Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa XI xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh”.Nhằ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
Người thực hiện: Trần Thị Chung
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường Trung học cơ sở Minh Khai
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Ngữ văn
THANH HÓA NĂM 2017
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1 PHẦN MỞ ĐẦU 1
2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận 3
2.2 Thực trạng vấn đề 3
2.3.Các giải pháp đã sử dụng 4
2.3.1 Tạo tình huống thực tiến, khoa học, hấp dẫn 4
2.3.2 Tổ chức trò chơi 6
2.3.3 Tổ chức thảo luận nhóm 8
2.3.4 Sử dụng sơ đồ tư duy 10
2.3.5 Sử dụng phương tiện trực quan 14
2.4 Hiệu quả của sáng kiến 17
3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 22
PHỤ LỤC 23
DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC XẾP LOẠI 26
Trang 4
Trung ương Đảng lần thứ 8 khóa XI xác định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh”.
Nhằm đáp ứng những yêu cầu đổi mới về phương pháp, đáp ứng tốt hơnnhững tiêu chuẩn về kiến thức và kĩ năng mà mục tiêu môn học đã đề ra, tạokhông khí hứng thú trong giờ học, giúp học sinh yêu thích say mê môn học kiểu
như: “có thích mới nhích tư duy” thì phải xem dạy học là một nghệ thuật và giáo
viên là một nghệ sĩ Bản chất của hoạt động dạy học là sự kết hợp của khoa họccông nghệ với nghệ thuật của người dạy Vì vậy trong dạy học giáo viên ngoàivốn hiểu biết sâu rộng và có phương pháp dạy học phù hợp với đặc thù bộ môncũng cần có những sáng tạo nghệ thuật trong dạy học Trên cơ sở đó tôi đã mạnh
dạn áp dụng “Một vài kinh nghiệm về cách thức tổ chức giờ dạy học Tiếng Việt lớp 9 nhằm phát triển năng lực học sinh” (Lớp 9C trường THCS Minh Khai – Thành phố Thanh Hóa) Hi vọng đề tài này sẽ góp một phần nhỏ vào
việc cải tiến phương pháp dạy học theo xu thế đổi mới hiện nay
Trang 51.2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài “Một vài kinh nghiệm về cách thức tổ chức giờ dạy học Tiếng Việt lớp 9 nhằm phát triển năng lực học sinh” nhằm góp phần nâng
cao hiệu quả dạy học Tiếng Việt và phát triển năng lực cho học sinh lớp 9
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này tôi tiến hành nghiên cứu dạy học phần Tiếng Việtlớp 9 và tiến hành thực nghiệm ở học sinh lớp 9C trường THCS Minh Khai
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài sáng kiến kinh nghiệm chúng tôi kết hợp vận dụngtổng hợp các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích, phân loại tài liệu liên quan đến việc dạy họcTiếng Việt
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Thống kê hứng thú, kết quả học tậpcủa học sinh trước và sau khi áp dụng phương pháp trong dạy học Tiếng Việt đểđối chứng
Trang 62 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2 1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Trong dạy học Ngữ văn không thể thiếu phần Tiếng Việt Nếu tác phẩmvăn chương tác động nhiều đến tình cảm thì dạy học Tiếng Việt tác động nhiềuđến tư duy học sinh Dạy học Tiếng Việt phải hình thành ở học sinh năng lực sửdụng thành thạo tiếng Việt với bốn kỹ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết để qua
đó rèn luyện tư duy Sau đó, giúp học sinh những hiểu biết nhất định về tri thứctiếng Việt và ngôn ngữ (từ, câu, đoạn…) để có ý thức sử dụng Tiếng Việt đúngđắn và trong sáng Trên cơ sở đó mà làm cho các em yêu quí Tiếng Việt, có ýthức giữ gìn, bảo vệ, phát triển tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách, bồidưỡng tư tưởng, tình cảm Tuy nhiên phân môn Tiếng Việt lại vừa khô vừa khó.Một đơn vị kiến thức Tiếng Việt đưa vào bài học thường ngắn nhưng tiếp thu vàhiểu thấu đáo, chuẩn xác về nó thì không đơn giản Vì vậy để phát huy hiệu quảgiờ dạy học Tiếng Việt tôi thiết nghĩ chúng ta không nên áp dụng một cách máymóc mà cần sử dụng cách thức dạy học linh hoạt và có sự sáng tạo nghệ thuậttrong dạy học Có như thế mới lôi cuốn hấp dẫn, kích thích được tư duy của họcsinh, đưa học sinh vào vai trò trung tâm của hoạt động học
2 2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
2.2.1 Việc giảng dạy của giáo viên
Thực tế hiện nay nhiều giáo viên đã có ý thức vận dụng các phương pháp,
kĩ thuật dạy học mới nhưng chưa nắm vững đặc trưng của môn Tiếng Việt, chưanắm chắc mục tiêu cuối cùng của quá trình dạy học các tri thức Tiếng Việt vìvậy mục đích chính mà giáo viên hướng tới chủ yếu là học sinh tiếp thu đượckiến thức gì (học cái gì) chứ không phải là học như thế nào Khi hướng dẫn họcsinh thực hành nhiều giáo viên còn mang tâm lí “sợ” thoát li kiến thức từ sáchgiáo khoa, ít mở rộng phần luyện tập, thiếu tính độc lập sáng tạo trong việc tổchức dạy học Một bộ phận giáo viên chưa thật sự tâm huyết, đam mê với nghề,lên lớp chưa có sự linh hoạt, sáng tạo chỉ tái hiện sách giáo khoa một cách đơnđiệu, dạy xuôi một chiều nên hiệu quả đạt được chưa cao Trong tiết dạy người
Trang 7thầy là trung tâm, dạy theo lối cung cấp, truyền thụ cho học sinh kiến thức sẵn
có trong sách giáo khoa và thường áp đặt luôn kiến thức vào học sinh buộc họcsinh phải công nhận luôn kiến thức đó Học sinh tiếp nhận và làm theo như mộtcái máy mà không hiểu thực chất của vấn đề Ý thầy nói luôn trở thành "chân lý"
mà học sinh chỉ biết tuân theo và chấp nhận Như vậy, học sinh ít có cơ hội sángtạo, ý chí muốn vươn lên của học sinh có nhiều khả năng bị hạn chế Học sinhkhông phát huy được năng lực vốn có của mình Dần dần dẫn đến "mòn" trí tuệcủa bản thân Nhiều giờ dạy học còn rất nặng nề khô cứng thậm chí căng thẳnghoặc mờ nhạt
2.2.2 Việc học tập của học sinh
Căn cứ việc quan sát hứng thú và kết quả học tập của học sinh khi họcTiếng Việt ở lớp 9 chúng tôi thấy rằng thực chất sự thành công trong một giờdạy học Tiếng Việt không chỉ có sự nỗ lực từ phía giáo viên mà quan trọng làcần có sự hưởng ứng tích cực từ phía học sinh Thói quen học thụ động, đối phócủa các em học sinh là một rào cản lớn đối với quá trình đổi mới phương phápdạy học Một số ít các em học sinh còn mang tính thực dụng, tức thời, cho rằnghọc chủ yếu để phục vụ cho các kì thi mà điểm số phân môn Tiếng Việt ít nêncòn học đối phó Học theo phương pháp mới đòi hỏi phải dành nhiều thời gian
để làm bài tập, tham khảo tài liệu, thu thập xử lí thông tin khoa học…Tuy nhiêncác em chưa có sự đầu tư thích đáng cho môn học, chưa hình thành được tư duyphản biện, độc lập trong học tập, chưa vận dụng được vào thực tế đặc biệt làchưa thực sự hứng thú trong học tập
Từ thực trạng đó chúng tôi thấy rằng cần có những giải pháp phát huyđiểm mạnh, khắc phục khó khăn nhằm đạt mục tiêu dạy học, phát triển năng lựchọc sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục bằng việc sử dụng một số cáchthức dạy học Tiếng Việt theo tinh thần đổi mới
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Tạo tình huống thực tiễn, khoa học, hấp dẫn
a Khái niệm và vai trò
Trang 8Tình huống là hệ thống các sự thực của cuộc sống, trong đó người học đượckiến tạo tri thức qua việc giải quyết các vấn đề có tính xã hội của việc học tập.Trong giờ học, thông qua việc giải quyết tình huống, người học vừa nắmbắt tri thức một cách nhẹ nhàng vừa có khả năng vận dụng vào thực tiễn và khảnăng thích ứng tốt nhất với môi trường xã hội đầy biến động.
* Giáo viên tạo tình huống
- Sử dụng các nguồn kiến thức có tính thực tiễn
- Sử dụng ca dao, tục ngữ, thơ …kết nối với tình huống
- Sử dụng những mẩu chuyện vui, có kịch tính để đưa đến tình huống
* Học sinh: Nhận thức tình huống để tìm cách giải quyết và phát hiện vấn đề
một cách nhẹ nhàng nhất
Ví dụ: Dạy bài “Nghĩa tường minh và hàm ý” Tiết Ngữ văn 9 tập 2, để
giúp học sinh phân biệt nghĩa tường minh và hàm ý giáo viên có thể đặt học sinh
vào tình huống: Nếu trong giờ học Toán bạn bên cạnh muốn mượn em cái thước nhưng không muốn cho bạn mượn em sẽ nói thế nào? Sau đó giáo viên gọi vài bạn trả lời Học sinh sẽ đưa ra một số cách trả lời A: “Tớ đang dùng”; B:
Trang 9“Không mượn được”; C: “Cô đang nhìn kìa”…Giáo viên tiếp tục hỏi: Trong
các cách trả lời trên, cách trả lời của bạn nào nội dung thông báo được diễn đạttrực tiếp bằng từ ngữ trong câu, cách trả lời nào phần thông báo phải suy ra từnhững từ ngữ trong câu đã nói? Học sinh sẽ trả lời được bạn B đã diễn đạt trựctiếp nội dung thông báo bằng từ ngữ trong câu Từ đó giáo viên chốt kiến thứcbài học: Cách trả lời của bạn B là dùng theo nghĩa tường minh, cách trả lời củabạn B và C là theo nghĩa hàm ý
Như vậy bằng việc tạo ra tình huống là ngữ liệu gần gũi với thực tế để giúphọc sinh làm quen với những tình huống giao tiếp thường gặp trong cuộc sống.Tình huống này đã tạo được không khí học tập thoải mái, học sinh sẽ giải tỏađược gánh nặng về tâm lí và tích cực tham gia vào quá trình tìm hiểu tri thức,nhu cầu giao tiếp sẽ nảy sinh một cách tự nhiên
2.3.2 Tổ chức trò chơi
a Khái niệm và vai trò
- Trò chơi không chỉ là một “công cụ” dạy học mà nó còn là con đườngsáng tạo xuyên suốt quá trình học tập của học sinh Trò chơi học tập là một hoạtđộng được tổ chức có tính chất vui chơi, giải trí Thông qua trò chơi học tập họcsinh có điều kiện “học mà chơi, chơi mà học”
- Kết hợp sử dụng trò chơi trong học tập tạo không khí lớp học vui vẻ, thoảimái; giờ học bớt nặng nề, khô khan, việc ghi nhớ, khắc sâu kiến thức nhẹ nhàng,bền vững hơn Vận dụng trò chơi trong hoạt động dạy học là một trong nhữngbện pháp tăng cường, tích cực hóa trong hoạt động học tập của học sinh, làmtăng thêm tình cảm yêu thích môn học, tạo không khí thân thiện của thầy và trò
Trang 10- Giáo viên phải nêu rõ thể lệ cuộc chơi và qui định thời gian, đối tượng,cách chơi; đánh giá việc thực hiện trò chơi của học sinh phải toàn diện, côngbằng, khách quan.
c Biện pháp cụ thể
Trò chơi thường được sử dụng khi kiểm tra bài cũ, củng cố và luyện tậpthực hành Hình thức thực hiện trò chơi học tập cũng rất phong phú đa dạng đòihỏi giáo viên phải lựa chọn hình thức chơi hiệu quả nhất với từng tiết học Tronggiờ dạy học Tiếng Việt lớp 9 chúng ta có thể lựa chọn một số hình thức tổ chứctrò chơi như:
- Trò chơi “tiếp sức”: Giáo viên chia lớp thành 2 đội có số người bằngnhau, trình độ giỏi, khá, trung bình tương đương và ra câu hỏi Trong thời gian
3 phút đội nào tìm được nhiều câu đúng sẽ thắng Chẳng hạn khi dạy xong bài
“Ôn tập Tiếng Việt” (Tiết 73, Ngữ văn 9, tập 1) tôi yêu cầu học sinh 2 nhóm kể
tên các câu ca dao, tục ngữ có liên quan đến các phương châm hội thoại đã học
và cho biết đó là phương châm hội thoại gì Đại diện từng nhóm lên trình bàytrên bảng khi không tìm ra thì nhanh chóng về chỗ để bạn khác lên thay Cứ thếđến hết giờ Đội nào tìm được nhiều câu đúng hơn và không trùng nhau là thắngcuộc
- Trò chơi giải ô chữ: Giáo viên kẻ bảng ô chữ, đánh số thứ tự hàng ngang
và hàng dọc Hàng dọc là từ khóa lớn nhất cần tìm cho 5 điểm, các từ khóa hàngngang tìm được cho 1 điểm Học sinh được phép đoán ô chữ hàng dọc khi chưatrả lời hết câu hỏi tìm ô chữ hàng ngang nếu phát hiện ra Tổng điểm của bạnnào được nhiều nhất sẽ nhận phần thưởng là điểm 10 và một tràng pháo tay Ví
dụ giải đáp ô cho bài “Các thành phần biệt lập” (Tiết 104, Ngữ văn 9, tập 2).
Trang 111 Ô chữ hàng ngang số 1 (5 chữ cái): Thành phần gọi đáp trong câu “Bầu
ơi, thương lấy bí cùng” là từ ngữ nào?
2 Ô chữ hàng ngang số 2 (7 chữ cái): Giữa 2 từ “Chắc chắn” và “Hình như”
từ nào chỉ mức độ tin cậy thấp hơn?
3. Ô chữ hàng ngang số 3 (6 chữ cái): Tìm thành phần biệt lập trong câu
“Chả nhẽ cái bọn ở làng lại đổ đốn đến thế.”.
4. Ô chữ hàng ngang số 4 (6 chữ cái): Thành Phần được dùng để bộc lộ tâm
lí của người nói (vui, buồn…) là thành phần?
5. Ô chữ hàng ngang số 5 (5 chữ cái): Tìm thành phần phụ chú trong câu:
“Bạn Nam, lớp 9A, học rất giỏi.”
6. Ô chữ hàng ngang số 6 (1 chữ cái): Tìm thành phần cảm thán trong câu:
2.3.3 Tổ chức thảo luận nhóm
a Khái niệm và vai trò
- Dạy học nhóm là một hình thức của xã hội học tập trong đó học sinh củamỗi lớp được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian nhất định, mỗinhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác
Trang 12làm việc, kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trướclớp.
- Thảo luận nhóm nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, tự lực của họcsinh Phát triển năng lực cộng tác theo tinh thần đồng đội Từ đó học sinh sẽphát triển năng lự giao tiếp, biết lắng nghe, chấp nhận và phê phán, tự tin hơn.Đặc biệt hoạt động nhóm sẽ tăng cường tri thức và hiệu quả học tập
b Yêu cầu
- Hình thành nhóm học sinh phải linh hoạt Tùy thuộc vào từng tiết học,phạm vi vấn đề, thời gian được trao đổi mà số lượng đơn vị nhóm có cơ cấukhác nhau
- Giáo viên cần định hướng, giám sát, đưa ra câu hỏi phù hợp và quản líhọc sinh làm việc
- Mỗi thành viên trong nhóm phải có ý thức tìm tòi, làm việc tích cực theo
sự phân công của nhóm trưởng, không ỷ lại
- Không tổ chức hoạt động nhóm theo kiểu hình thức, làm cho có
c Biện pháp cụ thể
- Chia nhóm học tập cũng là một nghệ thuật đòi hỏi tài năng sư phạm củamỗi giáo viên Có nhiều kiểu nhóm học tập như: chia nhóm theo cặp ngẫu nhiên,nhóm theo năng lực, nhóm hoạt động trà trộn…Chúng tôi thường phân nhómlàm việc theo cặp ở vấn đề nhỏ; nhóm 4 – 5 học sinh để giải quyết lượng tri thứcnhiều, tiết kiệm thời gian; có nhiều vấn đề cần thảo luận ở nhiều mức độ thì sửdụng nhóm theo năng lực; khi phải nhớ khái niệm đã học của nhiều bài họctrong giờ ôn tập thì sử dụng nhóm kim tự tháp…
- Giáo viên thực hiện các thao tác thảo luận nhóm: lựa chọn vấn đề, chianhóm, chọn nhóm trưởng, giao nhiệm vụ, quan sát hỗ trợ học sinh, nhận xétđánh giá kết quả hoạt động
- Học sinh có 3 thành phần với nhiệm vụ riêng Nhóm trưởng là người có
tố chất nổi bật hơn, khéo léo, biết khơi dậy sự hứng thú tham gia của các thànhviên trong nhóm Các thành viên trong nhóm chuẩn bị thu thập dữ liệu, biết lắng
Trang 13nghe và tôn trọng người khác, tự chủ trong phát biểu Thư kí là người biết tómtắt ý người khác, chữ viết rõ ràng
Ví dụ: Khi làm bài tập tiết 123 “Nghĩa tường mình và hàm ý” (Ngữ văn
9, kì 2) chúng tôi tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm trà trộn nhiều đối tượng
Nhưng với bài “Tổng kết về Ngữ pháp” (Ngữ văn 9, tập 2) chúng tôi tổ chức
cho học sinh hoạt động nhóm theo kiểu kim tự tháp Chúng tôi nêu vấn đề: Kể tên các từ loại Tiếng Việt đã học trong chương trình THCS, nêu khái niệm và cho ví dụ cụ thể? Đầu tiên chúng tôi cho học sinh làm việc độc lập Sau đó ghép
2 học sinh thành một cặp để chia sẻ ý kiến Kế đến các cặp sẽ tập hợp thànhnhóm 8, nhóm 16 …Cuối cùng cả lớp sẽ có một bảng tổng kết các ý kiến dể giảiquyết câu hỏi giáo viên đã đưa ra
Thông qua hoạt động nhóm học sinh nắm vững, nhớ sâu kiến thức bàihọc, không bị sa vào thói quen học thụ động, phát huy tính năng động sáng tạo;tạo không khí đoàn kết tượng trợ lẫn nhau trong học tập Đặc biệt thông quahoạt động nhóm giáo viên có thể kịp thời uốn nắn, bổ sung kiến thức cho họcsinh
2.3.4 Sử dụng sơ đồ tư duy
a Khái niệm, vai trò
Sơ đồ tư duy hay còn gọi là Lược đồ tư duy, Bản đồ tư duy (Mind Map) làphương pháp dạy học chú trọng đến cơ chế ghi nhớ, dạy cách học, cách tự họcnhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, hệ thống hóa một chủ đề hay mộtmạch kiến thức, bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét,màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực để mở rộng và đào sâu các ý tưởng
Sơ đồ tư duy là một trong những kĩ thuật dạy học tích cực có thể làm
“sống dậy” niềm đam mê môn Ngữ văn nói chung, phần Tiếng Việt nói riêng.Việc sử dụng Bản đồ tư duy trong dạy học giúp học sinh dễ hình dung các đơn
vị kiến thức, dễ ghi nhớ những vấn đề phức tạp khi nó được đưa lên sơ đồ từ đócác em hiểu vấn đề một cách có hệ thống Tạo cho học sinh thói quen nhận thứcthế giới bằng lối tư duy quan hệ, tính logic của một vấn đề Với sản phẩm độc
Trang 14đáo “kiến thức + hội họa” cách học này còn phát triển được năng lực riêng của
từng học sinh về trí tuệ, hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đã họctrước đó để chọn lọc các ý để ghi), đồng thời còn phát triển khiếu thẩm mĩ, óc
hội họa, bởi đó là “sản phẩm kiến thức hội họa”do chính các em tự làm ra, lại
vừa phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của các em trong học tập, không rậpkhuôn một cách máy móc, các em dễ dàng vẽ thêm các nhánh để phát triển ýtưởng riêng của mình, vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống
Vì thế,sẽ tạo một không khí sôi nổi, hào hứng, say mê cho học sinh trong họctập Sử dụng phương tiện dạy học và các thủ thuật dạy học phù hợp sẽ giúp tiếtkiệm thời gian để truyền tải hết nội dung cần thiết
b Yêu cầu
- Không phải ở hoạt động nào trong một bài cũng vận dụng sơ đồ tư duy Ta hãytừng bước vận dụng hình thức tổ chức kiến thức bằng sơ đồ tư duy để hỗ trợ khicần thiết và thấy hợp lí nhất, tránh lạm dụng
- Chú ý dùng màu sắc, đường nét, hình ảnh hợp lý để vừa làm rõ các ý trong sơ
đồ đồng thời tạo sự cân đối, hài hòa, cuốn hút cho sơ đồ
- Không ghi quá dài dòng, hoặc ghi những ý rời rạc, không cần thiết
- Cần chuẩn bị chu đáo dụng cụ
- Sơ đồ tư duy là sơ đồ mở, vì vậy giáo viên cần tôn trọng sự sáng tạo của họcsinh Giáo viên chỉ nên chỉnh sửa cho các em về mặt kiến thức, góp ý thêm chứkhông nên phủ nhận chê bai về đường nét vẽ, màu sắc, hình thức Cần khuyếnkhích, tuyên dương những sơ đồ tư duy đảm bảo kiến thức trọng tâm, trình bàykhoa học, đẹp, hài hòa về dường nét, màu sắc
c Biện pháp cụ thể
- Sơ đồ tư duy có thể sử dụng nhiều khâu trong dạy học Tiếng Việt từ
khâu kiểm tra bài cũ, đến khâu dạy học kiến thức mới, hay khâu củng cố kiếnthức sau mỗi tiết học, rồi ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗihọc kì, kể cả việc kiểm tra bài cũ, kiểm tra 15 phút
Trang 15- Tùy theo từng khâu của bài học mà đối tượng thiết kế sơ đồ tư duy cóthể là giáo viên hoặc học sinh trực tiếp thực hiện
+ Giáo viên có thể chọn vẽ sơ đồ tư duy theo mạch kiến thức bài học đểvừa hướng dẫn học sinh cách vẽ sơ đồ tư duy vừa giúp học sinh tiếp thu kiếnthức một cách cô đọng, nhanh gọn, sau đó cho các em dựa vào sơ đồ tư duy đã
vẽ thuyết trình lại nội dung bài học Mục đích cuối cùng là học sinh tự vẽ sơ đồ
tư duy (tự đặt từ khóa hoặc từ khóa giáo viên cho sẵn)
+ Giáo viên có thể giúp học sinh thiết kế sơ đồ tư duy khi vận dụng vàokhâu dạy học bài mới,bài ôn tập tổng kết ngay trên lớp: Qua hệ thống câu hỏidẫn dắt của giáo viên học sinh rút ra kết luận Giáo viên lần lượt chốt lại vấn đềbằng sơ đồ tư duy Sử dụng bản đồ tư duy sẽ giúp học sinh dần dần hình thànhcách ghi chép có hiệu quả
+ Học sinh tự thiết kế sơ đồ tư duy theo ý tưởng của mình để trình bàykiến thức ở khâu kiểm tra bài cũ, củng cố kiến thức sau mỗi bài học hoặc khilàm bài kiểm tra Sơ đồ tư duy củng cố kiến thức sau mỗi bài học có thể đượcthực hiện ngay trên lớp hoặc giao cho học sinh về nhà tự vẽ, tiết học sau trìnhbày khi kiểm tra bài cũ Học sinh tự làm được điều này có nghĩa là giáo viên đãthực sự đạt mục đích khi áp dụng kĩ thuật dạy học bằng sơ đồ tư duy
Ví dụ 1: Học bài “Trau dồi vốn từ” tiết 35, Ngữ văn 9 tập 1 Giáo viên ghi từ
khóa “Trau dồi vốn từ” Cho học sinh đọc, phân tích ví dụ trong sách giáo
khoa Qua việc tìm hiểu ví dụ giáo viên chốt kiến thức theo từng phần cho học
sinh: Muốn trau dồi vốn từ trước hết cần phải làm gì? Em hiểu nắm vững nghĩa của từ và cách dùng từ là gì? Cần rèn luyện như thế nào để làm tăng vốn từ?
Sau đó giáo viên giúp các em vẽ nhánh chính, nhánh phụ và ghi bài trên sơ đồ tưduy Học sinh có thể vẽ theo mô hình sơ đồ tư duy trên bảng hoặc trên cơ sởkiến thức đã hệ thống tự vẽ sơ đồ tư duy theo ý tưởng của mình