1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số kinh nghiệm dạy hiệu quả tiết đọc hiểu văn bản cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường DTNT mường lát

23 375 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 305,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài này là sự nối tiếp kinh nghiệm nghiên cứu từ đề tài mà cá nhân chúng tôi đã nghiên cứu và viết trong năm học 2015 – 2016 với tên gọi “Một vài kinh nghiệm dạy học môn ngữ văn cho h

Trang 1

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

Môn Ngữ văn là một trong những môn học có tính thiết thực cao trongviệc giáo dục nhân cách con người Dạy văn là dạy làm người Giảng dạy chohọc sinh hiểu và cảm thụ hết cái hay cái đẹp của văn chương đã khó, dạy cho đốitượng là học sinh miền núi càng khó hơn gấp nhiều lần

Là một giáo viên ngữ văn đã hơn mười năm dạy học ở huyện miền núiMường Lát tôi ý thức và hiểu sâu sắc điều đó Chính vì vậy tôi luôn suy nghĩlàm thế nào tốt nhất có thể để mang đến những điều tốt đẹp, có ích nhất cho các

em Với khả năng có thể, tôi luôn mong muốn mang đến cho các em những kiếnthức dễ hiểu nhất, bổ ích nhất Điều đó không hề đơn giản đối với cá nhân tôi,bởi giữa tôi và các em ban đầu đã có một hàng rào ngăn cách – hàng rào bấtđồng về ngôn ngữ, nếp suy nghĩ, thói quen… Đã có những giáo viên rất tâmhuyết, nhiệt tình trong giảng dạy cũng như trong cuộc sống hàng ngày Họ đãgần gũi, gắn bó để hiểu, thông cảm và tìm giải pháp thay đổi Và đã làm được ítnhiều

Sau nhiều năm giảng dạy, có những kinh nghiệm nhất định, và đặc biệt làtình cảm dành cho học sinh, tôi đã sáng kiến, áp dụng thực hành một số nhữngkinh nghiệm vào việc dạy học môn Ngữ văn của mình và đã đạt được những kết

quả đáng kể Trong đó có “ Một số kinh nghiệm dạy hiệu quả tiết Đọc – hiểu văn bản cho học sinh dân tộc thiểu số ở trường Dân tộc Nội trú Mường Lát”.

Đề tài này là sự nối tiếp kinh nghiệm nghiên cứu từ đề tài mà cá nhân chúng tôi

đã nghiên cứu và viết trong năm học 2015 – 2016 với tên gọi “Một vài kinh nghiệm dạy học môn ngữ văn cho học sinh dân tộc ở trường nội trú Mường Lát”.

Hy vọng rằng đề tài này của chúng tôi không chỉ áp dụng tốt với mônNgữ văn ở trường Nội trú Mường Lát mà còn là kinh nghiệm có thể sẻ chia vớibạn bè đồng nghiệp, góp một phần nhỏ vào chất lượng dạy – học của huyệnMường Lát nói riêng và của tỉnh nhà nói chung Đó cũng chính là lí do tôi viếtSKKN này

1.2 Mục đích nghiên cứu

Để giờ dạy văn không phải là giờ truyền thụ những kiến thức khô khangiáo điều, bắt học sinh phải thế này phải thế kia hay ghi chép những kiến thức lêthê kiểu truyền thống thầy đọc trò chép

Để những kiến thức thực sự thấm thía một cách tự nhiên trong tâm hồncủa học trò; nhằm trang bị những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có tính

hệ thống về ngôn ngữ và văn học – trọng tâm là tiếng Việt và văn học Việt Nam– phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và tâm lí học sinh vùng cao đồngthời phù hợp với yêu cầu đào tạo nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nước

Hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng tiếng Việt, tiếpnhận văn bản, cảm thụ thẩm mỹ, phương pháp học tập tư duy, đặc biệt làphương pháp tự học, năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống

Trang 2

Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, yêu văn học, văn hóa, tìnhyêu gia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự cường,

lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ nhân văn

Giáo dục cho học sinh trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị hợp tácquốc tế, ý thức tôn trọng và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc và nhânloại Và mỗi giáo viên dạy Ngữ văn sẽ góp phần đào tạo cho đất nước những thế

hệ học sinh, không chỉ thành thục về kĩ năng mà còn giàu có về cảm xúc, có tâmhồn trong sáng, nhân ái, biết vươn tới Chân – Thiện – Mĩ

Đó là mục đích mà người viết đề tài SKKN này hướng tới

1.3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài này hướng tới đối tượng nghiên cứu là môn Ngữ văn trong nhàtrường THCS Cụ thể là cách cách tiếp nhận kiến thức và cách truyền đạt của

giáo viên trong một tiết dạy Đọc – hiểu văn bản môn Ngữ văn của học sinh

người dân tộc thiểu số ở trường THCS Dân tộc Nội trú Mường Lát, tỉnh ThanhHóa Mong muốn của người viết không chỉ tạo một giờ dạy sinh động, hiệu quả

mà còn góp phần giáo dục nhân cách học sinh, đào tạo lớp người mới miền núi

có đầy đủ những phẩm chất và kĩ năng cần thiết của con người mới

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được mục đích và thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng cácphương pháp nghiên cứu sau:

+ Phương pháp thống kê, phân loại, phương pháp này giúp chúng tôi

phân loại và lựa chọn chính xác đối tượng nghiên cứu Trong quá trình triển khai

và giải quyết vấn đề, phương pháp này có tác dụng chỉ ra và cụ thể hóa các khíacạnh của vấn đề

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp này phục vụ đắc lực

cho quá trình tìm hiểu, khám phá và đánh giá ý nghĩa của đề tài Đây là phươngpháp không thể thiếu để có thể hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

+ Phương pháp so sánh để tạo ra tương qua so sánh nhằm chỉ ra sự tiếp

nối cũng như những sáng tạo mới mẻ riêng biệt của đối tượng nghiên cứu

+ Phương pháp liên ngành, vận dụng hiệu quả các môn học liên quan (Mĩ

thuật, Toán học, lịch sử, cơ sở văn hóa …) nhằm giúp cho vấn đề được nghiêncứu thấu đáo, chính xác hơn

1.5 Những điểm mới của SKKN

Từ thực tế giảng dạy ở trường Dân tộc Nội trú Mường Lát; từ kinh

nghiệm thực tiễn khi áp dụng các sáng kiến của cá nhân, SKKK “ Một số kinh nghiệm dạy hiệu quả tiết Đọc – hiểu văn bản ở trường Dân tộc Nội trú Mường Lát” có những điểm mới sau:

1 Áp dụng một cách chuẩn bị bài mới cho học sinh, khác với cách thôngthường truyền thống: Phát huy tính cá nhân của học sinh, không áp đặtbắt buộc theo SGK

2 Tích hợp với các môn học khác: Mĩ thuật, Toán học…

3 Một số những kinh nghiệm dạy học môn Ngữ văn cho học sinh dân tộc

ở miền núi Mường Lát - Thanh Hóa

Trang 3

4 Thống kê những từ ngữ mà học sinh miền núi người dân tộc H’mông

và dân tộc Thái thường mắc để giúp các em hạn chế và sửa chữa

5 Bộ câu hỏi ngắn gọn, dễ nhớ khi phân tích nhân vật hoặc tìm hiểu cácchi tiết trong tác phẩm văn học

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

2.1.1 Văn học là nhân học

Lấy đời sống con người làm đối tượng, lại có sự tham gia tích cực của

chủ thể sáng tạo, văn học tất yếu mang một phẩm chất goi là “nhân học” Bản

chất nhân học của văn học trước hết thể hiện ở việc biểu hiện tính người tức là

nhân tính Tính người theo quan điểm mác xít là tính xã hội, bởi đó là thuộc tính

phân biệt con người với con vật Con người tất nhiên có các biểu hiện của tìnhngười muôn thưở như lòng ham sống, sợ chết, tình yêu nam nữ, tình cha mẹ,tình bạn, tình yêu thiên nhiên, yêu cái đẹp có lương tâm và lòng trắc ẩn Văn học

là bộ bách khoa toàn thư về tình người Tình người cũng thắng thù hận, thắngđẳng cấp, thắng mọi quan niệm cổ hủ Tình người là một lĩnh vực hết sức phongphú và bí ẩn vì nó gắn với từng cá thể người Tình người dù có phong phú đếnđâu cũng gắn liền với tính xã hội, khát vọng tư do, phát triển, hạnh phúc, côngbằng, dân chủ Bản chất nhân học của con người còn thể hiện ở việc biểu hiệncon người tự nhiên Đặc sắc nhất của văn học là sự quan tâm tới cá thể, cá tính,

cá nhân, quan tâm tới tính cách và số phận của con người Mỗi người chỉ là một

cá thể hữu hạn, chỉ sống có một lần, cho nên mọi người đọc đều quan tâm tới cáthể trong văn học, mong tìm ở đó những lời giải về sự lựa chọn đường đời, lựachọn giá trị, lựa chọn ý nghĩa, để có thể sống một cuộc đời sống có ý nghĩa hơn.Trong các hình thái ý thức xã hội, chỉ có văn học là quan tâm tới sinh mệnh cáthể giữa biển đời mênh mông Chỉ có văn học là tìm cách lí giải các giá trị của

cá thể về sắc đẹp, tư chất, cá tính, số phận… Vì vậy văn học là hình thái ý thức

xã hội không gì thay thế được

2.1.2 Môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông.

Như chúng ta đã biết, môn Ngữ văn có vai trò quan trọng trong sự nghiệpphát triển xã hội loài người Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, đánh dấu sựtách biệt của loài người với thế giới loài vật là ngôn ngữ Khi ngôn ngữ ra đờithì nền giáo dục bắt đầu hình thành và theo đó môn Văn cũng bắt đầu, vì chấtliệu của văn học là ngôn ngữ Nói như thế, môn Văn gắn liền với sự hình thành

và phát triển của giáo dục Môn Ngữ văn – môn học chứa đựng những nội dungphong phú đa dạng về cuộc sống sinh động, về văn hóa tinh thần, tư tưởng tâmhồn của dân tộc Không chỉ vậy, văn học còn có tác dụng sâu sắc và lâu bền đếnđời sống tâm hồn và trí tuệ của con người Cuộc đời con người thì hữu hạnnhưng đời sống văn học thì luôn tươi trẻ, giàu sức sống, có khả năng khơi nguồnsáng tạo mãnh liệt cho con người và tiếp tục làm phong phú cho tâm hồn bao thế

hệ Chính vì thế các nhà khoa học tự nhiên tìm thấy trong các tác phẩm vănchương những gì tiếp sức cho lao động sáng tạo và cho nhu cầu tinh thần của

Trang 4

bản thân họ “Niềm sảng khoái mãnh liệt nhất trong đời sống của tôi không phải

là khi phát hiện ra thuyết tương đối mà chính là những rung động mãnh liệt từ

tác phẩm “Tội ác và trừng phạt” của Đôt-tôi-ep-xki” (Anhxtanh) Nhân loại thế

kỷ XXI vẫn chưa quên đi một “Truyện Kiều” với đại thi hào dân tộc Nguyễn Duthế kỉ XIX Nhân loại làm sao quên được những pho thần thoại vô giá của HyLạp đã giúp con người giải mã thiên nhiên một cách sơ khai non nớt nhất? Làmsao quên được những con người, những sự kiện của lịch sử Trung Hoa quanhững điển tích, điển cố trong “Tam quốc chí”? Nào có thể quên được một thờiđại của lịch sử Việt Nam qua “Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô gia văn phái?

Và biết bao dẫn chứng phong phú khác nói lên sức mạnh kì diệu của văn chươngtích cực Mỗi lần đọc thơ văn của Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Xuân Diệu, HuyCận , đọc những trang văn của Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao tanhư được tiếp thêm sức mạnh và nghị lực về cuộc sống, về tình yêu cuộc sống,thấy được trách nhiệm của mình đối với xã hội, giúp con người yêu thương nhauhơn, gần nhau hơn Môn Ngữ văn – môn học chứa đựng những nội dung phongphú đa dạng về cuộc sống sinh động, về văn hóa tinh thần, tư tưởng tâm hồn củadân tộc giành được một vị trí xứng đáng trong nhà trường phổ thông

2.1.3 Đặc điểm tâm lí của học sinh dân tộc thiểu số.

Theo nghiên cứu các nét tâm lý như ý chí rèn luyện, óc quan sát, trí nhớ,

tính kiên trì, tính kỉ luật của học sinh dân tộc chưa cao Việc học chưa được đềcao vì thiếu động cơ thúc đẩy Nhận thức cảm tính phát triển khá tốt Về tư duy,một bộ phận các em có thói quen lao động trí óc chưa bền Trong học tập, nhiều

em chưa biết lật đi lật lại vấn đề, phát hiện thắc mắc, suy nghĩ thiếu sâu sắc vấn

đề học tập Nhiều em không hiểu bài nhưng không biết mình không hiểu ở chỗnào Các em có thói quen suy nghĩ một chiều, dễ thừa nhận những điều người

khác nói Theo Phạm Hồng Quang nhận định “tư duy của học sinh dân tộc thiểu

số còn kém nhanh nhạy linh hoạt, khả năng thay đổi giải pháp chạm, nhiều khi máy móc dập khuôn” Về mặt tình cảm, cảm xúc thái độ của học sinh dân tộc

thiểu số bộc lộ một cách khá sâu sắc Trong quan hệ cộng đồng, quan hệ xã hội,các em coi trọng tín nghĩa, thẳng thắn, yêu ghét rạch ròi Tình cảm của học sinhdân tộc thiểu số thầm kín, ít biểu hiện ra bên ngoài một cách mạnh mẽ Lứa tuổicủa học sinh dân tộc thiểu số so với học sinh người Kinh có trội hơn về thể lực,sức khỏe Mặc dầu chịu ảnh hưởng từ nhỏ điều kiện sống khó khăn, nhưng họcsinh dân tộc thiểu số có tính cách riêng, yêu lao động, quý trọng tình thầy trò,tình bạn, trung thực, dũng cảm Bên cạnh những học sinh rụt rè, mặc cảm, tự ti,nhiều em có lòng vị tha, ham hiểu biết, đặc biệt là ý chí phấn đấu theo tấmgương Học sinh dân tộc thiểu số hường nghĩ thế nào thì nói như thế, không cóchuyện thêm bớt, có lòng tự trọng cao nhưng hay bảo thủ, tự ái Trong lối sống,các em ưa phóng khoáng, tự do, không thích gò bó, nhiều thói quen chưa tốt nhưtác phong lề mề, chậm chạp, thiếu ngăn nắp Về đặc điểm giao tiếp, quá trìnhhọc tập ở trường, học sinh mở rộng tầm nhìn do môi trường mới đa dạng, phongphú về các hình thức tổ chức học tập: học trên lớp, ngoài lớp, hoạt động xã hội,trong và ngoài nhà trường, môi trường giao lưu ngày càng mở rộng Đối tượng

Trang 5

giao tiếp của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú có đa dạng hơn so vớicác trường khác Tuy nhiên tính tích cực giao tiếp của học sinh dân tộc thiểu sốchưa cao Trong việc thiết lập quan hệ mới, học sinh dân tộc thiểu số gặp khókhăn, thiếu chủ động Học sinh dân tộc thiểu số mong muốn được đánh giá tốt,được khen nhưng ngại bộc lộ mình, ngại nói, ngại viết, thích mở rộng tầm nhìn,ham hiểu biết nhưng ngại suy nghĩ về các vấn đề trừu tượng.

Học sinh dân tộc thiểu số có thế mạnh về các môn thể thao, văn nghệtrong đó có cả các môn khoa học xã hội Đây cũng chính là một thuận lợi củamôn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

2.2.1 Thực trạng chung

Những năm gần đây, tình trạng học sinh không thích học môn Văn ngàycàng có chiều hướng gia tăng Đây là nỗi băn khoăn của nhiều thầy cô giáotrong khi môn Văn có một giá trị đích thực mà học sinh chưa hiểu được nên cònhọc với tinh thần gượng ép

Trong trường học ngoài môn Giáo dục công dân thì Ngữ Văn cũng là mônhọc rất quan trọng vì là môn học góp phần giáo dục tư tưởng, bồi dưỡng hoànthiện nhân cách học sinh Học Văn chính là cách học làm người Môn Văn thật

sự là môn học quan trọng giúp cho học sinh học tốt các môn học khác

Tuy nhiên những năm gần đây hiện tượng giáo viên và cả học sinh xemnhẹ môn Văn ngày càng trở nên phổ biến Nhiều GV cứ cho HS học rập khuônnhững bài văn mẫu rồi làm theo vì vậy xảy ra các trường hợp buồn cười là tronglớp học các HS làm bài văn viết nhiều đoạn văn giống nhau Ai cũng biết vănchương là cảm xúc của mỗi người nên đâu có ai giống ai Văn mà chép củangười khác lấy làm của mình thì người ta gọi là đạo văn Đạo văn là ăn cắp trithức, tư tưởng của người khác Lẽ ra GV chỉ nên cho HS đọc các bài văn mẫuvới hình thức tham khảo để giúp các em học hỏi cách hành văn Sau đó HS tựlàm theo cảm xúc của mình Dù văn không hay nhưng vẫn là thành quả của HScòn hơn là sao chép của người khác

Có một lý do nữa khiến cho HS ngày nay xem nhẹ môn Văn vì các emnghĩ học giỏi môn Văn khó chọn ngành nghề sau này Đa số các HS thường tậptrung học các môn khoa học tự nhiên như Toán, Lý, Hóa với suy nghĩ rằng họcgiỏi các môn này dễ thi vào trường đại học để với tương lai xán lạn và dễ có thunhập cao Thậm chí nhiều người còn cho rằng thời đại bùng nổ thông tin này thì

có thời giờ đâu để đọc truyện, đọc văn Không phải đợi đến cấp THPT mà ngay

từ cấp THCS các em đã có tư tưởng và suy nghĩ như vậy Điều đó xuất phát từthực tế xã hội và ngay cả trong suy nghĩ của phụ huynh khi định hướng tương laicho con em mình

Muốn giỏi văn thì HS phải siêng đọc nhưng HS bây giờ lại rất lười đọcvăn thơ Nhiều em HS bậc học trung học cơ sở khi vào thư viện nhà trường rấthiếm khi mượn các tác phẩm văn học nổi tiếng Các em chỉ chăm chú vào cácloại truyện tranh Đọc truyện tranh chỉ là hình thức giải trí mà hầu như không cólợi gì cho việc học môn Văn Đó là chưa muốn nói các loại truyện tranh có nội

Trang 6

dung xấu như đấm đá, bạo lực chỉ góp phần làm tổn hại tâm hồn non nớt của

HS, dễ gây cho HS sự hung hăng như các nhân vật trong truyện

Môn Văn là một môn học rất quan trọng vì dù sau này HS có theo ngành

nghề nào thì khi cần cũng phải biết viết một văn bản mạch lạc Nếu một người

có trình độ văn hóa cao mà viết văn luộm thuộm, người đọc đọc mãi chẳng hiểu

ý họ viết gì thì uy tín của người viết sẽ giảm rõ rệt

Qua những phân tích trên cho thấy rõ ràng môn Văn có một giá trị đích

thực trong nhà trường Vì vậy GV cần giải thích cho HS hiểu giá trị này nhằm

làm cho HS yêu thích môn học Học tốt môn Văn, tâm hồn HS như được nuôi

dưỡng bởi một liều thuốc bổ để hoàn thiện nhân cách của mình Khi đó, HS sẽ

biết sống thế nào cho tốt như các nhân vật chính diện và cố gắng tránh xa các

thói hư, tật xấu của các nhân vật phản diện trong các tác phẩm văn học

2.2.2 Thực trạng ở trường THCS DTNT Mường Lát

Hầu hết học sinh của trường DTNT Mường Lát là con em các dân tộc thiểu

số, từ vùng sâu vùng xa xuống học tập và sinh hoạt tập thể, mang theo rất nhiều

tập tục lạc hậu, nhiều thói quen trong sinh hoạt còn chưa văn minh, thiếu kỹ

năng thực hành, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng đối phó

với những khó khăn trong cuộc sống và khả năng tự phục vụ bản thân… Đặc

biệt trong học tập còn rất nhiều những khó khăn cả về phía giáo viên và học

sinh

- Về giáo viên: Tuy đội ngũ giáo viên của nhà trường được đào tạo chuẩn và

trên chuẩn nghề nghiệp nhưng phần lớn là giáo viên người Kinh nên đã có một

hàng rào nhất định về bất đồng ngôn ngữ, về tâm lí vùng miền Chúng tôi đã

được trải qua những lớp tập huấn về tiếng dân tộc, về tham vấn tâm lí học đườngcho học sinh dân tộc thiểu số nhưng do ít được tiếp xúc trực tiếp với đời sống

của bà con các dân tộc, ít được trải nghiệm thực tế nên sự thấu hiểu để hòa đồng

cùng các em cũng là một vấn đề không phải giản đơn một sớm một chiều mà

giải quyết được

- Về học sinh: Do sự chi phối của nhiều yếu tố khác nhau trong quá trình

dạy học, chất lượng học Ngữ văn của học sinh dân tộc chưa cao, kéo theo sự hạnchế về phát triển năng lực tư duy, ít nhiều tạo ra bất lợi cho việc đạt đến những

chuẩn mực trong mục tiêu giáo dục Ngữ văn là môn học về nghệ thuật ngôn từ,

môn học về tiếng Việt mà đối với học sinh người dân tộc, việc tiếp thu những tri

thức và kỹ năng Ngữ văn là hoàn toàn mới bởi tiếng mẹ đẻ của các em và tiếng

Việt là hai ngôn ngữ khác nhau Trẻ em dân tộc từ lúc lọt lòng mẹ đã được tiếp

xúc nói tiếng mẹ đẻ là tiếng dân tộc Tiếng Việt là tiếng phổ thông nhưng vẫn là

ngôn ngữ thứ hai Tiếng Việt vẫn không phải là tiếng mẹ đẻ của học sinh dântộc, các em vẫn không thể có những ưu điểm bẩm sinh như học sinh Kinh học

tiếng Việt Thêm vào đó là những khó khăn về cách phát âm của các em học

sinh người H’Mông, người Thái như thường xuyên lẫn lộn giữa các phụ âm như:

b – v, l – n, t – p … dẫn đến viết sai chính tả Do thiếu thốn về sách vở, các

phương tiện thông tin đại chúng nên mặt bằng chung hiểu biết xã hội còn thấp

Nhiều khi giáo viên nói nhưng các em không thể hiểu, không thể hình dung

Trang 7

được sự vật, hiện tượng hay bản chất của vấn đề Học đã khó, dạy còn khó hơn.

Để có được chất lượng học tập tốt môn Ngữ văn hay để có giải trong các kì thicấp huyện, đặc biệt là cấp tỉnh là cả vấn đề của cá nhân tôi, của cả tổ văn và cảBan giám hiệu nhà trường

Do vậy, việc nghiên cứu tìm cách khắc phục nhằm nâng cao chất lượng dạyhọc môn Ngữ văn cho học sinh dân tộc ở trường chúng tôi là vô cùng cần thiết

2.3 Giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề

Để nâng cao chất lượng dạy và học một tiết Đọc- hiểu văn bản tôi đã áp dụng một số phương pháp sau và đã thực sự đem lại hiệu quả

2.3.1 Đối với học sinh

2.3.1.1 Chuẩn bị bài ở nhà theo quy trình 3 bước

Việc chuẩn bị ở nhà là yếu tố tiên quyết cho một giờ học hiệu quả Mức

độ thành công của bài dạy đều phụ thuộc vào sự chuẩn bị của trò Dù thầy có giỏi bao nhiêu đi chăng nữa, có chuẩn bị kĩ càng đi bao nhiêu chăng nữa nếu không nhận được sự đồng hợp tác của học sinh trong khâu chuẩn bị bài ở nhà, giáo viên giảng bài mà học sinh tiếp cận tác phẩm như mới 100% hoặc không cóhứng thú hợp tác trong giờ học thì thất bại là điều không phải bàn cãi

Vì vậy, chuẩn bị bài ở nhà hay chúng ta vẫn quen gọi là “soạn bài” là một

vấn đề phải được quan tâm đầu tiên Lâu nay có rất nhiều học sinh không quantâm hoặc rất ngại chuẩn bị bài ở nhà trước khi đến lớp Có nhiều em vì sợ thầy

cô kiểm tra nên chuẩn bị một cách chiếu lệ hay chuẩn bị chống đối Bởi các emchưa ý thức được rằng đây là một mắt xích vô cùng quan trọng trong cả một quytrình dạy – học Nó chẳng những tạo cho các em ý thức tự học mà còn giúp các

em có thể tiếp thu bài trên lớp một cách dễ dàng Vậy làm thế nào để chuẩn bịbài một cách hứng thú, hiệu quả?

Thay vì học sinh chỉ trả lời các câu hỏi trong SGK, tôi hướng dẫn các em

soạn một bài Đọc – hiểu văn bản ở nhà theo quy trình 3 bước như sau:

- Bước 1: Tìm hiểu chung:

1 Tác giả:

- Ghi những nét cơ bản về tác giả (qua việc đọc phần chú thích SGK, đọcsách báo tham khảo …)

- Có thể tóm tắt lại những tư liệu hay, những chuyện thú vị về bút danh,

về cuộc đời của nhà văn…

2 Tác phẩm:

- Chú ý đọc kĩ và ghi lại những nét chính về hoàn cảnh sáng tác hoặc xuất

xứ giúp ích cho việc cảm thụ, đánh giá tác phẩm

- Xác định thể loại tác phẩm mà em đang soạn Mỗi một thể loại văn học

có một đặc trưng riêng, hiểu nó các em sẽ có cái nhìn sâu sắc hơn về tác phẩm

- Đọc nhiều lần văn bản và tìm ra cách đọc

- Tóm tắt tác phẩm truyện, tập đọc diễn cảm tác phẩm là thơ

- Tìm bố cục: Chia đoạn và tìm ra nội dung chính của từng doạn

- Bước 2: Trả lời câu hỏi phần Đọc – hiểu văn bản

Trang 8

Các em lần lượt trả lời các câu hỏi phần đọc – hiểu ở cuối mỗi tác phẩmtrong SGK theo ý của cá nhân mình Từ đó đối chiếu với bài giảng trên lớp củathầy.

-Bước 3: Những thắc mắc cần được giải đáp

Phần này học sinh nêu những thắc mắc của cá nhân mình sau khi soạnxong văn bản Những thắc mắc này các em có thể nhờ thầy cô giải đáp trong giờ

học hoặc các em sẽ tự tìm hiểu thêm Ví dụ như: Sau khi đọc xong văn bản Con

Rồng cháu Tiên em băn khoăn muốn biết thêm về ý nghĩa tên các nhân vật Lạc

Long Quân, Âu Cơ …?

* Ví dụ minh họa cụ thể một bài soạn của học sinh

(Xem phần phụ lục 1)

2.3.1.2 Học sinh chuẩn bị bài ở nhà theo hướng phát triển năng lực.

Có nhiều cách để dạy học học sinh theo hướng phát triển năng lực như đặt

hệ thống các câu hỏi mở cho văn bản sẽ giúp cho học sinh có điều kiện huyđộng được những kiến thức, kĩ năng đã có từ trước trong quá trình học tập.Xong để tăng hứng thú và phát huy trí tưởng tượng, óc sáng tạo cho học sinh vềtác phẩm các em đã đọc, chuẩn bị ở nhà và sẽ học ở lớp dưới sự hướng dẫn củagiáo viên, tôi sử dụng cách thức tổ chức hoạt động trải nghiệm thực tế bằng cách

vẽ tranh về tác phẩm Trong SGK có những tác phẩm có tranh minh họa xong

cũng có những tác phẩm không có tranh minh họa Các em có thể bằng trí tưởngtượng của mình về tác phẩm để vẽ tranh minh họa, hoặc dựa trên một chi tiếtnào đó có trong tác phẩm mà các em tâm đắc để vẽ tranh Hoạt động này khiếncác em thực sự hào hứng vì không chỉ giúp các em phát huy trí tưởng tượng vôcùng phong phú – một điều mà chỉ có văn học mới có khả năng khơi gợi – màcòn giúp cho học sinh phát triển năng khiếu hội họa và đặc biệt hoàn toàn phùhợp với tâm lí của học sinh vùng cao: yêu văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao

Kết quả đã có nhiều bức tranh đẹp về các tác phẩm văn học trong sáchgiáo khoa Đây là nguồn minh chứng hay nhất, dễ hiểu nhất với các em vềnhững tác phẩm văn học đang được thầy cô giáo giảng dạy trên lớp, giúp thuhẹp khoảng cách giữa học sinh với các tác phẩm văn học trong nhà trường

(Xem phụ lục 2 một số bức tranh minh họa cho các tác phẩm văn học trong nhà trường của học sinh)

2.3.1.3 Ôn tập khi học xong phần đọc hiểu

* Bằng công thức 3-2-1

Đây là công thức dễ nhớ thú vị với học sinh Nó giúp các em có thể ôn tậplại tác phẩm một cách thoải mái, sáng tạo, tự tin sau mỗi bài học Cụ thể là họcsinh có thể viết vào vở bài tập của mình phần Tổng kết bài học như một kết luậnchung nhất mà các em nắm được sau khi nghe thầy cô giảng bài:

- 3 điều em học được sau bài học này

- 2 điều em tâm đắc nhất

- 1 điều em chưa hiểu

Trang 9

Các em chủ động trao đổi với thầy cô để hiểu hơn vấn đề Trải qua quátrình học tập, có sự hiểu biết trưởng thành hơn, các em mở lại bổ sung và điềuchỉnh cho phù hợp và nhớ lâu hơn kiến thức bài học.

* Bằng những sáng tạo hoặc vận dụng của riêng các em

Học sinh có nêu lên những sáng tạo của riêng cá nhân mình xung quanhtác phẩm để phát huy trí tưởng tượng, vận dụng của riêng cá nhân sau khi đọctrước tác phẩm ở nhà Đấy cũng là một cách để đưa tác phẩm văn học vào đờisống

Ví dụ: Kể lại truyện theo một kết thúc mới, tưởng tượng một cuộc gặp gỡ

hay nói chuyện với nhân vật nào đó trong tác phẩm, kể lại bằng thơ, sưu tầmnhững câu chuyện được kể lại bằng thơ cho dễ nhớ dễ học

(Xem phụ lục 3 minh họa)

2.3.2 Đối với giáo viên

Một giờ dạy thành công thì người dạy đóng một vai trò vô cùng quantrọng Nếu ví học sinh là sản phẩm của quá trình dạy học, là những tác phẩmhoàn chỉnh thì người kĩ sư thiết kế chính là người dạy học, người thầy Bởi vậy

sự chuẩn bị của người thầy trước khi lên lớp chu đáo, kĩ càng bao nhiêu thì giờdạy càng hiệu quả bấy nhiêu Vậy người thầy dạy môn Ngữ văn, nhất là nhữngngười thầy dạy học trò miền núi phải chuẩn bị cho mình những hành trang cầnthiết nào?

2.3.2.1 Những phẩm chất, kĩ năng cần có của một giáo viên dạy Ngữ văn

Dạy học là một nghề Giảng dạy là một nghề đặc biệt, không phải ai cũngphù hợp với công việc này Trong thực tế, có khá nhiều giáo viên đã bỏ việc chỉsau 3 đến 5 năm công tác Đặc biệt là công tác ở những vùng sâu vùng xa biêngiới và hải đảo Bởi vậy, nghề giáo đòi hỏi ở người làm nghề rất nhiều nhữngyêu cầu

- Về phẩm chất và kỹ năng cần có như:

+ Khả năng truyền đạt tốt trên cả hai phương diện nói và viết

+ Giàu tình yêu thương, đặc biệt là yêu lớp người trẻ tuổi

+ Có lòng bao dung, độ lượng và trái tim nhân hậu

+ Nhạy cảm, có khả năng nắm bắt tâm lý con người

+ Kiên trì, nhẫn nại

+ Ham học hỏi và luôn mong muốn truyền đạt lại cho người khác

+ Người giáo viên cần có phẩm chất nhân cách đạo đức tốt, là tấm gươngsáng cho học sinh của mình noi theo

- Về kiến thức:

- Hoạt động chủ đạo của người giáo viên là giảng dạy, truyền đạt kiếnthức của mình tới học sinh, vì vậy người thầy cô phải có vốn kiến thức chuyênmôn, chuyên ngành vững vàng

Yêu cầu của nghề nghiệp còn đòi hỏi người giáo viên không chỉ cóchuyên môn, kiến thức vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt mà còn phải năngđộng, sáng tạo, tâm lý Người giáo viên đồng thời phải vừa là chủ thể của hoạtđộng dạy tức là tổ chức, điều khiển hoạt động học của người học, là người định

Trang 10

hướng, người tạo điều kiện, hỗ trợ cho học sinh, bên cạnh đó, người giáo viêncòn đóng vai trò của một hoạt náo viên…

Quá nhiều yêu cầu phải không? Tuy nhiên người giáo viên phải đáp ứngđược những yêu cầu cơ bản nhất như trên mới có thể làm công việc của mìnhtốt Điều đó đòi hỏi phải có cả một quá trình tu dưỡng rèn luyện không ngừng

Vậy rất cần ở người thầy một niềm đam mê, nhiệt tình, một tình thương

và trách nhiệm đối với học sinh, nhất là học sinh dân tộc thiểu số Nếu không cólửa nhiệt tình làm sao thổi vào trong bài dạy những điều hay điều bổ ích? Làmsao có thể dùng ngôn ngữ văn chương để truyền thụ kiến thức cho các em?Không có tình yêu thương thì khi nhìn vào mắt các em thì chỉ thấy sự ngơ ngác;nhìn vào trang phục của các em chỉ thấy sự nhếch nhác luộm thuộm Ai yêu sựsạch sẽ thơm tho, người giáo viên nào yêu thích sự lãng mạn như kiểu trongphim ảnh về các lớp học thì sẽ hoàn toàn đổ vỡ trong niềm tin khi đứng lớp mà100% học sinh là người dân tộc thiểu số Nếu không có tình yêu lớn thì sẽ khôngtrụ được với nghề khi trong giờ dạy chỉ nhận được sau những câu hỏi là cái lắc

đầu hoặc câu trả lời trống không “không biết” Vậy bước đầu tiên đó chính là

lòng nhiệt tình, dạy học bằng cái tâm, bằng tình người Với giáo viên dạy ởtrường nội trú thì nên làm bạn trước khi làm thầy, phải là người cha, người

mẹ thứ hai biết yêu thương, quan tâm và thấu hiểu mọi tâm tư nguyện vọng của

HS, là chỗ dựa tin tưởng nhất để các em giãi bày mọi khúc mắc, phải “ luôn luôn lắng nghe,và luôn luôn thấu hiểu” Có coi các em là con, chúng ta mới

không chỉ thực sự quan tâm lo lắng và chăm sóc cho các em khi các em cần màđiiều quan trọng hơn là dạy các em bằng cả trái tim của con người

2.3.2.2 Những yêu cầu cần có của một giáo viên dạy Ngữ văn cho học sinh các dân tộc thiểu số.

a Hiểu văn hóa địa phương

Mường Lát là một một huyện vùng cao có truyền thống văn hóa và truyềnthống cách mạng Với sự đa dạng và phong phú trong đời sống cộng đồng dân

cư, là nơi sinh sống và cư trú của đồng bào các dân tộc thiểu số như: Thái,H’mông, Dao, Khơ-mú, Mường, Kinh… Văn hoá của các tộc người Mường Látrất đa dạng và phong phú

- Về văn hóa vật chất: Nhà ở của các tộc người Thái, Mường, Khơ-mú đều là

nhà sàn Với người H’mông, Dao lại ở nhà trệt, mái thấp, tường trình Về trang phục: Đây là nét đa dạng và độc đáo nhất của bản sắc văn hóa tộc người thể hiện qua yếu tố văn hóa vật chất của các bộ trang phụ nữ và nam Về đồ ăn, uống: Dân tộc vùng thấp như Thái, Khơ-mú thường ăn cơm nếp đồ, người

H’mông người Dao thường ăn cơm tẻ Người H’mông thì món ăn đặc trưng vẫn

là ngô bột được đồ lên (mèn mén), thắng cố, bánh dày được làm vào dịp tết

H’mông Có người H’mông chỉ quen ăn cơm với nước lã lấy từ mó về, có ngườiThái chỉ ăn được cơm nếp đồ mà không ăn được các loại cơm gạo khác…

- Văn hóa tinh thần: Hầu hết các tộc người thiểu số đều theo tín ngưỡng đa

thần và quan niệm về vũ trụ xung quanh con người được tạo bởi nhiều tầng thếgiới Người H’mông, Dao đều cho rằng thế giới được tạo thành bởi trời, đất,

Trang 11

nước, dưới mặt đất Người Thái lại cho rằng riêng trời được cấu tạo bởi 3 tầngthế giới.

- Về văn học dân gian của các tộc người ở Mường Lát rất phong phú, nhất là

các dân tộc Thái, Dao, H’mông những nội dung của văn học dân gian đều phảnánh cuộc sống lao động sản xuất, xã hội tộc người, nguồn gốc lịch sử của dântộc mình

- Về nghệ thuật dân gian: được thể hiện rất phong phú, sinh động qua hàng loạt

các loại hình như nhạc cụ dân gian, dân vũ có những nhạc cụ nổi tiếng nhưcồng, chiêng của người Mường, khèn, kèn lá, đàn môi của người Hmông và sáo,nhị, trống, kèn đồng Múa dân gian cũng rất đa dạng: Người Thái có mùa xòe,nhảy sạp, múa nón, người H’mông nổi tiếng với múa khèn

- Một số phong tục tập quán trong việc cưới xin, sinh con đẻ cái hoặc trong

tang ma của các dân tộc cũng rất khác nhau Nếu lần đầu tiên được tiếp xúc sẽthấy rất thú vị như đám cưới của người Dao đỏ ở các bản Con Dao, Suối Tút hay

Pù Quăn Trai gái muốn lấy được nhau phải so tuổi, bói chân gà xem có hợpnhau không Có tục chăng dây, hát đối đáp giữa nhà trai và nhà gái Lúc đóndâu, cô dâu được cõng ra khỏi nhà gái và bước qua cái kéo mà thầy cúng đã làmphép mới được phép vào nhà trai Hay vô cùng ấn tượng trong đám ma củangười H’mông ở đây mà nếu được chứng kiến chắc sẽ không quên được Xưanay người H’mông ở Thanh Hoá đang còn một hủ tục lạc hậu trong tang ma đó

là khi người chết không được bỏ vào quan tài mà để người chết nằm trên cái

“neeg tuag” - tượng trưng cho con ngựa đưa người chết về với tổ tiên; giết nhiềutrâu, bò, lợn, gà để người chết “mang” đi theo về thế thế giới bên kia… Hiểuvăn hóa ở nơi đây để có một cái nhìn toàn diện, để hiểu và cảm thông và đặc biệtkhông có cái nhìn kì thị kiểu coi thường hoặc kinh sợ…

Một dân tộc được xác định bởi ba yếu tố là văn hóa, ngôn ngữ và lãnh thổ Trong cùng một địa phương có thể có nhiều dân tộc cùng sinh sống, tồn tại,

nói bằng nhiều ngôn ngữ, phương ngữ, thổ ngữ khác nhau nếu giáo viên dạyNgữ văn biết vận dụng hiểu biết của mình về các yếu tố này sẽ rất thuận lợi đểxây dựng phương pháp dạy học lồng ghép song ngữ tiếng Việt - tiếng dân tộc

thiểu số một cách thuần thục(mà tôi sẽ trình bày sau); để tích hợp trong quá

trình giảng dạy các tiết văn bản từ đó tăng hiệu quả giảng dạy Làm sao học sinhkhông yêu cho được khi trong bài học đó lại có bóng dáng của dân tộc mình, cóngôn ngữ của chính mình?

Những hiểu biết toàn diện này sẽ giúp ích rất nhiều cho giáo viên trong

việc dạy phần Văn học địa phương hay phần liên hệ khi dạy các tác phẩm văn

học khác của nhiều vùng miền khác nhau trên đất nước Tạo nên một bức tranh

đa sắc màu của dân tộc ta

b Hiểu tâm lí của học sinh dân tộc thiểu số.

Ở đây không chỉ đơn thuần là tâm lí lứa tuổi mà còn là tâm lí con ngườivùng miền

Học sinh THCS có tuổi đời ứng với tuổi thiếu niên, do vậy các em còn cótên gọi khác là Thiếu niên Cách đây khoảng 20 năm, theo kết quả nghiên cứu

Ngày đăng: 10/08/2017, 16:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w