Từ đó để thấy rằng viết được một đoạn văn, bài văn hay, học theo mẫu một cáchsáng tạo, không phải dễ đối với học sinh hiện nay, bởi vì các em học sinh cầnphải có kĩ năng quan sát, vận dụ
Trang 1MỤC LỤC Trang
1 MỞ ĐẦU
1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 1
1.2 MỤC ĐÍCH, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU: 1
1.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 2
1.4 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:………
.2 2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN: 3-6 2.1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN TỰ SỰ: 3-4 2.1.2 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA BÀI VĂN TỰ SỰ: 4-7 2.2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ: 7-8 2.2.1 VỀ PHÍA GIÁO VIÊN: 7
2.2.2 VỀ PHÍA HỌC SINH: 7
2.2.3 CÁC NHÂN TỐ KHÁC: 7
2.2.4 KẾT QUẢ KHẢO SÁT, NGHIÊN CỨU: 8
2.3 GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN 8- 19 2.3.1 GIẢI PHÁP: 8-19 2.3.2 TỔ CHỨC THỰC HIỆN: 9-19 3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1 KẾT LUẬN: 20
2 KIẾN NGHỊ: 20
TÀI LIỆU THAM KHẢO 21
DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SKKN……… 22
Trang 21 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài:
Môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông nói chung có một vị trí đặc biệtquan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của toàn cấp học, ngành học làđào tạo con người mới đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc côngnghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ đổi mới Phân môn Văn là mộtphân môn rất quan trong ba phân môn của môn học Với nhiệm vụ hướng dẫncho học sinh tiếp cận với các tác phẩm văn học ở các thời đại khác nhau củaViệt Nam và thế giới nhằm cung cấp cho học sinh những hiểu biết về văn học,
về cuộc sống; rèn luyện và nâng cao năng lực cảm thụ thẩm mỹ, bồi dưỡng tâmhồn, tình cảm, nhân cách cho học sinh, làm cho các em qua mỗi giờ học thấy
“thêm yêu đời, yêu cuộc sống và lớn khôn thêm một chút.’’ (Tố Hữu)
Xuất phát từ đặc trưng của văn chương và muc tiêu của việc dạy và họcVăn, chương trình, sách giáo khoa cấp Trung học cơ sở đã dành lượng thời gianrất lớn trong khoảng thời lượng dành cho bộ môn và cũng là nhiều nhất trong tất
cả các môn học ở cấp THCS để học sinh được tiếp cận với các tác phẩm Ở lớp
6, đối tượng học sinh mới rời mái trường Tiểu học, các em được tiếp cận với cáctác phẩm tự sự dân gian là chủ yếu Điều đáng quan tâm là làm thế nào để giờNgữ Văn thực sự có hiệu quả, để học sinh không còn ngại học Văn, chán họcVăn và trở nên ham thích học Văn ?
Với Tập làm văn, không phải chỉ biết phân tích mà còn phải biết học theomẫu Đừng nghĩ học theo mẫu là không phát huy được tính tích cực Phải độngnão lắm mới thấy được cái hay của mẫu, mới nắm được các quy cách, thể thứccần rút ra từ các mẫu, rồi từ đó mới có thể học theo mẫu một cách sáng tạo Từ
đó để thấy rằng viết được một đoạn văn, bài văn hay, học theo mẫu một cáchsáng tạo, không phải dễ đối với học sinh hiện nay, bởi vì các em học sinh cầnphải có kĩ năng quan sát, vận dụng tổng hợp các kiến thức trong môn học, cáckiến thức trong đời sống xã hội và đặc biệt phải có vốn từ phong phú để đưa vàolàm một đề văn cụ thể Trong phần Tập làm văn lớp 6 học kì I, phần hướng dẫnhọc sinh viết một bài văn tự sự chiếm thời lượng tương đối lớn Tuy nhiên, từthực tế giảng dạy, tôi thấy các em chưa biết lập dàn bài, dựng đoạn trước khibước vào khâu viết văn bản, sự việc sắp xếp thiếu tính hợp lí, chưa làm nổi bậtđược nhân vật chính Thường thì học sinh nhớ đâu viết đó, viết lan man dẫn đếnquên ý, ý nọ xọ ý kia, kể lể dài dòng, các ý trùng lặp, bài văn không nhất quán,không làm nổi bật được nội dung, chủ đề của tác phẩm Để giúp các em dễ dànghơn trong việc tạo dựng một bài văn tự sự mạch lạc, sinh động, cách xây dựngtình huống truyện hấp dẫn, nhân vật ấn tượng, đặc biệt là cách phân đoạn, dựng
đoạn rõ ràng, lô gic, hợp lí, tôi quyết định chọn đề tài "Một số kinh nghiệm rèn kĩ năng viết bài văn tự sự lớp 6 ở trường THCS Đông Cương Thành Phố Thanh Hóa”.
1.2 Mục đích, đối tượng nghiên cứu:
Rèn kĩ năng viết văn tự sự là một vấn đề không mới nhưng lại có khảnăng lớn trong việc rèn luyện và tích hợp được các kĩ năng khác như: dùng từ,
Trang 3chuyện Việc rèn kĩ năng này cần phải thể hiện sự đổi mới trong phương phápdạy học: tích hợp và tích cực giữa chủ thể học sinh trong quá trình dạy học.Trong phạm vi đề tài này, tôi đưa ra một số kinh nghiệm, phương pháp, cáchthức rèn kĩ năng để hướng dẫn học sinh viết được bài văn tự sự, góp phần nângcao chất lượng dạy và học bộ môn Ngữ Văn trong nhà trường
1.3 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp lí thuyết;
- Phương pháp nghiên cứu, tìm hiểu;
- Phương pháp kiểm tra, khảo sát;
- Phương pháp cố vấn chuyên gia.
1.4 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:
- Đi sâu vào cách xây dựng tình huống truyện hấp dẫn, nhân vật ấn tượng,
đặc biệt là cách phân đoạn, dựng đoạn rõ ràng, lô gic, hợp lí
- Rèn luyện kỹ năng lập dàn ý từ hệ thống bài tập
Trang 42 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận:
2.1.1 Một số vấn đề chung về văn tự sự:
Chúng ta cần phân biệt rõ hai khái niệm: tác phẩm tự sự (theo quan điểm
lí luận văn học) và phương thức tự sự (trong Tập làm văn).
a Theo quan điểm lí luận văn học:
"Tác phẩm phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của đời sống trongkhông gian, thời gian qua các sự kiện, sự cố xảy ra trong cuộc đời con người.Trong tác phẩm tự sự nhà văn thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình thâm nhậpsâu sắc vào sự kiện và hành động bên ngoài của con người tới mức giữa chúnghầu như không có mối phân biệt nào cả
Nhà văn tả lại, kể lại những gì xảy ra bên ngoài mình khiến cho người đọc
có cảm giác hiện thực được phản ánh trong tác phẩm tự sự là một thế giới tạohình xác định đang tự phát triển, tồn tại bên ngoài nhà văn, không phụ thuộc vàotình cảm, ý muốn của nhà văn"
b Theo quan niệm trong Tập làm văn:
Trong Tập làm văn, khái niệm "tự sự" được hiểu theo nghĩa rộng, đó làphương thức biểu đạt bằng cách kể ra các sự kiện theo mối quan hệ nào đó nhưquan hệ nhân quả, quan hệ liên tưởng
Sách giáo khoa Tập làm văn trước đây (1986 - 1995) không dùng kháiniệm tự sự mà dùng các khái niệm kể chuyện, trần thuật, tường thuật Trongsách giáo khoa Ngữ văn 6- Tập 1- trang 28- Nhà xuất bản Giáo dục 2002, nêuđịnh nghĩa về văn tự sự như sau:
"Tự sự" (kể chuyện) là phương thức trình bày một chuỗi sự việc, sự việc
này dẫn đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa
Tự sự giúp người kể giải thích sự việc, tìm hiểu con người, nêu vấn đề và bày tỏthái độ khen, chê”
c Mối quan hệ giữa tự sự với các phương thức khác:
Trong các quá trình tạo lập văn bản, tùy vào mục đích, nội dung và tínhchất của văn bản mà người viết kết hợp với hầu hết các phương thức biểu đạt,song chủ yếu là các phương thức miêu tả, biểu cảm và nghị luận
+ Tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm:
Miêu tả trong khi kể nhằm làm cho sự việc kể thêm sinh động màu sắc,hình dáng, diện mạo của nhân vật, sự việc hành động như hiện lên sống độngtrước mắt người đọc Yếu tố biểu cảm xuất hiện trong khi kể giúp người viết thểhiện được rõ hơn thái độ, tình cảm của mình trước việc đó, buộc người đọc phảitrăn trở, nghĩ suy trước sự việc đang kể, ý nghĩa của chuyện này càng thêm sâusắc
Trang 5điểm, tư tưởng nào đó Các phương thức trên là cơ sở của tư duy hình tượng,còn nghị luận là cơ sở của tư duy lô gic Chính vì thế mà trong văn bản tự sự, đểngười đọc, người nghe phải suy nghĩ về một vấn đề nào đó, người viết, người kể
có khi nghị luận bằng cách nêu lên các ý kiến nhận xét cùng những lí lẽ và dẫnchứng
Như vậy, có thể nói rằng trong tự sự gần như có tất cả các phương thứcbiểu đạt vì tự sự chính là bức tranh gần gũi nhất đối với cuộc sống mà cuộc sốngthì hết sức đa dạng, phong phú với đầy đủ tất cả các tình huống, cảnh ngộ, tất cảcác kiểu nhân vật, các mẫu người mà ta gặp thường ngày Vì thế mà trong vănbản tự sự có các yếu tố khác kết hợp
2.1.2 Một số đặc điểm cơ bản của bài văn tự sự:
2.1.2.1 Tìm hiểu chung về văn tự sự:
*Tự sự là phương thức trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc này dẫn
đến sự việc kia, cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa
Mục đích của tự sự: Thông qua nhân vật, chủ đề, giọng điệu kể, người kể giảithích sự việc, tìm hiểu con người, bày tỏ thái độ yêu ghét, khen chê
*Phân loại tự sự: Gồm 2 loại cơ bản:
+ Tự sự đời thường:
- Là kể lại những chuyện có thật diễn ra xung quanh mình mà hàng ngàymình đã thấy, đã nghe, đã biết
- Hiện thực cuộc sống là nội dung quan trọng của kể chuyện đời thường
Kể chuyện đời thường phải coi trọng sự thật, người viết chỉ lựa chọn chi tiết, sắpxếp chứ không được bịa (hoàn toàn khác với hư cấu nghệ thuật)
- Nhân vật và sự việc phải chân thực, có ý nghĩa
+ Tự sự tưởng tượng:
- Là kể lại một câu chuyện theo trí tưởng tượng của người kể, không cósẵn trong sách vở hay trong thực tế
- Sự tưởng tượng đó không thể hiện tùy tiện mà phải dựa vào những điều
có thật trong cuộc sống đời thường rồi bổ sung, tưởng tượng thêm nhằm đưa đến
sự hấp dẫn, thú vị cho truyện
- Tưởng tượng đóng vai trò tích cực trong cuộc sống, tạo nên những hìnhảnh rực rỡ, phản ánh ước mơ, khát vọng cao đẹp của con người
- Như vậy, điều quan trọng là câu chuyện tưởng tượng phải có diễn biến
tự nhiên, hợp lí vì chứa đựng ý nghĩa xã hội
2.1.2.2 Sự việc và nhân vật trong văn tự sự:
a Sự việc trong văn tự sự được trình bày một cách rõ ràng:
- Trong thời gian cụ thể;
- Ở địa điểm cụ thể;
- Có nhân vật cụ thể;
- Có nguyên nhân, diễn biến và kết quả;
- Đặc biệt, sự việc được sắp xếp theo một trình tự, một diễn biến hợp lí đểthể hiện tư tưởng của người kể
b Nhân vật:
*Nhân vật chính và nhân vật phụ:
Trang 6- Nhân vật chính: xuất hiện nhiều, từ đầu đến cuối, được tập trung khắchọa trên nhiều phương diện: tên tuổi, lai lịch, diện mạo, tài năng, tính cách, hànhđộng, lời nói, việc làm Đây là nhân vật giữ vai trò then chốt, thiếu những nhân
vật này thì không còn là truyện.
- Nhân vật phản diện: trái ngược với nhân vật chính, làm sáng tỏ nhân vậtchính, tô đậm nhân vật chính
*Nhân vật chính diện và nhân vật phản diện:
- Nhân vật chính diện: thể hiện tư tưởng, lí tưởng xã hội nhất định, đượctác giả tập trung đề cao, biểu dương và khẳng định bằng những phẩm chất tốt vànhững hành động cao cả, đẹp đẽ
- Nhân vật phản diện: trái ngược với nhân vật chính diện, nhân vật này bịtác giả phê phán, tố cáo, chế giễu, phủ định thường đại diện cho cái xấu, cái
ác, cái tiêu cực
*Đặc biệt, khi xây dựng nhân vật trong văn tự sự, nhân vật cần phải cóngoại hình, ngôn ngữ, hành động, tâm lí, tính cách , có xung đột giữa các nhânvật thì mới có chuyện xảy ra trong thời gian và không gian nhất định Nhân vậtphải cụ thể, tiêu biểu cho một lớp người nào đó trong xã hội
2.1.2.3 Ngôi kể và lời kể trong văn tự sự:
a Ngôi kể:
- Kể chuyện theo ngôi thứ ba: người kể giấu mình, có mặt ở khắp mọi nơi
để kể được tất cả các sự việc xảy ra với các nhân vật trong truyện
- Kể theo ngôi thứ nhất: xưng tôi để kể, trực tiếp kể những gì mình nghe,
mình thấy, mình trải qua, trực tiếp nói ra những suy nghĩ, cảm xúc của mình
b Lời kể:
- Kể theo ngôi thứ ba, lời kể mang tính khách quan của người đứng ngoài
cuộc
- Kể theo ngôi thứ nhất, lời kế là những lời tâm sự thủ thỉ, bộc bạch tình
cảm, thổ lộ cuộc sống nội tâm của người kể chuyện
- Có thể kể phối hợp ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba, khiến cho giọng điệucâu chuyện mang tính tự nhiên, sinh động, mạch chuyện thấm đẫm chất thơ
*Một tác phẩm tự sự cần có nhiều loại ngôn ngữ đan xen nhau, phối hợpvới nhau: ngôn ngữ kể, ngôn ngữ tả, ngôn ngữ nhân vật
- Ngôn ngữ kể: thể hiện diễn biến cốt truyện
- Ngôn ngữ tả: tả nhân vật, tả khung cảnh làm nền, làm phông cho câuchuyện
- Ngôn ngữ nhân vật: lời đối thoại và độc thoại của nhân vật
2.1.2.4 Thứ tự kể trong văn tự sự:
a Kể theo dòng chảy thời gian: (kể xuôi)
Câu chuyện được kể theo sự việc diễn ra, sự việc nào diễn ra trước thì kểtrước, sự việc nào diễn ra sau thì kể sau, kể cho đến hết: các truyện dân gianđược kể theo lối này
b Kể theo dòng hồi tưởng và phép đồng hiện: ( kể ngược)
Trang 7- Có lúc chuyện sau được kể trước, chuyện trước được kể sau, các sự việcđan xéo nhau, mục đích gây bất ngờ, hứng thú cho người đọc, tô đậm tính cáchnhân vật: các truyện đương đại thường kêt theo kiểu này.
2.1.2.5 Lời văn, đoạn văn tự sự:
là đoạn đối thoại ấy nhằm hướng đến một nội dung nào đó trong toàn bộ cuộcthoại
2.1.2.6 Chủ đề và dàn bài của một bài tự sự:
a Chủ đề:
- Là vấn đề chủ yếu, là lí tưởng mà người kể muốn thể hiện, gửi gắm quavăn bản Những điều muốn nói, muốn gởi gắm ấy có thể là sự ca ngợi, khẳngđịnh hay lên án, phê phán
- Chủ đề cần hướng vào cuộc sống của con người, gửi gắm thông điệp chocon người, ngay cả khi thế giới nhân vật trong truyện là con vật, đồ vật Vì vậy,khi bắt tay vào viết một bài văn tự sự, người viết cần đặt câu hỏi:Câu chuyệnmình sắp kể sẽ có ý nghĩa gì, truyện nhằm gửi gắm điều gì?
b Dàn bài:
*Mở bài:
- Có thể giới thiệu nhân vật và tình huống xảy ra câu chuyện
- Có thể bắt đầu từ một sự cố nào đó hoặc từ kết cục của câu chuyện, sốphận của nhân vật rồi ngược lại kể từ đầu
*Thân bài:
- Lần lượt kể các tình tiết làm nên câu chuyện
- Kể các chi tiết sự việc xoay quanh nhân vật, xoay quanh câu chuyện Cóthể kể theo trình tự thời gian, tuyến nhân vật hoặc theo mạch cảm xúc Nếu tácphẩm có nhiều nhân vật thì các tình tiết lồng vào nhau, đan xen nhau theo diễnbiến câu chuyện
+ Có sự việc khởi đầu, sự việc phát triển, sự việc cao trào, sự việc kếtthúc Cần chú ý tạo tình huống đặc biệt cho truyện, gây hấp dẫn cho người đọc
+ Có thể đan xen yếu tố miêu tả và biểu cảm: Yếu tố miêu tả về hình dángnhân vật, có yếu tố tự sự: về hành động, việc làm, lời nói, cử chỉ, tính cách; cóyếu tố biểu cảm về suy nghĩ, thái độ của nhân vật, của người kể
+ Có thể kể theo ngôi thứ nhất hoặc ngôi thứ ba
+ Tình tiết chính, có ý nghĩa cần kể chi tiết Tình tiết phụ chỉ cần đi lướt qua
*Kết bài:
Trang 8- Kết thúc câu chuyện.
- Sự việc kết thúc, tình trạng số phận nhân vật được thể hiện khá rõ
- Có thể kết bài theo hướng mở: Hành động của nhân vật vẫn như đangcòn tiếp diễn
2.2 Thực trạng vấn đề:
2.2.1 Về phía giáo viên:
Trước đây khi dạy văn tự sự cho các em, giáo viên mới chỉ giúp các emnắm bắt được những nội dung lí thuyêt cơ bản trong sách giáo khoa, phần rèn kĩnăng nói và viết chưa thực sự có hiệu quả giờ dạy đơn điệu, khô khan, giáo viêncũng chưa có sự rung cảm với một số nội dung được đề cập tới trong bài dạy,chưa có nhiều đổi mới về phương pháp, không khắc sâu được kiến thức cho họcsinh, điều đó khiến học sinh có tâm lí mệt mỏi, ngại học
Trong quá trình dạy các văn bản tự sự ở phần Văn học, giáo viên chưatích hợp hiệu quả với phần Tập làm văn Đặc biệt chưa chú trọng luyện tập và rabài tập về nhà cho các em
Giáo viên chỉ hướng dẫn chung chung, đưa ra các ý lớn trong khâu lậpdàn ý mà chưa hướng dẫn cụ thể, chưa tích cực trong việc đưa ra một số đoạnvăn mẫu để học sinh tham khảo sau khi các em đã trình bày bài làm của mình Giờ trả bài chưa hiệu quả, đặc biệt chưa chú trọng tới việc nhận xét cáchxây dựng nhân vật, các tình tiết truyện, lời kể mà chỉ chú ý đến lỗi chính tả, cáchdùng từ đặt câu
2.2.2 Về phía học sinh:
Học Văn đòi hỏi viết nhiều, đọc nhiều nhưng học sinh lại ngại đọc, ngạiviết, đặc biệt rất ngại đọc các tài liệu tham khảo (Các câu chuyện được viết trênsách báo) để mở rộng hiểu biết, trau dồi vốn từ
Học sinh không có đủ tài liệu tham khảo.Vì vậy chỉ có thể nắm bắt đượcnhững gì SGK cung cấp
Kiến thức về đời sống thực tế của học sinh còn ít, các em chưa quan tâmđến đời sống thực tế, thiếu sự rung cảm trước những hiện tượng của cuộc sốngđời thường, học sinh chưa có nhiều vốn từ nên nhiều bài viết còn khô khan, xarời thực tế hoặc luôn theo một khuôn mẫu chung
Thêm vào đó, nhiều học sinh coi nhẹ môn học, chưa chú ý đến việc học, ýthức chưa cao, về nhà không làm bài (không luyện viết) nên khi viết thườngvụng về, lúng túng
2.2.3 Các nhân tố khác:
Bên cạnh đó, bước sang thời kì hội nhập toàn cầu, đời sống kinh tế xã hộiphát triển, những môn học thời thượng (Toán,Lý, Hóa,Tin học, Ngoại ngữ )quan trọng hơn bao giờ hết thì văn chương không có tính năng ứng dụng, tươnglai người học không được đảm bảo, học sinh ngày càng xa rời văn chương Đặcbiệt, các thông tin ảnh, báo mạng, các videoclip gây sốt trên mạng đã thu hút sựchú ý của học sinh, đã chiếm hết thời gian của các em vốn tính tò mò, khiến các
em không còn thời gian để đọc truyện in trên giấy nữa, từ đó các em không cònhứng thú học văn và viết văn
Trang 92.2.4 Kết quả, khảo sát nghiên cứu:
Từ thực trạng nêu trên, sau nhiều năm trăn trở trong quá trình giảng dạy,tôi đã có những kinh nghiệm giúp học sinh làm tốt bài văn tự sự trong chươngtrình Ngữ Văn 6
2.3 Giải pháp và cách thức tổ chức thực hiện
2.3.1 Giải pháp:
2.3.1.1 Đối với giáo viên:
Người giáo viên phải nắm lấy ưu thế của học sinh như: những tri thức,vốn sống, tư tưởng, tình cảm để phát huy những khả năng cao hơn; đồng thời,qua đó uốn nắn, điều chỉnh, hạn chế những lệch lạc trong nhận thức, vốn sống,
tư tưởng của các em
Giáo viên không chỉ đóng vai trò là người truyền đạt tri thức mà phải làngười tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, gợi mở, cố vấn, trọng tài cho các hoạt độngtìm tòi, khám phá, giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức mới Giáo viên phải cónăng lực đổi mới phương pháp dạy học, chuyển từ kiểu dạy tập trung vào vai tròcủa học sinh và hoạt động dạy học, từ cách dạy thông báo - giải thích- minh họasang cách dạy hoạt động tìm tòi khám phá
Giáo viên phải thực sự say mê, tâm huyết với nghề, biết truyền lửa, khơigợi niềm đam mê văn học trong bài giảng, kích thích năng lực quan sát, tư duy,sáng tạo của học sinh
Việc luyện viết bài văn tự sự là rất cần thiết, bởi học sinh viết tốt bài văn
tự sự có nghĩa là đảm bảo nâng cao chất lượng dạy học văn
Thực tế giảng dạy phân môn Tập làm văn lớp 6 ở trường THCS hiện nay,đặt trọng tâm ở thực hành: xây dựng qua bài thực hành, thực hành nhận biết vàthực hành làm văn bản Do đó điểm mới và khó trong chương trình là phươngpháp dạy thực hành
2.3.1.2 Đối với học sinh:
Để làm một bài Tập làm văn đạt chất lượng, bản thân học sinh cũng cần phải:
- Tích cực học tập, suy nghĩ, quan sát, chủ động tham gia vào các hoạtđộng học tập để tự khám phá và lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựngthái độ và hành vi đúng đắn
- Mạnh dạn trình bày sản phẩm đoạn văn hoặc bài viết của mình, biết lắngnghe và tiếp thu những ý kiến mang tính xây dựng của thầy và bạn, tích cực thảoluận, tranh luận, đặt câu hỏi cho bạn thân, cho thầy, cho bạn để hiểu kĩ, hiểu sâu
về vấn đề
- Biết tự đánh giá và đánh giá các ý kiến, quan điểm, các sản phẩm họctập của bản thân và bạn bè
Trang 10- Đặc biệt, học sinh cũng phải nắm chắc lí thuyết liên quan đến thể loại văn tự
sự thì mới có thể làm tốt một bài văn tự sự
2.3.2 Tổ chức thực hiện:
2.3.2.1 Đối với khâu chuẩn bị:
Để tiết dạy thành công thì khâu chuẩn bị bài là hết sức quan trọng Trướckhi lên lớp, giáo viên càng làm các việc sau:
- Làm tốt khâu soạn giảng
- Xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập
Kết quả của bước tìm hiểu đề phải giúp học sinh xác định được tất cả cácyêu cầu của đề bài:
Ví dụ:
Đề 1 Cho đề văn: Kể lại truyền thuyết Thánh Gióng bằng lời văn của em.
*Yêu cầu trả lời:
- Kiểu bài của đề bài là gì ?
- Em hiểu thế nào là kể bằng lời văn của em ?
- Nội dung của đề bài nằm trong giới hạn nào ?
* Lưu ý: Đọc thật kĩ đề bài, lấy bút chì gạch dưới những từ quan trọng Bước 2 Tìm ý, lập dàn ý và xác định ngôi kể:
*Lập ý:
Trong việc tìm ý giáo viên cần lưu ý các em các thao tác tưởng tượng, hư cấu
*Lập dàn ý:
+ Rèn luyện kỹ năng lập dàn ý từ hệ thống bài tập:
Để xây dựng được các kỹ năng kể chuyện cho học sinh, phải xuất phát từmột hệ thống bài tập Muốn hình thành hệ thống bài tập cần xác định các yêucầu cụ thể: Hệ thống bài tập phải hướng vào đích: Bất cứ quá trình giao tiếp nàothì đích cũng là yếu tố đầu tiên đặt ra Hệ thống bài tập trong văn tự sự tập trungvào đích là hình thành kỹ năng cho học sinh, chỉ có trên cơ sở như thế thì mới cóthể xây dựng được hệ thống bài tập cho phù hợp Khi rèn luyện kỹ năng lập dàn
ý, việc xây dựng hệ thống bài tập là vấn đề trọng tâm và có ý nghĩa quan trọnghàng đầu Trong khi dạy và học Ngữ văn, cụ thể hơn là khi dạy và học kiểu bàivăn tự sự, dựa vào đặc trưng của thể loại, vào nội dung từng câu chuyện mà chia
Trang 11thành nhiều loại bài tập khác nhau Theo quan điểm tích hợp, tích cực đồng thời
để phát huy khả năng tư duy và sáng tạo cho học sinh, giáo viên cần đưa ra hệthống bài tập gồm một số dạng như sau:
- Với bài tập lập dàn ý từ một văn bản có sẵn: Nghĩa là từ một văn bản có
sẵn yêu cầu học sinh nhận biết, xác định bố cục của từng phần (Mở bài, thân bài,kết bài)
Ví dụ, với bài tập lập dàn ý từ văn bản kể chuyện đời thường, giáo viênchọn một văn bản rồi yêu cầu học sinh dựng lại dàn ý đó từ văn bản đó
Để làm được điều này học sinh cần thực hiện các bước: Căn cứ vào văn bản, xácđịnh hệ thống ý và bố cục; lập dàn ý với hệ thống đã xác định
- Với bài tập biến đổi dàn ý, đây là dạng bài tập nhằm phát huy vai trò
chủ động, sáng tạo của học sinh
Giáo viên cho học sinh luyện tập theo hai cách: Từ dàn ý sơ lược phát triểnthành dàn ý chi tiết; từ dàn ý chi tiết khái quát thành dàn ý sơ lược
- Với bài tập hoàn chỉnh dàn ý: Mục đích của dạng bài tập này nhằm nhắc
lại những lý thuyết cơ bản khi tìm hiểu dàn bài của bài văn tự sự để rèn luyện kỹnăng lập dàn ý theo bố cục ba phần (mở bài, thân bài, kết bài); nêu nhiệm vụ vànhấn mạnh vai trò không thể vắng mặt của từng phần
Với bài tập này, giáo viên giới thiệu dàn ý không đạt yêu cầu, yêu cầu họcsinh sửa chữa và hoàn chỉnh dàn ý, học sinh cần thực hiện các bước sau:
Bước 1: Đọc và xác định yêu cầu của bài;
Bước 2: Phát hiện các lỗi của dàn ý;
Bước 3: Sửa chữa và hoàn chỉnh dàn ý
- Với bài tập lập dàn ý từ đề bài cho trước, đây là dạng bài tập quen
thuộc, thường gặp nhưng cũng bài tập khó, đòi hỏi học sinh phải nắm vững kiếnthức về lý thuyết cũng như vận dụng một cách thành thạo và kỹ năng làm văn.Dạng bài tập này yêu cầu người viết từ một đề bài cho trước trải qua các thao táclàm văn để tạo lập văn bản Tuy nhiên, để thực hiện phương pháp này hiệu quả,cần lưu ý, hệ thống bài tập phải phù hợp với tầm nhận thức của học sinh, các bàitập có sự phân loại theo trình độ của học sinh Bên cạnh đó, giáo viên cần sửdụng một cách linh hoạt giữa nội dung lý thuyết và bài tập thực hành Ngoài cáccâu hỏi và bài tập thực hành trên lớp, có thể ra thêm bài tập để học sinh làm ởnhà và thu về chấm chữa, đánh giá kết quả
Một số dàn ý cụ thể minh họa:
Dàn ý 1: Kể lại một kỷ niệm thời thơ ấu
1/ Mở bài:
- Giới thiệu nỗi nhớ về một người bạn thân thời thơ ấu dưới mái trường Tiểu học
và câu chuyện giữa mình và bạn
- Cảm xúc khi nhớ lại sự việc không thể quên đó
2/ Thân bài:
* Diễn biến sự việc theo trình tự thời gian, không gian:
- Trong giờ học, cây bút mực bị tắc không viết được
- Bạn thân đưa cho mượn cây bút để viết
- Đó là kỷ vật thiêng liêng mà anh trai bạn để lại