trình DH GV hướng dẫn cho HS tự phát triển năng lực tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học
HS: hoạt động nhằm chiếm lĩnh
Trang 1010
thừa hành, bắt chước kiến thức, tìm hiểu và giải quyết
nhiệm vụ học tập
1.1.4 Nhiệm vụ dạy học ở trường THCS
1.1.4.1 Tổ chức, điều khiển học sinh nắm vững hệ thống tri thức khoa học và rèn luyện hệ thống kĩ năng, kĩ xảo tương ứng
Kho tàng tri thức nhân loại hết sức đồ sộ nhưng nhiệm vụ của trường THCS chỉ có thể làm cho học sinh nắm vững hệ thống tri thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn đất nước và hình thành những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng
Tri thức phổ thông cơ bản: tri thức phổ biến, tối thiểu cần thiết cho tất cả mọi người trong xã hội Là những tri thức đã được lựa chọn và xây dựng từ các lĩnh vực khoa học khác nhau, làm nền tảng cho các em tiếp tục học lên những bậc học cao hơn, học nghề hoặc bước vào cuộc sống (lao động, sản xuất, tham gia công tác xã hội )
Tri thức hiện đại: tiếp cận và phản ánh những thành tựu mới nhất của KHKT- CN, văn hoá xã hội, phù hợp với chân lý khách quan và với xu thế phát triển của thời đại
Tri thức phù hợp với thực tiễn của đất nước và với đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh Trong quá trình dạy học song song với việc trang bị hệ thống tri thức là hình thành cho học sinh hệ thống kĩ năng, kĩ xảo tương ứng Đặc biệt là những kĩ năng, kĩ xảo liên quan tới hoạt động học tập, tự học và tập nghiên cứu khoa học ở mức độ thấp Biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong những tình huống khác nhau trong thực tiễn
1.1.4.2 Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành, phát triển năng lực và phẩm chất hoạt động trí tuệ đặc biệt là tư duy độc lập, sáng tạo
Sự phát triển trí tuệ được dựa trên cơ sở tích luỹ vốn tri thức và các thao tác tri tuệ thành thạo, vững chắc Năng lực hoạt động trí tuệ được thể hiện ở năng lực vận dụng các thao tác trí tuệ Quá trình chiếm lĩnh tri thức diễn ra một cách hệ thống diễn ra một cách thống nhất giữa một bên là nội dung tri thức (cái được phản ánh) và một bên là các thao tác trí tuệ (phương thức phản ánh) Như vậy, hệ thống tri thức được lĩnh hội thông qua thao tác trí tuệ, ngược lại trí tuệ cũng được hình thành và phát triển thông qua quá trình chiếm lĩnh tri thức Muốn phát triển trí tuệ phải tích luỹ tri thức và rèn luyện các thao tác trí tuệ (phân tích, tổng hợp, so sánh, phân loại, hệ thống hoá, khái quát hoá, trừu tượng hoá )
Bên cạnh việc hình thành và phát triển năng lực trí tuệ là các phẩm chất trí tuệ như: Tính định hướng của hoạt động trí tuệ; Bề rộng của hoạt động trí tuệ, chiều sâu của hoạt động trí tuệ; tính linh hoạt, tính mềm dẻo, tính độc lập, tính nhất quán, tính phê phán, tính khái quát (đã nghiên cứu trong tâm lý học đại cương)
1.1.4.3 Tổ chức, điều khiển học sinh hình thành và phát triển thế giới quan khoa học, những phẩm chất đạo đức nói riêng và phát triển nhân cách nói chung
Trên cơ sở làm cho học sinh nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và phát triển năng lực nhận thức để hình thành cơ sở thế giới quan khoa học, những phẩm chất đạo đức nói riêng
và phát triển nhân cách nói chung
Thế giới quan là hệ thống những quan điểm về thế giới, về những hiện tượng trong tự nhiên, xã hội Nó quy định xu hướng chính trị tư tưởng, đạo đức và những phẩm chất khác đồng thời chi phối cách nhìn nhận, thái độ và hành động của mỗi cá nhân Dạy học phát triển đầy đủ việc hình thành thế giới quan để học sinh có suy nghĩ và hành động đúng đồng thời bồi dưỡng phẩm chất đạo đức theo mục đích giáo dục đề ra, thông qua dạy chữ
để dạy người
Trang 1111
Tóm lại, ba nhiệm vụ quan hệ biến chứng với nhau trên cơ sỡ lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo để phát triển trí tuệ và hình thành thế giới quan phẩm chất nhân cách Ngược lại hình thành phẩm chất nhân cách sẽ giúp cho học sinh nắm vững tri thức và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ Đồng thời, sự phát triển năng lực trí tuệ sẽ tạo điều kiện nắm tri thức tốt để hình thành thế giới quan, phẩm chất nhân cách
1.1.5 Quy luật, động lực và logic của quá trình dạy học
1.1.5.1 Quy luật và tính quy luật của quá trình dạy học
a.Khái niệm quy luật
Theo quan điểm duy vật biện chứng quy luật là mối liên hệ, quan hệ bản chất, tất yếu, khách quan, phổ biến và lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi sự vật, hiện tượng hay giữa các sự vật hiện tượng với nhau
b.Khái niệm tính quy luật
Tính quy luật là quy luật được nhận thức chưa đầy đủ chính xác, chưa diễn đạt một cách chặt chẽ về định tính, định lượng Đó chỉ là nhận thức bước đầu về quy luật
c.Tính quy luật của quá trình dạy học
Trong dạy học những tri thức chính xác của định luật được vạch ra chưa đạt mức độ quy luật gọi là tính quy luật Bao gồm:
- Tính quy luật về tính quy định xã hội đối với quá trình dạy học
- Tính quy luật về mối quan hệ giữa dạy học, giáo dục và phát triển
- Tính quy luật về sự thống nhất và quy định lẫn nhau giữa các nhân tố của quá trình dạy học
- Tính quy luật về mối quan hệ giữa quá trình dạy học với tính chất hoạt động giao lưu của học sinh
- Tính quy luật về việc chú ý tới đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá nhân học sinh trong quá trình dạy học
1.1.5.2 Động lực của quá trình dạy học
a.Mâu thuẫn của quá trình dạy học
Theo quan điểm duy vật biện chứng, mọi sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan đều không ngừng vận động và phát triển do có sự đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập thực chất là đấu tranh giải quyết các mâu thuẫn
Quá trình dạy học cũng như các sự vật, hiện tượng khác cũng không ngừng vận động
và phát triển do không ngừng đấu tranh giải quyết các mâu thuẫn
- Mâu thuẫn bên trong của quá trình dạy học là mâu thuẫn giữa các thành tố với nhau
và mâu thuẫn trong bản thân từng thành tố
- Mâu thuẫn bên ngoài của quá trình dạy học là mâu thuẫn giữa các thành tố trong quá
trình dạy học với các yếu tố bên ngoài môi trường (KT- XH, KHKT - công nghệ, văn hoá )
Việc giải quyết đúng đắn và hiệu quả mâu thuẫn bên trong có ý nghĩa quyết định trong việc tạo ra động lực, việc giải quyết mâu thuẫn bên ngoài tạo điều kiện thuận lợi cho sự vận động và phát triển của quá trình dạy học
b.Mâu thuẫn cơ bản- động lực chủ yếu của quá trình dạy học
- Căn cứ để xác định mâu thuẫn cơ bản:
+ Mâu thuẫn phải tồn tại trong suốt quá trình dạy học
+ Việc giải quyết mâu thuẫn đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các mâu thuẫn khác
+ Mâu thuẫn liên quan trực tiếp đến hoạt động học và sự vận động, phát triển trong hoạt động nhận thức của học sinh
Trang 1212
- Mâu thuẫn cơ bản: là mâu thuẫn giữa yêu cầu, nhiệm vụ học tập do tiến trình dạy học
đề ra với trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và sự phát triển trí tuệ hiện có của học sinh Mâu thuẫn này không ngừng xuất hiện, không ngừng được giải quyết, nó xuyên suốt quá trình dạy học tạo nên sự vận động, phát triển quá trình dạy học
- Động lực chủ yếu: Việc giải quyết có hiệu quả mâu thuẫn cơ bản sẽ tạo nên động lực chủ yếu của quá trình dạy học
c.Điều kiện để mâu thuẫn trở thành động lực
Để mâu thuẫn trở thành động lực phải thỏa mãn 3 điều kiện sau:
- Mâu thuẫn đó phải được người học ý thức một cách đầy đủ, sâu sắc và có nhu cầu giải quyết mâu thuẫn;
- Mâu thuẫn phải vừa sức học sinh: Nghĩa là nhiệm vụ học tập đề ra có mức độ tương ứng với giới hạn trên của vùng phát triển gần nhất, để học sinh giải quyết được vấn đề đặt
ra với sự nỗ lực cao nhất về trí tuệ, thể lực và kinh nghiệm;
- Mâu thuẫn phải nảy sinh một cách tất yếu theo tiến trình phát triển của quá trình dạy học
1.1.5.3 Logic của quá trình dạy học
a Khái niệm
Logic quá trình dạy học là trình tự vận động hợp quy luật nhằm đảm bảo cho học sinh
đi từ trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ tương ứng với lúc bắt đầu nghiên cứu môn học (hay một nội dung nào đó) đến trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ tương ứng với lúc kết thúc môn học (hay một nội dung nào đó)
Logic của quá trình dạy học phải được xác định phù hợp với logic môn học và với đặc điểm nhận thức của học sinh
b Các khâu của quá trình dạy học
Quá trình dạy học được tiến hành theo một tiến trình nhất định qua các khâu (bước), mỗi khâu giải quyết một vấn đề, mục đích dạy học nhất định Bao gồm những khâu cơ bản sau:
- Giáo viên đề xuất vấn đề (kích thích thái độ tích cực học tập của học sinh);
- Tổ chức, điều khiển học sinh lĩnh hội tri thức mới: Khâu này được thực hiện qua hai giai đoạn: Tổ chức điều khiển học sinh tri giác tài liệu cảm tính và hình thành khái niệm mới (tổ chức học sinh tiến hành các thao tác tư duy);
- Tổ chức, điều khiển học sinh củng cố tri thức (khắc sâu tri thức);
- Tổ chức, điều khiển học sinh rèn luyện kĩ năng, kỹ xảo;
- Kiểm tra, đánh giá và tổ chức học sinh tự kiểm tra đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo;
- Phân tích kết quả quá trình dạy học
Tóm lại, tuỳ theo từng giai đoạn và nhiệm vụ cụ thể mà có sự vận dụng linh hoạt và sáng tạo, thực hiện ở mức độ khác nhau và không nhất thiết phải tuân theo trình tự nhất định
1.2 NGUYÊN TẮC DẠY HỌC
1.2.1 Khái niệm
Nguyên tắc dạy học là những luận điểm xuất phát cơ bản, có tính quy luật của lý luận dạy học, có tác dụng chỉ đạo toàn bộ tiến trình giảng dạy và học tập phù hợp với mục tiêu dạy học, nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đã được xác định
1.2.2 Những căn cứ để xây dựng nguyên tắc dạy học
Khi xây dựng nguyên tắc dạy học căn cứ vào:
- Mục tiêu giáo dục;
Trang 1313
- Quy luật nhận thức của loài người cũng như quy luật nhận thức của học sinh;
- Tính quy luật của quá trình dạy học;
- Bảo đảm tính kế thừa, phát triển của quá trình dạy học
1.2.3 Hệ thống các nguyên tắc dạy học
1.2.3.1 Đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục trong dạy học
- Yêu cầu: Trong qúa trình dạy học phải trang bị cho học sinh hệ thống tri thức khoa hoc chính xác, phản ánh những thành tựu khoa học kĩ thuật - công nghệ và văn hoá hiện đại Giúp các em tiếp cận với phương pháp học tập, thói quen suy nghĩ và làm việc khoa học Qua đó dần hình thành cơ sở thế giới quan, tình cảm và những phẩm chất đạo đức nhân cách Dạy học không chỉ phát triển trí tuệ và trang bị cho người học tri thức mà còn phải tạo hứng thú và nhu cầu học tập
+ Bồi dưỡng cho học sinh ý thức và năng lực phân tích, phê phán những hiện tượng
mê tín dị đoan phản khoa học
+ Giúp học sinh làm quen và tiếp cận với một số phương pháp nghiên cứu khoa học ở mức độ đơn giản, rèn luyện phẩm chất, tác phong của người nghiên cứu khoa học
+ Vận dụng phương pháp và tổ chức hoạt động dạy học theo quan điểm phát huy tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh Mặt khác, ngăn chặn tình trạng học vẹt, thụ động trong học tập
1.2.3.2 Đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học
- Yêu cầu: Nguyên tắc này đòi hỏi quá trình dạy học phải làm cho học sinh nắm vững tri thức lý thuyết, nhận rõ tác dụng của tri thức đối với đời sống và kĩ năng vận dụng chúng góp phần cải tạo thực tiễn và bản thân
+ Về phương pháp dạy học: Cần khai thác vốn sống của người học để minh hoạ, giải quyết những vấn đề lý luận Tạo điều kiện để học sinh vận dụng tri thức vào những tình huống khác nhau trong thực tiễn, bước đầu làm quen với những phương pháp nghiên cứu khoa học
+ Về hình thức tổ chức dạy học: Cần kết hợp những hình thức tổ chức dạy học khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi để học sinh liên hệ lý thuyết với thực tiễn
1.2.3.3 Đảm bảo thống nhất giữa cái cụ thể và cái trừu tượng trong dạy học
- Yêu cầu: Nguyên tắc này đòi hỏi phải tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc trực tiếp với sự vật hiện tượng hoặc mô hình của chúng, từ đó hình thành những khái niệm, quy luật,
lý thuyết và ngược lại có thể từ lĩnh hội những khái niệm, quy luật, lý thuyết trước rồi xem xét những sự vật hiện tượng cụ thể Đảm bảo mối quan hệ qua lại giữa tư duy cụ thể với tư duy trừu tượng
Trang 1414
- Biện pháp thực hiện:
+ Sử dụng nhiều phương tiện trực quan khác nhau với tư cách là phương tiện nhận thức + Kết hợp nhuần nhuyễn phương pháp dạy học thuyết trình với trình bày trực quan, hình thành những biểu tượng mới, khái niệm mới
+ Khi trình bày đồ dùng trực quan, cần rèn luyện cho học sinh óc quan sát và kết hợp với ngôn ngữ
+ Cần sử dụng phối hợp các hình thức tổ chức dạy học khác nhau
+ Đề ra cho học sinh những bài tập nhận thức đòi hỏi phải thiết lập mối quan hệ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng và ngược lại
1.2.3.4 Đảm bảo tính vững chắc của tri thức kỹ năng, kỹ xảo và tính mềm dẻo của tư duy
- Yêu cầu: Nguyên tắc này đòi hỏi phải làm cho học sinh nắm vững bản chất vấn đề với sự hoà trộn vốn kinh nghiệm của bản thân, đồng thời học sinh cần nhớ nhiều, nhớ nhanh, nhớ lâu, nhớ chính xác những kiến thức phù hợp nhằm giải quyết có hiệu quả những tình huống cụ thể, góp phần tích cực vào việc phát triển năng lực nhận thức, tư duy sáng tạo cho học sinh
- Biện pháp thực hiện :
+ Trong dạy học cần làm nổi bật những cái cơ bản, bản chất của vấn đề
+ Trong quá trình tự học, học sinh phải biết sử dụng phối hợp nhiều loại ghi nhớ + Hướng dẫn học sinh sử dụng sách giáo khoa, cách sưu tầm, tra cứu tài liệu
+ Trong dạy học, chú ý ôn tập cho học sinh, trong ôn tập phải yêu cầu học sinh nắm được tính hệ thống của kiến thức, thấy được cái mới, đồng thời tạo điều kiện cho các em vận dụng kiến thức vào nhiều tình huống khác nhau Điều đó có tác dụng làm cho học sinh vừa nắm chắc kiến thức, vừa rèn luyện phẩm chất linh hoạt trong tư duy
1.2.3.5 Đảm bảo tính vừa sức và chú ý đến những đặc điểm lứa tuổi, tính cá biệt và tính tập thể trong dạy học
- Yêu cầu: Trong quá trình dạy học khi lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phải phù hợp với trình độ chung của lớp, đồng thời phù hợp với từng đối tượng học sinh, bảo đảm cho mọi học sinh đều có thể phát triển tối đa khả năng của mình Dạy học vừa sức nghĩa là đề ra những yêu cầu, nhiệm vụ phù hợp, tác động vào giới hạn cao nhất của “Vùng phát triển gần nhất” (theo học thuyết của L.X Vưgôtxki) mà học sinh có thể hoàn thành với sự nỗ lực cao nhất cả về trí lực lẫn thể lực
+ Phải điều chỉnh kịp thời hoạt động nhận thức của học sinh
+ Phải cá biệt hoá, sử dụng những tác động thích hợp để phát triển học sinh khá giỏi
và dẫn dắt học sinh trung bình, yếu kém
1.2.3.6 Đảm bảo sự thống nhất giữa tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh và vai trò chủ đạo của giáo viên trong quá trình dạy học
- Yêu cầu: Trong quá trình dạy học phải phát huy cao độ tính tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo của người học dưới tác dụng vai trò chủ đạo của giáo viên tạo nên sự cộng hưởng giữa hoạt động dạy và hoạt động học
Trang 1515
Thái độ tự giác, tích cực học tập bắt đầu từ khi học sinh hiểu rõ mục đích và nhiệm vụ chung của việc học tập cũng như những mục đích riêng của mỗi nhiệm vụ học tập, mỗi bài học, mỗi bài làm
Tính tự giác nhận thức thể hiện ở chỗ học sinh ý thức được mục đích, nhiệm vụ học tập, có ý thức trong việc lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, có ý thức kiểm tra, tự kiểm tra, đánh giá, tự đánh giá quá trình, kết quả học tập của mình để tự điều chỉnh quá trình học tập
Tính tích cực nhận thức thể hiện ở thái độ cải tạo của chủ thể đối với đối tượng nhận thức, huy động ở mức độ cao các chức năng tâm lí, khắc phục mọi khó khăn để hoàn thành các nhiệm vụ học tập
Tính độc lập nhận thức thể hiện ở chỗ học sinh biết tự phát hiện, tự đặt vấn đề, tự giải quyết vấn đề, tự kiểm tra đánh giá kết quả, hình thành tâm lý sẵn sàng học tập
Ba phẩm chất trên có quan hệ mật thiết, tác động qua lại và hỗ trợ lẫn nhau
+ Cần duy trì thường xuyên mối liên hệ ngược trong quá trình dạy học
1.2.3.7 Nguyên tắc chuyển quá trình dạy học thành quá trình tự học
- Yêu cầu: Nguyên tắc này đòi hỏi trong quá trình dạy học phải hình thành cho học sinh nhu cầu, năng lực, phẩm chất tự học có thể chuyển dần từ quá trình dạy học sang tự học Người học phải thực sự tích cực trong quá trình học tập, tự thể hiện mình và hợp tác với bạn, tự kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh hoạt động học tập để đạt hiệu quả ngày càng cao
- Biện pháp thực hiện:
+ Trong quá trình dạy học phải chú ý rèn luyện kỹ năng học tập: đọc sách, tra cứu, lập
kế hoạch, tự tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá
+ Tăng tỉ trọng hoạt động tự lực của học sinh trong quá trình học tập
+ Nêu những tấm gương tự học tốt để giáo dục học sinh
+ Tổ chức trao đổi kinh nghiệm học tập trong tập thể học sinh, xây dựng không khí và phong trào học tập sôi nổi của tập thể học sinh
Tóm lại, trên đây là các nguyên tắc chủ yếu của quá trình dạy học Các nguyên tắc tạo nên một hệ thống quan hệ biện chứng với nhau, chỉ đạo toàn bộ tiến trình hoạt động dạy học đạt hiệu quả
Câu hỏi hướng dẫn ôn tập và thảo luận
1 Hiểu thế nào là quá trình dạy học ? Tại sao nói bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của người học ?
2 Quá trình dạy học ở trường phổ thông thực hiện những nhiệm vụ nào ? phân tích mối quan hệ giữa các nhiệm vụ đó
3 Phân tích quan điểm dạy học lấy dạy học làm trung tâm
4 Phân tích động lực của qúa trình dạy học và rút ra kết luận sư phạm
5 Logic của quá trình dạy học gồm những khâu nào ? Cho ví dụ minh hoạ
Trang 16Thảo luận: Bản chất của quá trình dạy học; mối quan hệ giữa các nhiệm vụ dạy học;
quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm; động lực của quá trình dạy học; Yêu cầu
và biện pháp thực hiện các nguyên tắc dạy học
Trang 1717
CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA Lí LUẬN GIÁO
DỤC 2.1 Quá trình giáo dục
2.1.1 Khái niệm quá trình giáo dục
Trong học phần này, chúng ta sẽ nghiên cứu khái niệm giáo dục theo nghĩa hẹp, nghĩa là cùng nhau bàn về quá trình giáo dục hình thành phẩm chất nhân cách cho học sinh thông qua tổ chức các hoạt động ở các trường trung học cơ sở
Chúng ta sẽ bắt đầu từ khái niệm giáo dục
Với cách diễn đạt chung nhất: Giáo dục là quá trình tác động có định hướng của nhà giáo dục đến các đối tượng giáo dục, nhằm giúp họ hình thành những phẩm chất mới hay xoá bỏ những hành vi sai lệch nào đó cho phù hợp với chuẩn mực xã hội
Khi phân tích khái niệm giáo dục theo nghĩa như vậy ta thấy:
- Giáo dục là một hoạt động có hai mặt tác động qua lại biện chứng với nhau
+ Mặt thứ nhất: Đó là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục đến các
đối tượng giáo dục
Nhà giáo dục là những người đại diện cho thế hệ đi trước, được xã hội uỷ thác, những người nắm vững mục tiêu, chương trình giáo dục, bằng các hình thức và phương pháp đa dạng tổ chức các hoạt động giáo dục để định hướng phát triển nhân cách cho học sinh + Mặt thứ hai: Trong quá trình giáo dục có sự hưởng ứng tích cực của các đối tượng giáo dục trước những tác động của nhà giáo dục
Trong cuộc sống hàng ngày, với các hình thức hoạt động đa dạng và giao lưu nhiều chiều, trẻ em tiếp thu những giá trị văn hoá xã hội, trong đó có cả những tác động định hướng của các nhà giáo dục, biến những yêu cầu của xã hội, của các nhà giáo dục thành ý thức, thái độ và hành vi của mình
Trong quá trình giáo dục, hai mặt này thống nhất với nhau, tác động qua lại với nhau Những tác động sư phạm đóng vai trò định hướng, còn sự tiếp thu có ý thức của đối tượng giáo dục đóng vai trò quyết định cho sự thành công của quá trình giáo dục
Nắm vững đặc điểm tâm - sinh lí lứa tuổi, trình độ nhận thức, thói quen, hành vi của học sinh thì nhà giao dục tổ chức các hoạt động và sử dụng các phương pháp giáo dục thích hợp để đạt được mục đích đã đề ra
- Giáo dục là một quá trình tác động làm biến đổi tâm lí, ý thức của các đối tượng giáo dục
Giáo dục là quá trình được thực hiện trong suốt cuộc đời con người, ở đó diễn ra những biến đổi về tâm lí, ý thức và hình thành những phẩm chất nhân cách của các đối tượng giáo dục
Thật vậy, như chúng ta đã biết những tác động đa dạng từ phía nhà giáo dục, từ môi trường đến học sinh sẽ được chuyển hoá thành ý thức, thái độ và hành vi của họ là quá trình thông qua chọc lọc, tiếp nhận, suy xét, phân tích, thẩm thấu, tích luỹ, trải nghiệm của các
đối tượng giáo dục và sẽ dần dần trở thành những nét tính cách bền vững của từng cá nhân Quá trình này cần có thời gian và thời gian không có gì khác đó chính là cuộc đời con người
Những tác động định hướng của nhà giáo dục được chuyển hoá thành ý thức, thái độ, hành vi của các đối tượng giáo dục diễn ra tuân theo quy luật hình thành nhân cách Những
Trang 18động chuyển hoá những yêu cầu của xã hội, của nhà trường thành phẩm chất nhân cách của học sinh
Từ những phân tích trên, ta có thể đi đến định nghĩa khái niệm giáo dục một cách đầy
đủ như sau:
Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có hệ thống của nhà giáo dục đến các
đối tượng giáo dục, thông qua việc tổ chức các hoạt động đa dạng, với những nội dung, những hình thức và các phương pháp giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm lí lứa tuổi, để hình thành cho họ những phẩm chất của người công dân theo yêu cầu của xã hội và thời
đại
2.1.2 Cấu trúc của quá trình giáo dục
Dựa trên quan điểm hệ thống - cấu trúc, khi xem xét quá trình giáo dục như một chỉnh thể, ta thấy quá trình này có tính hệ thống và có cấu trúc bao gồm các thành tố sau
đây:
2.1.2.1 Mục đích giáo dục
Giáo dục là một quá trình có tính mục đích Mục đích giáo dục về thực chất là sự
định hướng của thế hệ trước đối với các thế hệ tiếp sau, với mong muốn thế hệ trẻ nhanh chóng tiếp thu được những tinh hoa văn hoá của dân tộc và nhân loại, để trở thành những công dân tốt, sống có ích cho bản thân, gia đình và xã hội, phù hợp với sự phát triển của thời đại
Mục đích giáo dục có tính lịch sử, phát triển cùng với xã hội và thời đại
ở bình diện xã hội, mục đích giáo dục ở nước ta hiện nay là đào tạo một thế hệ công dân mới có những phẩm chất đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, có ý thức tham gia xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
ở bình diện cá nhân, mục đích giáo dục là đào tạo học sinh trở thành người lao động sáng tạo, giàu cá tính, có ý thức công dân, biết sống hoà nhập với cộng đồng, biết phấn đấu vươn lên tự khẳng định mình trong một xã hội đang phát triển hết sức năng động
Từ mục đích giáo dục xã hội, các nhà giáo dục cụ thể hoá thành mục tiêu giáo dục của nhà trường, của gia đình, của các đoàn thể theo từng lứa tuổi, từng bậc học, phù hợp với các yêu cầu và các tình huống nảy sinh cụ thể trong cuộc sống hàng ngày
Mục tiêu giáo dục ở trường trung học cơ sở là giúp học sinh phấn đấu để trở thành con ngoan, trò giỏi, bạn tốt, cháu ngoan Bác Hồ và những công dân có ích trong tương lai Mục đích giáo dục chi phối toàn bộ các hoạt động giáo dục của nhà trường, gia đình
và xã hội Giáo dục thành công có nghĩa là toàn bộ các hoạt động giáo dục đã đạt được mục
đích
Vấn đề quan trọng được đặt ra đối với các nhà giáo dục không chỉ là xác định đúng mục đích của toàn bộ quá trình giáo dục hay mục tiêu của từng nội dung giáo dục, mà cần biết tổ chức các hoạt động giáo dục một cách đa dạng để đạt được các mục đích và mục tiêu đó
2.1.2.2 Nội dung giáo dục
Trang 1919
Giáo dục là quá trình có những nội dung cụ thể Nội dung giáo dục là hệ thống tri thức về các giá trị văn hoá xã hội mà các đối tượng giáo dục cần phải nắm vững để biến nó thành ý thức, thái độ và hành vi cá nhân phù hợp với chuẩn mực xã hội, thời đại
Nội dung giáo dục trong nhà trường được thiết kế theo mục đích giáo dục xã hội,
được chi tiết hoá thành từng mặt phù hợp với trình độ, lứa tuổi, theo bậc học, cấp học, phù hợp với từng tình huống giáo dục cụ thể Nội dung giáo dục trong nhà trường là cơ sở, thống nhất và hướng dẫn các nội dung giáo dục gia đình và các đoàn thể xã hội
Nội dung giáo dục trong nhà trường phản ánh mục đích giáo dục nhân cách toàn diện, bao gồm: giáo dục ý thức công dân, giáo dục văn hoá, thẩm mĩ, giáo dục lao động, hướng nghiệp, giáo dục thể chất và một số nội dung mới trong một xã hội hiện đại đang phát triển như: giáo dục môi trường, giáo dục giới tình, giáo dục dân số và giáo dục phòng chống các
tệ nạn xã hội
2.1.2.3 Phương pháp giáo dục
Phương pháp giáo dục là hệ thống những tác động của nhà giáo dục đến các đối tượng giáo dục thông qua việc tổ chức các hoạt động giáo dục nhằm giúp họ hình thành ý thức, thái độ, hành vi văn hoá phù hợp với chuẩn mực xã hội
Phương pháp giáo dục về thực chất là phương pháp tổ chức các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày cho học sinh
Mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục luôn thống nhất với nhau, trong đó phương pháp giáo dục là yếu tố quan trọng vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật quyết định sự thành công của quá trình giáo dục
Các nhà giáo dục căn cứ vào mục đích, nội dung giáo dục, căn cứ vào đặc điểm tâm lí lứa tuổi, giới tính, trình độ nhận thức của các đối tượng giáo dục và các tình huống giáo dục
cụ thể để lựa chọn các phương pháp giáo dục thích hợp
Một phương pháp giáo dục không phải bao giờ cũng thành công đối với mọi đối tượng, mọi tình huống giáo dục Phương pháp giáo dục muôn hình, vạn trạng, không có
“khuôn mẫu chung” cho mọi trường hợp
2.1.2.4 Nhà giáo dục
Nhà giáo dục là chủ thể của các tác động giáo dục Nhà giáo dục trong phạm vi nhà trường đó là giáo viên, trong gia đình là cha mẹ học sinh và trong các tổ chức xã hội là cán
bộ phụ trách đoàn thể
Trình độ văn hoá, tầm hiểu biết, kinh nghiệm sư phạm, uy tín của nhà giáo dục có
ảnh hưởng rất lớn đối với thế hệ trẻ và quyết định sự thành bại của quá trình giáo dục Chính vì vậy, nhà giáo dục luôn phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức, nâng cao trình độ chuyên môn, trau dồi nghiệp vụ sư phạm, luôn phải là tấm gương cho thế hệ trẻ noi theo,
đúng với tinh thần: “nhà giáo dục trước hết phải là người được giáo dục”
Nhà giỏo dục ở trường THCS là những người giỏo viờn được đào tạo cú trỡnh độ Cao Đẳng Sư phạm nắm vững chuyên môn và nghiệp vụ theo chuyên ngành đào tạo, hiểu rõ đặc
điểm tâm, sinh lí lứa tuổi thiếu niên để tìm ra các phương pháp giáo dục thích hợp
2.1.2.5 Đối tượng giáo dục
Đối tượng giáo dục là cá nhân hay tập thể học sinh được thụ hưởng các tác động giáo dục Trong nhà trường học sinh là đối tượng giáo dục của thầy giáo, cô giáo, trong gia đình con cái là đối tượng giáo dục của cha mẹ, đoàn viên, đội viên là đối tượng giáo dục của
Đoàn thanh niên và Đội thiếu niên Tiền phong
Trang 2020
Trong phạm vi xã hội, mỗi cá nhân, mỗi tập thể vừa là chủ thể, vừa là đối tượng giáo dục, bởi vì mỗi cá nhân, mỗi tập thể đều có những tác động lẫn nhau và chịu ảnh hưởng của nhau
Chất lượng của quá trình giáo dục phụ thuộc vào trình độ nhận thức, ý thức tự giác, thói quen hành vi văn hoá đã có của các đối tượng giáo dục Tính tích cực, tự giác, tính năng động sáng tạo trong học tập và tu dưỡng của các đối tượng giáo dục quyết định sự trưởng thành của chính bản thân họ
Trường nào, lớp nào có nhiều học sinh chăm ngoan, có ý thức học tập tự giác, có truyền thống tốt, nơi đó rất thuận lợi cho công tác giáo dục và ngược lại nơi nào có nhiều học sinh yếu kém về học tập và đạo đức, nơi đó công tác giáo dục sẽ gặp nhiều khó khăn hơn
Trẻ em ngày nay khác xa với các thế hệ cha ông chúng trong cùng một thời kỳ trưởng thành Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển, với hệ thống thông tin đa dạng, nhiều chiều, hàng ngày, hàng giờ tác động đến thế hệ trẻ và chính các em cũng bằng nhiều phương thức khác nhau tìm tòi, chọn lọc, tiếp thu các thông tin đa dạng đó, nhiều em có xu hướng vượt khỏi chương trình giới hạn của nhà trường đi tìm tri thức mới, giá trị mới
Thế hệ trẻ ngày nay tỏ ra thông minh, năng động, sáng tạo, tự tin hơn nhiều so với các thế hệ đàn anh, vì họ có nhiều điều kiện để học tập và hoạt động sáng tạo Giáo dục hiện
đại đòi hỏi các nhà giáo dục đóng vai trò là người hướng đạo, biết cách tổ chức, biết tạo
điều kiện cho các em tham gia vào các hoạt động để họ vươn lên tự khẳng định mình
Đối tượng giáo dục ở bậc trung học cơ sở là những học sinh thiếu niên ở lứa tuổi từ
11 đến 15 có những nét đặc thù cần lưu ý Về mặt sinh lí, các em đang ở trong lứa tuổi “dậy thì”, có tốc độ phát triển cơ thể rất nhanh, có nhu cầu hoạt động và thể hiện rất rõ tình “hiếu
động” của mình Đời sống tâm lí của các em có những diễn biến phức tạp, tính tích cực, chủ động đã biểu hiện rất rõ nét, nhu cầu tự khẳng định rất cao, các em muốn làm người lớn, phạm vi hoạt động giao tiếp đang được mở rộng, đã xuất hiện những tình cảm khác giới Tuy nhiên các em còn có những nhận thức bồng bột, nông nổi, dễ bị ảnh hưởng trước những tác động tiêu cực từ môi trường, dễ đua đòi ham chơi, tụ tập bạn bè, xao nhãng học tập Có nhà giáo dục gọi đây là lứa tuổi “bướng bỉnh”, dễ “nổi loạn” Do đó yêu cầu các nhà giáo dục phải khéo léo tìm ra các biện pháp giáo dục thích hợp
2.1.2.6 Môi trường giáo dục
Môi trường giáo dục là nơi sống và hoạt động của các đối tượng giáo dục Mỗi con người sinh ra đều có gia đình, quê hương, mỗi học sinh đều được học trong một mái trường, mỗi cá nhân đều có bạn bè thân thích Mối quan hệ tốt đẹp giữa các cá nhân trong gia đình, trong cộng đồng xã hội, bầu không khí tâm lí, truyền thống gia đình, tập thể tốt sẽ tạo thành môi trường giáo dục lành mạnh đối với học sinh
Gia đình thuận hoà, có nề nếp văn hoá, có truyền thống lao động, học hành, cha mẹ gương mẫu, con cái chăm ngoan, học tập tốt, lao động tốt, đó là môi trường giáo dục gia
Trang 2121
Bạn bè là những học sinh cùng trang lứa, cùng học tập, sinh hoạt tập thể và vui chơi Bạn bè tốt có ảnh hưởng rất lớn đến học tập và tu dưỡng của từng cá nhân, tuy nhiên bạn bè xấu rủ rê chơi bời cực kỳ nguy hiểm đối với tương lai của trẻ em
Nhiều công trình nghiên cứu và thực tế cuộc sống đã khẳng định, quan hệ với bạn bè xấu, ổ nhóm tụ tập, đua đòi ăn chơi, lười biếng học hành, gia đình nuông chiều, nhà trường thiếu quan tâm giáo dục, buông lỏng quản lí là nguyên nhân trực tiếp của những hiện tượng
sa sút về đạo đức của một bộ phận thanh, thiếu niên, học sinh hiện nay
Môi trường giáo dục trong xã hội hiện đại không phải là bốn bức tường khép kín trong một gia đình hay một nhà trường, một địa phương, mà là cả một xã hội sôi động với nền kinh tế thị trường, đang mở cửa nhìn ra thế giới, trong xu thế hội nhập, toàn cầu hoá
có một hệ thống thông tin đa dạng, nhiều chiều đang tác động hàng ngày, hàng giờ vào giới trẻ, trong các tác động đó có cả những yếu tố kiểm soát được và không kiểm soát được Quá trình giáo dục trẻ em rất cần có một môi trường lành mạnh, dó đó xã hội, nhà trường và gia đình cần quan tâm đúng mức, khai thác những yếu tố tích cực của môi trường xã hội để tạo ra một môi trường giáo dục thuận lợi cho thế hệ trẻ
2.1.2.7 Kết quả giáo dục
Kết quả giáo dục là sản phẩm của những tác động giáo dục theo từng giai đoạn và của cả quá trình giáo dục Sản phẩm của giai đoạn này là tiền đề cho giai đoạn sau và chúng nối tiếp nhau để đạt mục đích giáo dục tổng thể
Trong nhà trường cần thường xuyên đánh giá các hoạt động giáo dục, nhằm cung cấp thông tin cho công tác quản lí và tổ chức giáo dục Học sinh phải biết tự đánh giá mình để
tố, do đó muốn nâng cao chất lượng giáo dục phải nâng cao chất lượng của từng thành tố, cần khai thác tính ưu việt của từng thành tố để tổ chức quá trình giáo dục đạt được hiệu quả cao nhất Nhà giáo dục cần có quan điểm phức hợp trong tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh
2.1.3 Đặc điểm của quá trình giáo dục
Giáo dục là quá trình có những đặc điểm sau đây:
2.1.3.1 Giáo dục là quá trình có tính mục đích
Khái niệm “giáo dục” bản thân nó đã nói lên tính mục đích Thật vậy, mỗi tác động của cha mẹ trong gia đình, của thầy, cô giáo trong nhà trường và của những người phụ trách các đoàn thể xã hội đến với thanh, thiếu niên, học sinh dù lớn hay nhỏ đều phải nhằm tới một mục đích nhất định Không có mục đích không thể tồn tại “cái gọi là” giáo dục
Mục đích giáo dục gia đình, nhà trường, xã hội xuất phát từ những yêu cầu của xã hội
về phẩm chất nhân cách con người, với tư cách là nguồn nhân lực phục vụ cho sự phát triển kinh tế, văn hoá, chính trị xã hội, theo từng thời kỳ phát triển của lịch sử xã hội Mục đích giáo dục xã hội bị chi phối bởi trình độ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, bởi truyền thống văn hoá dân tộc và thời đại
Như vậy có thể nói quá trình giáo dục đồng nghĩa với quá trình định hướng giá trị xã hội cho các thế hệ con người theo thời đại (xem thêm mục 1.2.1.)
Trang 2222
2.1.3.2 Giáo dục là một quá trình biện chứng
Giáo dục là quá trình diễn ra trong suốt cuộc đời con người, chịu ảnh hưởng tác động của rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, có ý thức và không ý thức, trong một môi trường đầy biến động
Các tác động đa dạng này tạo nên sự “cộng hưởng” đến hiệu quả quá trình giáo dục Hiện tượng “cộng hưởng” thường xảy ra theo hai hướng:
- “Cộng hưởng tích cực” xảy ra khi có nhiều lực lượng cùng tham gia giáo dục, với những tác động theo cùng một hướng, chúng sẽ hỗ trợ cho nhau, có thể tạo nên những bước nhảy vọt, làm thay đổi về chất trong nhận thức, thái độ, tình cảm và hành vi của các đối tượng giáo dục
- “Cộng hưởng tiêu cực” xảy ra khi nhiều lực lượng tham gia có những tác động ngược chiều, mâu thuẫn nhau, tạo nên những “nhiễu loạn” làm hạn chế kết quả giáo dục, thậm chí còn làm vô hiệu hoá, hay tai hại hơn là “phản giáo dục”
Do vậy, nhà giáo dục phải lưu ý đến tính phức tạp, tính biện chứng của quá trình giáo dục để tìm ra các phương pháp giáo dục thích hợp và có hiệu quả
2.1.3.3 Sản phẩm giáo dục là thành quả chung của các lực lượng giáo dục
Giáo dục là quá trình xã hội, có nhiều lực lượng tham gia, mỗi lực lượng giáo dục có những tác động ở các mức độ và bình diện khác nhau, do đó sản phẩm giáo dục bao giờ cũng là sản phẩm chung của tất cả các lực lượng giáo dục xã hội
Khi nói đến sản phẩm giáo dục là kết quả phức hợp của những tác động giáo dục của nhiều lực lượng tham gia, thì cũng cần lưu ý rằng sản phẩm giáo dục còn là kết quả của quá trình tự giáo dục của bản thân học sinh trước những tác động của môi trường
Điều này đã được minh chứng bằng tấm gương của các học sinh nghèo vượt khó lên
động và giao lưu của mỗi cá nhân, do phương pháp giáo dục của từng gia đình Từ đó cho thấy quá trình giáo dục cần phải chú ý đến những đặc điểm riêng của từng cá nhân
Như vậy, trong quá trình giáo dục cùng với việc chú ý tuân theo quy luật hình thành nhân cách, các nhà giáo dục phải chú ý đến những đặc điểm của từng cá nhân để tìm ra các phương pháp cho phù hợp Với những đối tượng khác nhau cần phải có những phương pháp giáo dục linh hoạt
2.1.3.5 Trong nhà trường, quá trình giáo dục có quan hệ mật thiệt với quá trình dạy học
Như chúng ta đã biết, giáo dục được thực hiện bằng nhiều con đường, trong đó dạy học là con đường giáo dục ngắn nhất và có hiệu quả nhất Thực tế cuộc sống đã chứng minh giáo dục con người tốt nhất bằng khoa học và dạy khoa học là nội dung quan trọng nhất để giáo dục nhân cách cho con người
Tính đa dạng của các hoạt động giáo dục làm cho quá trình giáo dục trở nên hấp dẫn
đối với học sinh và do đó đạt được hiệu quả trong nhiều mặt Tuy nhiên, giáo dục được thực
Trang 23Thực tế cũng đã chứng minh rằng con người càng tham gia vào các hoạt động phức tạp, với ý thức tự giác, tích cực, sử dụng nhiều phương pháp sáng tạo và các phương tiện tinh xảo thì càng nhanh chóng trưởng thành, hoạt động tích cực, sáng tạo đồng nghĩa với tự rèn luyện, tự tu dưỡng
Cùng với hoạt động, con người càng tiếp xúc với nhiều dạng đối tượng khác nhau, thì càng có cơ hội để tìm hiểu, học tập ở họ những kinh nghiệm sáng tạo, đây cũng là những cơ hội để trưởng thành
Do vậy, ở các trường trung học cơ sở cần thu hút các em vào nhiều dạng hoạt động hấp dẫn, tổ chức cho các em được tiếp xúc với những người lao động tiên tiến, với những nhà hoạt động chính trị, văn hoá, khoa học để các em có cơ hội học tập Trong quá trình tổ chức hoạt động phải biết khống chế những yếu tố tự phát, biết tận dụng môi trường tốt để phục vụ cho các mục tiêu giáo dục
2.1.4 Lôgíc của quá trình giáo dục
Nếu xét với tư cách là một quá trình ta thấy giáo dục diễn ra theo thời gian và gồm nhiều giai đoạn Nếu xét về bản chất thì giáo dục là những tác động làm biến đổi về mặt tâm lí, ý thức để tạo lập những hành vi thói quen cho các đối tượng giáo dục theo quy luật hình thành nhân cách Do vậy, khi nghiên cứu một cách tổng quát trên cả hai phương diện
đó, ta thấy quá trình giáo dục được diễn ra theo ba kiểu sau đây:
2.1.4.1 Giáo dục ý thức
Giáo dục trước hết là quá trình tác động vào mặt nhận thức, làm cho mỗi con người
có ý thức về mục đích, ý nghĩa và giá trị cuộc sống, hiểu được chân lí, lẽ phải, tính nhân văn, nhân đạo trong các mối quan hệ xã hội, từ đó hình thành thế giới quan, lí tưởng sống Nhận thức đúng về các mối quan hệ xã hội luôn là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của con người, là cơ sở để hình thành thái độ và hành vi văn minh Ngược lại nhận thức sai lệch là nguyên nhân của những hành động sai lầm, trong nhiều trường hợp do thiếu hiểu biết con người có thể có những việc làm không đúng với lẽ phải, với những quy tắc thông thường Do đó, giáo dục ý thức là khâu quan trọng nhất của quá giáo dục hình thành nhân cách cho con người
Trong thực tế cuộc sống, đôi khi con người có những hành vi sai lầm do thiếu hiểu biết, đó là điều đáng tiếc và có thể tha thứ được Sai lầm do nhận thức có thể sửa chữa bằng phương pháp giải thích, thuyết phục Tuy nhiên, nói hay, nói đúng nhưng làm sai là điều nguy hiểm nhất của xã hội hiện đại, đó là những nhân cách giả dối, là kết quả của quá trình giáo dục lệch lạc
Nhận thức phụ thuộc vào trình độ văn hoá của mỗi người, là sản phẩm của quá trình học tập và tu dưỡng và sẽ phát triển cùng với thời gian
Đối với học sinh trung học cơ sở, giáo dục ý thức là khâu cực kỳ quan trọng, quá trình này được thực hiện thông qua quá trình học tập và sinh hoạt tập thể Những khái niệm
về đạo đức, về quyền lợi và nghĩa vụ, về những quy tắc, chuẩn mực xã hội, những giá trị
Trang 2424
văn hoá sẽ được hình thành Có nhận thức đúng các em mới có cơ sở phấn đấu để trở thành con ngoan, trò giỏi, bạn tốt và công dân co ích trong tương lai
2.1.4.2 Giáo dục thái độ, niềm tin
Quá trình giáo dục, ngoài việc làm cho con người nhận thức đúng, còn phải hình thành cho họ thái độ và niềm tin vào những điều đã nhận thức được, vào chính tương lai cuộc sống của bản thân và dân tộc Thái độ, niềm tin chính là biểu hiện cụ thể của lí tưởng sống, của sự tôn trọng giá trị đạo đức và văn minh xã hội của mỗi cá nhân
Trong sự chuyển hoá nhận thức thành hành vi thì thái độ, niềm tin có ý nghĩa vô cùng quan trọng Thái độ, niềm tin là kết quả của quá trình giáo dục, nhưng nó lại có giá trị hướng dẫn con người hành động Thái độ, niềm tin là chất men kích thích sự chuyển hoá ý thức thành hành vi Thái độ, niềm tin là nội lực, là sức mạnh tinh thần để biến những điều
đã nhận thức được thành phẩm chất nhân cách, đó cũng chính là tự giáo dục
Nhận thức đúng nhưng không có niềm tin thì hành động của con người sẽ trở nên “vô cảm”, khô khan và cứng nhắc
Đối với các trường trung học cơ sở, bồi dưỡng thái độ, niềm tin cho học sinh là một khâu trọng yếu Giáo dục cho học sinh có thái độ đúng đắn đối với công việc học tập, đối với các mối quan hệ trong gia đình, bè bạn, đối với tự nhiên và môi trường; giáo dục niềm tin vào chân lí, lẽ phải, giáo dục tình cảm yêu mến, kính trọng thầy, cô giáo, cha mẹ, thân
ái với bạn bè, đó là những phẩm chất cực kỳ quý báu
2.1.4.3 Giáo dục hành vi, thói quen
Mục đích cuối cùng của quá trình giáo dục là tạo lập cho con người những hành vi, thói quen có văn hoá và chúng phải được thể hiện trong cuộc sống hàng ngày Hành vi là biểu hiện cụ thể nhất của bộ mặt tâm lí, đạo đức của con người Con người được giáo dục cũng đồng nghĩa với con người đã hình thành được thói quen sống có văn hoá
Hành vi, thói quen văn hoá chính là kỹ năng cuộc sống, là kết quả của nhận thức,
đồng thời là biểu hiện cụ thể và sinh động nhất của thái độ, niềm tin của con người
Hành vi, thói quen được hình thành trong hoạt động, trong các tình huống cụ thể, đó
là sản phẩm của quá trình học tập tu dưỡng và luyện tập lâu dài Hành vi văn hoá khi đã trở thành thói quen sẽ làm thành một hệ thống vững chắc, sẽ tự động hoá, thể hiện trong cách ứng xử ở mọi tình huống của cuộc sống hàng ngày
Để giáo dục hành vi có văn hoá cho học sinh, ở trường trung học cơ ở cần tổ chức tốt các dạng hoạt động: học tập, lao động, văn nghệ, thể thao và sinh hoạt tập thể Các hình thức tổ chức hấp dẫn, sẽ thu hút các em vào các hoạt động đó một cách tự giác, do đó quá trình giáo dục càng đạt được hiệu quả cao
Tóm lại, ba khâu của quá trình giáo dục có liên quan chặt chẽ với nhau, không thể tách rời nhau, thiếu một trong ba khâu không còn là quá trình giáo dục hoàn chỉnh, mỗi khâu là tiền đề và đồng thời là kết quả của các khâu kia
Tuỳ thuộc vào từng tình huống cụ thể, vào đặc điểm của các đối tượng mà giáo dục bắt đầu từ đâu và kết thúc ở đâu, bởi vì, giáo dục là quá trình biện chứng, rất sinh động, cần
có các phương pháp linh hoạt
2.1.5 Động lực của quá trình giáo dục
Giáo dục là quá trình diễn ra trong suốt cuộc đời một con người và phát triển theo quy luật hình thành nhân cách Kết quả của quá trình giáo dục là sự trưởng thành về mặt tâm lí,
ý thức của các đối tượng giáo dục, thông qua việc tiếp thu những giá trị văn hoá của xã hội
và chuyển hoá thành thái độ và hành vi của mỗi cá nhân
Trang 2525
Con người luôn chịu những tác động khách quan từ môi trường, từ các lực lượng giáo dục, đó là những yếu tố ngoại lực Tuy nhiên, suy cho cùng yếu tố quan trọng nhất thuộc về bản thân các đối tượng giáo dục, thể hiện trong việc họ tiếp nhận các tác động từ bên ngoài như thế nào? và chuyển hoá nó thành ý thức và hành vi cá nhân ra sao? Đây chính là nội lực tiềm tàng quyết định phương hướng phát triển của từng cá nhân
Cuộc sống có rất nhiều mâu thuẫn cả trong nhận thức, trong thái độ và hành vi của mỗi con người Trong cuộc sống luôn tồn tại những đấu tranh giằng co giữa cái tốt và cái xấu, giữa cái tích cực và cái tiêu cực, giữa cái mới và sức ỳ của thói quen cũ Vấn đề là ở chỗ con người có nhận thức được đầy đủ những mâu thuẫn đó không? Lựa chọn cách thức nào và giải quyết nó ra sao?
Chính việc giải quyết các mâu thuẫn bằng phương thức nào sẽ dẫn con người phát triển theo chiều hướng đó Mục đích cao đẹp, phương thức văn minh dẫn con người đến thế giới văn minh Ngược lại mục tiêu thấp hèn, phương thức sai lệch làm cho con người trở thành bệnh hoạn Ngay cả khi đã có mục tiêu tốt nhưng giải quyết bằng thủ đoạn sai lầm cũng sẽ làm cho con người trở nên tầm thường
Nhân cách phát triển khi con người có ý thức về cuộc sống và cố gắng tìm ra được phương thức tốt nhất để thực hiện mục đích cuộc sống Chính sự đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn nội tại, vượt lên chính mình đó là động lực của sự phát triển nhân cách
Như vậy: Động lực của quá trình giáo dục là việc giải quyết mâu thuẫn nội tại của bản thân các đối tượng giáo dục, giữa một bên là nhu cầu vươn tới mục tiêu cao đẹp của cuộc sống và bên kia là phương thức hành động để đạt được mục tiêu đó
Giáo dục con người đạt được kết quả cần có hai điều kiện: Một là, đối tượng giáo dục phải có ước mơ, hoài bão cho tương lai của bản thân mình và hai là chính họ phải cố gắng phấn đấu để biến ước mơ trở thành hiện thực
Đối với học sinh trung học cơ sở, đi đôi với việc giáo dục lí tưởng cuộc sống cần phải khơi dậy ý chí, quyết tâm, vượt mọi khó khăn để vươn lên đạt được ước mơ, lí tưởng cuộc sống của mình
2.1.6 Bản chất của quá trình giáo dục
Từ những phân tích bên trên ta thấy:
Giáo dục là quá trình hai mặt Đó là những tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục đến các đối tượng giáo dục và sự hưởng ứng tích cực, tự rèn luyện của các đối tượng giáo dục nhằm tiếp thu những giá trị, chuẩn mực xã hội, tinh hoa văn hoá dân tộc và thời đại
Giáo dục và tự giáo dục luôn đi đôi với nhau Giáo dục chỉ có hiệu quả khi mỗi người
có ý thức tự giáo dục mình
Giáo dục được thực hiện trong quá trình tổ chức cuộc sống hàng ngày, thông qua các hoạt động, giao lưu phong phú của trẻ em như: học tập, lao động, vui chơi, sinh hoạt tập thể, hoạt động xã hội
Giáo dục là quá trình biện chứng bị tác động chi phối bởi rất nhiều yếu tố chủ quan, khách quan, tự phát và tự giác, với nhiều lực lượng tham gia và diễn ra trong những tình huống và các hoàn cảnh cụ thể
Sản phẩm của giáo dục là phẩm chất nhân cách của con người, được thể hiện trong ý thức, thái độ và hành vi, thói quen có văn hoá hàng ngày
Trang 2626
Quá trình giáo luôn gắn liền với quá trình dạy học, dạy học được thực hiện thông qua các giờ học, giáo dục thực hiện không chỉ bằng dạy học mà còn bằng tổ chức các hoạt động
đa dạng hàng ngày cho học sinh
Từ đây, ta có thể đi đến kết luận:
Bản chất của quá trình giáo dục là việc tổ chức hợp lí cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho thế hệ trẻ, với những tác động có mục đích, có hệ thống của nhà giáo dục thế hệ trẻ
tự định hướng giá trị, chuyển đổi ý thức, thái độ thành hành vi, thói quen cho phù hợp với những chuẩn mực xã hội
2.1.7 Tính quy luật của quá trình giáo dục
Giáo dục là quá trình tác động hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ, quá trình này vận
động và phát triển có tính quy luật, chúng được biểu hiện cụ thể như sau:
2.1.7.1 Hiệu quả quá trình giáo dục phụ thuộc vào sự tác động của tất cả các yếu tố chủ quan, khách quan và môi trường giáo dục
Giáo dục là quá trình phức tạp, đầy mâu thuẫn và khó kiểm soát Con ngoan, trò giỏi, công dân tốt là điều ước vọng của các bậc làm cha mẹ, của các thầy cô, giáo và của toàn xã hội Tuy nhiên sự thành công của công tác giáo dục không đơn giản như điều ước vọng của cha mẹ, mà nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: trình độ nhận thức, thái độ tự rèn luyện của các đối tượng giáo dục, vào môi trường, hoàn cảnh nơi các em đang sống và các phương pháp được áp dụng trong gia đình và nhà trường và vào các tình huống nảy sinh cụ thể Một phương pháp giáo dục đạt được hiệu quả tốt đối với đối tượng này, trong tình huống này, lại không đạt hiệu quả cho đối tượng kia, ở hoàn cảnh kia, là điều rất thường gặp
Điều này muốn nói lên rằng giáo dục chỉ đạt được kết quả khi các lực lượng giáo dục
có một mục tiêu giáo dục thống nhất, phương pháp giáo dục đồng bộ, môi trường giáo dục lành mạnh, phù hợp với đặc điểm, trình độ của các đối tượng giáo dục
2.1.7.2 Hiệu quả quá trình giáo dục phụ thuộc vào phương pháp tổ chức cuộc sống, hoạt động
và giao lưu cho thế hệ trẻ
Như trên đã phân tích, bản chất của giáo dục là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt
động và giao lưu cho thế hệ trẻ, điều đó có nghĩa là giáo dục được tiến hành ngay trong cuộc sống hàng ngày và thu hút học sinh tham gia vào các hoạt động thực tiễn đa dạng đó
là phương thức giáo dục tốt nhất ý thức thái độ, hành vi thói quen của con người được hình thành, được kiểm nghiệm trong thực tiễn và lại được biểu hiện ngay trong cuộc sống hàng ngày
Hiệu quả của quá trình giáo dục phụ thuộc và sự khéo léo, linh hoạt của các phương pháp tổ chức cuộc sống trong gia đình, nhà trường và các đoàn thể xã hội, phụ thuộc vào truyền thống văn hoá đã được hình thành ở các cộng đồng dân cư, địa phương nơi con người sinh ra, được nuôi dưỡng và được thừa hưởng
2.1.7.3 Hiệu quả quá trình giáo dục phụ thuộc vào mối quan hệ giữa các tác động sư phạm của nhà giáo dục và hoạt động tích cực của đối tượng giáo dục
Giáo dục là quá trình tác động hai chiều, sự phát triển của quá trình giáo dục được
định hướng bởi mục đích, phương pháp của các nhà giáo dục Tuy nhiên, yếu tố quyết định của mọi sự phát triển nhân cách lại do chính bản thân người được giáo dục tạo ra Sự hưởng ứng tiếp nhận trước các tác động giáo dục, tính tích cực, sáng tạo trong các hoạt động, ý chí, nghị lực của các đối tượng giáo dục là nội lực thúc đẩy của sự phát triển nhân cách
Trang 2727
Mối quan hệ biện chứng của các tác động sư phạm và sự hưởng ứng tích cực của đối tượng giáo dục, trình độ sư phạm của nhà giáo và tính tích cực, có ý thức của học sinh cùng tạo nên hiệu quả giáo dục
Đối với học sinh trung học cơ sở, các em đang sống trong thời kỳ có những trạng thái tâm lí đặc biệt: muốn vươn lên tự khẳng định mình, có xu hướng chọn các dạng hoạt động tập thể, muốn mở rộng phạm vi hoạt động, thích được giao lưu rộng rãi Do đó, nhà giáo dục cần chú ý đến nhu cầu của các em để tổ chức các dạng hoạt động hấp dẫn, cần chú ý những yếu tố tự phát để điều chỉnh phục vụ cho mục đích giáo dục
2.1.7.4 Hiệu quả giáo dục phụ thuộc vào sự tác động đồng bộ vào ba khâu giáo dục ý thức, thái độ và hành vi cho các đối tượng giáo dục
Giáo dục là một quá trình toàn vẹn gồm ba khâu: giáo dục ý thức, thái độ và hành vi cho học sinh, ba khâu này có quan hệ mật thiết với nhau không thể tách rời Phẩm chất nhân cách là một hệ thống những giá trị văn hoá xã hội, là kết quả của nhận thức, của sự tu dưỡng lâu dài của các đối tượng giáo dục và được biểu hiện bằng thái độ và hành vi, thói quen ngay trong cuộc sống của họ
Như vậy, quá trình giáo dục phải là quá trình tác động đồng bộ đến tất cả ba khâu của quá trình giáo dục, hiệu quả giáo dục chỉ đạt được khi nhận thức được chuyển hoá thành thái độ và hành vi của các đối tượng giáo dục
2.1.8 Tự giáo dục và giáo dục lại
Quá trình giáo dục còn bao gồm hai hoạt động rất quan trọng đó là tự giáo dục và giáo dục lại
Tự giáo dục là một bộ phận của quá trình giáo dục, dựa trên quá trình giáo dục, đồng thời là kết quả của quá trình giáo dục Tự giáo dục là biểu hiện của trình độ phát triển nhân cách của cá nhân đến một giai đoạn mới Quá trình giáo dục nhất thiết phải tạo ra bằng
được khả năng tự giáo dục cho mỗi người
Nhận thức đúng bản thân là biểu hiện của năng lực trí tuệ cá nhân và biết tự giáo dục
là một phẩm chất cực kỳ quý báu của nhân cách
Trong thời đại ngày nay, một trong những mục tiêu giáo dục là làm cho mỗi người biết tự tu dưỡng để vươn lên khẳng định mình Con người phải hình thành và phát triển những cá tính đa dạng, nhưng cũng phải phát triển khả năng hoà nhập với cộng đồng, xã hội
Tự giáo dục được hình thành và phát triển do nhu cầu cuộc sống, được phát triển trong quá trình sống, học tập, lao động và sinh hoạt với tập thể và cộng đồng
Đối với học sinh trung học cơ sở, lứa tuổi trẻ em thích làm người lớn, các em có những hình thức tự giáo dục rất đặc biệt, đó là thông qua những dòng nhật ký, những bài văn viết về cuộc sống xã hội, những lá thư gửi bạn, những cuộc sinh hoạt, vui chơi tập thể
ở đó các em nhìn bạn, tự vấn mình, tự nêu những mục tiêu phải phấn đấu và tự thể hiện nó qua cuộc sống hàng ngày
Trang 2828
Các nhà giáo dục, cha mẹ, anh chị phụ trách cần quan tâm, tạo điều kiện cho các em
tự tổ chức cuộc sống, giúp đỡ các em nổ lực ý chí, vượt qua khó khăn của tuổi trẻ để đạt
được những mục đích riêng chân chính
Tự giáo dục gắn liền với tự học, tự học là con đường quan trọng của tự giáo dục cả ở hai mặt nội dung và phương thức, mỗi con người phải biết tự học suốt đời
2.1.8.2 Giáo dục lại
Giáo dục lại là hoạt động của các nhà giáo dục nhằm thay đổi những nhận thức, những thói quen hành vi không đúng của học sinh đã mắc phải ở một mức độ nghiêm trọng Như chúng ta đều biết, hiện nay có một bộ phận học sinh, thanh thiếu niên có những biểu hiện lệch lạc trong nhận thức chính trị, đạo đức và pháp luật, có những hành vi không phù hợp các chuẩn mực xã hội như: lười học tập, ngại lao động, không vâng lời cha mẹ, thầy, cô giáo, đua đòi ăn chơi, buông thả cuộc sống; thậm chí có những biểu hiện đạo đức suy thoái, rơi vào các tệ nạn xã hội: cờ bạc, nghiệt hút, manh động, vi phạm pháp luật Một trong những nguyên nhân của sự xa sút đạo đức này của thanh thiếu niên, học sinh là do mặt trái của cơ chế thị trường, cha mẹ phải bươn trải với cuộc sống kinh tế, khônng có nhiều thời gian để gần gũi giáo dục con cái, cuộc sống xã hội sôi động và có phần phức tạp, văn hoá nước ngoài thâm nhập, thiếu công ăn việc làm, bạn bè rủ rê, kẻ xấu lừa gạt, đưa một bộ phận thanh, thiếu niên vào những sai lầm đáng tiệc, nếu không uốn nắn kịp thời e rằng các em sẽ rơi vào con đường nguy hiểm cho bản thân, gia đình và cộng đồng xã hội Các nhà giáo dục phải tiến hành quá trình giáo dục lại, đưa các em trở về với quỹ
đạo cuộc sống bình thường
Giáo dục lại là công việc đầy khó khăn, phức tạp vì thói hư tật xấu đã tiêm nhiễm, ăn sâu Cải tạo con người là phá vỡ những động hình đã trở thành cố tật không phải là công việc đơn giản
Giáo dục lại là bắt đầu từ việc các nhà giáo dục cùng nhau phân tích các nguyên nhân, những biểu hiện nhân cách lệch lạc của trẻ em để tìm ra các biện pháp giáo dục thích hợp cho từng đối tượng cụ thể
Trong gia đình và nhà trường, phương pháp giáo dục lại quan trọng nhất là gần gũi các em, cùng với các em phân tích từng sai sót, dùng tình cảm và lí lẽ để cảm hoá, thuyết phục làm thay đổi những nhận thức không đúng Giáo dục lại bằng chính sự gương mẫu của cha mẹ, thầy, cô giáo, với những yêu cầu cao, lời nói đi đôi với việc làm, bằng việc nêu gương người tốt, việc tốt, bằng khen thưởng, khích lệ tạo niềm tin, phá vỡ động hình, xoá
bỏ ý nghĩa xấu và hành vi không tốt Cần tổ chức cho các em tham gia vào các hoạt động xã hội, lao động, các trò chơi văn hoá, thể dục thể thao, những hoạt động tập thể hấp dẫn Trong đó con đường quan trọng nhất là tổ chức cho các em học tập một cách hứng thú và sáng tạo để nâng cao nhận thức khoa học và cuộc sống
ở mức độ nghiêm trọng hơn, thanh, thiếu niên phạm pháp được tiến hành giáo dục cưỡng bức trong các trường Giáo dưỡng do Bộ Công an quản lí Phương pháp giáo dục trong các trường Giáo dưỡng là tổ chức lại cuộc sống, phá vỡ động hình, đưa các em vào lao động, học tập và sinh hoạt tập thể một cách có tổ chức và nề nếp, dưới sự quản lý chặt chẽ của các nhà giáo dục đồng thời là các nhà thực thi pháp luật
Câu hỏi thảo luận và ôn tập
1 So sánh sự giống và khác nhau giữa quá trình dạy học và quá trình giáo dục trong trường trung học cơ sở, từ đó cho thấy những đặc trưng quan trọng của quá trình giáo dục
và rút ra các kết luận sư phạm cần thiết?
Trang 294 Bằng lí luận giáo dục và thực tiễn cuộc sống hãy giải thích ý nghĩa câu nói: “Lời nói phải đi đôi với việc làm”?
5 Theo anh chị, cái gì là động lực thúc đẩy sự phấn đấu liên tục của con người nói chung và của học sinh trung học cơ sở nói riêng Từ đó cho biết nhà giáo dục cần làm gì để
có thể giúp các học sinh phấn đấu, tu dưỡng tốt?
6 Hãy phân tích những nhận định về chất lượng giáo dục toàn diện ở trường trung học cơ sở hiện nay và trình bày phương hướng của bản thân với tư cách là một giáo viên để góp phần nâng cao chât lượng quá trình giáo dục?
2.2 NGUYấN TẮC GIÁO DỤC
2.2.1 Khái niệm nguyên tắc giáo dục
Trong ngôn ngữ hàng ngày chúng ta thường sử dụng những từ: nội quy, quy tắc, nguyên tắc Trong đó nội quy được hiểu là những quy định của tập thể có giá trị nội bộ, các thành viên có trách nhiệm phải thực hiện Quy tắc được hiểu như những quy trình, quy phạm có tính kỹ thuật được rút ra từ các hoạt động thực tiễn Còn nguyên tắc là những luận
điểm được rút ra từ những quy luật, những nguyên lí như những tiên đề có giá trị chỉ dẫn các hoạt động phức tạp có đông người tham gia
Như chúng ta đều biết, giáo dục là một quá trình tác động hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ, đây là một công việc vừa có tính khoa học, vừa có nghệ thuật rất cao, quá trình giáo dục có những nguyên tắc chỉ đạo thống nhất
Nguyên tắc giáo dục là hệ thống những luận điểm có tính tiên đề của lí luận giáo dục,
có vai trò định hướng trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục, chỉ dẫn việc lựa chọn nội dung, phương pháp và các hình thức tổ chức giáo dục, nhằm làm cho quá trình giáo dục
đạt được mục tiêu đã đề ra
Trên bình diện lí thuyết, nguyên tắc giáo dục là những luận điểm được chọn lọc và khái quát từ lí thuyết về bản chất con người, bản chất quá trình giáo dục và vai trò chủ đạo của giáo dục trong sự hình thành và phát triển nhân cách, từ các quy luật của quá trình giáo dục
Trên bình diện thực tế, nguyên tắc giáo dục được rút ra từ những kinh nghiệm giáo dục tiên tiến, đã được chứng minh bằng thực tiễn giáo dục qua các thời đại
Nguyên tắc giáo dục là một hệ thống nhiều luận điểm, mỗi luận điểm chỉ dẫn một hay nhiều mặt của hoạt động giáo dục Nguyên tắc giáo dục trở thành chỗ dựa vững chắc cho các nhà sư phạm, các nhà quản lí và các tổ chức đoàn thể khi tiến hành các hoạt động giáo dục Nhà giáo dục có kinh nghiệm sư phạm chính là những người nắm vững và vận dụng linh hoạt các nguyên tắc giáo dục vào các tình huống giáo dục cụ thể
2.2.2 Hệ thống các nguyên tắc giáo dục
Quá trình giáo dục có một hệ thống các nguyên tắc như sau:
2.2.2.1 Nguyên tắc tính mục đích của các tác động giáo dục
Một đặc điểm quan trọng nhất của quá trình giáo dục là yếu tố định hướng phát triển nhân cách, nói cách khác là giáo dục bao giờ cũng có mục đích cụ thể
Trang 3030
Mục đích giáo dục có phạm vi rất rộng, nó liên quan tới nội dung giáo dục, đến đặc
điểm tâm, sinh lí lứa tuổi của các đối tượng giáo dục và tới các tình huống mà nhà giáo dục phải giải quyết
Mục đích giáo dục bao gồm các mục tiêu trước mắt cho tương lai gần và mục đích chiến lược cho tương lai xa Mục tiêu trước mắt có thể là làm cho học sinh ngoan ngoãn, chăm chỉ học hành, nhưng mục đích giáo dục cuối cùng phải là hình thành một nhân cách tích cực sáng tạo
Từ mục đích giáo dục tổng thể các nhà giáo dục thiết kế mục tiêu giáo dục cho từng giai đoạn phát triển của trẻ em, mục tiêu cho từng tình huống cụ thể Như vậy, hai khái niệm mục đích và mục tiêu là hai cấp độ xa - gần của các định hướng trong hoạt động giáo dục
Mục tiêu giáo dục trong trường hợp này có thể là giúp các đối tượng giáo dục nhận thức một khái niệm mới, hay tạo ra một thói quen hành vi văn hoá mới Mục tiêu giáo dục trong tình huống kia có thể là để ngăn ngừa, phòng chống những nguy cơ phát sinh những hiện tượng không lành mạnh Mục tiêu giáo dục trong tình huống khác có thể là xoá bỏ những nhận thức sai lầm hay những thói quen, hành vi lệch chuẩn, lúc này thì mục tiêu giáo dục là phá vỡ động hình cũ để tạo ra một thói quen mới
Mục tiêu giáo dục đối với học sinh trung học cơ sở là giúp các em hình thành ý thức
và tình cảm đạo đức một cách cụ thể và dễ thực hiện nhất là: chăm chỉ học hành, ngoan ngoãn lễ phép, kính trên, nhường dưới, có thói quen hành vi văn minh, tôn trọng pháp luật, biết phòng ngừa, đấu tranh với những tệ nạn xã hội, phấn đấu trở thành những công dân có ích cho xã hội
Điều trọng tâm, cốt lõi của nguyên tắc này là khi tổ chức các hoạt động giáo dục ở trường trung học cơ sở là các nhà giáo dục luôn phải đặt ra và tự trả lời câu hỏi: Những tác
động giáo dục của mình nhằm mục tiêu gì? sẽ đem lại lợi ích trước mắt và lâu dài cho học sinh? và làm thế để có thể đạt được mục tiêu giáo dục đó? Câu trả lời phải được cân nhắc kĩ trước khi tiến hành các hoạt động giáo dục
Thiết kế mục đích, mục tiêu giáo dục là công việc rất quan trọng vì nó liên quan đến toàn bộ hoạt động giáo dục, đến chất lượng và hiệu quả giáo dục Do vậy, yêu cầu các nhà giáo dục phải cân nhắc, tính toán kĩ trên cơ sở phân tích các tình huống giáo dục trước khi quyết định tổ chức một hoạt động giáo dục cụ thể và lựa chọn phương pháp phù hợp (xem thêm mục 1.1.2 và 1.2.3.)
2.2.2.2 Nguyên tắc thống nhất giữa giáo dục ý thức và hành vi
Như ta đã biết, giáo dục là một quá trình bao gồm ba khâu thống nhất biện chứng với nhau đó là: giáo dục ý thức, giáo dục thái độ và hình thành hành vi, thói quen Giáo dục đạt
được hiệu quả khi các đối tượng giáo dục vừa có nhận thức đúng, có thái độ đúng và lại có hành vi chuẩn mực thể hiện trong cuộc sống hàng ngày
Nhận thức là quá trình nắm vững các khái niệm, hiểu rõ các giá trị, ý nghĩa của các hành vi văn hoá Thái độ là sự biểu hiện cụ thể nhân sinh quan trong các quan hệ xã hội và trong công việc Hành vi là lối sống phương thức sống được biểu hiện trong các tình huống xảy ra hàng ngày, hàng giờ Giáo dục bắt đầu từ nhận thức, biểu hiện ở thái độ và thể hiện cuối cùng bằng hành vi, thói quen Nhận thức là cơ sở để hình thành quan điểm, lí tưởng sống, tạo ra động cơ thúc đẩy các hoạt động, nhận thức của con người phải được thể hiện bằng hành vi và hành vi phải có ý thức
Tiêu chí trưởng thành của nhân cách là sự thống nhất giữa ý thức và hành vi Hành vi
là sản phẩm của ý thức, đồng thời là cơ sở để khẳng định trình độ nhận thức và thái độ của
Trang 31Khi thực hiện nguyên tắc này trong trường trung học cơ sở cần lưu ý:
+ Chống tình trạng không ăn khớp giữa lời nói và việc làm của thầy giáo và của học sinh trong cuộc sống, lao động và học tập hàng ngày
+ Nhà giáo dục luôn phải là những tấm gương sáng về mọi mặt cho thế hệ trẻ noi theo, nói và làm phải theo một chuẩn mực sư phạm
+ Cần tổ chức các hình thức hoạt động đa dạng, hấp dẫn, tạo điều kiện cho các đối tượng giáo dục luyện tập nhằm hình thành năng lực trí tuệ, phẩm chất đạo đức và hành vi thói quen
+ Tạo ra những tình huống giáo dục để các đối tượng tự tìm ra phương hướng giải quyết
2.2.2.3 Nguyên tắc tôn trọng nhân cách và yêu cầu cao đối với con người
Mỗi con người, trong đó có học sinh là những chủ thể có ý thức luôn có lòng tự trọng, biết tôn trọng người khác và đồng thời họ cũng có nhu cầu được người khác tôn trọng mình
Đây là một đặc điểm quan trọng của tâm lí con người Do đó một kết luận sư phạm hết sức quan trọng được rút ra là muốn giáo dục con người, phải tôn trọng nhân cách con người Tôn trọng nhân cách học sinh là tôn trọng nhân phẩm, tài năng trí tuệ, tự do tư tưởng, nhu cầu, nguyện vọng và thói quen sống của mỗi cá nhân học sinh Tôn trọng nhân cách còn bao gồm cả tôn trọng thân thể, không ai được xúc phạm đến phẩm giá con người và không ai được xúc phạm đến thân thể con người
Tôn trọng nhân cách con người cũng đồng nghĩa với tin tưởng con người, tin tưởng ở khả năng trí tuệ, khả năng lao động sáng tạo của con người Mỗi người có thể làm được một việc, nếu có ai đó đã làm được và thậm chí còn có thể làm được tốt hơn Như vậy, tin tưởng
là thể hiện sự mong muốn của các nhà giáo dục đối với các đối tượng giáo dục và đồng thời cũng là một biện pháp tế nhị buộc họ phải cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ
Trong quá trình giáo dục cùng với việc tôn trọng nhân cách học sinh, nhà giáo dục luôn phải có những yêu cầu cao đối với các em Yêu cầu cao chính là sự đòi hỏi cao hơn khả năng thực tế các em phải phấn đấu Bằng hệ thống những mục tiêu, những tiêu chuẩn nâng dần từng bước, thúc đẩy học sinh phải phấn đấu liên tục Khi nhà giáo dục đặt ra những yêu cầu cao, học sinh sẽ cảm nhận được sự tin tưởng của các thầy, cô giáo về mình, như là tiếp thêm sức mạnh để cố gắng nhiều hơn Như vậy, yêu cầu cao chính là thể hiện niềm tin và sự tôn trọng nhân cách con người
Từ đó một nguyên tắc giáo dục được hình thành là: muốn giáo dục con người phải tôn trọng nhân cách con người và phải có những yêu cầu cao đối với con người
Những điều cần lưu ý khi thực hiện nguyên tắc này trong các trường trung học cơ sở: + Nhà giáo dục không được xúc phạm đến nhân cách học sinh dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, với bất cứ lí do gì, cần tránh mọi thành kiến đối với học sinh dù họ có mắc khuyết điểm trong một tình huống nhất thời nào đó
+ Nhà giáo dục cần tránh những thái độ gay gắt, nhạo báng, mỉa mai, mệnh lệnh, áp
đặt, nhưng đồng thời tránh những dễ dãi, xuề xoà “vô nguyên tắc”
Trang 3232
+ Nhà giáo dục luôn đánh giá học sinh cao hơn một chút so với cái mà họ đã có, đòi hỏi cao hơn một chút so với những gì họ đã đạt được Tế nhị, khéo léo, có tình, có lí trong ứng xử sư phạm đó là nghệ thuật sư phạm của giáo viên
+ Phải xác định những ưu điểm, những thành công của học sinh dù đó là nhỏ bé nhất, phải ghi nhận thành tích của tập thể trong đó có những đóng góp của từng cá nhân, lấy phát huy ưu điểm là cơ sở để tạo ra những thành công mới trong quá trình phấn đấu của học sinh
2.2.2.4 Nguyên tắc phát huy ưu điểm để khắc phục nhược điểm
Trong cuộc sống hàng ngày, trong học tập và lao động, mỗi học sinh đều có điểm mạnh và điểm yếu do các nguyên nhân và hoàn cảnh giáo dục khác nhau Tuy vậy, trong thực tế cả người lớn lẫn trẻ nhỏ ai cũng muốn được nghe những lời hay ý đẹp và không ai muốn nghe những khuyết điểm, những lời chỉ trích, phê phán về mình
Từ những đặc điểm tâm lí này có thể rút ra một kết luận sư phạm quan trọng là mỗi con người luôn muốn được động viên, khích lệ, do đó giáo dục phải lấy việc phát huy ưu
điểm để giảm thiểu các nhược điểm Hãy nói nhiều đến ưu điểm, coi đó là các phẩm chất cơ bản của mỗi con người Hãy giảm thiểu những lời nói về khuyết điểm, sai lầm của các
đối tượng giáo dục, đặc biệt là sai lầm quá khứ, nhất thời Lấy ưu điểm để khắc phục nhược
điểm, để cổ vũ phát triển ý thức, thái độ và hành vi tốt, từ đó xoá bỏ những mặc cảm và những thành kiến về mỗi con người
Nguyên tắc phát huy ưu điểm, khắc phục nhược điểm là “lấy xây để chống”, “tăng cường sinh lực đề phòng chống bệnh tật” đây là một nguyên tắc giáo dục rất có hiệu quả Trong các trường trung học cơ sở các nhà giáo dục cần chú ý:
+ Tổ chức tốt các phong trào thi đua, theo dõi những điển hình gương mẫu, thường xuyên động viên, khen thưởng, khích lệ học sinh
+ Mỗi năm có tổng kết, đánh giá xếp loại và khen thưởng những học sinh đạt được thành tích cao trong học tập và tu dưỡng
+ Cần thiết có sự bao dung, độ lượng của các nhà sư phạm, của tập thể, của bạn bè
đối với từng học sinh, hãy nâng đỡ khi họ vấp váp, sai lầm, qua đây cảm hoá họ, dẫn họ trên con đường mới, đến những thành công mới Đối với bạn bè thì phải thực hành khẩu hiệu “chị ngã em nâng”
+ Điều đáng ghi nhớ sau phê bình, trách phạt, phải là lòng nhân ái, vị tha vì sự tiến bộ của con người
+ Tuy nhiên, nguyên tắc này không đồng nghĩa với bao che khuyết điểm, thủ tiêu đấu tranh, từ bỏ vũ khí phê và tự phê bình, hay ngược lại là thổi phồng thành tích để làm cho con người trở thành tự kiêu, tự phụ
2.2.2.5 Nguyên tắc giáo dục trong lao động và bằng lao động
Ai cũng biết, cuộc đời con người là một quá trình lao động không mệt mỏi Lao động chính là phương thức sống, đồng thời là con đường hình thành và phát triển nhân cách Mục
đích giáo dục của nhà trường suy cho cùng là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ khoa học
kĩ thuật cao đáp ứng các yêu cầu của xã hội Vì vậy, một nguyên tắc giáo dục quan trọng
được đặt ra cho nhà trường là: giáo dục con người phải được thực hiện trong lao động và bằng lao động
Thật vậy, lao động tích cực làm cho con người khoẻ mạnh về cơ bắp, sung sức về tinh thần, thông minh, sáng tạo trong trí tuệ Lao động giúp cho con người nhận ra giá trị của cuộc sống, làm cho con người biết yêu thương, quý trọng lẫn nhau
Trang 3333
Lao động hình thành cho thế hệ trẻ thái độ đúng đắn đối với người lao động, đối với những sản phẩm do lao động tạo ra, có ý thức hợp tác, tương trợ giúp đỡ nhau đạt được kết quả cao nhất
Lao động say mê, sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần là nguồn gốc của mọi tình cảm, mọi phẩm chất của con người Ngược lại, sự nhàn rỗi, lười biếng là nguồn gốc nảy sinh mọi thói hư, tật xấu Lao động giúp cải tạo bản thân, đồng thời là con đường rèn luyện dẫn tới hạnh phúc
Trong các trường trung học cơ sở khi thực hiện nguyên tắc này cần chú ý:
+ Tổ chức cho học sinh tham gia vào các dạng hoạt động khác nhau, bắt đầu từ việc nhỏ nhất hàng ngày như là trực nhật, vệ sinh trường lớp, phòng học
+ Cần thu hút học sinh tham gia vào các hình thức lao động kĩ thuật, có tính sáng tạo, hấp dẫn, tạo ra hứng thú và kĩ năng lao động cho học sinh như trồng hoa, cây cảnh, tạo ra môi trường xanh, sạch, đẹp
+ Tổ chức cho các em tham gia vào lao động tạo ra của cải vật chất trong vườn trường, xưởng trường
Đây chính là các biện pháp để khắc phục tình trạng ngại khó, ngại khổ, chống thái độ lười biếng, ăn bám, giáo dục những thế hệ mới yêu thích và có kĩ năng lao động sáng tạo
2.2.2.6 Nguyên tắc giáo dục trong tập thể và bằng tập thể
Con người có bản chất xã hội, do đó nhân cách con người chỉ có thể phát triển khi họ
được tham gia vào các hoạt động xã hội, vào các mối quan hệ giao lưu và hợp tác với người khác
Tập thể là nơi học sinh sống và học tập, là môi trường trực tiếp để các em giao lưu, sinh hoạt bè bạn, đối với nhà trường là phương tiện để giáo dục học sinh Do vậy, một nguyên tắc giáo dục rất quan trọng được hình thành đó là muốn giáo dục học sinh phải đưa
họ vào sinh hoạt tập thể và sử dụng tập thể như một môi trường để giáo dục mỗi học sinh Trong nhà trường, giáo viên có nhiệm vụ xây dựng các tập thể học sinh vững mạnh để mỗi lớp học là một đơn vị tự quản, có kỉ luật và dư luận lành mạnh, có truyền thống tốt, biến những yêu cầu của nhà trường, của giáo viên thành yêu cầu của tập thể học sinh
Coi tập thể như là một đối tượng giáo dục, cần tổ chức tốt ban tự quản và các dạng hoạt động tập thể, tạo điều kiện cho mỗi thành viên có cơ hội tham gia để thể hiện tài năng
và rèn luyện các kĩ năng hoạt động hợp tác
Trong giáo dục tập thể có một nguyên tắc quan trọng là “tác động song song”, nhà giáo dục một mặt tác động đến tập thể, thông qua tập thể gây ảnh hưởng đến từng cá nhân, mặt khác cần tác động trực tiếp đến từng cá nhân để tạo nên sự cộng hưởng tích cực trong tập thể
Tập thể vững mạnh sẽ trở thành một môi trường và phương tiện để giáo dục học sinh
có hiệu quả rất cao
Trong trường trung học cơ sở có các tập thể lớp học, các chi đội Thiếu niên Tiền phong, ở cuối lớp 9 đã thành lập các chi đoàn Thanh niên Để thực hiện tốt vai trò giáo dục của tập thể, cần tổ chức tốt mối quan hệ giữa nhà giáo dục và bộ máy tự quản của tập thể học sinh
Trong trường trung học cơ sở giáo viên chủ nhiệm lớp cần tránh hai khuynh hướng:
- Thiếu tin tưởng đối với lãnh đạo tập thể dẫn đến thái độ bao biện, áp đặt, làm thay hay độc đoán trong quản lí tập thể học sinh
Trang 3434
- Tin tưởng quá mức vào khả năng tự quản của tập thể dẫn đến việc buông lỏng quản
lí, thả nổi sự phát triển của tập thể học sinh
2.2.2.7 Nguyên tắc bảo đảm tính hệ thống và liên tục
Giáo dục là một thể thống nhất, toàn vẹn Mỗi thành tựu giáo dục, mỗi phẩm chất nhân cách được hình thành là kết quả tổng hợp của các yếu tố chủ quan, khách quan, của toàn bộ những tác động của các lực lượng giáo dục Mỗi kết quả giáo dục đạt được hôm nay là kết quả của sự cố gắng của cả thầy và trò trong những ngày hôm qua Điều đó có nghĩa là: giáo dục là một quá trình lâu dài và phức tạp phải tiến hành trên nguyên tắ tính
- Phải củng cố thường xuyên những kết quả giáo dục về nhận thức, tình cảm và hành
vi của học sinh Dựa vào kết quả đó để tiếp tục đưa ra những nội dung mới, yêu cầu mới nhằm hình thành những phẩm chất mới
- Những kết quả giáo dục trong gia đình phải được nối tiếp bằng những tác động giáo dục ở nhà trường, trong các đoàn thể và trong xã hội theo một mục tiêu chung
- Nhà giáo dục phải trân trọng những cố gắng đã làm được của trẻ em dù là nhỏ bé để tạo ra sự phấn khởi, tự hào, từ đó các em sẽ cố gắng nhiều hơn nữa
2.2.2.8 Nguyên tắc giáo dục cá biệt
Sự phát triển của cá nhân cả về thể chất lẫn tinh thần đều diễn biến theo lứa tuổi, với những nét đặc trưng riêng của giới tính Hơn thế nữa, mỗi con người là một thế giới thu nhỏ, có những nét tính cách phổ biến và cũng có những đặc thù không lặp lại ở người khác
Điều đó có nghĩa là sự phát triển cá nhân vừa tuân theo những quy luật chung, vừa mang theo những dấu ấn đặc thù
Sự khác biệt tâm lí, tính cách của từng cá nhân do nhiều nguyên nhân trong đó phải
kể đến tính tích cực của từng cá nhân, sự tiếp nhận giáo dục từ môi trường sống
Nhà giáo dục khi hiểu rõ đặc điểm tâm - sinh lí lứa tuổi, giới tính và những đặc điểm cá biệt của học sinh sẽ có phương pháp giáo dục khác nhau, đề ra các yêu cầu hợp lí, thu hút họ tham gia tích cực vào các hoạt động tập thể Ngược lại, không hiểu rõ đặc điểm tâm
lí của đối tượng, sẽ không thể đồng cảm với họ dẫn đến có những áp đặt không đúng làm giảm hiệu quả giáo dục, thậm chí có thể dẫn đến những chống đối ngấm ngầm hay công khai
Một nguyên tắc giáo dục được hình thành là: Quá trình giáo dục phải chú ý đến đặc
điểm tâm lí lứa tuổi, thói quen, trình độ được giáo dục của từng học sinh để có các tác
động giáo dục phù hợp Đó chính là nguyên tắc cá biệt hoá
Đối với học sinh trung học cơ sở, tâm - sinh lí lứa tuổi đang có những biến động mạnh, giai đoạn “khủng hoảng” của tuổi dậy thì, khi thực hiện nguyên tắc này cần lưu ý:
- Tổ chức các hình thức hoạt động đa dạng, hấp dẫn với lứa tuổi học sinh - thiếu niên
đang “hiếu động”, nhằm thu hút sự tham gia tích cực của tất cả các đối tượng giáo dục
- Chú ý đến giới tính và đặc điểm cá biệt của từng đối tượng để tìm ra các biện pháp tác động phù hợp, phát huy những mặt mạnh của họ nhằm tạo nên sự hưởng ứng tích cực
Trang 352.2.2.9 Nguyên tắc thống nhất giữa các lực lượng giáo dục
Gia đình, nhà trường và xã hội là ba lực lượng giáo dục đều có chung một mục đích là hình thành nhân cách tốt đẹp cho thế hệ trẻ Vì vậy, để tiến hành giáo dục, các lực lượng giáo dục phải thống nhất với nhau các yêu cầu về nội dung và phương pháp giáo dục Chỉ
có sự thống nhất về mục tiêu mới đem lại kết quả giáo dục
Ngược lại, giáo dục phân tán, không đồng bộ, theo các khuynh hướng khác nhau có thể phá vỡ sự toàn vẹn, thống nhất của giáo dục, dẫn đến những hậu quả khó lường trước
“Trống đánh xuôi kèn thổi ngược” đó là dàn nhạc tồi
Quá trình giáo dục gia đình, đoàn thể, xã hội phải lấy giáo dục nhà trường làm trục chính Nhà trường phải chịu trách nhiệm phối hợp các lực lượng giáo dục
Đối với học sinh trường trung học cơ sở, khi thực hiện nguyên tắc này cần lưu ý:
- Tạo lập mối liên hệ thường xuyên giữa nhà trường và gia đình, giữa cha mẹ học sinh
và các thầy, cô giáo chủ nhiệm lớp Cần trao đổi thông tin hàng tháng, hàng tuần và thậm chí hàng ngày về tất cả những gì đang xảy ra ở lớp, ở nhà của con em mình
- Nhà trường xây dựng mối quan hệ tốt với địa phương, với các tổ chức xã hội và các cơ quan đóng trên địa bàn để cùng phối hợp giáo dục và rút kinh nghiệm công tác giáo dục học sinh
- Các lực lượng giáo dục: cha mẹ, thầy, cô giáo, anh chị phụ trách phải thống nhất về mục tiêu, quy trình, phương thức giáo dục trên một nguyên tắc chung, chỉ có như vậy mới
đem lại những thành công cho quá trình giáo dục
2.2.2.10 Nguyên tắc phát huy ý thức tự giáo dục của học sinh
Như ta đã biết, giáo dục là quá trình có tính chất hai mặt, do đó sự thống nhất giữa vai trò chủ đạo của nhà giáo dục với phát huy vai trò tích cực chủ động, tự giáo dục của các đối tượng giáo dục trở thành một nguyên tắc giáo dục quan trọng
Nhà giáo dục có chức năng định hướng, chỉ dẫn học sinh đi đến mục tiêu, vì xa rời mục tiêu sẽ dẫn đến giáo dục mất phương hướng Nhà giáo dục cần quan tâm đến thế hệ trẻ
về mọi phương diện, uốn nắn từng bước đi, chấn chỉnh từng lệch lạc hàng ngày, trong tất cả các hoạt động của họ
Tuy nhiên, tính tích cực, chủ động của các đối tượng giáo dục đóng vai trò quyết định
đối với chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục Chỉ khi nào học sinh chủ động có ý thức trong tiếp nhận các tác động giáo dục, chỉ khi nào họ tích cực, sáng tạo trong các hoạt
động học tập và tự tu dưỡng mới có thể giúp họ hình thành tình cảm, thói quen và hành vi tốt
Đối với học sinh trung học cơ sở khi thực hiện nguyên tắc này các nhà giáo dục cần lưu ý:
+ Giúp đỡ học sinh tự xây dựng kế hoạch học tập và phấn đấu vươn lên theo từng năm học, xác định đúng mục đích, nội dung và phương pháp học tập, tu dưỡng phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể
+ Thu hút sự tham gia tích cực của học sinh vào các hoạt động chung, thường xuyên theo dõi, động viên uốn nắn những sai lệch một cách kịp thời
Trang 36Tóm lại: Để quá trình giáo dục đạt được những kết quả mong muốn, nhà giáo dục phải tuân thủ một hệ thống các nguyên tắc giáo dục Mỗi nguyên tắc nhấn mạnh một mặt, một yêu cầu cụ thể, do vậy trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục, nhà giáo dục phải biết vận dụng linh hoạt, hợp lí vào các tình huống cụ thể Nghệ thuật sư phạm cũng chính là nghệ thuật vận dụng linh hoạt các nguyên tắc giáo dục
Câu hỏi thảo luận và ôn tập
1 Thế nào là nguyên tắc giáo dục? Hãy trình bày bản chất, nội dung và các thực hiện từng nguyên tắc giáo dục Lấy thí dụ thực tế để minh hoạ?
2 Phân tích mối quan hệ giữa mục đích, mục tiêu giáo dục, đối tượng giáo dục và các nguyên tắc giáo dục Cho thí dụ minh hoạ
3 Thử xác định các nguyên tắc giáo dục cần áp dụng khi tổ chức các hoạt động giáo dục sau đây: giáo dục truyền thống, hội thi văn nghệ, tổ chức trò chơi?
4 Hãy xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động tập thể cho học sinh lớp chủ nhiệm Nêu
rõ nguyên tắc nào cần được áp dụng khi tổ chức hoạt động giáo dục đó?
5 Tại sao có thể nói nghệ thuật sư phạm chính là thực hiện một cách hợp lý và sáng tạo các nguyên tắc giáo dục?
2.3 PHƯƠNG PHÁP GIÁO DỤC
2.3.1 Khái niệm phương pháp giáo dục
Phương pháp giáo dục là một thành tố quan trọng của quá trình giáo dục, trong nhiều trường hợp phương pháp giáo dục quyết định sự thành bại của các hoạt động giáo dục Phương pháp giáo dục cũng như bản thân quá trình giáo dục là một phạm trù phức tạp, vì vậy cần phân tích để nắm vững bản chất và đặc điểm của phương pháp giáo dục nhằm sử dụng chúng một cách có hiệu quả
Bản chất của phương pháp giáo dục
Như ta đã biết, quá trình giáo dục về bản chất là quá trình tổ chức cuộc sống, hoạt
động và giao lưu cho thế hệ trẻ, qua đó làm chuyển hoá các giá trị văn hoá xã hội thành ý thức, thái độ và hành vi của các em Như vậy thì về bản chất phương pháp giáo dục không phải là cái gì khác mà chính là cách thức tổ chức cuộc sống, hoạt động và giao lưu cho trẻ
em hàng ngày, hàng giờ trong gia đình, trong nhà trường và ngoài xã hội
Đặc điểm của phương pháp giáo dục:
Từ việc xác định bản chất của phương pháp giáo dục như trên, ta thấy phương pháp giáo dục có các đặc điểm sau:
+ Giáo dục là quá trình có hai nhân vật tham gia: nhà giáo dục và đối tượng được giáo dục, như vậy phương pháp giáo dục là phương pháp tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà giáo dục và phương pháp tham gia tích cực của các đối tượng giáo dục vào các hoạt động
đó
+ Đối tượng giáo dục là con người, mỗi con người có những nét độc đáo về mặt tâm
lí, ý thức, thói quen hành vi do điều kiện sống và hoàn cảnh giáo dục khác nhau; mỗi tình
Trang 3737
huống giáo dục có liên quan đến một đối tượng hay một tập thể, như vậy phương pháp giáo dục là cách thức tổ chức các hoạt động đa dạng phù hợp với các đối tượng và các tình huống giáo dục cụ thể Không có phương pháp nào là vạn năng chung cho tất cả mọi tình huống, mọi đối tượng giáo dục
+ Giáo dục là quá trình có tính mục đích, mỗi hoạt động giáo dục đều có nội dung, như vậy mục đích, nội dung và phương pháp giáo dục là ba phạm trù gắn bó với nhau một cách biện chứng
Khi lựa chọn các phương pháp giáo dục cho một tình huống giáo dục cụ thể phải dựa trên cơ sở mục đích, nội dung giáo dục, đồng thời chú ý đến đặc điểm tâm lí, giới tính của các đối tượng giáo dục
+ Phương pháp giáo dục có liên quan mật thiết đến phương tiện và hình thức tổ chức giáo dục Phương tiện giáo dục hiện đại, hình thức tổ chức giáo dục phong phú thì phương pháp giáo dục cần phải sáng tạo
Trong điều kiện xã hội hiện đại, với các phương tiện kĩ thuật hỗ trợ, hình thức tổ chức giáo dục trở nên rất phong phú và hấp dẫn, thu hút tuổi trẻ chủ động tham gia một cách tích cực và sáng tạo
2.3.2 Phân loại phương pháp giáo dục
Do tính đa dạng của phương pháp giáo dục, cho nên một vấn đề quan trọng được đặt
ra là phải phân loại chúng để sử dụng cho có hiệu quả
Phân loại phương pháp giáo dục có nghĩa là sắp xếp các phương pháp giáo dục theo một hệ thống, trên cùng một bình diện, một cơ sở thống nhất Có nhiều cách tiếp cận quá trình giáo dục, do đó cũng có nhiều cách phân loại phương pháp giáo dục
+ Khi tiếp cận giáo dục trên cơ sở lực lượng giáo dục ta có các nhóm phương pháp giáo dục:
- Nhóm phương pháp giáo dục gia đình
- Nhóm phương pháp giáo dục nhà trường
- Nhóm phương pháp giáo dục đoàn thể
- Nhóm phương pháp giáo dục xã hội
Mỗi lực lượng giáo dục có một vị trí đặc biệt đối với đời sống của con người, cho nên mỗi lực lượng giáo dục có những phương pháp đặc thù và chúng đem lại hiệu quả cao Gia đình là tế bào xã hội, được hình thành và phát triển trên cơ sở tình yêu và huyết thống, được pháp luật bảo hộ Cha mẹ sinh con, đứa con gắn liền với cha mẹ trong suốt cuộc đời, tương lai của đứa trẻ là hạnh phúc của gia đình Do vậy, cha mẹ là những người hơn bất cứ ai khác quan tâm giáo dục con cái mình
Phương pháp giáo dục gia đình chủ yếu dựa trên quan hệ tình cảm, bằng tình cảm, cùng với định hướng xây dựng gia đình hạnh phúc Bằng cách tổ chức cuộc sống hàng ngày, bằng sự gương mẫu của cha mẹ mà giáo dục con em trở thành những đứa trẻ chăm ngoan, học giỏi và ngược lại, vì yêu thương , quý trọng cha mẹ, vì nề nếp gia phong, con cái phấn đấu theo mục tiêu xây dựng gia đình hạnh phúc
Đoàn thể là các tổ chức chính trị - xã hội, tập hợp các thành viên hoạt động theo tôn chỉ, mục đích chung Tập thể có tổ chức, có kỉ luật, mọi người phải tự giác tuân theo Phương pháp giáo dục đoàn thể dựa trên các hoạt động tập thể, bằng các biện pháp tổ chức hành chính, bằng kỉ luật tự giác, bằng dư luận lành mạnh để giáo dục các thành viên
Nhà trường là một tổ chức giáo dục chuyên nghiệp, có mục tiêu giáo dục toàn diện,
có chương trình và nội dung giáo dục được xây dựng trên các cơ sở khoa học và thực tiễn,
Trang 38- Nhóm phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, pháp luật
- Nhóm phương pháp giáo dục thẫm mỹ
- Nhóm phương pháp giáo dục lao động, hướng nghiệp
- Nhóm phương pháp giáo dục thể chất, quốc phòng
Như ta đã biết, phương pháp giáo dục có quan hệ chặt chẽ với nội dung giáo dục, mỗi nội dung giáo dục có các phương pháp đặc thù Phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng,
đạo đức, pháp luật khác với phương pháp giáo dục lao động, hướng nghiệp hoặc giáo dục thể chất
+ Khi tiếp cận giáo dục như một quá trình, ta thấy giáo dục bao gồm ba khâu: giáo dục ý thức, thái độ và hành vi cho học sinh, mỗi khâu có một vị trí xác định, có phương pháp đặc thù Cho nên ta có thể phân loại phương pháp giáo dục theo ba nhóm sau đây:
Chúng ta sẽ nghiên cứu phương pháp giáo dục theo cách phân loại này
Khuyên bảo là phương pháp trò chuyện giữa nhà giáo dục với các đối tượng giáo dục,
để tạo ra mối quan hệ thiện cảm, tin cậy lẫn nhau, để từ đó giúp các đối tượng giáo dục nhận thức được chân lí, lẽ phải, hiểu được nội dung, ý nghĩa của các quy tắc, chuẩn mực xã hội, biết được quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân trong các mối quan hệ với tập thể và cộng
đồng xã hội, từ đó mà tu dưỡng rèn để có thái độ và hành vi thói quen theo đúng chuẩn mực
Sử dụng phương pháp khuyên bảo, nhà giáo dục khéo léo tạo ra hoàn cảnh tự nhiên, cùng học sinh phân tích những sự kiện, những tình huống đã xảy ra, đánh giá nguyên nhân,
hệ quả, từ đó mà điều chỉnh hành vi cho hợp lí và đưa ra các quyết định hành động Sự khuyên bảo thường diễn ra dựa trên quan hệ tình cảm và bằng uy tín của nhà giáo dục để cám hoá học sinh
Phương pháp khuyên bảo được sử dụng trong các tình huống sau:
Trang 3939
+ Khi đối tượng giáo dục không hiểu mà hành động sai Nhà giáo dục với thái độ bao dung, chỉ ra cái đúng, cái sai, bằng những thí dụ thực tế để thuyết phục làm thay đổi nhận thức của họ
+ Khi đối tượng hiểu đúng nhưng làm sai, như vậy là họ cố tình vi phạm những quy tắc, chuẩn mực xã hội Trong trường hợp này nhà giáo dục phải nghiêm khắc, khuyên bảo thường đi kèm với những yêu cầu có tính chất nhắc nhở, bắt buộc
Trong trường trung học cơ sở, để phương pháp khuyên bảo đạt hiệu quả cao, nhà giáo dục cần chú ý mấy điểm sau đây:
+ Bám sát đặc điểm tâm lí lứa tuổi thiếu niên và đặc điểm tâm lí cá nhân để có cách tiếp cận, tế nhị dẫn dắt câu chuyện theo mục tiêu giáo dục
+ Lựa chọn thời điểm thích hợp, trong giờ giải lao, trong buổi lao động, trong hoạt
động ngoại khoá để tạo tình huống tự nhiên, tình cảm cởi mở với các đối tượng giáo dục + Nhà giáo dục chú ý lắng nghe, để cho họ được tự “bộc bệch” trình bày quan điểm nguyện vọng từ đó mà chia sẽ, uốn nắn và khuyên bảo như người trong cuộc
+ Cần sử dụng những lời lẽ lịch sự, nhẹ nhàng, chân thành, tránh mọi lời nói và hành
Thảo luận tập thể giúp mọi người giải đáp những vấn đề bức xúc, những tình huống khó xử, những sự kiện cụ thể, để tìm ra tiếng nói chung nhằm tạo dư luận tốt để điều chỉnh nhận thức của mỗi cá nhân
Thảo luận tập thể là phương pháp cởi mở của những người trong cuộc, tự do bộc lộ quan điểm, ý kiến riêng, thẳng thắn phê phán hay tự bảo vệ quan điểm của mình hoặc thuyết phục người khác làm theo những quan điểm đúng Thông qua thảo luận, học sinh
được chia sẽ với nhau những vướng mắc, những băn khoăn, xóa đi những bất đồng, cùng nhau tìm ra nguyên nhân và cách giải quyết một cách có tình, có lí
Phương pháp thảo luận rất phù hợp với lứa tuổi học sinh trung học cơ sở, vì các em
đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời, khát khao được khám phá cái mới trong cuộc sống,
có nhu cầu vươn lên để tự khẳng định mình ở vào lứa tuổi này, học sinh không dễ dàng chấp nhận áp lực từ một phía nào đó, nhất là khi các quan điểm không phù hợp với lứa tuổi
và thời đại Lúc này thảo luận có thể trở thành tranh luận, nhà giáo dục nêu vấn đề, các thành viên tranh luận để tìm ra câu trả lời có ý nghĩa
Để phương pháp thảo luận, tranh luận đạt hiệu quả cao, nhà giáo dục ở trường trung học cơ sở cần chú ý những điểm sau đây:
+ Lựa chọn những chủ đề hấp dẫn, có ý nghĩa thiết thực, gần gũi với cuộc sống của học sinh, không sa vào những vấn đề lí thuyết dài dòng, phức tạp
+ Khéo léo tạo ra bầu không khí tự nhiên, tin cậy, phá vỡ rào cản tâm lí, những căng thẳng không cần thiết
Trang 4040
+ Khuyến khích học sinh tự do phát biểu ý kiến, nhà giáo dục không áp đặt ý muốn chủ quan, không cắt ngang, không chỉ trích, không xúc phạm đến cá nhân trong khi tranh luận
+ Yêu cầu mỗi học sinh có ý thức phục thiện, biết lắng nghe, biết chia sẽ ý kiến của người khác, dũng cảm từ bỏ những quan điểm không dúng, tự giác điều chỉnh bản thân + Uy tín, sự tế nhị và cách lập luận sắc sảo của nhà giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng khi đặt vấn đề, khi định hướng tranh luận và đưa ra các kết luận xác đáng sẽ được học sinh chấp nhận, tuân theo
c Phương pháp tạo dư luận
Tạo dư luận là phương pháp tác động đến học sinh bằng cách tạo ra những ý kiến, những quan điểm khác nhau về một sự kiện đang diễn ra trong tập thể, trong đó có tiếng nói chính thức, để học sinh suy ngẫm, tự đánh giá qua đó biến những yêu cầu của nhà giáo dục thành yêu cầu của tập thể và mỗi cá nhân
Dư luận là những ý kiến đồng tình hay phê phán một sự kiện, một hành vi đã và đang xảy ra trong tập thể Dư luận sẽ tác động đến từng cá nhân như những yêu cầu chung của tập thể, khuyến khích hành vi tốt hoặc ngăn chặn những hành vi lệch chuẩn, để chúng không lặp lại
Có một số trường hợp, trong tập thể xuất hiện những dư luận tự phát “không lành mạnh” “bóp méo” sự thật, khi đó tạo dư luận chính là tạo luồng gió mới xoá bỏ dư luận sai lầm đã có
Sức mạnh tập thể là sức mạnh của dư luận lành mạnh, là biểu hiện thái độ của số
đồng thành viên trước những vấn đề cụ thể, tạo ra những trạng thái tâm lí đặc biệt trước những tình huống, sự kiện đã và đang xảy ra Dư luận lành mạnh có tác dụng lôi cuốn các thành viên tham gia tích cực vào các hoạt động, phê phán những hành vi sai trái, giúp đỡ nhau khắc phục những thiếu sót, làm cho tập thể đoàn kết, gắn bó hơn
Đối với lứa tuổi học sinh trung học cơ sở, phương pháp tạo dư luận có hiệu quả rất cao, bởi vì ở tuổi này các em muốn được sống với bạn bè, với tập thể trong bầu không khí chân thành và tin cậy Tạo dư luận là phương pháp loại bỏ những nhận thức sai lệch của một cá nhân nào đó
Để phương pháp tạo dư luận có hiệu quả đối với học sinh trung học cơ sở, nhà giáo dục cần lưu ý:
+ Luôn đề cao và tạo ra cho học sinh ý thức tự hào về những truyền thống tốt đẹp đã
có của tập thể Nhân lên những điển hình tốt, người tốt, việc tốt trong lớp, trong trường + Luôn hoan nghênh và ủng hộ những cá nhân có ý tưởng đẹp, sáng kiến tốt; phê phán những hành vi sai trái, những biểu hiện thiếu lành mạnh
+ Tôn trọng ban tự quản của học sinh, ủng hộ những ý kiến hay của lãnh đạo tập thể
và những sáng kiến tốt của các thành viên
+ Trong trường hợp ở tập thể xuất hiện dư luận “sai lệch” cần kịp thời tổ chức cho học sinh trao đổi, phân tích, đánh giá, hướng dẫn dư luận điều chỉnh kịp thời
2.3.3 2 Nhóm phương pháp tạo lập hành vi, thói quen
Nhóm phương pháp này qua tên gọi đã tự nói rõ mục đích là hình thành hành vi, thói quen có văn hoá cho các đối tượng giáo dục
Trong nhóm này có các phương pháp cụ thể sau đây:
a.Phương pháp giao việc