1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một vài biện pháp nhằm khơi gợi sự hứng thú cho hoc sinh lớp 6 trường THCS trí nang trong giờ học tiếng việt

21 205 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 163,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 24, luật giáo dục do Quốc hội khóa X thông qua cũng đã chỉ rõ “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng lớp học, môn học, b

Trang 1

I MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Việc đổi mới phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn hiện nay đã và đangthực sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy Phương pháp dạy học đổi mới chútrọng đến việc phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinhlàm cho học sinh ham thích môn học Điều 24, luật giáo dục (do Quốc hội khóa

X thông qua) cũng đã chỉ rõ “Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng lớp học, môn học, bồi dưỡngphương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tácđộng đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Đây làđịnh hướng cơ bản thiết thực đối với mỗi giáo viên trong đó có giáo viên dạymôn Ngữ văn

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, vấn đề học tập môn Ngữ văn củahọc sinh (HS) Trung học phổ thông nói chung, Trung học cơ sở (THCS) nóiriêng khiến thầy cô giáo và các nhà giáo dục rất lo ngại Điểm thi của nhiều em,trong các kì thi quan trọng khá thấp Bài làm của các em không những yếu mà

có những học sinh còn làm sai lệch nội dung bài học, hoặc cá biệt còn có em đểgiấy trắng Điều đó cho thấy chất lượng thấp và thái độ thờ ơ của HS đối vớimôn Ngữ văn Đâu đó ta vẫn thấy cách HS nói chuyện với nhau một cách cộclốc, viết bài làm văn thì bị bí từ, dùng sai nghĩa của từ, cảm nhận văn học thìkhô khan Đó chẳng phải là hậu quả của việc thờ ơ, xem nhẹ môn Ngữ văn,trong đó có phân môn Tiếng Việt đó sao?

Không chỉ trong bộ môn Ngữ văn, mà đối với tất cả các môn học khác thìphân môn Tiếng Việt có tầm quan trong đặc biệt Tiếng Việt có nhiệm vụ cungcấp cho học sinh những tri thức ngôn ngữ học, hệ thống tiếng Việt, quy tắc hoạtđộng và những sản phẩm của nó trong mọi hoạt động giao tiếp Mặt khác, TiếngViệt là một công cụ giao tiếp và tư duy, nên môn Tiếng Việt còn đảm nhận thêmmột chức năng kép mà các môn học khác không có Đó là chức năng trang bịcho học sinh công cụ để giao tiếp: tiếp nhận và diễn đạt mọi kiến thức khoa họctrong nhà trường Phân môn tiếng Việt được xem là “chìa khóa” mở đầu cho cácmôn học khác

Quan trọng là thế, song Tiếng Việt lại chưa thực sự được coi trọng, nếunhư không muốn nói là bị xem nhẹ trong những năm gần đây Trong bộ mônNgữ văn thì phân môn tiếng Việt luôn bị xem là khô khan, là khó học, là “rắc

Trang 2

rối” Người ta vẫn thường nói: “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp ViệtNam” Chính vì thế mà đa số các em rất ngại học phân môn này.

Nguyên nhân nào khiến chất lượng học tập môn Ngữ văn cũng như phânmôn Tiếng Việt xuống thấp như vậy? Có nhiều nguyên nhân nhưng một trong

số các nguyên nhân đó là do giáo viên chưa biết tạo hứng thú với học sinh quatừng tiết, từng bài dạy Bởi chỉ khi có hứng thú học tập các em mới chủ độngtham gia các hoạt động học tập trên lớp, thay vì ngồi chờ trống hết giờ một cácmệt mỏi, uể oải Và nếu không có hứng thú học tập thì sẽ không tập trung,không hiểu bài, kiến thức bị thiếu hụt, dẫn đến kết quả học tập không cao Trongkhi đó, kiến thức có sự liên quan tới nhau, nên một bài không hiểu dẫn đến khóhiểu cho những bài tiếp theo sau đó Cũng như lớp này bị hổng kiến thức thì họccác lớp sau sẽ rất khó khăn

Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy bộ môn Ngữ văn nhiều năm tại cáctrường vùng sâu, vùng xa (THCS Quang Hiến, THCS Trí Nang- Huyện LangChánh-tỉnh Thanh Hóa) tôi cũng nhận thấy những hạn chế này đối với học sinhcủa mình Từ đó tôi đã không ngừng tìm hiểu nguyên nhân cũng như cách khắcphục vấn đề Một phần giúp học sinh có hứng thú học tập và học tập tốt hơnmôn Ngữ văn nói chung, phân môn Tiếng Việt nói riêng, đồng thời góp phầnnâng cao chất lượng học tập chung trong toàn trường Trong phạm vi của một

sáng kiến kinh nghiệm nhỏ, tôi xin mạnh dạn đề cập đến “Một vài biện pháp

nhằm khơi gợi hứng thú cho học sinh lớp 6 (lớp mà tôi đang trực tiếp giảng dạy) của trường THCS Trí Nang trong giờ học Tiếng Việt”.

2 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu “Một vài biện pháp nhằm khơi gợi hứng thú cho họcsinh lớp 6 của trường THCS Trí Nang trong giờ học Tiếng Việt”, nhằm các mụcđích sau:

- Trước hết để bản thân có cơ hội và điều kiện hiểu thêm về đối tượng HS

mà mình trực tiếp giảng dạy Từ đó có những biện pháp phù hợp giúp các emyêu thích môn học Ngữ văn nói chung và phân môn Tiếng Việt nói riêng, vốn lànhững môn học mà các em vẫn xem là khó và chưa dành tình cảm nhiều cho nó

Từ đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường

- Đồng thời tài liệu này có thể giúp cho giáo viên dạy môn Ngữ văn ápdụng cho các lớp, các bài cụ thể

-Tôi cũng hy vọng, với bài nghiên cứu của mình sẽ mở ra cho nhiềuhướng nghiên cứu mới về vấn đề tạo hứng thú học tập cho học sinh ở tất cả các

Trang 3

phân môn, các bộ môn khác trong nhà trường để các em say mê học tập, vuithích đến trường đúng với câu khẩu hiệu “Mỗi ngày đến trường là một ngàyvui”.

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng mà kinh nghiệm hướng tới là giúp 24 học sinh khối 6 của trườngTHCS Trí Nang có được hứng thú trong giờ học phân môn tiếng Việt-

Một phân môn vốn được xem là khó học, là khô khan

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết

- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế

- Phương pháp thu thập thông tin

- Phương pháp thống kê số liệu

II NỘI DUNG

1 Cơ sở lí luận

Môn Ngữ văn được chia làm ba phân môn: Văn học, Tập làm văn và tiếngViệt Mỗi phân môn chiếm một vị trí quan trọng riêng và có sự ảnh hưởng tớinhau Song phải thấy một điều, mức độ ảnh hưởng của phân môn Tiếng Việt đốivới hai phân môn còn lại là rất lớn Tiếng Việt không chỉ là công cụ để học tậphai phân môn còn lại, Tiếng Việt còn là công cụ ngôn ngữ giúp ta giao tiếp trongcuộc sống hàng ngày, trong công việc, Chính vì vậy, việc tạo hứng thú để họcsinh yêu thích và học tốt Tiếng Việt là điều rất quan trọng

Vậy hứng thú là gì? Hứng thú là một thuộc tính tâm lí - nhân cách của conngười Hứng thú có vai trò rất quan trọng trong học tập và làm việc, không cóviệc gì người ta không làm được dưới ảnh hưởng của hứng thú M.Gorki từng

nói: Thiên tài nảy nở từ tình yêu đối với công việc Cùng với tự giác, hứng thú

làm nên tính tích cực nhận thức, giúp HS học tập đạt kết quả cao, có khả năngkhơi dậy mạch nguồn của sự sáng tạo

2 Thực trạng vấn đề

Học sinh của trường THCS Trí Nang có tới 99% các em là dân tộc Thái.Điều kiện kinh tế khó khăn, sự quan tâm của gia đình và địa phương chưa đượcnhư mong muốn Trong khí đó các em gặp rất nhiều khó khăn trong học tập, docác em có thói quen giao tiếp với nhau ở khắp mọi nơi đều bằng ngôn ngữ dântộc Thái của mình, trừ khi trong giờ học và giao tiếp với giáo viên Các em cũngthờ ơ với việc học tập môn Ngữ văn trong đó có phân môn Tiếng Việt Từ chỗthờ ơ dẫn đến học kém Càng không hiểu bài các em càng chán nản thậm chí sợ

Trang 4

và nghĩ môn học này khó Tất cả các lí do trên khiến chất lượng môn Ngữ vănnói chung, phân môn Tiếng Việt nói riêng bị ảnh hưởng nghiêm trọng Trongquá trình giảng dạy các em, nhất là khi làm bài tập, làm bài kiểm tra, tôi nhậnthấy kĩ năng làm văn nói chung và kĩ năng làm bài tập tiếng Việt nói riêng củacác em còn rất kém Thực tế :

- Có học sinh làm xong bài kiểm tra nhưng trình bày các ý lộn xộn, khó hiểu, sainhiều lỗi chính tả, ngữ pháp

- Có học sinh làm chưa xong bài và viết sai yêu cầu của đề (do đọc không kĩ đềhoặc không biết cách trình bày)

- Có học sinh không làm nộp giấy trắng

- Nhiều học sinh bài làm không có số câu, tùy đâu làm đấy

- Đặc biệt, rất nhiều bài làm qua loa cho xong tay để nộp bài, không cần biết đúng hay sai hoặc chép nguyên bài của bạn mà bản thân không biết mình đangviết gì

Khi có ý tưởng làm sáng kiến này,tôi đã làm một cuộc khảo sát nhỏ vềtình yêu và hứng thú học tập phân môn tiếng Việt so với các môn khác, như Âmnhạc, Mĩ thuật, Giáo dục công dân (GDCD), Thể dục đối với học sinh lớp 6 tạitrường THCS Trí Nang và kết quả như sau:

Kết quả tình yêu và hứng thú học tập ở một số môn học của HS khối 6.

Tỉ lệ điểm yếu,kém

Tỉ lệ điểm 0

Nhìn vào bảng số liệu thống kê có thể thấy, tình yêu và hứng thú học tậpcủa các em dành cho môn Ngữ văn chưa cao Và kéo theo đó điểm số của phânmôn tiếng Việt cũng khá thấp

Trang 5

Xuất phát từ thực trạng trên và nắm rõ nguyên nhân của thực trạng trên,tôi đã mạnh dạn tìm tòi, vận dụng “Một vài biện pháp nhằm khơi gợi hứng thúcho học sinh lớp 6 của trường THCS Trí Nang trong giờ học Tiếng Việt”.

Nhưng làm như thế nào và bằng cách nào để yêu cầu đạt hiệu quả ? Đây làvấn đề tôi muốn đề cập trong giải pháp nhỏ này

3 Giải pháp

Tôi sẽ kết hợp thực hiện đồng bộ các giải pháp Dưới đây là những giảipháp cụ thể

3.1 Hướng dẫn học sinh phương pháp học tập

Đối với bất kì lớp nào, khi mới tiếp nhận, điều đầu tiên tôi làm là trao đổivới các em về phương pháp học tập bộ môn Đối với học sinh lớp 6 mới vào, do

sự thay đổi môi trường, cách dạy khác với Tiểu học, việc hướng dẫn phươngpháp học tập với các em lại càng quan trọng hơn Và chỉ khi nắm được phươngpháp học thì thời gian và công sức của các em bỏ ra để học không bị hao hụt,uổng phí Phương pháp học tập phân môn Tiếng Việt nên theo các bước sau:

Thứ nhất: là bước chuẩn bị tài liệu, sách vở Học sinh nhất thiết phải cósách giáo khoa Tài liệu tham khảo có càng tốt Vở phải có ít nhất hai cuốn, mộtcuốn vở ghi lý thuyết và một cuốn làm bài tập Nên có thêm giấy nháp

Thứ hai: việc học của HS phải được thực hiện qua ba bước như sau:

Bước 1: Đọc và nghiên cứu trước bài ở nhà Đây là việc không phải HSnào cũng biết và nếu có biết thì cũng không phải em nào cũng tự giác thực hiện

Vì vậy giáo viên phải có cách để xem các em làm việc này có thường xuyênkhông Việc đọc và nghiên cứu trước bài ở nhà bằng cách tập trả lời các câu hỏitrong sách giáo khoa sẽ giúp HS có ý thức, ý niệm về bài học sắp tới Đồng thời

sẽ có những nảy sinh trong quá trình các em tự trả lời câu hỏi Những thắc mắcnày sẽ trở nên những ấm ức khó chịu khiến các em có nhu cầu muốn biết khivào giờ học, từ đó mà tập trung hơn, và sẽ cảm thấy thoải mái khi vấn đề đã đã

tỏ ở trên lớp

Bước 2: chú ý lắng nghe giảng bài trên lớp Việc này tưởng chừng rấtbình thường và dễ làm nhưng thực ra nó rất quan trọng và không dễ, nếu HSkhông có ý thức và chủ động thực hiện Nếu bị ép phải chú ý sẽ là vô cùng căngthẳng với HS Nếu không có hứng thú thì việc phải ngồi 45 phút sẽ cảm thấythời gian dài vô cùng Vì vậy giáo viên phải làm cho HS hiểu được ý nghĩa và sựcần thiết của việc chú ý nghe giảng Đó không chỉ là sự tôn trọng thầy cô, bạn bè

mà còn giúp ích cho chính bản thân HS Trong một bài học, bao giờ giữa các

Trang 6

phần, mục cũng có mối quan hệ với nhau, chỉ cần lơ là, không hiểu một phần, sẽkhiến các em không tìm thấy sự kết nối với các phần khác, tức là sẽ khó hiểuphần tiếp theo, khó bắt nhịp tiến độ của bài học và dẫn tới không hiểu bài Màkhông hiểu bài sẽ dẫn đến chán học và học kém.

Bước 3: Làm bài tập Đây cũng là khâu quan trọng Là khâu hiện thực hóakiến thức lý thuyết, đưa lý thuyết, áp dụng lý thuyết vào thực tiễn Có thực hànhlàm bài tập kiến thức mới được củng cố, khắc sâu, đồng thời giúp HS sáng tạo,

vì trong quá trình làm bài tập thường nảy sinh vấn đề mới, đòi hỏi HS phải biếtcách khắc phục, giải quyết Chính vì vậy giáo viên phải tạo cơ hội để HS đượclàm thật nhiều bài tập

3.2 Tạo hứng thú cho HS trong việc dạy của giáo viên

Hứng thú không tự nhiên nảy sinh và khi đã nảy sinh nếu không duy trì,nuôi dưỡng cũng có thể bị mất đi Hứng thú được hình thành, duy trì và pháttriển nhờ môi trường giáo dục với vai trò dẫn dắt, hướng dẫn, tổ chức của GV

GV là người có vai trò quyết định trong việc phát hiện, hình thành, bồi dưỡnghứng thú học tập cho HS Hứng thú học tập phải được duy trì trong tất cả cáckhâu, các bước của tiến trình một giờ dạy và học

3.2.1.Tạo hứng thú học tập bằng việc xây dựng môi trường thân thiện giữa thầy và trò.

Bên cạnh việc tác động vào nội dung và phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, việc thiết lập được mối quan hệ hợp tác tích cực tốt đẹp giữa thầy và trò, giữa các trò cũng sẽ tạo hứng thú cho học sinh Hình thức tổ chức dạy học hấp dẫn cùng với một bầu không khí thân ái hữu nghị trong giờ học sẽ tạo ra sự hứng thú cho cả thầy và trò Bởi vì, học là hạnh phúc không chỉ vì những lợi ích

mà nó mang lại, mà hạnh phúc còn nằm ngay trong chính sự học

Để tạo hứng thú cho học sinh, người giáo viên cần biết tổ chức quá trình dạy học theo một chiến lược lạc quan: Chú trọng vào mặt thành công của học sinh

Đồng thời, cần tập cho mình có một cách nhìn: Học sinh không phải em nào cũng ngoan, em nào cũng giỏi, em nào cũng cố gắng Có không ít em ng ồi tronglớp toàn nủ g ật hoặc quậy phá, không ghi chép bài, nói leo…

Giáo viên phải có một phẩm chất đặc biệt, biết cách cư xử đặc biệt với học sinh

Đó là thái độ nâng đỡ, khích lệ, thông cảm, chú trọng vào mặt thành công của

Trang 7

các em Đó là khả năng biết tự kiềm chế, khả năng đồng cảm với học sinh, khả năng làm việc kiên trì tỉ mỉ.

Đó là khả năng biết tổ chức quá trình dạy học một cách nhẹ nhàng tự nhiên không gây căng thẳng cho học sinh

Cũng cần phải biết tỏ ra ngạc nhiên, vui sướng, cần phải tôn trọng những sáng tạo của học sinh, dù rất nhỏ Đồng thời phải nhẹ nhàng trước những sai lầm của các em, tránh chê bai, chỉ trích, làm các em xấu hổ hay tủi thân, sợ hãi

Ví dụ: Khi gọi các em phát biểu, GV dùng bàn tay đưa nhẹ nhàng về phía trước, tránh dùng ngón ta chỉ thẳng vào mặt Khi học sinh trả lời xong, GV mời học sinh ngồi xuống, kèm theo đó là lời khen ngợi hoặc nhắc nhở Khi học sinh nói,

Gv phải tôn trọng lượt lời, tránh ngắt lời hoặc chê bai như “sai hết”, “sao chậm hiểu thế”, “có thế mà cũng không nói được), Quan trọng là GV phải có câu hỏi gợi mở, dẫn dắt để các em trả lời được, làm được bài tập GV nhìn học sinh bằngánh mắt, nụ cười thân thiện Gần gũi, quan tâm, động viên, khích lệ các em tích cưc, chủ động tham gia xây dựng bài Người Gv phải coi mình như một diễn viên, phải cố gắng để chiếm được tình cảm và sự yêu mến của khán giả Hãy nên nhớ rằng sự thân thiện là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên thành công của bài học Ta thử nghĩ trong một tiết học, GV suốt ngày la hét, bức xúc thì liệu bài học có hoàn thành được không? tiết học có thành công được không? Không khí lớp học sẽ căng thẳng như thế nào?

3.2.2.Tạo hứng thú trong khâu giới thiệu bài

Đây là khâu nhiều giáo viên dễ bỏ qua vì xem nhẹ vai trò của nó Khâunày thực hiện tốt sẽ giúp HS chuẩn bị sẵn sàng tâm thế cho bài học đồng thời cóđược hứng thú học tập ngay từ đầu Giới thiệu bài phải giới thiệu được nội dungbài sắp học đồng thời phải hay, mới lạ Có những cách giới thiệu vào bài sauđây:

- Từ việc kiểm tra bài cũ, giáo viên dẫn dắt vào bài mới

- Giới thiệu bằng cách tạo vấn đề mâu thuẫn với kiến thức và vấn đề sắptới

- Giới thiệu trực tiếp vào vấn đề, vào bài

Ví dụ tiết 87, bài So sánh, Ngữ văn 6 tập 2

Trang 8

Từ câu hỏi bài cũ: Hãy cho biết so sánh là gì? So sánh có những đặc điểmgì? Với câu hỏi bài cũ này, sau khi HS trả lời, giáo viên dẫn dắt vào bài như sau:

Ở tiết trước chúng ta đã được củng cố khái niệm so sánh là gì, điều kiện để ta sosánh được và các đặc điểm khác của so sánh Vậy so sánh có mấy kiểu, đó lànhững kiểu nào? Và tác dụng của so sánh trong sáng tác nghệ thuật là gì, tiết thứhai của bài so sánh sẽ cho chúng ta rõ về điều này

Ví dụ giới thiệu cho tiết 91, bài Nhân hóa Giáo viên có thể giới thiệu như

sau:

Trong cuộc sống, đôi khi ta vẫn nghe ai đó vì bức xúc, vì không làm chủđược những phát ngôn của mình, mà dùng những từ vốn chỉ để gọi hay dùng chovật để gọi cho người Mục đích để xúc phạm danh dự, nhân phẩn của ngườikhác, Điều này pháp luật cũng đã có những quy định mức độ vi phạm rõ ràng.Cách làm như vậy người ta gọi là “vật hóa” Trái với hình thức trên, trong cuộcsống, trong văn chương nghệ thuật, người ta cũng thường dùng cách ngược lại:lấy lời hay ý đẹp của người để dành cho vật Vậy cách làm đó là gì? Làm nhưvậy nhằm mục đích gì? Cụ thể như thế nào cô trò ta cùng tìm hiểu qua bài Nhânhóa, sẽ rõ

3.2.3.Tạo hứng thú trong khâu phân tích ngữ liệu

Ở khâu này nếu HS không chú ý hoặc sự tập trung không tốt thì sẽ khôngbiết khái niệm sẽ được rút ra như thế nào Sẽ khó cho HS nếu phải lấy ví dụtương tự hoặc vận dụng vào làm bài tập

Đây là khâu dễ gây nhàm chán cho HS Nhàm chán có thể từ cách dẫn dắtcủa giáo viên, nhàm chán bởi sự quen thuộc của những ngữ liệu ấy, có khi nóđược lấy lại trong một văn bản văn học vừa học xong, Và đôi khi ngữ liệu màsách giáo khoa cung cấp mới chỉ đáp ứng được yêu cầu tối thiểu là đúng thôichứ chưa hay chưa hấp dẫn theo suy nghĩ của HS Vậy làm sao để tạo đượchứng thú của HS ở khâu này? Theo tôi, các giáo viên nên mạnh dạn làm mớikhâu này theo hai cách sau đây:

Cách thứ nhất: Giáo viên không nên quá lệ thuộc vào các câu hỏi và ngữliệu mà sách giáo khoa cung cấp Bởi nhiều câu hỏi và tiến trình khai thác kiếnthức mà sách giáo khoa đưa ra, nhiều khi không thật sự phù hợp với tất cả cácđối tượng học sinh Vì vậy giáo viên nên hiểu học sinh của mình và vận dụnglinh hoạt

Trang 9

Chẳng hạn, ở bài Danh từ, tiết 32, Ngữ văn 6 tập 1 Ngay ở yêu cầu đầu

tiên của sách giáo khoa là: Dựa vào những kiến thức đã học ở bậc Tiểu học, hãyxác định danh từ trong cụm danh từ dưới đây

Với HS lớp 6 của trường THCS Trí Nang, phần đa các em sẽ không cóhứng thú và không tập trung được vào bài học với yêu cầu này Vì một mặt docâu hỏi có sẵn trong sách, không có gì mới lạ; mặt khác các em còn chưa kịpđịnh hình danh từ là gì, mặc dù các em đã được học Một số em quên do thờigian, còn một số em quên là do chưa bao giờ nhớ Với những em chưa bao giờnhớ, thì khái niệm danh từ là gì sẽ hoàn toàn mới Trong khi đó sách yêu cầungay việc xác định danh từ sẽ là cái khó cho các em

Chính vì vậy, trước khi đưa ra yêu cầu này, giáo viên nên có một yêu cầukhác để, một mặt tạo ra hứng thú, mặt khác tạo ra sự khác lạ, đồng thời cho các

em biết và nhớ lại danh từ là gì Chẳng hạn giáo viên có thể yêu cầu HS như sau:

- Em hãy gọi tên những người mà em biết? (bố, mẹ, ông, bà, cô giáo, bạn

Hà, )

- Em hãy kể tên các động vật mà em biết? (trâu, bò, lơn, gà, )

- Em hãy kể tên các thực vật mà em biết? (cây, mít, hoa, lá, )

- Em hãy kể tên các vật thể, hiện tượng trong thiên nhiên mà em biết?(trời, đất, sông, núi, mưa, bão, )

Với câu hỏi trên, giáo viên dễ dàng đưa cả lớp vào một hướng tập trungmới lạ HS sẽ tập trung vào trả lời câu hỏi mà quên mất là mình đang học Từcâu trả lời đơn giản trên, giáo viên cũng dễ dàng dẫn dắt để cả lớp nhớ lại kiếnthức mà các em đã học ở cấp I Vì những cái mà các em vừa gọi tên nó ra đóchính là danh từ Giáo viên nên gọi một học sinh yếu hoặc kém (nếu có) để trảlời câu hỏi này Vì đây là câu hỏi dễ, cần để cho những em yếu, kém trong lớp

có cơ hội được tham gia giờ học Khi đã củng cố được kiến thức cũ danh từ là

gì, giáo viên mới nêu câu hỏi thứ nhất trong sách giáo khoa

Ví dụ ở bài Động từ, tiết 60, Ngữ văn 6 tập 1 Trước khi hướng dẫn học

sinh trả lời yêu cầu thứ nhất của sách giáo khoa đưa ra, giáo viên nên yêu cầu

HS trả lời câu hỏi: - Hằng ngày em làm những gì? Con chim làm gì? Con trâulàm gì?

Với câu hỏi này, HS sẽ có thể trả lời là: Ở nhà, em ngủ, thức dậy, đánhrăng, ăn sáng, đi học; ở lớp em học bài, làm bài tập, vui chơi, Con chim thìhót, bay, Con trâu gặm cỏ, đi cày,

Trang 10

Từ câu trả lời của HS, giáo viên dễ dàng cho HS nhớ lại được động từ là

gì Sau khi HS đã nhớ lại, giáo viên hướng dẫn HS trả lời các câu hỏi khác để rút

ra đặc điểm của động từ

Ví dụ ở tiết 87, bài So sánh, Ngữ văn 6 tập 2.

Trước khi hướng dẫn HS làm các bài tập của phần I trong sách giáo khoa,giáo viên nên cung cấp và yêu cầu HS giải quyết một tình huống khác đơn giảnhơn, để HS hiểu được một số khái niệm sẽ xuất hiện trong mục ghi nhớ, như

“đối chiếu”, “tương đồng” Vì nhiều khi HS chỉ nhớ các từ này một cách máymóc chứ không hiểu nghĩa của nó Và chỉ khi hiểu rõ nghĩ của từ thì HS mớinhớ được lâu

Tình huống như sau: Giáo viên dùng hai viên phấn, một viên ngắn và mộtviên dài, giơ lên và yêu cầu HS chỉ ra điểm giống nhau và khác nhau giữachúng HS sẽ nhanh chóng chỉ ra điểm giống nhau về màu sắc, về chất liệu,công dụng Khác nhau về kích thước

Từ ví dụ này giáo viên dẫn dắt tiếp: Việc làm vừa rồi gọi là so sánh, haynói cách khác là ta đối chiếu hai sự vật để tìm ra điểm giống nhau hoặc gầngiống nhau, còn gọi là điểm hay nét tương đồng và điểm khác nhau giữa chúng.Tuy nhiên ví dụ trên chỉ là sự so sánh đơn thuần trong cuộc sống Còn trong vănchương, sự so sánh thường hướng tới một tác dụng nghệ thuật nào đó, nên người

ta còn gọi là phép so sánh, hay biện pháp nghệ thuật so sánh Từ đây giáo viênhướng dẫn HS thực hiện các yêu cầu khác để rút ra khái niệm

Ví dụ: Tiết 91, bài Nhân hóa

Trước khi hướng dẫn HS trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa, giáoviên nên cho HS thực hiện một ví dụ khác thực tế, để thu hút sự tập trung, chú ý,gây hứng thú cho các em

Với HS thứ nhất, giáo viên hỏi:

- Trong các đồ dùng học tập của em, em yêu quý nhất là cái gì? (HS có thể sẽ trảlời: yêu cái cặp, yêu cuốn sách, yêu cái bút nhiều mầu, hộp bút mầu, )

- Nếu phải xa chúng lâu dài em có nhớ chúng không? (HS chắc sẽ trả lời là cónhớ)

- Nếu phải nói với nó một câu trước khi xa nó em sẽ nói gì? (Có thể HS sẽ nói:Mình nhớ bạn lắm! )

Với HS khác, giáo viên có thể hỏi:

- Em có tình cảm gì với chiếc xe đạp hàng ngày chở em tới trường không? Nếu

có đó là tình cảm gì? (HS có thể sẽ trả lời: Có, yêu quý, biết ơn)

Ngày đăng: 10/08/2017, 16:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w