Kết quả khảo sát cho thấy một tỷ lệ lớn nam thanh niên đang hút thuốc lá trên 47% so mẫu khảo sát và bằng phương pháp thống kê mô tả cho thấy rằng: về nhận thức, thái độ của người tiêu d
Trang 1LÊ PHONG DINH
NHẬN THỨC TÁC HẠI
CỦA THUỐC LÁ ĐẾN SỨC KHỎE
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HCM năm 2016
Trang 2LÊ PHONG DINH
NHẬN THỨC TÁC HẠI
CỦA THUỐC LÁ ĐẾN SỨC KHỎE
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TÊ
MÃ SỐ: 60340410
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN HỮU DŨNG
TP HCM năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan Luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn trong luận văn đều được dẫn nguồn theo hướng dẫn của UEH và số liệu sử dụng từ phỏng vấn các đối tượng tại địa bàn điều tra là trung thực
Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh
tế Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả Luận văn
Lê Phong Dinh
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC PHỤ LỤC
TÓM TẮT 1
1.1 Bối cảnh nghiên cứu 3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.5 Cấu trúc của Luận văn 5
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
2.1 Lý thuyết liên quan 7
2.1.1 Lý thuyết hành vi vấn đề 7
2.1.2 Lý thuyết về hành vi dự định 7
2.2 Một số khái niệm, quy định và thông tin liên quan 8
2.2.1 Khái niệm nhận thức, thái độ và hành vi 8
2.2.2 Hút thuốc lá 9
2.2.3 Tác hại của thuốc lá 9
2.3 Các nghiên cứu liên quan 11
2.4 Các chính sách và biện pháp phòng, chống tác hại của thuốc lá ở Việt Nam và của chính quyền địa phương tại địa bàn nghiên cứu 12
2.4.1 Chính sách của Chính phủ Việt Nam 12
2.4.2 Chính sách và biện pháp của chính quyền địa phương tỉnh Sóc Trăng 13
2.5 Tóm tắt chương II 14
CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Các bước nghiên cứu 15
3.1.1 Nghiên cứu định tính 15
3.1.2 Nghiên cứu định lượng 15
3.2 Phương pháp nghiên cứu 16
3.3 Xác định mẫu nghiên cứu 16
Trang 53.4 Tóm tắt chương III 17
CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 18
4.1 Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 18
4.2 Mô tả mẫu khảo sát và hiện trạng sơ bộ về bộ mẫu khảo sát 18
4.2.1 Thông tin của người được khảo sát 19
4.2.2 Hiện trạng hút thuốc của nam thanh niên TP Sóc Trăng hiện nay 21
4.2.3 Thái độ, niềm tin về việc bỏ hút thuốc lá 25
4.2.4 Ảnh hưởng của thuốc lá đến sức khỏe và cộng đồng 29
4.2.5 Kết quả khảo sát đối với các biến định lượng 32
4.2.6 Biện pháp giảm tiêu thụ và tác hại của thuốc lá 33
4.3 Kết luận về mô hình 39
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 43
5.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 43
5.2 Kiến nghị chính sách 466
5.2.1 Giải pháp chung……… 46
5.2.1.1 Giải pháp tăng cường nhận thức – thái độ đối với người hút thuốc lá 47
5.2.1.2 Giải pháp hình thành tiêu chuẩn có liên quan đến hành vi hút thuốc lá 488
5.2.1.3 Giải pháp hình thành nên xu hướng ứng với hành vi hút thuốc lá 499
5.2.1.4 Giải pháp hình thành nên hành vi hút thuốc lá 499
5.2.1.5 Giải pháp về chính sách giá cả thuốc lá 499
5.2.2 Giải pháp cụ thể nhằm hạn chế hút, lạm dụng thuốc lá và tác hại của thuốc lá……… 49
5.2.2.1 Hoàn thiện chính sách, pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá…49 5.2.2.2 Nâng cao chất lượng công tác thông tin, tuyên truyền về phòng chống tác hại của thuốc lá……… 49
5.2.2.3 Giải pháp về tổ chức và nhân lực……… 49
5.2.2.4 Giải pháp về tài chính……….50
5.3 Một số nhận định cần được quan tâm và triển khai rộng rãi………50
5.4 Hạn chế đề tài và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ
Hình 4.1: Nơi sinh sống của người được khảo sát
Hình 4.2: Nghề nghiệp của người được khảo sát
Hình 4.3: Dân tộc
Hình 4.4: Trình độ học vấn của người được khảo sát
Hình 4.5: Tình trạng tham gia các đoàn thể
Hình 4.6: Tình trạng hút thuốc của người được khảo sát
Hình 4.7: Mức độ thường xuyên hút thuốc của người được khảo sát
Hình 4.8: Khả năng hút khi được bạn thân mời thuốc lá của người được khảo sát
Hình 4.9: Dự định về khả năng hút thuốc của người được khảo sát
Hình 4.10: Ý định về bỏ thuốc lá của người được khảo sát
Hình 4.11: Suy nghĩ về việc bỏ hút thuốc lá thì sức khỏe sẽ được cải thiện của người được khảo sát
Hình 4.12: Suy nghĩ về mức độ quan trọng của việc giải quyết vấn đề hút thuốc lá của người được khảo sát
Hình 4.13: Cảm nhận của người được khảo sát về tác hại của việc hít phải khói thuốc lá do người khác thải ra
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Thống kê về ý định bỏ hút thuốc
Bảng 4.2: các biện pháp giảm hút thuốc lá
Bảng 4.3: Mô tả mẫu dữ liệu đối với các biến định lượng
Bảng 4.4: Thống kê lượng tiêu thụ thuốc lá khi giá thuốc tăng
Bảng 4.5 Mô tả các hiện hiện trạng hút thuốc của thanh niên
Bảng 4.6: Đề xuất đối tượng chịu trách nhiệm đối với xã hội có liên quan đến tác hại của thuốc lá
Trang 8DANH MỤC PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Phiếu phỏng vấn
Phụ lục 2: Thông tin của người được khảo sát
Phụ lục 3: Hiện trạng hút thuốc của nam thanh niên Thành phố Sóc Trăng hiện nay
Phụ lục 4: Ảnh hưởng của thuốc lá đến sức khỏe và cộng đồng
Trang 9TÓM TẮT
Thuốc lá là một loại cây có độc, nhất là những lá già, có chứa hàm lượng Nicotin cao( Nicotin là tên gọi được đặt theo tên của một nhà ngoại giao người Pháp Nicot( 1530 – 1600), người đầu tiên nhập thuốc lá vào Pháp Nicotin được sử dụng
ở liều thấp tạo ra sự sản khoái, nhẹ nhàng, làm diệu cơn đói và giảm bớt mệt mỏi Tuy nhiên, nếu dùng liều cao( người lớn khoảng 15 – 20gam thuốc lá dưới dạng sắc lấy nước uống hoặc trẻ em chỉ cần uống một vài gam) sẽ gây tử vong Do đó, Thuốc
lá là một trong những loại sản phẩm có độc, gây hại cho sức khỏe của con người mà trực tiếp là những người hút thuốc lá
Nhưng tại sao có nhiều người hút thuốc lá? Qua nghiên cứu cho thấy: "chỉ cần vài giây sau khi rít một hơi thuốc lá vào phổi, người hút sẽ cảm nhận được những kích thích của chất Nicotin lên hệ thần kinh trung ương và lên toàn cơ thể nhất là ở não, cho nên khi hút thuốc lá, người hút có thể thấy trí óc sáng suốt và làm việc có hiệu quả trong những lúc căng thẳng, lo âu, thuốc lá có thể làm cho người hút cảm thấy thư giản và bình tỉnh hơn, tự tin hơn, bớt lo âu và có sức để làm việc nhiều hơn Tuy nhiên, trên thực tế nếu hút càng nhiều, cơ thể bị kích thích tiết chất nội tiết tố liên tục cho đến khi các chất này cạn kiệt, lúc ấy thay vì có cảm giác sản khoái, người bệnh cảm thấy mệt mỏi, khó tập trung tư tưởng, cáo gắt và suy sụp tinh thần mau chóng Tiếc rằng phần lớn những người nghiện thuốc lá không ý thức được vấn đề này, khi họ hút mà không thấy sản khoái thì tăng liều và trở nên nghiện nặng hơn và phải gánh chịu hậu quả càng lớn" Hút thuốc ngày càng có sự lan tỏa trong cộng đồng, Thanh niên mới lớn hút thuốc lá do bắt chước người lớn, muốn thể hiện trước mọi người là mình không còn trẻ con nữa; trong gia đình nếu cha mẹ nghiện hút thì con cũng dể bị nghiện theo; sống học tập và làm việc trong môi trường nhiều người nghiện thuốc lá thì cũng rất dễ bị nghiện theo Cuối cùng vấn đề quảng cáo của các hãng sản xuất thuốc lá cũng góp phần tác động đến việc nghiện hút thuốc lá của nhiều thế hệ
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiện trạng tiêu dùng thuốc lá, kiến thức, thái độ và nhận thức về rủi ro đến sức khỏe của thanh niên tại thành phố
Trang 10Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng
Kết quả khảo sát cho thấy một tỷ lệ lớn nam thanh niên đang hút thuốc lá (trên 47% so mẫu khảo sát) và bằng phương pháp thống kê mô tả cho thấy rằng: về nhận thức, thái độ của người tiêu dùng có ảnh hưởng nhiều đến xu hướng hút thuốc của người hút thuốc; tiêu chuẩn chủ quan của thanh niên về việc hút thuốc có sự ảnh hưởng khá rõ đến xu hướng, giá cả, hành vi của người hút thuốc, ảnh hưởng đến kinh tế, môi trường và tác hại đến sức khoẻ con người Trên cơ sở đó đề ra giải pháp góp phần phòng chống tác hại của thuốc lá mang lại hiệu quả
Trang 11CHƯƠNG I: PHẦN GIỚI THIỆU
1.1 Bối cảnh nghiên cứu
Hút thuốc là sự thiêu đốt không hoàn toàn các sợi thuốc lá trải qua hai hình thức: hình thức hút thuốc lá chủ động, xảy ra khi người nghiện hít khói thuốc lá vào
cơ thể mình; hình thức hút thuốc lá thụ động là những người có mặt xung quanh phải hít lượng khói thừa mà người hút thải ra Khói thuốc và ảnh hưởng của nó là một vấn
đề lớn đối với sức khỏe cộng đồng, là nguyên nhân của một số lượng lớn các loại bệnh có thể được ngăn ngừa trước Hiện nay, hành vi hút thuốc của thanh niên vẫn diễn ra khá phổ biến trong xã hội, kể cả những người đang hành nghề y và tầng lớp trí thức, mặc dù đã có nhiều chính sách kiểm soát, ngăn ngừa, chiến dịch chống hút thuốc lá tại các nơi công cộng, cơ quan làm việc
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới năm 2012 chỉ ra rằng thuốc lá là loại thuốc hợp pháp duy nhất có thể giết nhiều người sử dụng nó nhất; trực tiếp hút thuốc
lá là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến khoảng 5 triệu ca tử vong trên toàn thế giới mỗi năm (một ca tử vong/ 6 giây) và thêm 6.000 người được ước tính chết vì những ảnh hưởng của khói thuốc lá Hút thuốc lá là nguy cơ sức khỏe lớn nhất có thể tránh được
ở châu Âu, gây ra nhiều vấn đề hơn rượu, ma túy, và huyết áp cao Ủy ban châu Âu cho biết mỗi năm, 695.000 người châu Âu chết sớm với các nguyên nhân liên quan đến thuốc lá Báo cáo năm 2012 của Trung tâm Kiểm soát và Phòng bệnh (CDCP) cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong hàng tuần do sử dụng thuốc lá ở Hoa Kỳ là cao nhất, với gần 443.000 trường hợp tử vong xảy ra do hút thuốc lá và hít phải khói thuốc Kết quả ước lượng cho thấy rằng vào năm 2020, có bảy trên mười người sẽ bị chết bởi các bệnh liênquan đến thuốc lá ở nước đang phát triển
Các nghiên cứu gần đây nhất cho thấy rằng, về độ tuổi hút thuốc lá, gần 90% người hút thuốc trưởng thành bắt đầu hút thuốc ở tuổi 18
Ở Việt Nam hiện nay, thuốc lá được sử dụng chủ yếu dưới dạng thuốc điếu với hàng chục nhãn hiệu khác nhau Rất nhiều báo cáo và khuyến cáo của y học cho thấy bên cạnh chất nicotine (là một chất có tác dụng kích thích như café, cocain), khói thuốc còn thải ra nhiều chất độc khác làm tăng khả năng gây ra nhiều loại bệnh, đặc
Trang 12biệt là các bệnh đường hô hấp, răng miệng, ung thư phổi, tim mạch
Theo số liệu thống kê, Việt Nam nằm trong nhóm 15 nước có số lượng người
sử dụng thuốc lá cao nhất trên thế giới, hiện người hút thuốc lá chiếm khoảng 23% dân số, tương đương với hơn 15 triệu người Tính theo tỷ lệ dân số, có 50% nam giới
và 3,4% nữ giới hút thuốc lá Nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời, 10% dân số Việt Nam chết sớm do hút thuốc lá Cũng theo WHO, đến năm 2020 số người Việt Nam chết do sử dụng thuốc lá sẽ nhiều hơn chết do HIV/AIDS, lao, tai nạn giao thông và tự tử cộng lại Riêng tỉnh Sóc Trăng, thực trạng về hút thuốc lá: Nam 38%,
Nữ 0,5% và hút thuốc thụ động 61,5% (Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Sóc Trăng)
Nhằm tăng cường tính hiệu lực và hiệu quả của các chính sách an sinh xã hội,
cơ quan quản lý nhà nước lĩnh vực Y tế cần đưa ra những can thiệp đúng đối với hành
vi hút thuốc, giúp ngăn ngừa, hạn chế hành vi hút thuốc, làm giảm những rủi ro mắc phải các loại bệnh do khói thuốc gây ra đối với người dân Để làm được điều này, những thông tin cập nhật về hiện trạng, những yếu tố có thể làm gia tăng hoặc giảm bớt hành vi hút thuốc và những yếu tố nào có thể ảnh hưởng đến sự khởi đầu hành vi hút thuốc của thanh niên cũng rất hữu ích cho việc đề xuất những chính sách và giải pháp nhằm hạn chế hành vi hút thuốc lá
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm nghiên cứu hiện trạng hút thuốc, kiến thức, thái
độ và nhận thức về rủi ro đến sức khỏe của đối tượng thanh niên Từ đó, đề tài đưa
ra một số khuyến nghị giúp cơ quan quản lý nhà nước lĩnh vực Y tế ban hành các chính sách can thiệp phù hợp, nhằm ngăn ngừa, hạn chế hành vi hút thuốc, làm giảm những rủi ro mắc phải các loại bệnh do khói thuốc gây ra Qua đó, góp phần tác động giảm nhu cầu sử dụng và kiểm soát để từng bước giảm cung cấp các sản phẩm thuốc lá tại thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng và tại thị trường Việt Nam nói chung, giảm nguy cơ bệnh tật và tử vong do thuốc lá gây ra
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Thông qua việc tìm hiểu hiện trạng hút thuốc của thanh niên, mức độ hiểu
Trang 13biết, thái độ và nhận thức về ảnh hưởng của thuốc lá đối với sức khỏe, câu hỏi nghiên cứu cụ thể của đề tài là:
Thanh niên trên địa bàn thành phố Sóc Trăng có thái độ và nhận thức về tác hại của thuốc lá như thế nào?
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi hút thuốc của thanh niên trên địa bàn thành phố Sóc Trăng?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hiện trạng tiêu dùng thuốc lá, kiến thức, thái độ, hành vi và nhận thức về rủi ro đến sức khỏe của thanh niên tại thành phố Sóc Trăng
Phạm vi nghiên cứu: do hạn chế về năng lực tài chính, phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ thực hiện khảo sát đối với nam thanh niên trên địa bàn gồm 5 đơn vị hành chính: 3 phường trung tâm thành phố( phường 1, phường 2, phường 6) và 2 phường khu vực vùng ven nông thôn có đông đồng bào Khơme( phường 5 và phường 10), thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng
Thời gian thực hiện từ tháng 10 năm 2015 đến tháng 04 năm 2016
1.5 Cấu trúc của Luận văn
Đề tài nghiên cứu được thực hiện và báo cáo trong bản luận văn này với cấu trúc như sau:
Chương I Giới thiệu đề tài
Trong chương này bao gồm giới thiệu về bối cảnh nghiên cứu; trình bày câu hỏi nghiên cứu; mục tiêu nghiên cứu; xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu, đồng thời nêu cấu trúc nghiên cứu của luận văn
Chương II Cơ sở lý thuyết
Nội dung trình bày cơ sở lý thuyết làm nền tảng để thực hiện nghiên cứu Cụ thể là Lý thuyết hành vi vấn đề; Lý thuyết về hành vi dự định Đồng thời nêu lên một số khái niệm, quy định liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi và nhận thức
về rủi ro đến sức khỏe của việc tiêu dùng thuốc lá Khảo lược một số nghiên cứu có liên quan và chính sách, biện pháp của Nhà nước và chính quyền địa phương tại địa
Trang 14bàn nghiên cứu trong việc thực hiện Chính sách quốc gia về phòng, chống tác hại của thuốc lá
Chương III Phương pháp thực hiện nghiên cứu
Nêu rõ phương pháp, mô hình nghiên cứu, xác định mẫu nghiên cứu; việc xây dựng thang đo, bảng câu hỏi và cách thức thực hiện phỏng vấn thu thập xử lý thông tin và nguồn thông tin
Chương IV Kết quả nghiên cứu
Nội dung trình bày các kết quả nghiên cứu liên quan đến hiện trạng tiêu dùng thuốc lá, kiến thức, thái độ, hành vi và nhận thức về rủi ro đến sức khỏe Thông qua những kết quả nghiên cứu này sẽ trả lời câu hỏi “những yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi hút thuốc của thanh niên trên địa bàn Thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng”
Chương V Kết luận và kiến nghị
Với kết quả phân tích ở chương IV sẽ đưa ra kết luận và gợi ý chính sách giúp cơ quan quản lý nhà nước lĩnh vực Y tế ban hành các chính sách can thiệp phù hợp, nhằm ngăn ngừa, hạn chế hành vi hút thuốc, làm giảm những rủi ro mắc phải các loại bệnh do khói thuốc gây ra Đồng thời nêu lên những hạn chế trong nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 15CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương I đã khái quát mục tiêu nghiên cứu, đó là những yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi hút thuốc và nếu như có nhận thức đầy đủ những rủi ro có thể xảy khi tiêu dùng thuốc lá thì thái độ, nhận thức, hành vi và mức độ hút thuốc lá của nam thanh niên sẽ như thế nào?
Nội dung Chương II trình bày các lý thuyết liên quan đến nhận thức, thái độ, hành vi làm cơ sở đánh giá, giải thích việc hình thành nên nhận thức, thái độ, hành
vi của người tiêu dùng Đồng thời trình bày các khái niệm có liên quan đến việc hút thuốc lá, các nghiên cứu trước đây có liên quan và các chính sách, biện pháp của Nhà nước và chính quyền địa phương trong việc thực hiện Chính sách quốc gia về phòng, chống tác hại của thuốc lá
2.1 Lý thuyết liên quan
2.1.1 Lý thuyết hành vi vấn đề
Các lý thuyết về hành động lý luận cho rằng ý định (động lực) để thực hiện một hành vi nhất định phụ thuộc vào việc cá nhân đánh giá các hành vi như tích cực (thái độ) và nếu họ phán xét người khác như họ muốn thực hiện hành vi (tiêu chuẩn chủ quan) Lý thuyết hành vi vấn đề, xây dựng dựa trên lý thuyết này và cho rằng tất cả các hành vi không được thực hiện dưới sự kiểm soát có mục đích và hành vi
có thể được thực hiện trên một sự liên tục từ tổng kiểm soát để hoàn thành thiếu kiểm soát Cả hai yếu tố nội bộ (kỹ năng nhận thức, kiến thức, cảm xúc) và các yếu
tố bên ngoài (tình huống hoặc môi trường) xác định mức độ kiểm soát
Lý thuyết này phân tích những vấn đề liên quan đến hành vi và từng hành vi
có vấn đề Hành vi hút thuốc lá khi đã có kiến thức, thái độ và nhận thức về rủi ro đến sức khỏe của bản thân và của cộng đồng xã hội đều coi như hành vi có vấn đề 2.1.2 Lý thuyết về hành vi dự định
Lý thuyết về hành vi dự định, xây dựng bằng cách bổ sung thêm yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi vào mô hình của lý thuyết hành động hợp lý bị giới hạn khi
dự đoán việc thực hiện các hành vi của người tiêu dùng mà họ không thể kiểm soát
Trang 16được; yếu tố về thái độ đối với hành vi và tiêu chuẩn chủ quan không đủ để giải thích cho hành động của người tiêu dùng
Lý thuyết về hành vi dự định nhấn mạnh rằng, hành vi của con người bị chi phối không chỉ bởi thái độ cá nhân, mà còn bởi các áp lực xã hội và nhận thức kiểm soát hành vi Mô hình này, khi kết hợp với một vài thay đổi, có thể tạo ra một số dự đoán đáng chú ý Ví dụ, cá nhân có nhiều khả năng để thực hiện chứ không phải bỏ
ý định của họ
Bên cạnh đó, lý thuyết này cho rằng tất cả các hành vi không được thực hiện bởi quyền kiểm soát có mục đích và rằng mọi hành vi có thể thực hiện liên tục theo kiểm soát dễ trở thành sự thiếu kiểm soát Cả những yếu tố bên trong (kỹ năng nhận thức, kiến thức, cảm xúc) và những yếu tố bên ngoài (xử lý tình huống hoặc môi trường) sẽ được áp dụng nhằm xác định mức độ kiểm soát Thành phần nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi; điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi
2.2 Một số khái niệm, quy định và thông tin liên quan
2.2.1 Khái niệm nhận thức, thái độ và hành vi
2.2.1.1 Nhận thức
Có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về nhận thức, như:
- Nhận thức: (1) danh từ: nhận thức là quá trình và kết quả phản ánh, tái hiện hiện thực vào trong tư duy, quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó (2) động từ: nhận ra và biết được (Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông, Viện ngôn ngữ học, NXB Phương Đông)
- Nhận thức: nhờ hoạt động nhận thức mà con người phản ánh hiện thực xung quanh ta và các hiện thực của bản thân ta, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ tình cảm và hành động Trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới mức
độ nhận thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp (Giáo trình Tâm
lý học đại cương, NXB Đại học Sư phạm)
2.2.1.2 Thái độ
Thái độ (danh từ): (1) là tổng thể chung những biểu hiện ra bên ngoài (bằng
Trang 17nét mặt, cử chỉ, hành động, lời nói) của ý nghĩ, tình cảm của con người đối với người hoặc việc (2) là cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào
đó trước một vấn đề, một tình hình (Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông, Viện ngôn ngữ học, NXB Phương Đông)
từ toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu thuốc lá, được chế biến dưới dạng thuốc lá điếu, xì gà, thuốc lá sợi, thuốc lào hoặc các dạng khác
2.2.2.2 Sử dụng thuốc lá
Sử dụng thuốc lá là hành vi hút, nhai, ngửi, hít, ngậm sản phẩm thuốc lá (Theo quy định tại Điểm 2 Điều 2 Luật số 09/2012/QH13 ngày 18/6/2012 của Quốc hội về Phòng, Chống tác hại của thuốc lá)
2.2.3 Tác hại của thuốc lá
Trên toàn thế giới, mỗi năm thuốc lá gây thiệt hại khoảng 500 tỷ USD Hút thuốc lá không chỉ gây tổn hại sức khỏe mà còn tổn thất kinh tế đối với các cá nhân, gia đình, xã hội và làm tăng gánh nặng kinh tế quốc gia Thuốc lá độc hại còn gây ra chi phí khổng lồ chăm sóc y tế cùng với tổn thất do giảm hoặc mất khả năng lao động sản xuất, còn gây nên hỏa hoạn và tổn hại, gây ô nhiểm môi trường
Trang 182.2.3.1 Tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người:
Từ những tài liệu nghiên cứu về tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người cho thấy: " khi hút thuốc lá, hoặc sống chung với người hút thuốc lá, khói thuốc hít qua phổi ngấm vào máu, tích lũy lâu ngày trở thành điều kiện và nguyên nhân gây ra các bệnh tim mạch, viêm nhiểm đường hô hấp, gây tổn thương trong lòng mạch máu Vì vậy người hút thuốc lá dể bị các bệnh như: rụng tóc, đục thủy tinh thể, da nhăn, giảm thính lực, sâu răng, ung thư da, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, loãng xương, bệnh tim mạch vàng móng tay, ung thư cổ tử cung, tinh trùng biến dạng, bệnh vảy nến, viêm tắc mạch máu, ung thư phổi và các cơ quan khác: mũi, miệng, lưỡi, tuyến nước bọt, họng, thanh quản, thực quản, thận, dương vật Ngoài ra hút thuốc lá còn làm giảm số lượng tinh trùng, dể dẫn đến vô sinh ở nam giới; tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung, rối loạn kinh nguyệt, ung thư vú ở phụ nữ; dễ bị còi xương, trí tuệ chậm phát triển, suy dinh dưỡng ở trẻ em"
Hút thuốc lá có hại cho sức khỏe Tuy nhiên, tỷ lệ người hút thuốc lá đang có
xu hướng tăng dần, đặc biệt ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Ở nước ta, "mỗi năm có khoảng 40.000 người tử vong vì các bệnh có liên quan đến thuốc lá và khoảng 33 triệu người không hút thuốc bị ảnh hưởng do hít khói thuốc thụ động"
2.2.3.2 Tác hại của thuốc lá đối với môi trường và sự phát triển kinh tế - xã hội:
Sự phát triển kinh tế - xã hội: "Việc hút thuốc cũng ảnh hưởng đến kinh tế quốc gia, môi trường Đất canh tác dùng cho sản xuất các loại cây lương thực bị thu hẹp lại, nhường chổ để trồng cây thuốc lá vì có lợi nhuận cao hơn Một lượng giấy khổng lồ phục vụ cho việc vấn các điếu thuốc lá và các loại bao bì Rác do thuốc lá cũng ảnh hưởng xấu đến môi trường sống Chi phí chăm sóc y tế cho những người dân hút thuốc lá và việc giảm ngày công lao động của họ là những tổn thất rất lớn cho một quốc gia có nhiều người nghiện thuốc lá" Theo báo cáo của ngân hàng thế giới, tại các nước phát triển, chi phí chăm sóc sức khỏe do thuốc lá ước tính chiếm 6 – 15% tổng chi phí chăm sóc sức khỏe hàng năm; mức tổn thất kinh tế do thuốc lá được tính mỗi năm tại Mỹ là 184,5 tỷ USD, Đức 24,4 tỷ USD, Pháp 16,4 tỷ USD,
Trang 19Autralia 14,2 tỷ USD Ngoài ra thuốc lá còn có nguy cơ gây ra những vụ hoả hoạn
dữ dội và những vụ cháy rừng tàn phá tài nguyên quốc gia(Lê Hùng, 2000) Mỗi năm trên thế giới có khoảng 1,1 triệu vụ cháy do thuốc lá gây ra, trong đó có khoảng 17.300 ca tử vong, khoảng 60.000 ca thương tích và tổn thất về tài sản khoảng 27 tỷ USD (Như Loan)
Ảnh hưởng kinh tế gia đình: " Người hút thuốc lá sẽ tiêu phí một khoảng tiền khá lớn để mua thuốc lá, làm ảnh hưởng đến thu nhập của gia đình, đặc biệt ở những gia đình kinh tế khó khăn Hút thuốc lá chắc chắn sẽ gây ra những bệnh tật nguy hiểm như đã trình bày phần trên, chi phí để chăm sóc y tế cho chính bản thân người hút và người bị hút thuốc lá thụ động trong gia đình là rất lớn, có gia đình không thể chịu đựng nổi (chưa nói đến những bệnh nan y như ung thư, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính…)"
2.3 Các nghiên cứu liên quan
Theo Von Ah và cộng sự (2005), các yếu tố cá nhân, nhận thức và các nguồn lực đối phó có thể đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến việc sinh viên đại học có xu hướng bắt đầu sử dụng thuốc lá và sau đó tiếp tục sử dụng nữa
Nghiên cứu của Nichter và cộng sự (2010) chỉ ra rằng những năm học đại học là khoảng thời gian mà nguy cơ bắt đầu hút thuốc gia tăng và việc hút thuốc trở nên thường xuyên hơn, mặc dù họ không phải là những người hút hàng ngày Hầu hết là họ hút thuốc trong giao tiếp xã hội
Theo kết quả nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến việc hút thuốc lá giữa phụ nữ mang thai ở nông thôn và thành thị của Whitney (2011), người không hút thuốc lá có kiến thức về các tác hại của việc hút thuốc tốt hơn so với người hút thuốc lá, người hút thuốc cảm thấy rằng có ít lợi ích để bỏ hút thuốc hơn người không hút thuốc, nhiều người hút thuốc lá đánh giá thấp hoặc phủ nhận các nguy cơ sức khỏe nghiêm trọng liên quan hút thuốc, hỗ trợ xã hội hoặc các mối quan hệ thân mật trong gia đình sẽ giúp hỗ trợ phụ nữ mang thai bỏ hút thuốc trong thời gian thai
kỳ hiệu quả hơn
Nghiên cứu của Nguyễn Út - Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe
Trang 20Thành phố Đà Nẵng (2011) về thực trạng hút thuốc lá và việc thực hiện chính sách phòng chống tác hại thuốc lá trên địa bàn thành phố Đà Nẵng cho rằng, trình độ học vấn càng cao thì tỷ lệ hút càng thấp, chính sách về quy định việc in lời cảnh báo tác hại thuốc lá trên bao bì sản phẩm được cho là sẽ làm giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, chính sách chống buôn lậu thuốc lá và cấm nhập khẩu thuốc lá có tác động làm giảm việc cung cấp thuốc lá
Nghiên cứu về các yếu tố nhân khẩu học liên quan đến việc hút thuốc trong cộng đồng sinh viên tại một trường đại học ở Thổ Nhĩ Kỳ của Erkan và cộng sự (2013) cho thấy những yếu tố có ảnh hưởng đáng kể là giới tính, khu vực địa lý, nơi
cư trú của cha mẹ, nghề nghiệp của cha, các thành viên gia đình, tình trạng nghề nghiệp và sự hài lòng nói chung về nơi cư trú hiện tại
Thực trạng hút thuốc lá của thanh thiếu niên Việt Nam và các yếu tố tác động, được Trần Thị Hồng thực hiện năm 2011 Theo nghiên cứu, " hút thuốc lá có khả năng gây nguy hại đến tình trạng sức khỏe và gây tổn hại về kinh tế – xã hội, nhất là khi đối tượng hút là thanh thiếu niên – lực lượng dân số trẻ của đất nước Dựa trên
số liệu hai cuộc điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam năm
2003 và 2009 Bài viết nhận diện thực trạng hành vi hút thuốc lá của thanh thiếu niên Việt Nam ở độ tuổi 14 – 25 trong khoảng thời gian từ 2003 đến 2009 Kết quả cho thấy, mặc dù hiện tượng thanh thiếu niên hút thuốc lá đã giảm, song ở một số nhóm như thanh thiếu niên độ tuổi 14 – 17, nhóm nữ và dân tộc thiểu số lại có xu hướng gia tăng Kết quả phân tích cho thấy các yếu tố làm tăng nguy cơ hút thuốc ở nam thanh thiếu niên bao gồm: Sinh sống ở khu vực thành thị, có bạn rủ rê ép buộc hút thuốc và có bạn thân hút thuốc Các yếu tố có ý nghĩa bảo vệ, làm giảm nguy cơ hút thuốc của nam thanh thiếu niên là việc đi học, gia đình có mức sống khá giả"
2.4 Các chính sách và biện pháp phòng, chống tác hại của thuốc lá ở Việt Nam
và của chính quyền địa phương tại địa bàn nghiên cứu
2.4.1 Chính sách của Chính phủ Việt Nam
Theo Điều 4 Luật số 09/2012/QH13 ngày 18/6/2012 của Quốc hội về Phòng, Chống tác hại của thuốc lá, chính sách của Nhà nước về phòng, chống tác hại của
Trang 21thuốc lá được khái quát như sau:
- Xã hội hóa các nguồn lực để thực hiện công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá
- Áp dụng chính sách thuế phù hợp để giảm tỷ lệ sử dụng thuốc lá
- Quy hoạch kinh doanh thuốc lá phải phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế
- xã hội và từng bước giảm nguồn cung cấp thuốc lá, phù hợp với việc giảm nhu cầu
sử dụng thuốc lá
- Khuyến khích, tạo điều kiện cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài tham gia cung cấp dịch vụ tư vấn, cai nghiện thuốc lá; nghiên cứu về tác hại của thuốc lá, các phương pháp cai nghiện thuốc lá; nghiên cứu và sản xuất thuốc cai nghiện thuốc lá; hợp tác, tài trợ cho phòng, chống tác hại của thuốc lá; người sử dụng thuốc lá tự nguyện cai nghiện thuốc lá
- Khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân trồng cây thuốc lá, sản xuất thuốc lá, chế biến nguyên liệu thuốc lá chuyển đổi ngành, nghề
- Khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong phòng, chống tác hại của thuốc lá
2.4.2 Chính sách và biện pháp của chính quyền địa phương tỉnh Sóc Trăng
Theo Điều 6 Luật số 09/2012/QH13 ngày 18/6/2012 của Quốc hội về Phòng, Chống tác hại của thuốc lá, trong phòng, chống tác hại của thuốc lá, chính quyền địa phương có trách nhiệm như sau:
- Đưa nội dung phòng, chống tác hại của thuốc lá vào kế hoạch hoạt động hằng năm, quy định không hút thuốc lá tại nơi làm việc vào quy chế nội bộ
- Đưa quy định về việc hạn chế hoặc không hút thuốc lá trong các đám cưới, đám tang, lễ hội trên địa bàn dân cư vào hương ước
- Gương mẫu thực hiện và vận động cơ quan, tổ chức, địa phương thực hiện các quy định của pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá
Luật số 09/2012/QH13 ngày 18/6/2012 của Quốc hội về Phòng, Chống tác hại của thuốc lá có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2013 Đến ngày 02/10/2013, UBND tỉnh Sóc Trăng đã tổ chức hội nghị triển khai Luật Phòng chống tác hại của
Trang 22thuốc lá, với sự tham gia của các đại biểu là lãnh đạo ngành Y tế, Tư pháp, lãnh đạo các huyện, thị, thành trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng Trong đó quy định các biện pháp giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá, biện pháp kiểm soát người cung cấp thuốc lá và điều kiện bảo đảm để phòng chống tác hại của thuốc lá
UBND tỉnh Sóc Trăng đã có văn bản chỉ đạo thủ trưởng các sở, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị, thành phố tăng cường các hoạt động phòng chống tác hại của thuốc lá; thực hiện tốt công tác giáo dục sức khỏe, vận động cán bộ, công chức, viên chức, hội viên các tổ chức đoàn thể - nhất là cán bộ lãnh đạo - phải là người gương mẫu không hút thuốc lá
Bên cạnh đó, Tỉnh còn chỉ đạo Sở Y tế phối hợp với các ngành thường xuyên
tổ chức các hoạt động như: Hội nghị, hội thảo, diễu hành, treo băng rôn, khẩu hiệu hưởng ứng Tuần lễ Quốc gia không thuốc lá; vận động nhân dân trong tổ chức đám cưới, đám tang và lễ hội không thuốc lá (Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Sóc Trăng)
2.5 Tóm tắt chương II
Có nhiều lý thuyết và mô hình nghiên cứu đã giải thích những yếu tố hình thành nên kiến thức, thái độ, nhận thức về rủi ro đến sức khỏe và hành vi hút thuốc
lá Tuy nhiên, tùy theo từng đặc điểm môi trường, nội dung và mục tiêu nghiên cứu
mà xây dựng các thang đo và sử dụng các công cụ khác nhau để phân tích, giải thích nhận thức, thái độ, hành vi hút thuốc lá
Chương này cũng đã trình bày một số khái niệm có liên quan đến hút thuốc
lá và tác hại của hút thuốc lá, đồng thời trình bày thực trạng về chính sách và biện pháp phòng, chống tác hại của thuốc lá ở Việt Nam và chính quyền địa phương
Trang 23CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương II đã trình bày cơ sở lý thuyết và các mô hình nghiên cứu trước đây Đồng thời trình bày các khái niệm có liên quan đến hút thuốc lá, tác hại của hút thuốc lá và các chính sách và biện pháp phòng, chống tác hại của thuốc lá ở Việt Nam và chính quyền địa phương Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu, bảng câu hỏi phỏng vấn và cách thức xử lý các nguồn dữ liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu
3.1 Các bước nghiên cứu
Nghiên cứu này được tiến hành thông qua hai bước
3.1.1 Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định tính áp dụng trong đề tài này là nghiên cứu tại bàn, đó là thực hiện khai thác các thông tin, nguồn dữ liệu thứ cấp trên các báo cáo nghiên cứu trước đây, các bài đăng trên báo, website, cổng thông tin điện tử, các văn bản quy định pháp luật, báo cáo của các cơ quan chuyên môn nhằm khái quát về hiện trạng tiêu dùng thuốc lá và các chính sách của chính quyền trong thực hiện chính sách quốc gia về phòng, chống tác hại của thuốc lá Đồng thời làm cơ sở hiệu chỉnh, hoàn thiện bảng câu hỏi khảo sát được xây dựng dựa theo các thông tin có sẵn từ những nghiên cứu trước đây và có điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm văn hoá của người Việt Nam và địa phương thành phố Sóc trăng, tỉnh Sóc Trăng
3.1.2 Nghiên cứu định lượng
Bảng câu hỏi sau được xây dựng trích lọc từ các bảng phỏng vấn tiêu chuẩn của WHO và thực hiện phỏng vấn thử trên 13 người đã được tác giả hiệu chỉnh, hoàn thiện nhằm thể hiện rõ những nội dung cần phỏng vấn, tránh hiểu nhầm, đa nghĩa Bảng câu hỏi sau khi hoàn chỉnh sẽ được dùng cho việc phỏng vấn chính thức của đề tài (xem Phụ lục 1)
Nghiên cứu chính thức được thực hiện thông qua phương pháp định lượng, thu thập thông tin qua thực hiện phỏng vấn dựa trên bảng câu hỏi đã phát triển
Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi hút thuốc lá của nam thanh niên được
Trang 24quan tâm liên quan đến kiến thức, thái độ, nhận thức là:
- Đặc điểm nhân chủng học, kinh tế xã hội của nam thanh niên: Tìm hiểu nơi
cư trú, dân tộc, độ tuổi, nghề nghiệp, thu nhập, trình độ, tôn giáo có sự khác biệt về tần suất hút và số lượng hút
- Kiến thức và nhận thức về tác hại của thuốc lá là điều kiện để đối tượng nam thanh niên có hành vi hút, hạn chế hút hoặc không hút thuốc lá, do đã nhận thức được những ảnh hưởng từ tác hại của thuốc lá
- Hành vi hút thuốc của người thân trong gia đình và bạn bè tác động đến hành vi hút thuốc lá của cá nhân ra sao
- Các chính sách về truyền thông cảnh báo tác hại của thuốc lá (trên truyền hình, đài phát thanh, báo, tạp chí, tờ rơi,… ) nhằm vận động người dân hạn chế, bỏ
và tiến tới không hút thuốc lá
- Môi trường sống, làm việc hình thành nên thói quen hút thuốc lá, từ đó ảnh hưởng đến lượng hút của từng cá nhân
- Cuối cùng là các biện pháp, chính sách của nhà nước sẽ thúc đẩy việc hạn chế hút thuốc lá như: Chính sách hạn chế quảng cáo thuốc lá; không hút thuốc lá nơi công cộng, công sở;…
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Phân tích bằng phương pháp thống kê mô tả
3.3 Xác định mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên (chọn mẫu không thuận tiện) Đó là nam thanh niên (từ16 tuổi đến 30 tuổi) đang sinh sống, học tập và làm việc tại 3 phường trung tâm và 2 phường vùng ven trên địa bàn thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng Nếu người phỏng vấn không đồng ý tham gia cung cấp thông tin nghiên cứu thì chuyển sang đối tượng khác Dự kiến số mẫu phỏng vấn ban đầu là 200 mẫu bao gồm: tại 3 phường trung tâm thành phố Sóc Trăng và 2 phường vùng ven có đông đồng bào dân tộc Khơme, mỗi cấp đơn vị hành chính thu thập 40 mẫu Thực tế mẫu nghiên cứu được thu thập ở khu vực thành thị và nông thôn của thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng với số lượng 207 người, cụ thể:
Trang 25- Có 47 mẫu tại phường 10 Thành phố Sóc Trăng là đơn vị tác giả đang công tác nên trực tiếp phỏng vấn cùng nhân viên thống kê phường đội Còn lại 160 mẫu tại 4 đơn vị hành chính, mỗi đơn vị hành chính thu thập 40 mẫu, gồm: phường 1, phường 2, phường 5 và phường 6 Thành phố Sóc Trăng; phỏng vấn trực tiếp của nhân viên thống kê các phường đội cùng sự hỗ trợ của nhân viên thuộc Chi Cục Thống kê thành phố thực hiện song song với cuộc khảo sát phúc tra thanh niên trong độ tuổi, phục vụ công tác tuyển chọn gọi công dân nhập ngũ 2016 và phúc tra lực lượng dân quân trên địa bàn Thành phố Sóc Trăng
- Thời gian thực hiện khảo sát và tổng hợp từ 15/10/2015 đến 30/12/2015
3.4 Tóm tắt chương III
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Mỗi phương pháp thu thập và phân tích số liệu đều có ưu nhược điểm của nó và thích hợp cho những trường hợp cụ thể, không có phương pháp nào chính xác hoàn toàn Tuy nhiên việc vận dụng phương pháp nào cũng phải đảm bảo chất lượng và độ tin cậy của nghiên cứu (sig ≤ 0,05)
Đề tài áp dụng phương pháp lấy mẫu không thuận tiện trên cả hai khu vực thành thị, nông thôn và trên nhiều đối tượng nam thanh niên khác nhau Bảng câu hỏi được xây dựng dựa theo các bảng câu hỏi của tổ chức WHO có thông qua khảo sát định tính, thu thập ý kiến để chỉnh sửa và tiến hành phỏng vấn thử trước khi phỏng vấn chính thức
Trang 26CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nội dung các chương I, II, III đã tập trung mô tả tổng quan về báo cáo, cụ thể về mục tiêu, phương pháp nghiên cứu của đề tài và hệ thống các cách thức tiếp cận dữ liệu đảm bảo phục vụ cho nghiên cứu đề tài
Trọng tâm của chương này nhằm phân tích hiện trạng hút thuốc của thanh niên trong mẫu nghiên cứu hiện nay trên địa bàn nghiên cứu, tập trung phân tích theo phương pháp thống kê mô tả Qua đó, đưa ra kết luận và hướng đến một số đề xuất các giải pháp cho tình trạng hút thuốc hiện nay
4.1 Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu
Đặc điểm tình hình, điều kiện tự nhiên:
Sóc Trăng là tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nằm ở cuối lưu vực sông Mê Kông, giáp các tỉnh Trà Vinh, Vĩnh Long, Hậu Giang, Bạc Liêu và biển Đông… Sóc Trăng có bờ biển tự nhiên dài 72 km, 30.000ha bãi bồi với 02 cửa sông lớn là sông Hậu và sông Mỹ Thanh; bao gồm 11 đơn vị hành chính: có 8 huyện, 2 thị xã và 1 thành phố
Thành phố Sóc Trăng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và là đầu mối giao lưu kinh tế quan trọng của tỉnh Sóc Trăng Thành phố Sóc Trăng bao gồm 10 phường với 60 khóm, Diện tích tự nhiên là 7.649ha, dân số 136.348 người, trong đó có trên 60% người kinh, người khmer chiếm 23,4% và người Hoa chiếm 16,4% cùng sinh sống; mật độ dân số 1.790 người/km2; về cơ cấu lao động: lao động nông nghiệp chiếm 11,73%; phi nông nghiệp chiếm 88,27% Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2010 – 2015 là 15,8%, cơ cấu kinh tế cuối năm
2015 là: thương mại dịch vụ 63,24%, công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp 33,32%, nông nghiệp 3,44% Kết cấu hạ tầng trong những năm qua đã được quan tâm đầu tư từng bước phục vụ cho phát triển kinh tế, đời sống nhân dân đã được cải thiện, quốc phòng và an ninh được giữ vững ổn định
4.2 Mô tả mẫu khảo sát và hiện trạng sơ bộ về bộ mẫu khảo sát
Từ phương pháp nghiên cứu, phục vụ cho việc viết báo cáo, tác giả đã tiến hành khảo sát đối tượng thanh niên trên địa bàn, với số liệu sau cùng của 207
Trang 27trường hợp trên địa bàn thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng được sử dụng để phân tích và kết quả khảo sát như sau:
4.2.1 Thông tin của người được khảo sát
Địa bàn khảo sát: khu vực trung tâm thành phố (thành thị): phường 1, phường 2, phường 6 có 120 người, chiếm tỷ lệ 58%; khu vực vùng ven ( nông thôn): phường 5, phường 10 có 87 người chiếm tỷ lệ 42% (xem hình 4.1)
Hình 4.1: Nơi sinh sống của người được khảo sát
Nguồn: Kết quả phân tích 2015, n=207 Nghề nghiệp của thanh niên: các nghề nghiệp của thanh niên trong mẫu điều tra khá phong phú, đa dạng các đối tượng, hướng đến phân tích đầy đủ nam thanh niên đã và đang hút thuốc trên địa bàn thành phố hiện nay Tuy nhiên, trong khuôn khổ của báo cáo, với quy mô khảo sát tập trung cho việc hút thuốc của giới trẻ, nghiên cứu thực trạng khởi đầu hút thuốc, tác giả tập trung cao cho tỷ lệ hút thuốc là đối tượng trẻ, trí thức, là đối tượng sinh viên, học viên hiện nay Tỷ lệ khảo sát đối tượng là sinh viên, học viên 57 người chiếm 27,5% trong mẫu khảo sát, chiếm vị trí cao thứ hai là nông dân 42 người chiếm 20,3%, thứ ba là đối tượng công nhân 33 người chiếm 15,9% và thứ tư là đang làm việc trong khu vực nhà nước 28 người chiếm 13,5%; số còn lại thuộc các nghề nghiệp khác như: giáo viên, buôn bán kinh doanh, làm thuê, các đối tượng hoạt động tự do khác (xem hình 4.2)
Trang 28Hình 4.2: Nghề nghiệp của người được khảo sát
Nguồn: Kết quả phân tích 2015, n=207 Dân tộc: phần lớn các trường hợp được khảo sát là người Kinh, phù hợp với
tỷ lệ dân tộc Kinh chiếm đa số trên địa bàn thành phố Sóc Trăng Tổng số người Kinh được khảo sát trong báo cáo 94 người chiếm 45,4%; dân tộc Khơme 79 người chiếm 38,2%; dân tộc Hoa 34 người chiếm 16,4% Xem hình 4.3
Hình 4.3 Dân tộc được khảo sát
Trình độ học vấn: tỷ lệ lớn người được khảo sát có trình độ cao đẳng đại học
74 người chiếm 35,7%; trung học phổ thông 53 người chiếm 25,6%; trung học cơ
sở 37 người chiếm 17,87%; trung cấp 43 người 20,77% (xem hình 4.4)
Trang 29Hình 4.4: Trình độ học vấn của người được khảo sát
Nguồn: Kết quả phân tích 2015, n=207 Tình trạng tham gia các đoàn thể: theo mẫu khảo sát, có 57% đối tượng hiện đang tham gia vào tổ chức đoàn thanh niên, tham gia vào tổ chức công đoàn 29% và còn lại các đối tượng tham gia vào các tổ chức hội nông dân và các tổ chức khác Xem hình 4.5
Hình 4.5: tình trạng tham gia các đoàn thể
Nguồn: Kết quả phân tích 2015, n=207 (chi tiết kết quả xem Phụ lục 2: Thông tin của người được khảo sát)
4.2.2 Hiện trạng hút thuốc của nam thanh niên TP Sóc Trăng hiện nay
Tình trạng hút thuốc: tình trạng hút thuốc được phân theo từng nhóm nam thanh niên có các hiện trạng hút thuốc khác nhau Trong đó, theo mẫu khảo sát, đa phần những người được khảo sát hiện đang hút thuốc, tỷ lệ này chiếm 41,5%, chiếm
tỷ lệ cao thứ 2 là những người không thường xuyên hút thuốc, nhưng có sử dụng
Trang 30thuốc lá vài lần 24,6% Các hiện trạng hút thuốc khác chiếm tỷ lệ không cao trong mẫu khảo sát (xem hình 4.6)
Hình 4.6: Tình trạng hút thuốc của người được khảo sát
có thử vài lần Từng hút nhưng đã bỏ
Dã bỏ nhưng hút lại
Chưa bao giờ hút thuốc
Nguồn: Kết quả phân tích 2015, n=207 Nghiên cứu về mức độ thường xuyên hút thuốc của nam thanh niên, báo cáo phân chia tần suất thành nhiều mức độ khác nhau: Từ khá nhiều lần trong ngày, nam thanh niên có sử dụng thuốc lá, cho đến các trường hợp khác là có tham gia nhưng mức độ, tần suất không cao Theo kết quả nghiên cứu, 12,5% (26 người) nam thanh niên có sử dụng thuốc lá ở mức độ cao, khá nhiều lần trong ngày, các đối tượng có tham gia và sử dụng thuốc lá, 6,7% (14 người) là các đối tượng có tham gia hút thuốc nhưng mức độ thấp hơn, tần suất tham gia ít nhất một lần/tuần Chiếm tỷ lệ cao là các nam thanh niên tham gia ở mức cường độ khá thưa trong việc hút thuốc với tần suất ít nhất một lần/ tháng chiếm tỷ lệ 54,5% (113 người) Đối với các đối tượng chỉ hút vài tháng 1 lần cũng chiếm tỷ lệ khá cao với 15,4% (32 người) Kết quả trên cho thấy, phần đông nam thanh niên tại Thành phố Sóc Trăng có mật độ hút thuốc không cao Tuy nhiên, đối với những đối tượng hút thuốc hàng ngày, mỗi ngày hút nhiều lần hiện nay với tỷ lệ trên 12% cũng có thể khẳng định, tại thành phố Sóc Trăng đang tồn tại hiện trạng hút thuốc trong thanh niên với mức độ cao (xem hình 4.7)
Trang 31Hình 4.7: Mức độ thường xuyên hút thuốc của người được khảo sát
MỨC ĐỘ THƯỜNG XUYÊN HÚT THUỐC
Nguồn: Kết quả phân tích 2015, n=207 Trong một hoàn cảnh khá phổ biến hiện nay, môi trường giao tiếp, làm việc với môi trường sống khá thân thiện tại khu vực Nam bộ, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có tỉnh Sóc Trăng, trong nguyên tắt giao tiếp, một văn hóa
đã hình thành từ lâu đời đối với người dân nơi đây là tình trạng mời thuốc lá Tác giả đã đưa các nam thanh niên đến trường hợp có bạn thân mời thuốc lá, các xử trí của người khảo sát trong trường hợp này sẽ như thế nào? Kết quả nghiên cứu cho thấy, tình trạng khó nói lời chối từ, chắc chắn chấp nhận chiếm 41,5% ( 86 người), một tỷ lệ khá cao Kết quả này kết hợp với tần suất hút thuốc trên cho thấy, khả năng chấp nhận hút thuốc của nam thanh niên tại nơi đây là khá cao, nghĩa là các đối tượng này vẫn có khả năng hút thuốc, hút thuốc được, kết hợp với môi trường văn hóa địa phương, khó từ chối khi người khác có nhã ý mời thuốc Vì vậy, có khả năng, bản thân đối tượng không hút thuốc, nhưng trong hoàn cảnh có người mời, nam thanh niên vẫn có thể hút được, nhưng trong số đó, các đối tượng có mật độ hút thường xuyên là không cao Mặt khác, một tỷ lệ lớn các nam thanh niên khẳng định
ở mức độ dè dặt hơn “có lẽ sẽ hút” cũng chiếm tỷ lệ khá cao với tỷ lệ 36,2% ( 75 người) Phần còn lại, từ chối và nhất định không chạm đến thuốc lá lần lượt chiếm 8,7% ( 18 người) và 13,6% ( 28 người) (xem hình 4.8)
Trang 32Hình 4.8: Khả năng hút khi được bạn thân mời thuốc lá của người được khảo sát
Nguồn: Kết quả phân tích 2015, n=207 Những dự định về hút thuốc của nam thanh niên trong tương lai, cụ thể là trong khoảng thời gian 12 tháng tới Kết quả khảo sát chỉ ra, có 40,2% khẳng định
là chắc chắn sẽ hút, 34,5% cho rằng có lẽ sẽ hút,… Kết quả trên trong thực tế, phối hợp với các thông tin trên cho thấy, trong thực tế, chủ định của đối tượng thực tế là không hướng đến việc hút thuốc, nhưng vẫn khẳng định sẽ có tham gia hút thuốc trong 12 tháng tới là xét trong môi trường hiện nay, các yếu tố tác động đến hút thuốc đôi khi không phải xuất phát từ chính nhu cầu của chính họ, việc hút thuốc có khả năng xuất phát từ một nhân tố bên ngoài, do môi trường giao tiếp trong công việc, hoặc trong một hoàn cảnh mà họ khó từ chối cho việc hút thuốc hiện nay (xem hình 4.9)
Hình 4.9: Dự định về khả năng hút thuốc của người được khảo sát
Nguồn: Kết quả phân tích 2015, n=207
Trang 33Để nghiên cứu sâu hơn quá trình, hiện trạng hút thuốc của nam thanh niên, bảng câu hỏi có nêu tình huống đặt người được phỏng vấn trong bối cảnh có thể sẽ không có trong môi trường giao tiếp, không có trong môi trường bị các yếu tố khác tác động đến việc hút thuốc Ngay từ buổi sáng sau khi thức dậy, thời gian từ lúc thức dậy đến lúc hút điếu thuốc đầu tiên là sau bao lâu, với mức thời gian này càng ngắn, rõ ràng, đối tượng có ý định, dự định hút thuốc ngay từ chính nội bộ bản thân, không do các yếu tố tác động khác từ bên ngoài Kết quả khảo sát cho thấy, 9,2% nam thanh niên sẽ hút thuốc trước 30 phút, 6,7% sẽ hút trước 60 phút Kết quả khá phù hợp với những đối tượng có mật độ, tần suất sử dụng thuốc cao được đề cập ở phần trên Đồng thời, gần 58,6% các đối tượng khẳng định, có thể sẽ hút sau 60 phút kể từ lúc thức dậy, trong khoảng thời gian này, sự xuất hiện của các yếu tố khác ảnh hưởng đến việc hút thuốc của thanh niên đã xuất hiện Vì vậy, phân tích việc hút thuốc trong bối cảnh này, cần phân tích đan xen, phối hợp với các điều kiện thông tin khác (chi tiết kết quả xem Phụ lục 3: Hiện trạng hút thuốc của nam thanh niên thành phố Sóc Trăng hiện nay)
4.2.3 Thái độ, niềm tin về việc bỏ hút thuốc lá
Nghiên cứu ghi nhận các ý định về việc bỏ thuốc, báo cáo hướng đến mật độ, tần suất định hướng bỏ thuốc của nam thanh niên Mật độ bỏ thuốc càng cao, ghi nhận những trạng thái về suy nghĩ, nhìn nhận của chính đối tượng về tác hại của việc hút thuốc Tuy nhiên, mật độ bỏ thuốc càng cao, cũng mô tả khả năng bỏ thuốc của chính đối tượng là không thành công trong việc bỏ thuốc Kết quả khảo sát đã cho thấy, 13,3% nam thanh niên đã rất nhiều lần có ý định bỏ thuốc, kết quả trên cũng khá thống nhất với những đối tượng hút thuốc với tần xuất nhiều lần trong ngày, 26,1% những đối tượng đã khá nhiều lần có ý định bỏ thuốc, 41,9% đã một vài lần có ý định bỏ thuốc và 18,7% là không có ý định bỏ thuốc Với kết quả trên, kết quả khảo sát đã cho thấy, phần lớn nam thanh niên đều có những ý định bỏ thuốc Riêng trường hợp 18,7% không có ý định bỏ thuốc, cho thấy có một bộ phận nam thanh niên tham gia hút và chưa bao giờ có ý định từ bỏ thuốc (xem hình 4.10)
Trang 34Hình 4.10: Ý định về bỏ thuốc lá của người được khảo sát
Nguồn: Kết quả phân tích 2015, n=207 Đặt trong hoàn cảnh có sự quyết tâm bỏ thuốc, nghiên cứu xem xét khả năng thành công của nam thanh niên nếu như họ có quyết định mạnh trong việc bỏ thuốc
và tỏ rõ sự quyết tâm trong việc bỏ thuốc Theo kết quả khảo sát, 3,4% nam thanh niên cho rằng, vô cùng khó khăn trong việc bỏ thuốc, rất bi quan trong việc bỏ thuốc
và khả năng sẽ không thành công, 16,7% cho rằng sẽ khó thành công, 49,3% cho rằng có khả năng sẽ thành công, 28,6% cho rằng nhiều khả năng sẽ thành công và 2,0% cho rằng chắc chắn sẽ thành công Kết quả trên khi phối hợp với các ý định bỏ thuốc của người được khảo sát, đối với các trường hợp rất nhiều lần có ý định bỏ thuốc, hơn 25% cho rằng sẽ rất khó khăn và vô cùng khó khăn nếu như bỏ thuốc, hơn 48% có cái nhìn khả quan hơn và cho rằng bỏ thuốc có khả năng thành công nếu như
có sự quyết tâm Một điểm đặc biệt, đối với các trường hợp không có ý định từ bỏ thuốc, trên 30% trong số này cho rằng, bỏ thuốc là vô cùng khó khăn Trong thực tế, những đối tượng này thuộc vào những người hút thuốc với cường độ cao, nhiều lần/ngày, không có ý định bỏ thuốc và cho rằng bỏ thuốc là vô cùng khó khăn
Nghiên cứu sâu hơn về hành vi của nam thanh niên từ suy nghĩ, nhận thức đến những hành động trong hành vi thực tế của đối tượng là những người hút thuốc Tác giả đặt ra bối cảnh rằng, trong 12 tháng qua, đã bao nhiêu lần đối tượng có ý định nhưng không hút thuốc Thực tế, 34,5% trong số những nam thanh niên được khảo sát chưa thành công trong suy nghĩ và hành động không hút thuốc trong 12 tháng qua,
Trang 3546,3% là những nam thanh niên có khả năng từ chối 1 lần và lũy kế, có trên 95,1% nam thanh niên chỉ có khả năng không hút thuốc khi có suy nghĩ, ý định về hút thuốc chỉ 5 lần trong 12 tháng qua
Có khả năng thành công 102 49,3 79,8 Rất khó thành công 34 16,7 96,6
10.0 5 2,5 99,5 15.0 1 ,5 100,0 Tổng cộng 207 100,0 Nguồn: Kết quả phân tích 2015, n=207